Việc thi hành pháp luật về đo đạc và bản đồ của các cơ quan QLNN về đo đạc và bản đồ ở Trung ương và địa phương còn nhiều bất cập - Công tác xây dựng thể chế: Hệ thống văn bản QPPL dưới
Trang 1ĐỀ TÀI: BÁO CÁO TỔNG KẾT DỰ ÁN SỬ DỤNG QUỸ MỞ RỘNG
DANH SÁCH NGƯỜI THAM
1 Ông Nguyễn Tuấn Hùng , Cục trưởng Cục ĐĐBĐ Việt Nam;
2.Ông Lê Minh Tâm, Phó Cục trưởng Cục ĐĐBĐ Việt Nam;
Trang 23 Ông Vũ Quý Lân, Phó Cục trưởng Cục ĐĐBĐ Việt Nam;
4 Ông Trương Xuân Thủy, Chánh Văn phòng Cục;
5 Ông Nguyễn Văn Bảy, Trưởng phòng Pháp chế;
6 Ông Trần Hồng Quang, Trưởng phòng Hợp tác Quốc tế;
7 Ông Phan Ngọc Mai, Trưởng phòng Công nghệ thẩm định;
8 Ông Nguyễn Đình Đông, Trưởng phòng Kế hoạch tài chính;
9 Bà Phạm Thị Loan, Phó trưởng phòng Pháp chế;
10 Ông Bùi Văn Hoàng, Chuyên viên Văn phòng Cục;
11 Bà Nguyễn Thu Hương, Chuyên viên Văn phòng Cục;
12 Bà Nguyễn Thị Kim Oanh, Chuyên viên Phòng Pháp chế;
13 Ông Kiều Trần Dũng, Chuyên viên Phòng Pháp chế
Trang 31 Sự cần thiết của Dự án.
(1) Tình hình thi hành pháp luật về đo đạc và bản đồ và sự cần thiết của
Dự án luật đo đạc và bản đồ
Các Nghị định của Chính phủ: Nghị định số 12/2002/NĐ-CP ngày 22tháng 01 năm 2002 về hoạt động đo đạc và bản đồ (sau đây viết tắt là Nghị định12); Nghị định số 30/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 3 năm 2005 về xử phạt viphạm hành chính trong họat động đo đạc và bản đồ (sau đây viết tắt là Nghị định30) là hai văn bản quy phạm pháp luật cao nhất trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ,các Nghị định đã tạo cơ sở pháp lý cơ bản cho việc thống nhất quản lý nhà nước
và triển khai hoạt động đo đạc và bản đồ trên phạm vi tòan lãnh thổ Tuy nhiên,
việc thực thi Nghị định 12, Nghị định 30 còn chưa nghiêm, thể hiện ở một số
mặt hạn chế, tồn tại sau:
a Việc thi hành pháp luật về đo đạc và bản đồ của các cơ quan QLNN về
đo đạc và bản đồ ở Trung ương và địa phương còn nhiều bất cập
- Công tác xây dựng thể chế: Hệ thống văn bản QPPL dưới Nghị định docác Bộ, ngành ban hành còn chậm, còn tồn tại một số mâu thuẫn, bất cập, chưatheo kịp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Văn bản QPPL về
đo đạc bản đồ do địa phương ban hành không đầy đủ, chất lượng thấp và chưatheo sát với thực tế của địa phương
- Việc triển khai các nhiệm vụ đo đạc và bản đồ của các bộ, ngành về cơbản đã đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tuy nhiên còn có hiện tượngchồng chéo gây lãng phí cho ngân sách nhà nước Việc triển khai đo đạc và bản
đồ ở địa phương còn bất cập do thiếu quy hoạch, kế hoạch dài hạn, đầu tư kinhphí hàng năm cho công tác đo đạc bản đồ còn bị động, không ổn định, cơ chếphối hợp quản lý đầu tư chưa chặt chẽ dẫn đến vẫn còn hiện tượng trùng lặp,lãng phí; mặt khác, do các bộ, ngành và địa phương thực hiện không nghiêmquy định về báo cáo trong họat động đo dạc và bản đồ nên công tác theo dõi,giám sát, tổng hợp của Bộ TNMT gặp rất nhiều khó khăn
