Tác dụng của Covid-19 đối với ngành dệt may ảnh hưởng nghiêm trọng trong khi hầu hết các đơn đặt hàng ngành dệt may của Việt Nam đến từ Hoa Kỳ chiếm 50% tổng kim ngạch xuất khẩu và thị t
Trang 1
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng, tháng 6 năm 2021
mục lụ
Trang 2Bìa 1
Chương 1: Tổng quan về ngành và công ty dệt may Hòa Thọ 4
1.1.Tổng quan về ngành dệt may của việt nam hiện nay 4
1.2.Giới thiệu về tổng công ty cổ phần dệt may Hòa Thọ 4
1.2.1 Khái quát về công ty 4
1.2.2 Thông tin niêm yết 6
Chương 2: Phân tích môi trường kinh doanh 7
2.1.Môi trường tổng quát 7
2.1.1.Môi trường kinh tế 7
2.1.2.Môi trường công nghệ 8
2.1.3.Môi trường văn hóa – xã hội 9
2.1.4.môi trường pháp luật- chính trị 9
2.2.Môi trường ngành 9
2.2.1.Nhà cùng cấp 9
2.2.2.Đối thủ cạnh tranh 11
2.2.2.1.Đối thủ cạnh tranh trong nước 11
2.2.2.2.Đối thủ cạnh tranh ngoài nước 12
2.2.3.Khách hàng 13
2.3.Thị trường tài chính 13
2.3.1.Thị trường chứng khoán 13
Chương 3: Phân tích tài chính 16
3.1.Phân tích lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành thông qua phân tích tài chính 16
3.2.Phân tích tài chính và đánh giá rủi ro của công ty 19
3.2.1.Tình hình tài chính chung 19
3.2.2.Tình hình tài sản 20
3.2.3.Tình hình nợ phải trả 21
Trang 3
3 3.3.Các chỉ số tài chính chủ yếu 22
3.3.1.Tỷ số thanh toán 22
3.3.2.Tỷ số hoạt động 23
3.3.3.Tỷ số đòn bẩy tài chính 24
3.3.4.Tỷ số sinh lợi 25
3.3.5.Tỷ số giá trị thị trường 26
Chương 4: Hoạch định tài chính 28
4.1 Sự tăng trưởng của công ty và mục tiêu tăng trưởng 28
4.2 Kế hoạch tài trợ và đầu tư tài trợ dài hạn ảnh hưởng đến tình hình tài chính của công ty 29
4.3.Giải pháp đầu tư và tài trợ dài hạn giai đoạn 2020-2023 của công ty 33
Chương 5: Định giá, mua bán và sáp nhập 34
5.1 Định giá, mua bán 34
5.2 Các công ty sáp nhập, liên kết 38
Trang 4CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH VÀ CÔNG TY DỆT MAY HÒA
THỌ1.1.Tổng quan về ngành dệt may của Việt Nam hiện nay.
Những năm gần đây, ngành Dệt may Việt Nam liên tục có bước phát triển tích
cực, đạt mức tăng trưởng xuất khẩu năm sau cao hơn năm trước Mặc dù, tăng
trưởng cao, nhưng trước những diễn biến của thương mại toàn cầu đang tiềm ẩn
nhiều rủi ro do chịu sự ảnh hưởng của tình hình dịch bệnh.
Năm 2018, ngành Dệt may Việt Nam đánh dấu mốc quan trọng khi kim ngạch
xuất khẩu đạt trên 36 tỷ USD, tăng trưởng hơn 16% so với năm 2017 (năm 2015
tăng 12,1%, năm 2016 tăng 4,07%, năm 2017 tăng 10,8%) Ngành Dệt may Việt
Nam nằm trong tốp 3 nước xuất khẩu cao nhất thế giới, chỉ sau Trung Quốc và Ấn
Độ 6 tháng đầu năm 2019, kinh tế thế giới có xu hướng tăng chậm lại do những
biến động và xung đột chính trị, thương mại, đặc biệt chính sách bảo hộ, chiến tranh
thương mại gia tăng ngày càng phức tạp, khó lường, nhưng ngành dệt may đạt tổng
kim ngạch xuất khẩu gần 18 tỷ USD, tăng 8,61% so với cùng kỳ năm 2018.
