CDV Tài chính – Ngân hàng là một ngành khá là rộng, liên quan đến tất cả các dịch vụ giao dịch, luân chuyển tiền tệ. Vì vậy có rất nhiều các lĩnh vực chuyên ngành hẹp. Ngành Tài chính – Ngân hàng chia thành nhiều lĩnh vực khác nhau: Chuyên ngành Tài chính, chuyên ngành Ngân hàng, chuyên ngành Phân tích tài chính, Quỹ tín dụng…
Trang 1ASSIGMENT KIỂM TOÁN
Giai đoạn 3
Trang 2Mục lục
Nhận xét và cho điểm Error! Bookmark not defined.
A Yêu cầu 1 4
1 Giới thiệu chung về cuốn sách 4
2 Lý do chọn 4
3 Những nội dung chính 4
4 Điều thú vị nhất 5
5 Những vấn đề không đồng tình 6
B Yêu cầu 2 6
1 Ý kiến về ý 4 và 5 yêu cầu 1 6
2 Giới thiệu quyển sách thứ hai 7
3 Nội dung tâm đắc 8
4 Tác phẩm đồng tình 8
C Yêu cầu 3 9
1 Tiền mặt: Chênh lệch tiền mặt tồn quỹ thực tế và biên bản kiểm kê quỹ 9
a Dẫn liệu 9
b Chỉnh sửa 9
c Dẫn chứng 10
2 Tiền gửi ngân hàng: Người kí séc không phải là những thành viên được ủy quyền12 a Dẫn liệu 12
b Dẫn chứng 12
3 Tạm ứng: Sử dụng tạm ứng không đúng mục đích 12
a Diễu liệu 12
b Dẫn chứng 13
4 Các khoản phải thu của khách hàng: Chưa có sổ chi tiết theo dõi từng đối tượng phải thu 15
Trang 3a Dẫn liệu 15
b Dẫn chứng 16
5 Hàng tồn kho: Phiếu nhập kho chưa đúng quy định 16
a Dẫn liệu 16
b Dẫn chứng 16
D Yêu cầu 4 17
Trang 4A Yêu cầu 1
1 Giới thiệu chung về cuốn sách
- Tên cuốn sách: Giáo trình Kiểm toán 1 và 2
- Tác giả: Thạc sĩ Nguyễn Văn Hoạt và Tiến sĩ Mai Hoàng Minh
- Năm xuất bản: N/A
2 Lý do chọn
- Sách được biên soạn dưới dạng giáo trình dành cho sinh viên chưa có hiểu biết
về ngành Kiểm toán nên giúp tôi dễ hiểu hơn những quyển sách mang những
“màu sắc” quá sâu về chuyên ngành gây khó hiểu cho người mới tiếp xúc
- Lượng thông tin đầy đủ, đề cập toàn diện đến các lĩnh vực, khía cạnh của người làm kiểm toán có thể/sẽ gặp phải
- Vạch rõ các loại kiểm toán và giới thiệu cụ thể về tình hình hoạt động tại Việt Nam; chức năng, trách nhiệm và quyền của từng loại hình
- Diễn đạt trau chuốt, cẩn trọng trong ngôn từ, không làm người đọc quá khó hiểu
3 Những nội dung chính
- Chương I - Tổng quan về kiểm toán: định nghĩa kiểm toán; các loại kiểm toán; lịch sử hình thành kiểm toán trên thế giới và Việt Nam; lợi ích kinh tế trong báo cáo kiểm toán độc lập; kiểm toán viên, tổ chức kiểm toán và hiệp hội nghề nghiệp; quy trình kiểm toán báo cáo tài chính
- Chương II – Môi trường kiểm toán: môi trường; đạo đức nghề nghiệp; chuẩn mực kiểm toán; chuẩn mực kiểm toán viên độc lập; khoảng cách giữa nhu cầu của xã hội và khả năng đáp ứng
- Chương III – Kiểm toán nội bộ: khái niệm; trình tự nghiên cứu của kiểm toán viên nội bộ
- Chương IV – Chuẩn bị kiểm toán: tiền kế hoạch, tìm hiểu khách hàng, xác định mức trọng yếu; xây dựng kế hoạch và chương trình kiểm toán
- Chương V – Bằng chứng kiểm toán: bằng chứng, phương pháp lựa chọn mẫu;
hồ sơ kiểm toán
- Chương VI – Báo cáo kiểm toán: chuẩn bị hoàn thành; báo cáo kiểm toán
- Chương VII – Kiểm toán tiền: nội dung và đặc điểm; kiểm soát nội bộ đối với tiền; kiểm toán khoản mục tiền
Trang 5- Chương VIII – Kiểm toán nợ phải thu khách hàng và bán hàng: nội dung, đặc điểm; kiểm toán nội bộ; kiểm toán nợ phải thu khách hàng và bán hàng
- Chương IX – Kiểm toán hàng tồn kho và giá vốn hàng bán: nội dung, đặc điểm; kiểm toán nội bộ đối với hàng tồn kho
- Chương X – Kiểm toán TSCĐ và chi phí khấu hao
- Chương XI – Kiểm toán nợ phải trả và vốn CSH
- Chương XII – Kiểm toán thu nhập và chi phí
- Chương XIII – Các dịch vụ của tổ chức kiểm toán
- Chương XIV – Kiểm toán nội bộ và kiểm toán của Nhà nước
4 Điều thú vị nhất
Trích trang 79 của giáo trình về Kiểm toán nội bộ trong các DN NN ở VN Ảnh chụp màn hình.