- Công tác thanh tra, kiểm tra trong quản lý hoạt động đo đạc và bản đồcủa các cơ quan QLNN về đo đạc và bản đồ ở Trung ương và địa phương thựchiện chưa tốt Các Bộ, ngành, địa phương chưa chủ động và chú trọng đúng mứcđến công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động đo đạc và bản đồ trong phạm vi quản
lý của mình
- Việc xử lý vi phạm trong hoạt động đo đạc và bản đồ hầu như chưa có,
cụ thể chưa có tổ chức cá nhân nào vi phạm phải xử lý theo các quy định củaNghị định 30 Tuy nhiên, thực tế này không chứng tỏ việc thực thi pháp luậtnghiêm minh của các tổ chức, cá nhân tham gia họat động đo đạc và bản đồ mà
nó phần nào nói lên việc buông lỏng trách nhiệm kiểm tra, giám sát của các bộ,ngành và địa phương trong quản lý nhà nước đối với lĩnh vực Trên thực tế quacông tác kiểm tra thường xuyên hàng năm của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã
Trang 4phát hiện nhiều tổ chức vi phạm quy chế đăng ký và cấp giấy phép hoạt động đođạc và bản đồ mà không bị kiểm tra, xử lý.
- Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về đo đạc và bản đồcòn nặng về hình thức và chưa đủ sâu rộng để các cấp quản lý, các tổ chức, cánhân tham gia hoạt động đo đạc và bản đồ và người dân nhận thức đầy dủ vềpháp luật và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật
b Các tổ chức tham gia hoạt động và người dân chấp hành chưa nghiêmpháp luật về đo đạc và bản đồ do nhận thức pháp luật về đo đạc và bản đồ cònnhiều hạn chế
Việc chấp hành quy chế đăng ký và cấp giấy phép hoạt động đo đạc vàbản đồ của các tổ chức chưa được nghiêm túc, nhiều tổ chức tham gia họat động
đo đạc và bản đồ mà không đăng ký với cấp có thẩm quyền hoặc không đượccấp phép
Nhận thức pháp luật về đo đạc và bản đồ của người dân còn thấp, đa sốchưa ý thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ các công trình xây dựng, dấumốc đo đạc cũng như ý nghĩa của việc thể hiện chủ quyền lãnh thổ quốc giathông qua các xuất bản phẩm về bản đồ
Từ thực tế tình hình thi hành pháp luật đo đạc và bản đồ như trên đặt rayêu cầu cấp bách phải xây dựng Luật đo đạc và bản đồ
(2) Thực trạng các mối quan hệ xã hội trong hoạt động đo đạc và bản đồ
và sự cần thiết phải điều chỉnh bằng Luật
a Quan hệ giữa cơ quan QLNN về đo đạc bản đồ ở Trung ương với cơquan QLNN về đo đạc bản đồ ở địa phương
Mối quan hệ giữa hai lọai cơ quan này cơ bản dựa trên cơ chế phân cấp,các vấn đề cơ bản về quản lý nhà nước đối với họat động đo đạc bản đồ thuộcphạm vi địa phương như kiểm tra, thẩm định chất lượng công trình, sản phẩm đođạc bản đồ địa chính, đo đạc bản đồ chuyên dụng của địa phương; bảo vệ côngtrình xây dựng, dấu mốc đo đạc trong phạm vi ranh giới hành chính cấp tỉnh;Quản lý thông tin tư liệu do đạc bản đồ, triển khai các nhiệm vụ về đo đạc vàbản đồ phục vụ mục đích chuyên dụng của địa phương đều thuộc thẩm quyềncủa chính quyền địa phương (UBND cấp tỉnh) Cơ quan QLNN về đo đạc bản
đồ ở Trung ương thực hiện quản lý, giám sát các họat động trên thông qua côngtác thanh tra, kiểm tra, phân tích, tổng hợp thông tin thu nhận được bằng conđường báo cáo