Ngành Dệt may Việt Nam đang đứng trước những khó khăn, thách thức mới, đó
là: Căng thẳng thương mại Mỹ-Trung ảnh hưởng tới tỷ giá giữa các đồng tiền, giá
hàng hóa gia công tại Việt Nam cao hơn so với một số nước trong khu vực, ảnh
hưởng đến các đơn hàng xuất khẩu, đặc biệt với nhóm hàng dệt may Việc tiêu thụ
sợi và nguyên phụ liệu gặp nhiều khó khăn vì thị trường xuất khẩu chủ lực là Trung
Quốc cắt giảm lượng nhập hàng.
Tác dụng của Covid-19 đối với ngành dệt may ảnh hưởng nghiêm trọng trong khi
hầu hết các đơn đặt hàng ngành dệt may của Việt Nam đến từ (Hoa Kỳ chiếm 50%
tổng kim ngạch xuất khẩu) và thị trường EU (chiếm 12% tổng kim ngạch xuất
khẩu) đã bị cuốn vào cuộc khủng hoảng dịch nên Chính phủ Hoa Kỳ và EU quyết
định tạm thời đóng cửa biên giới và thực thi các lệnh cấm Sự ảnh hưởng của dịch
bệnh phức tạp làm giảm đáng kể nhu cầu đối với hàng dệt may Việt Nam và nhiều
khu công nghiệp dệt may lớn phải tạm ngừng hoạt động.
1.2.Giới thiệu về Tổng Công ty Cổ phần Dệt May Hòa Thọ.
1.2.1 Khái quát về công ty.
Trang 5
5
Tổng Công ty Cổphần Dệt may Hòa Thọ (Công ty Dệt may Hòa Thọ)là một
trong những doanh nghiệp hàng đầu của ngành Dệt may Việt Nam Công ty dệt
may Hòa Thọ được thành lập từ năm 1962, có tên là nhà máy dệt Hòa Thọ
(SICOVINA) sau đó chuyển đổi thành Tổng Công ty Cổ phần Dệt May Hòa
Thọ.
Tên giao dịch đối ngoại : HOATHO CORPORATION.
Tên viết tắt : HOATHO CORP.
Trụ sở chính : 36, Ông Ích Đường, P Hòa Thọ Đông, Q Cẩm Lệ, TP Đà
Chủ yếu sản xuất hàng may sẵn (trừ trang phục): sản xuất, kinh doanh, xuất
nhập khẩu hàng may mặc, vải, sợi, chỉ khâu, các loại thiết bị, nguyên phụ
liệu, phụ tùng ngành dệt may.
Bên cạnh đó, HTG còn mở rộng loại hình kinh doanh sang các mảng: siêu
thị, du lịch, khách sạn, kinh doanh vận tải hàng, kinh doanh bất động sản, xây
dựng công nghiệp, dân dụng khai thác nước sạch phục vụ sản xuất công
nghiệp và sinh hoạt, sản xuất điện mặt trời, kinh doanh giấy các loại, bán lẻ
thực phẩm trong các cửa hàng chuyên doanh.
Địa bàn kinh doanh
• Thị trường trong nước: HTG có hệ thống phân phối chủ yếu tập trung ở Hà
Nội, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh.
• Thị trường ngoài nước: Với các sản phẩm đa dạng như : suit, quần tây, áo
khoác, bảo hộ lao động,…cùng chất lượng đảm bảo, mẫu mã hợp thời đại, sản
phẩm Hòa Thọ được khách hàng đánh giá cao, kể cả những thị trường với tiêu
chuẩn khắc khe như Hoa Kỳ, Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc….
Không chỉ là một hệ thống cung ứng Sợi - May hàng đầu Việt Nam, Hòa Thọ
còn giữ vai trò nòng cốt, trong các hoạt động của Vinatex và Vitas, tích cực đóng
góp to lớn vào ngành dệt may Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua.