Thông qua sách này, tôi đã có thể hiểu hơn về lịch sử hình thành ngành Kiểm toán nội bộ ở Việt Nam Theo đó, ngành này được thành lập sau khi Bộ Tài chính ban hành quy chế kiểm toán nội bộ, có hiệu lực từ ngày 1/1/1998, căn cứ
QĐ số 832-TC/QĐ/CĐKT ngày 28/10/1997 Vào năm 2008, bộ này tiếp tục cho
ra những văn bản mới nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành Kiểm toán nội
bộ Việt Nam Bằng những văn bản này, công tác kiểm toán nội đã có tính nguyên tắc và những hướng triển khai theo đúng quy trình – đánh dấu chính thức về mặt pháp lý cho hoạt động này tại Việt Nam
Bên cạnh đó, tôi còn quan tâm đến chức năng kiểm toán nội bộ mà sách
đã đưa Trong đó, ba chức năng quan trọng của kiểm toán nội bộ là kiểm tra, xác nhận và đánh giá Từng bước này đều quan trọng và cần được kiểm tra cẩn thận
Trang 6“Chúng tôi cho rằng, chỉ nên xem xét chức năng xác nhận trong phạm vi áp dụng của Quy chế KTNB của Việt Nam, đó là chỉ áp dụng trong các doanh nghiệp nhà nước, chứ không phải cho tất cả loại hình doanh nghiệp” (tài liệu đã dẫn, trang
79) Từ đây, tôi cũng hiểu hơn, chức năng này chỉ phù hợp với doanh nghiệp ngoài Nhà nước vì người làm chủ cần chịu trách nhiệm với nhiều đối tác bên ngoài
Không những thế, nhờ mà tôi hiểu hơn về trách nhiệm và quyền hạn của nghề mà bản thân có thể làm trong tương lai Trong đó, tôi nhận thấy bản thân cần “khách quan, đề cao tính độc lập trong hoạt động kiểm toán” (tlđd, trang 79) Không những thế, một người kiểm toán đúng nghĩa còn cần: Không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn, cập nhật kiến thức và giữ gìn đạo đức nghề nghiệp Tuy nhiên, qua bốn điều liệt kê trong mục 6.3 của sách thì với tôi trách nhiệm to lớn nhất là: “Tuân thủ nguyên tắc bảo mật các số liệu, tài liệu đã được kiểm toán (loại trừ các trường hợp có yêu cầu của tòa án hoặc nghĩa vụ liên quan đến tiêu chuẩn nghiệp vụ” (tlđd, trang 79)
Cũng tại mục này, sách đã cho người đọc nhất là những sinh viên sắp ra trường hoặc đam mê nghiệp kiểm toán là quyền hạn đối với người làm kiểm toán viên nội bộ Trong đó, theo tôi, quan trọng nhất là “được độc lập về chuyên môn nghiệp vụ” (tlđd, trang 79) Bên cạnh đó, họ còn được quyền trong bị chia phối hoặc can thiệp khi thực hiện hoạt động kiểm toán và trình bày ý kiến trong báo cáo kiểm toán Ngoài ra, một quyền khác mà người kiểm toán nội bộ cũng quan trọng không kém là “có quyền yêu cầu các bộ phận, cá nhân được kiểm toán và
bộ phận có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho công tác kiểm toán” (tlđd, trang 79)
5 Những vấn đề không đồng tình
Với lượng kiến thức còn hạn hẹp về lĩnh vực, ngành này, tôi sẽ là “lấn lướt” khi đưa ra những lời “không đồng ý” Mà mong được góp ý cùng tác giả về cách bố trí các mục lại cho khoa học hơn và bổ sung mục lục để người đọc tiện theo dõi
B Yêu cầu 2
1 Ý kiến về ý 4 và 5 yêu cầu 1
Trang 7Vẫn giữ quan điểm về ý 4 và 5 trong yêu cầu 1
2 Giới thiệu quyển sách thứ hai
- Tên sách:
Giáo trình Kiểm toán tài chính
- Đơn vị chủ quản:
Khoa Kế toán - Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
- Đồng tác giả:
GS-TS Nguyên Quang Quỳnh PGS-TS Ngô Trí Tuệ
Trang 83 Nội dung tâm đắc
“Kiểm toán là một bộ phận được thiết lập trong đơn vị tiến hành công việc kiểm tra và đánh giá các hoạt động phục vụ yêu cầu quản trị nội bộ đơn vị”,
phần mở đầu của chương Kiểm toán nội bộ mà tôi quan tâm Qua khái niệm này, người đọc đã hiểu rõ về khái niệm kế toán nội bộ; ở đây không khác so với quyển sách đầu tiên
Tuy nhiên, quyển sách này còn bổ sung thêm các khái niệm KTNB của
Mỹ và Liên đoàn Kế toán Quốc tế Điều này giúp người đọc dễ dàng tìm hiểu các khái niệm khác nhau, tiện sử dụng trong các hoàn cảnh khác nhau
Bên cạnh đó, sách còn khẳng định: “Là một nhân tố cơ bản trong hệ
thống kiểm toán nội bộ của doanh nghiệp, bộ phận KTNB cung cấp một sự quan sát, đánh giá thường xuyên về toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm cả tính hiệu lực của việc thiết kế và vận hành các chính sách và thủ tục KTNB”.
Như vậy, quyển thứ hai trình bày rõ ràng hơn về nhiệm vụ của KTNB
Không những thế, nhờ quyển sách thứ hai, người viết đã biết được quy trình đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ Trong đó có các bước như: Thu nhập hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ và mô tả chi tiết hệ thống KSNB trên giấy
tờ làm việc; đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát để lập kế hoạch cho các khoản mục trên BCTC; Thử nghiệm kiểm soát và Lập bảng đánh giá KSNB
4 Tác phẩm đồng tình
Bản thân người viết yêu thích quyển sách thứ hai hơn Bởi nội dung
“kiểm toán nội bộ mà tôi quan tâm được trình bày kỹ hơn
Trong đó tác giả đã đưa ra được những dẫn chứng cụ thể Trong đó,
quyển sách này cũng định nghĩa rõ ràng hơn về kiểm toán nội bộ: “một chức
năng thường xuyên của các đơn vị, tổ chức và trên cơ sở xác định rủi ro có thể xảy ra trong từng khâu công việc để tìm ra biện pháp ngăn chặn nhằm thực hiện
có hiệu quả tất cả các mục tiêu đặt ra của đơn vị”.
Rồi người viết sách cũng chỉ ra những điểm mà kiểm toán nội bộ hoàn thành Theo đó, bảo vệ tài sản của đơn vị, bảo đảm độ tin cây của các thông tin, đảm bảo việc thực hiện các chế độ pháp lý, hiệu quả của hoạt động và năng lực quản lý
Trang 9Không những thế, sách đã chỉ rõ các yếu tố cơ bản của hệ thống kiểm toán nội bộ Chúng bao gồm: môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán, các thủ tục kiểm toán
Hơn nữa, điểm tôi yêu thích nhất chính là việc dành hẳn một chương nói
về loại kiểm toán này Kế đó là việc sử dụng lưu đồ giúp người dễ dàng hình dung quy trình đánh giá kiểm toán nội bộ
C Yêu cầu 3
1 Tiền mặt: Chênh lệch tiền mặt tồn quỹ thực tế và biên bản kiểm kê quỹ
a Dẫn liệu
“Sau khi kiểm kê tài sản, doanh nghiệp phải lập báo cáo tổng hợp kết quả kiểm kê Trường hợp có chênh lệch giữa số liệu thực tế kiểm kê với số liệu ghi trên sổ kế toán, đơn vị kế toán phải xác định nguyên nhân và phải phản ánh
số chênh lệch và kết quả xử lý vào sổ kế toán trước khi lập báo cáo tài chính.