Tuy nhiên, thực trạng của mối quan hệ giữa Trung ương và địa phươngdựa trên cơ chế Phân cấp - Kiểm tra như trên cũng bộc lộ nhiều bất cập và thiếuhiệu quả: việc thanh tra chỉ tiến hành theo từng vụ việc đơn lẻ, công tác kiểmtra, do hạn chế về kinh phí và thời gian nên còn nặng về hình thức; mặt khác, cơ
Trang 5bản đồ chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý của các Bộ, tuy nhiên không quyđịnh rõ về cơ chế quản lý, kiểm tra, gíám sát của cơ quan quản lý nhà nước về
đo đạc và bản đồ đối với các họat động này Cơ quan QLNN về đo đạc và bản
đồ chỉ thực hiện quản lý họat động đo đạc bản đồ của các Bộ thông qua Quy chếcấp phép họat đông đo đạc và bản đồ và quy định về báo cáo trong họat đông đođạc và bản đồ, Tuy nhiên, đây đều là các văn bản QPPL hướng dẫn thi hànhNghị định nên hiệu quả thi hành pháp luật không cao, đa số các Bộ, ngành xemnhẹ hoặc thực hiện không nghiêm quy định về Báo cáo
Thực trạng của mối quan hệ này là cơ quan quản lý không có chế tài đểquản lý và kiểm tra hoặc chế tài không đủ mạnh và do không quản lý được dẫnđến thả nổi Do các vi phạm không bị xử lý, các Bộ ngành không coi trọng việcthực thi các văn bản QPPL do cơ quan quản lý nhà nước về đo đạc bản đồ banhành và cho rằng không phải là luật nên không bắt buộc phải thi hành
c Quan hệ giữa cơ quan QLNN về đo đạc bản đồ với doanh nghiệp
- Đối với lọai hình doanh nghiệp nhà nước, cơ quan QLNN về đo đạc vàbản đồ về cơ bản kiểm soát được về năng lực (nhân lực và trình độ), chất lượngcông trình, sản phẩm của các Doanh nghiệp NN trực thuộc Với các doanhnghiệp NN trực thuộc các Bộ chuyên ngành, cơ quan QLNN về đo đạc bản đồnắm bắt được về năng lực thông qua cấp phép Về số lượng, chất lượng côngtrình, sản phẩm chỉ tổng hợp trên cơ sở báo cáo của các Bộ
- Đối với lọai hình doanh nghiệp ngoài nhà nước, cơ quan QLNN về đođạc bản đồ chỉ nắm bắt về năng lực thông qua công tác cấp phép, các vấn đềkhác phân cấp cho Cơ quan QLNN địa phương
d Quan hệ giữa các doanh nghiệp đo đạc bản đồ:
- Đối với các doanh nghiệp nhà nước họat động trong lĩnh vực đo đạc vàbản đồ, về cơ bản thực hiện kế hoạch do Nhà nước đặt hàng, hoạt động chủ yếudựa trên nguồn kinh phí được cấp từ ngân sách theo kỳ kế hoạch
- Các doanh nghiệp ngoài nhà nước do năng lực nhiều hạn chế, hoạt độngnhỏ lẻ, chủ yếu gắn với nhu cầu của địa phương
Như vậy thực trạng của mối quan hệ này là bất bình đẳng, không có yếu
tố cạnh tranh – một động lực cần thiết cho sự phát triển Luật đo đạc và bản đồnhằm điều chỉnh quan hệ này hướng tới cạnh tranh bình đẳng trong khuôn khổcủa pháp luật
e Quan hệ giữa cơ quan QLNN về đo đạc bản đồ với người dân
Luật đo đạc và bản đồ sẽ hướng người dân tới việc tăng cường nhận thức
về quyền lợi và nghĩa vụ của mình trên cơ sở đó tuân thủ quy định của pháp luật
về đo đạc và bản đồ, tự giác tham gia và đóng góp tích cực cho họat động của cơquan QLNN
(3) Tác động của dự án Luật
a Tiết kiệm ngân sách Nhà nước
Trang 6Luật đo đạc và bản đồ khi được xây dựng trên cơ sở khoa học và thực tiến