Trang 6Với chủng loại sản phẩm đa dạng gồm Suit, quần tây, áo khoác, bảo hộ lao
động, cùng chất lượng đảm bảo, mẫu mã hợp thời trang, sản phẩm Hòa Thọ được
khách hàng đánh giá cao, kể cả những thị trường với nhiều tiêu chuẩn khắt khe như
Hòa Kỳ, Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc
Cùng với bề dày lịch sử lâu đời, quy mô sản xuất lớn, đội ngũ nhân sự tâm huyết
và sáng tạo, mẫu mã đẹp, chất lượng đảm bảo, Hòa Thọ không ngừng gia tăng
năng lực cạnh tranh, khẳng định vị thế dẫn đầu cũng như thương hiệu của mình trên
cả thị trường trong nước và quốc tế.
1.2.2 Thông tin niêm yết
- Sàn giao dịch: UpCom
- Mã cổ phiếu: HTG
- Nghành: Sản xuất/ Sản xuất sợi, vải/ Sản xuất sợi, vải thành phẩm.
- Ngày giao dịch đầu tiên: 14/06/2017
- Giá đóng cửa phiên GD đầu tiên(nghìn đồng): 23.5
- KLCP đang niêm yết: 22,500,000
- KLCP đang lưu hành: 22,500,000
- Vốn hóa thị trường (tỷ đồng): 429.75
Trang 7
7
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG KINH DOANH
2.1.Môi trường tổng quát
2.1.1Môi trường kinh tế
Tình hình kinh tế và chính trị thế giới năm 2019 có nhiều biến động phức tạp.
Chiến tranh thương mại Mỹ- Trung và xung đột thương mại giữa nhiều quốc gia đã
gây ra những tác động sâu rộng đến kinh tế thế giới Tuy nhiên, nền kinh tế Việt
Nam có kết quả khả quan hơn, GDP Việt Nam năm 2019 tăng 7,02%, vượt mục tiêu
của Quốc hội đề ra từ 6,6% đến 6,8% (theo số liệu Tổng cục thống kê) Bên cạnh
đó, chỉ số lạm phát năm 2019 tăng 2,8%, thấp nhất trong 3 năm gần đây Sự phát
triển năng động của nền kinh tế là những tín hiệu tích cực kéo theo cơ hội phát triển
cho các doanh nghiệp Ngoài ra, việc ký kết Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ
xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU
(EVFTA), sẽ mang đến những ưu đãi về thuế quan, đẩy mạnh hoạt động thương
mại, cơ hội tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng toàn cầu của các Doanh
nghiệp Việt Nam Ngành dệt may Việt Nam là một lĩnh vực nhận được nhiều sự
quan tâm trong tình hình chiến tranh thương mại hiện nay Xét về tổng thể, ngành
dệt may vẫn đang duy trì được đà tăng trưởng khá, kim ngạch xuất khẩu năm 2019
đạt 32,6 tỷ USD, tăng 6,9% (theo Tổng cục thống kê) Tuy nhiên, ngành dệt may
Việt Nam chưa tận dụng được CPTPP vì để hưởng được ưu đãi thuế 0% các doanh
nghiệp phải đáp ứng được quy tắc xuất xứ “từ sợi trở đi” Trước tình hình trên sẽ
mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp sản xuất sợi tổng hợp hoặc các doanh nghiệp
may có chuỗi giá trị hoàn thiện sợi- dệt nhuộm- may Nhìn chung, nền kinh tế phát
triển, hội nhập toàn cầu ngày càng mở rộng, nhu cầu về thời trang ngày càng nâng
cao là những yếu tố giúp thúc đẩy tăng trưởng ngành Tổng Công ty luôn chủ động
tìm hiểu các xu hướng để tìm ra các cơ hội giúp Tổng Công ty phát triển ổn định,
bền vững Ngoài ra, Tổng Công ty còn cần chú trọng đầu tư máy móc, thiết bị, nắm
vững về các hiệp định tự do thương mại để có thể tận dụng được các ưu đãi trong
hiện tại và tương lai.
Lạm phát : Theo Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm
2018 tăng 3,54% so với bình quân năm 2017, dưới mục tiêu Quốc hội đề ra CPI
tháng 12/2018 tăng 2,98% so với tháng 12/2017, bình quân mỗi tháng tăng 0,25%.