Việc kiểm kê phải phản ánh đúng thực tế tài sản, nguồn hình thành tài sản Người lập và ký báo cáo tổng hợp kết quả kiểm kê phải chịu trách nhiệm về kết quả kiểm kê.”, Mục 5 – Kiểm kê tài sản, thuộc phần thứ Nhất của Quyết định
48
b Chỉnh sửa
“(2)- Phương pháp ghi số âm (còn gọi Phương pháp ghi đỏ):
Phương pháp này dùng để điều chỉnh những sai sót bằng cách: Ghi lại bằng mực đỏ hoặc ghi trong ngoặc đơn bút toán đã ghi sai để huỷ bút toán đã ghi sai Ghi lại bút toán đúng bằng mực thường để thay thế.
Phương pháp này áp dụng cho các trường hợp:
- Sai về quan hệ đối ứng giữa các tài khoản do định khoản sai đã ghi sổ
kế toán mà không thể sửa lại bằng phương pháp cải chính;
- Phát hiện ra sai sót sau khi đã nộp báo cáo tài chính cho cơ quan có thẩm quyền
Trong trường hợp này được sửa chữa sai sót vào sổ kế toán năm phát hiện ra sai sót theo phương pháp phi hồi tố, hoặc hồi tố theo quy định của chuẩn mực kế toán số 29 “Thay đổi chính sách kế toán, ước tính kế toán và các sai sót”;
- Sai sót trong đó bút toán ở tài khoản đã ghi số tiền nhiều lần hoặc con
số ghi sai lớn hơn con số ghi đúng.
Khi dùng phương pháp ghi số âm để đính chính chỗ sai thì phải lập một
“Chứng từ ghi sổ đính chính” do kế toán trưởng (hoặc phụ trách kế toán) ký xác nhận.
(3)- Phương pháp ghi bổ sung:
Trang 10Phương pháp này áp dụng cho trường hợp ghi đúng về quan hệ đối ứng tài khoản nhưng số tiền ghi sổ ít hơn số tiền trên chứng từ hoặc là bỏ sót không cộng đủ số tiền ghi trên chứng từ Sửa chữa theo phương pháp này phải lập
“Chứng từ ghi sổ bổ sung" để ghi bổ sung bằng mực thường số tiền chênh lệch còn thiếu so với chứng từ”, trích Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC.
c Dẫn chứng
Trang 11CÔNG TY CỔ PHẨN BĂNG HOÀN
BIÊN BẢN KIỂM KÊ QUỸ (Dùng cho đồng Việt Nam)
Hôm nay, vào 8 giờ 40, ngày 9 tháng 7 năm 2012
Chúng tôi gồm:
- Ông/Bà: Phan Huyền Thư Chức vụ: Phụ trách Kế toán
- Ông/Bà: Nguyễn Phan Toàn Chức vụ: Thủ quỹ
Cùng tiến hành kiểm kê quỹ tiền mặt, kết quả như sau:
Số
- Lý do:
+ Thừa: + Thiếu: Do ghi thiếu nghiệp vụ mua hàng
- Kết luận sau khi kiểm kê quỹ: Bổ sung vào khoản mục liên quan
Mẫu số: C34-HD
Ban hành theo QĐ số 19/2006/QĐ-BTC ngày 30/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính
Số: 20
Trang 12(Ký, họ tên)
Đã ký
(Ký, họ tên)
Đã ký
(Ký, họ tên)
Đã ký
2 Tiền gửi ngân hàng: Người kí séc không phải là những thành viên được ủy quyền
a Dẫn liệu
“ Người phát hành séc: Là chủ tài khoản tiền gửi thanh toán hoặc người được uỷ quyền, ký tên để phát hành tờ séc theo đúng quy định của pháp luật về
uỷ quyền”, Điều 2, Chương 1, Nghị định số 30/CP ban hành quy chế phát hành
và sử dụng séc
“Chủ tài khoản được phép uỷ quyền cho người khác ký phát hành séc thay mình Việc uỷ quyền phải được lập bằng văn bản theo quy định của pháp luật Người được uỷ quyền ký phát hành séc có quyền hạn và nghĩa vụ như chủ tài khoản trong phạm vi được uỷ quyền”, Điều 12, chương III, Nghị định số
30/CP ban hành quy chế phát hành và sử dụng séc
b Dẫn chứng
3 Tạm ứng: Sử dụng tạm ứng không đúng mục đích
a Diễu liệu
“1 Chứng từ kế toán phải có các nội dung chủ yếu sau đây:
Trang 13b) Ngày, tháng, năm lập chứng từ kế toán;
c) Tên, địa chỉ của đơn vị hoặc cá nhân lập chứng từ kế toán;
d) Tên, địa chỉ của đơn vị hoặc cá nhân nhận chứng từ kế toán;
đ) Nội dung nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh;
e) Số lượng, đơn giá và số tiền của nghiệp vụ kinh tế, tài chính ghi bằng số; tổng số tiền của chứng từ kế toán dùng để thu, chi tiền ghi bằng số và bằng chữ;
g) Chữ ký, họ và tên của người lập, người duyệt và những người có liên quan đến chứng từ kế toán”, điều 17, mục 1, chương II, luật Kế toán.