sẽ làm tăng tối đa hiệu quả thi hành pháp luật về đo đạc và bản đồ của cơ quanQLNN các cấp và người dân cũng như điều chỉnh các mối quan hệ theo hướngtích cực Nhà nước sẽ được hưởng lợi ích kinh tế từ việc tiết kiệm ngân sách dobảo vệ công trình đo đạc, chia sẻ thông tin, hạn chế tiến tới loại bỏ việc đo vẽchồng chéo Luật cũng là nền tảng pháp lý vững chắc để ngành đo đạc và bản đồViệt Nam phát triển lên một tầm cao mới, đáp ứng với sự phát triển kinh tế xãhội của đất nước trong giai đọan hội nhập quốc tế
b Luật đo đạc và bản đồ còn mang lại lợi ích vô hình từ việc tuyêntruyền, giáo dục đến toàn dân về chủ quyền lãnh thổ quốc gia và thúc đẩy tiến
bộ xã hội
2 Tóm tắt nội dung dự án
Dự án gồm 07 phần:
Phần1: Thu thập, nghiên cứu, đánh giá thông tin tư liệu;
Phần 2: Tổng kết tình hình thực hiện pháp luật về đo đạc và bản đồ;
Phần 3: Khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến cácnội dung chính của Luật Đo đạc và Bản đồ;
Phần 4: Tổ chức đánh giá tác động và xây dựng báo cáo đánh giá tác độngcủa dự án Luật;
Phần 5: Xây dựng Đề cương chi tiết;
Phần 6: Xây dựng dự thảo Luật trên cơ sở Đề cương chi tiết;
Phần 7: Tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và tổ chứcHội thảo
Trang 9LỜI NÓI ĐẦU
Ngành Đo đạc và Bản đồ Việt Nam có lịch sử hơn 500 năm, trải qua baotháng năm thăng trầm của lịch sử Năm 1959, Chính phủ đã thành lập Cục Đođạc và Bản đồ thuộc Phủ Thủ tướng Năm 1974, được chuyển thành Cục Đo đạc
và Bản đồ trực thuộc Chính phủ
Năm 1994, Chính phủ đã quyết định thành lập Tổng cục Địa chính trên cơ
sở sáp nhập và tổ chức tại Cục Đo đạc và Bản đồ nhà nước, Tổng cục Quản lýruộng đất Tổ chức mới đã tạo ra một giai đoạn mới gắn liền công tác ĐĐBĐvới công tác QLĐĐ
Tháng 11 năm 2002, Quốc hội quyết định thành lập Bộ Tài nguyên vàMôi trường, trong đó Chính phủ đã quyết định tái lập Cục Đo đạc và Bản đồ vớichức năng, nhiệm vụ rất cụ thể, Chính phủ đã quyết định những dự án đầu tư lớncho lĩnh vực ĐĐBĐ nhằm đáp ứng kịp thời cho quá trình đẩy mạnh công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước
Ngày 04 tháng 3 năm 2008 Chính Phủ ban hành Nghị định
số 25/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chứccủa Bộ Tài nguyên và Môi trường, theo đó Cục Đo đạc và Bản đồ được đổi tênthành Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam
Sau 6 năm triển khai thực hiện, ngày 19/12/2007 Thủ tướng Chính phủ cóChỉ thị số 32/2007/CT-TTg về tổng kết thực hiện Nghị định số 12/2002/NĐ-CPngày 22 tháng 01 năm 2002 của Chính phủ về hoạt động đo đạc và bản đồ, trongbáo cáo tổng kết của Bộ Tài nguyên và Môi trường trình Thủ tướng đã đánh giá:Nghị định 12 là văn bản pháp luật cao nhất trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ, nó
đã tạo cơ sở pháp lý cơ bản cho việc thống nhất quản lý nhà nước và triển khaihoạt động đo đạc và bản đồ, đưa quản lý nhà nước về đo đạc và bản đồ đi dầnvào nề nếp, giảm thiểu được tình trạng đo đạc chồng chéo, lãng phí và hướngdần vào việc thống nhất sử dụng dữ liệu đo đạc cơ bản, chia sẻ và sử dụngchung thông tin