Đây được coi là thành công đáng kể trong việc kiểm soát lạm phát, giữ CPI bình
quân năm 2018 dưới 4% Nguyên nhân chính khiến CPI của Việt Nam được kiểm
soát tốt trong năm 2018 là do có sự can thiệp của Chính phủ đối với một số mặt
Trang 8hàng dịch vụ công, có tác động mạnh đến lạm phát như việc hoãn tăng giá điện;
giãn lộ trình tăng thuế môi trường lên mặt hàng xăng dầu, giãn lộ trình tăng học phí,
giá dịch vụ y tế tại một số tỉnh, thành phố lớn của cả nước Tuy nhiên, các giải pháp
trên sẽ không thể kéo dài, nếu không tăng giá của các dịch vụ này thì bắt buộc ngân
sách phải tiếp tục bù lỗ hoặc trợ giá khiến cho thâm hụt ngân sách tăng, điều này
đồng nghĩa với nợ công sẽ tăng Vì vậy, Chính phủ cần phải thận trọng trong việc
điều chỉnh giá các dịch vụ công như là y tế, giáo dục, điện Những điều chỉnh này là
cần thiết nhưng phải có lộ trình thích hợp và khả năng trung hoà thị trường của
chính sách tiền tệ.
Lãi suất : Năm 2018, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay của các tổ chức tín
dụng tương đối ổn định Tuy nhiên, một số ngân hàng vừa qua đã có động thái tăng
lãi suất huy động nhưng mức độ tăng nhỏ, không thể hiện xu hướng tăng của thị
trường Ngân hàng Nhà nước đã chủ động siết dần lại tăng trưởng tín dụng, liên tục
đốc thúc hệ thống đẩy nhanh xử lý nợ xấu để tái tạo nguồn, bám sát và cân đối
nhanh các kênh điều tiết, cùng với đó là phải luôn đảm bảo không tăng lãi suất huy
động, lãi suất liên ngân hàng Môi trường lãi suất thay đổi sẽ tác động tới sự dịch
chuyển dòng vốn toàn cầu và có sức lan tỏa mạnh Các nền kinh tế phát triển cần
chuyển sang chính sách thắt chặt trước nguy cơ tăng trưởng nóng và lạm phát tăng
cao sau một thời gian dài nới lỏng tiền tệ Các thị trường đang phát triển cũng phải
đối mặt với rủi ro lạm phát tăng nhanh và sự mất giá đồng nội tệ Vì vậy, các thị
trường này có thể chịu rủi ro lớn khi dòng vốn bị rút ra để tìm về các tài sản an toàn
một khi thị trường có biến động mạnh Với độ mở lên tới 100%, Việt Nam khó có
thể tránh khỏi những tác động từ bên ngoài khi nền kinh tế thế giới có bất ổn.
Năm 2019, xu hướng nới lỏng tiền tệ diễn ra ở một loạt các quốc gia nhằm kích
thích kinh tế do ảnh hưởng của xung đột thương mại Bên cạnh đó, FED đã quyết
định cắt giảm lãi suất 3 lần, hiện xuống mức 1,5%- 1,75%/ năm Tại Việt Nam,
Ngân hàng Nhà nước cũng có ban hành Quyết định số 2415 và 2416/QĐNHNN liên
quan đến việc điều chỉnh giảm lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa của các tổ chức tín
dụng đây là một dấu hiệu tích cực cho các doanh nghiệp.
2.1.2.Môi trường công nghệ
Năng lực sản xuất kém, công nghệ lạc hậu là một trong những hạn chế lớn của
ngành may mặc Việt Nam hiện nay Hoạt động của ngành may hiện nay phần lớn là
thực hiện gia công cho nước ngoài hoặc chỉ sản xuất những sản phẩm đơn giản, còn
Trang 9
9
những sản phẩm đòi hỏi kỹ thuật cao mang lại giá trị gia tăng lớn lại chưa đáp ứng
được Vì thế nếu được đầu tư đúng mức về công nghệ thì ngành may mặc Việt
Nam có thể phát huy hết được tiềm năng về lao động và chất lượng.