b Dẫn chứng
CÔNG TY CỔ PHẦN HOÀNG HÀ Mẫu số C32 - HD
(Đã ban hành theo QĐ số: 19/2006/QĐ- BTC ngày 30/03/2006 của Bộ trưởng BTC)
GIẤY ĐỀ NGHỊ TẠM ỨNG
Ngày 20 tháng 4 năm 2013
Số : 02-HH/ĐNTƯ Kính gửi: Kế toán Công ty
Tên tôi là: Hoàng Băng Vy
Bộ phận (hoặc địa chỉ): Kế hoạch
Đề nghị cho tạm ứng số tiền : (Viết bằng chữ)
Lý do tạm ứng :
Thời hạn thanh toán :
Thủ trưởng đơn vị Duyệt tạm ứng:
(Ký, họ tên)
Kế toán trưởng
(Ký, họ tên)
Phụ trách bộ phận
(Ký, họ tên)
Người đề nghị tạm ứng
(Ký, họ tên)
Trang 154 Các khoản phải thu của khách hàng: Chưa có sổ chi tiết theo dõi từng đối tượng phải thu
a Dẫn liệu
“1 Sổ kế toán dùng để ghi chép, hệ thống và lưu giữ toàn bộ các nghiệp vụ kinh tế, tài chính đã phát sinh có liên quan đến đơn vị kế toán.
2 Sổ kế toán phải ghi rõ tên đơn vị kế toán; tên sổ; ngày, tháng, năm lập sổ; ngày, tháng, năm khóa sổ; chữ ký của người lập sổ, kế toán trưởng và người đại diện theo pháp luật của đơn vị kế toán; số trang; đóng dấu giáp lai.
3 Sổ kế toán phải có các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Ngày, tháng ghi sổ;
b) Số hiệu và ngày, tháng của chứng từ kế toán dùng làm căn cứ ghi sổ;
c) Tóm tắt nội dung của nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh;
d) Số tiền của nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh ghi vào các tài khoản kế toán;
đ) Số dư đầu kỳ, số tiền phát sinh trong kỳ, số dư cuối kỳ.
4 Sổ kế toán gồm sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết.”, điều 25, Luật
Kế toán
“1 Sổ kế toán phải mở vào đầu kỳ kế toán năm; đối với đơn vị kế toán mới thành lập, sổ kế toán phải mở từ ngày thành lập.
2 Đơn vị kế toán phải căn cứ vào chứng từ kế toán để ghi sổ kế toán.
3 Sổ kế toán phải ghi kịp thời, rõ ràng, đầy đủ theo các nội dung của sổ Thông tin, số liệu ghi vào sổ kế toán phải chính xác, trung thực, đúng với chứng từ kế toán.
4 Việc ghi sổ kế toán phải theo trình tự thời gian phát sinh của nghiệp vụ kinh tế, tài chính Thông tin, số liệu ghi trên sổ kế toán của năm sau phải kế tiếp thông tin, số liệu ghi trên sổ kế toán của năm trước liền kề Sổ kế toán phải ghi liên tục từ khi mở sổ đến khi khóa sổ.
5 Thông tin, số liệu trên sổ kế toán phải được ghi bằng bút mực; không ghi xen thêm vào phía trên hoặc phía dưới; không ghi chồng lên nhau; không ghi cách dòng; trường hợp ghi không hết trang sổ phải gạch chéo phần không ghi;