Hệ thống văn bản QPPL khung sau Nghị định 12 do Bộ TNMT phối hợpvới các Bộ liên quan ban hành đã đầy đủ, cơ bản đáp ứng được yêu cầu phục vụquản lý nhà nước và triển khai hoạt động đo đạc và bản đồ ở Trung ương theoNghị định 12 Hệ thống văn bản phục vụ quản lý trực tiếp và tổ chức triển khai ởđịa phương, cơ sở thuộc thẩm quyền ban hành của các Bộ, ngành khác và địaphương còn thiếu về số lượng và không đồng bộ, nhiều văn bản ban hành chậm
và chưa đủ đáp ứng yêu cầu thống nhất quản lý toàn diện hoạt động đo đạc vàbản đồ Nguyên nhân của việc thiếu và chậm ban hành văn bản quản lý là donhận thức pháp luật chưa đầy đủ, chưa có sự quan tâm đúng mức của các Bộ,ngành và địa phương đối với công tác quản lý hoạt động đo đạc và bản đồ, chưa
có sự chỉ đạo sát sao trong xây dựng và ban hành các văn bản phục vụ quản lý.Các Bộ, ngành có hoạt động đo đạc và bản đồ không ban hành hoặc có ban hành
Trang 10nhưng chưa có sự phối hợp với Bộ TNMT trong xây dựng văn bản và theo dõiquản lý Phần lớn các văn bản khác do các tỉnh ban hành chỉ phục vụ giải quyếtnhững việc cần thiết, liên quan đến triển khai cụ thể, còn thiếu các văn bản phục
vụ quản lý trực tiếp các hoạt động đo đạc và bản đồ; một số địa phương khi banhành văn bản không gửi cho Bộ TNMT và các Bộ, ngành liên quan để phối hợp
và theo dõi chỉ đạo
Chất lượng các văn bản đã ban hành chưa cao, một số văn bản ban hànhchưa đúng thẩm quyền, sai về thể thức, nội dung còn chồng chéo và mâu thuẫngiữa các văn bản với nhau, cá biệt có nội dung chưa sát với thực tế và chưa đápứng được yêu cầu phát triển công nghệ trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc
tế của đất nước
Trong xây dựng văn bản chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quanliên quan nên trình tự thẩm định phức tạp, dài dòng, có nội dung sau khi văn bảnban hành mới phát hiện là còn thiếu hoặc bất cập
Tính pháp lý của văn bản pháp luật cao nhất về quản lý nhà nước hoạt động
đo đạc và bản đồ chưa cao do mới chỉ là Nghị định, do đó còn có tư tưởng coinhẹ, chấp hành chưa nghiêm Ý thức chấp hành pháp luật của một số cấp quản lýchưa cao Vì vậy, việc sớm xây dựng Luật Đo đạc và Bản đồ để điều chỉnh vàthống nhất quản lý toàn diện mọi hoạt động đo đạc và bản đồ là hết sức cần thiết
Trước tinh hình của Hội nhập và phát triển kinh tế của đất nước cũng nhưnhu cầu về công tác quản lý nhà nước về hoạt động đo đạc và bản đồ, ngày 22tháng 01 năm 2008, Bộ Tài nguyên và Môi trường có Quyết định số 131/QĐ-BTNMT về việc phân công đơn vị thực hiện Chương trình xây dựng Luật, pháplệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XII (2007 – 2011) và năm 2008 thuộc tráchnhiệm của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam đượcgiao nhiệm vụ chủ trì xây dựng Luật Đo đạc và Bản đồ để trình Quốc Hội thôngqua vào tháng 10/2010
Do nguồn kinh phí sự nghiệp của Nhà nước cấp cho công tác xây dựngcác dự án Luật rất hạn hẹp, yêu cầu về thời gian trình dự án Luật Đo đạc và Bản