2.1.3.Môi trường văn hóa – xã hội
Tại Việt Nam, mức sống của người dân thành thị ngày càng cao và đang theo xu
hướng chuyển sang tiêu dùng hàng may mặc cao cấp nhập khẩu từ Hàn Quốc, Đài
Loan, Nhật Bản Một bộ phận dân cư ưa chuộng phương thức may đo không chỉ
với những bộ quần áo sang trọng mà cả quần áo mặc thường ngày Hàng may mặc
nội địa cũng có một vị thế khá vững chắc với nhiều thương hiệu nổi tiếng như Việt
Tiến, May 10, Thành Công, Thăng Long Thành thị, thị xã… mới có sự lựa chọn kỹ
càng về kiểu dáng, chất lượng, màu sắc , thời trang… còn đa số người dân nông
thôn chỉ mới chú trọng đến yếu tố “ ăn chắc, mặc bền” ,trong tiêu dùng hàng may
mặc hiện nay thì hàng may sẵn là hình thức chủ yếu vì nhanh gọn đơn giản và tiện
lợi, giá rẻ lại phong phú, đa dạng về mẫu mã, chủng loại Đồ may sẵn thường xuyên
phải giảm giá do chất lượng thấp, tiêu thụ chậm, tồn đọng nhiều Những sản phẩm
gắn mác chất lượng cao chỉ phù hợp với một bộ phận tiêu dùng trong xã hội
2.1.4.Môi trường pháp luật- chính trị
Hiện nay ngành đẹt may là ngành mà nhà nước ta đặc biệt quan tâm và nhận
được rất nhiều sự ủng hộ từ phía chính phủ, phát triển ngành dệt may trở thành một
trong những ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu, thỏa mãn nhu
cầu ngày càng cao cho người tiêu dùng trong nước, tạo nhiều việc làm cho xã hội
nâng cao khả năng cạnh tranh, hội nhập vững chắc kinmh tế khu vực và thế giới.
Bên cạnh đó, môi trường chính trị pháp luật ổn định cũng tạo điều kiện rất lớn cho
việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Nước ta hiện nay đã có các tiêu chuẩn về sản xuất, các quy chế về cạnh tranh,
việc bảo vệ bản quyền, phát minh sáng chế, chính sách thuế quan đối với hàng nhập
ngoại, cũng đang được áp dụng nhằm bảo vệ doanh nghiệp khỏi tình trạng hàng
giả, hàng nhái đồng thời tôn vinh các thương hiệu Việt.
2.2.Môi trường ngành
2.2.1.Nhà cùng cấp
Trang 10Bảng 1:Danh sách những nhà cung cấp chính cho Công ty
(Nguồn Hoa Tho Corp)
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh Công ty sử dụng khá nhiều chủng loại nguyên
vật liệu, và nhà cung cấp đa dạng từ nhiều nước khác nhau.
Bông: nguồn nguyên liệu được nhập khẩu từ các nhà cung cấp Ecom
Agroindustrial Asia Pte.ltd, Olam International Limited của Mexico, Mali và
các nhà cung cấp Việt Nam.
Xơ: xơ Tairilin được lấy từ Việt Nam, xơ Nanlon được lấy từ nhà cung cấp
Timex Trading Co.Ltd của Taiwan.
Vải phối, vải chính, vải lót các loại được nhập khẩu từ nhiều nước trên thế
giới như: Korea, Taiwan Japan, China, Hongkong,
Nút đóng các loại: chủ yếu được nhập từ Hongkong
Dây viền lừng, dây dưng, thun do nhà cung cấp Toptide Sun Textile Co.ltd
của China cung cấp.
Công ty dệt may Hòa Thọ hoạt động trong lĩnh vực may mặc gần 50 năm Vì
vậy công ty đã xây dựng một hệ thống mạng lưới các nhà cung cấp nguyên vật liệu
có tên tuổi, mạng lưới phân phối rộng và nguồn hàng phong phú Đây là những nhà
cùng cấp nguyên vật liệu có chất lượng ổn định, giá cả cạnh tranh, giao hàng đúng
tiến độ.