đồ lại rất gấp Vì vậy sau khi nghiên cứu, cân nhắc về khả năng không đủ kinhphí đáp ứng cho Chương trình xây dựng Luật, Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Namkính đề nghị Chương trình SEMLA xem xét hỗ trợ kinh phí cho Cục Đo đạc vàBản đồ Việt Nam để thực hiện một số nội dung cần triển khai gấp trong kếhoạch xây dựng Luật Đo đạc và Bản đồ năm 2009
Cục Đo đạc và Bản đồ xin chân thành cảm ơn Ban chỉ đạo Chương trìnhSEMLA đã quan tâm tạo điều kiện nguồn kinh phí hỗ trợ cho Cục triển khai một
số nội dung cần thiết trong việc xây dựng Dự án Luật Đo đạc và Bản đồ
Trang 11Đo đạc và Bản đồ Việt Nam được giao nhiệm vụ chủ trì xây dựng Luật Đo đạc
và Bản đồ để trình Quốc Hội thông qua vào tháng 10/2010
(2) Quyết định số 88/QĐ-BCĐ ngày 27 tháng 5 năm 2009 của Ban chỉđạo Chương trình hợp tác Việt Nam - Thụy Điển về tăng cường năng lực quản
lý đất đại và môi trường về việc phê duyệt Dự án " Luật Đo đạc và Bản đồ"
2 Mục Tiêu dự án:
(1) Dự án Luật Đo đạc và Bản đồ tạo cơ sở pháp lý chặt chẽ giúp Nhànước tăng cường quản lý hoạt động đo đạc và bản đồ trên vùng trời, vùng đất vànước, vùng biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
(2) Đảm bảo Luật Đo đạc và Bản đồ được xây dựng trên cơ sở khoa học
và thực tiễn nhằm tác động tích cực đến các quan hệ xã hội hiện tại trong hoạtđộng đo đạc và bản đồ;
(3) Đảm bảo chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về phát triểnkinh tế-xã hội và hội nhập quốc tế
3 Phạm vi thực hiện: Trên phạm vi cả nước.
4 Phương pháp tổ chức thực hiện dự án:
A Các phương pháp thực hiện:
(1) Thu thập thông tin, tài liệu
(2) Lấy ý kiến chuyên gia
(3) Phân tích, tổng hợp chuyên đề
(4) Điều tra, khảo sát thực tế
(5) Trao đổi theo nhóm
(6) Hội thảo, hội nghị
Trang 12B Tổ chức thực hiện:
(1) Thành lập Ban soạn thảo, tổ biên tập, nhóm làm việc
(2) Tổ chức các Đoàn đi khảo sát thu thập thông tin tại các địa phương.(3) Quản lý và cơ chế điều phối:
- Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam là cơ quan chủ trì xây dựng Dự án
- Các đơn vị, cá nhân tham gia phối hợp triển khai thực hiện bao gồm: VụPháp chế - Bộ TNMT; các chuyên gia
- Cơ chế điều phối: cơ quan chủ trì sẽ căn cứ vào kế họach dự án cùng vớicác cơ quan phối hợp triển khai thực hiện dự án; Các nhiệm vụ mang tínhchuyên sâu sẽ được thực hiện theo hình thức hợp đồng thuê khóan chuyên mônvới các chuyên gia
5 Nội dung thực hiện
(1) Khảo sát, thu thập tài liệu, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liênquan đến quản lý nhà nước về đo đạc bản đồ tại 06 địa phương, 02 bộ và 02doanh nghiệp:
(2) Điều tra, nghiên cứu, đánh giá tác động tác động xã hội liên quan đến
dự án Luật và xây dựng báo cáo đánh giá tác động xã hội của dự án Luật, sự cầnthiết phải xây dựng Luật
(3) Thu thập, biên dịch, nghiên cứu, đánh giá thông tin, tư liệu, các điềuước quốc tế liên quan đến dự án Luật:
(4) Lập Đề cương chi tiết và xây dựng sơ thảo Luật trên cơ sở đề cươngchi tiết;
(5) Tổ chức các hội thảo
6 Sản phẩm của dự án:
(1) Các báo cáo đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến quản lýnhà nước về đo đạc bản đồ
(2) Các báo cáo đánh giá tác động xã hội của dự án Luật;
(3) Tài liệu tiếng nước ngoài được biên dịch ra tiếng Việt;
(4) Đề cương chi tiết của Luật và sơ thảo nội dung Luật
Trang 13II NỘI DUNG THỰC HIỆN
Các nội dung thực hiện của dự án được phê duyệt
1 Khảo sát, thu thập tài liệu, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội.
(1) Tổ chức các Đoàn khảo sát, thu thập tài liệu tại 06 địa phương gồm:
Bà Rịa - Vũng Tàu, Hải Dương, Quảng Ninh, Bình Dương, Tiền Giang và AnGiang
Thành phần các Đoàn gồm: Lãnh đạo Cục, Chi Cục phía Nam, chuyênviên của các Phòng chức năng của Cục
Mục tiêu: thu thập thông tin, tài liệu về công tác quản lý nhà nước về đođạc và bản đồ ở địa phương, những bất cập trong tổ chức triển khai, sự phối hợpgiẵ Trung ương và địa phương, giữa các Bộ ngành liên quan; ý thức chấp hànhcác quy định của Nhà nước về hoạt động đo đạc và bản đồ của cộng đồng xãhội; những đề xuất và kiến nghị từ cơ sở để điều chỉnh trong xây dựng nội dung
dự án Luật
Hình thức triển khai, đối tượng tiếp xúc để thu thập thông tin: làm việcvới đại diện lãnh đạo các Sở TNMT, các phòng chức năng của Sở và cá nhânđang trực tiếp quản lý và thực thi nhiệm vụ đo đạc và bản đồ ở địa phương đểnắm bắt thông tin và thu thập tài liệu liên quan đến thực trạng quan hệ xã hội đốivới hoạt động đo đạc và bản đồ
(2) Điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội trong hoạt động
đo đạc và bản đồ chuyên ngành Thủy lợi, Hàng Hải, Địa chất khoáng sản bằngPhiếu Điều tra;
Mục tiêu: thu thập thông tin, thăm dò ý kiến về công tác quản lý, triểnkhai hoạt động đo đạc và bản đồ chuyên ngành của Bộ, ngành liên quan; ý thứcchấp hành các quy định của Nhà nước về hoạt động đo đạc và bản đồ chuyênngành; những bất cập, tồn tại của Nghị định 12, Nghị định 30 trong quản lý vàtriển khai hoạt động đo đạc và bản đồ chuyên ngành; những đề xuất, kiến nghị
để điều chỉnh trong xây dựng nội dung dự án Luật
Hình thức triển khai: hợp đồng chuyên gia tiến hành điều tra khảo sát thuthập thông tin về thực trạng quan hệ xã hội trong các hoạt động đo đạc và bản đồchuyên ngành bằng phiếu điều tra
Đối tượng điều tra: cá nhân trực tiếp tham gia quản lý và trực tiếp sản xuấttại các tổ chức thuộc các Bộ ngành liên quan có hoạt động đo đạc và bản đồchuyên ngành chịu tác động trực tiếp bởi hệ thống tổ chức và hệ thống văn bảnquy phạm pháp luật về đo đạc và bản đồ (sau này là Luật Đo đạc và Bản đồ)