Đa số các nguồn nguyên liệu phục vụ hoạt động sản xuất tại các công ty Dệt
may là nguyên liệu được nhập từ nước ngoài, chủ yếu là từ Trung Quốc Việt Nam
không có lợi thế về quy mô sản xuất vải so với Trung Quốc Quy mô sản xuất vải
Trang 11
11
của Việt Nam khoảng 2 tỷ mét/ năm, còn ở Trung Quốc khoảng 90 tỷ mét/ năm, từ
đó giúp cho vải Trung Quốc luôn có giá rẻ hơn khoảng 30% so với Việt Nam Việc
phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu ngoại nhập tiềm ẩn rất nhiều rủi ro Tuy nhiên,
đối với HTG rủi ro này được giảm nhẹ phần nào khi Tổng Công ty luôn có sẵn
nguồn nguyên liệu dự trữ, giữ vững mối quan hệ với nhà cung cấp.
2.2.2 Đối thủ cạnh tranh
2.2.2.1.Đối thủ cạnh tranh trong nước
Sự cạnh tranh gay gắt của các doanh nghiệp dệt may trên thị trường ngày
khốc.Hàng loạt các công ty thành viên của Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex)
như: May 10, Việt Tiến, Nhà Bè,… cũng tăng cường đầu tư, nghiên cứu thiết kế
nhằm đưa ra thị trường những sản phẩm mang thương hiệu riêng Do đó, Hòa Thọ
cần đổi mới cả về phương thức quản lý lẫn máy móc, thiết bị và bảo đảm về chất
lượng hàng hóa, giá cả sản phẩm Đồng thời, chủ động từ nguyên phụ liệu đến đội
ngũ lao động có tay nghề giỏi; tập trung đẩy mạnh khâu thiết kế thời trang, xây
dựng thương hiệu và tích cực mở rộng hệ thống bán lẻ nhằm chiếm lĩnh thị phần và
nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường nội địa.
Sự ganh đua của các công ty trong ngành : Hòa Thọ, May 10, 29/3, Thành Công, Nhà
Bè
Năng lực thương lượng của người mua Năng lực thương
lượng của người bán
Trang 12Hình 2: Mô hình 5 tác lực cạnh tranh
2.2.2.2.Đối thủ cạnh tranh ngoài nước
Việt Nam tham gia sâu vào nền kinh tế toàn cầu, cùng với việc hệ thống pháp luật
ngày càng hoàn thiện, chặt chẽ hơn đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, tuy
nhiên sẽ kéo theo rủi ro cạnh tranh vô cùng lớn Đối với ngành dệt may Việt Nam luôn
phải chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ của các quốc gia xuất khẩu dệt may khác như Trung
Quốc, Ấn Độ, Bangladesh, Indonesia, Campuchia,…Vì vậy để nâng cao năng lực cạnh
tranh các doanh nghiệp dệt may nói chung và HTG nói riêng cần chú trọng vào việc đầu
tư các thiết bị tiên tiến, hiện đại, đổi mới công nghệ sản xuất, gia tăng năng suất lao động
để mang đến chất lượng tốt hơn
Đối thủ cạnh tranh hiện tại mà ngành dệt may của Việt Nam đang phải đối đầu là
Trung Quốc vì hàng Trung Quốc chiếm lĩnh thị trường sản phẩm may mặc đơn giản,
thường ngày và đáp ứng nhu cầu cho các tầng lớp dân cư có thu nhập từ thấp đến trung
bình và khá
- Hàng may mặc Trung Quốc tràn ngập, hàng Việt Nam muốn mở rộng kinh doanh
nôi địa phải vượt qua được thách thức cạnh gtranh gay gắt về nhiều mặt của hàng
Trung Quốc Hàng Trung Quốc cũng đã làm thay đổi một phần thói quen tiêu dùng
sản phẩm may mặc trong 1 bộ phận dân cư
- Sự buôn lậu tràn lan các mặt hàng may mặc Trung Quốc vào Việt Nam đã gấy ra sự
biến động lớn về thị trường , gây tác hại xấu đến môi trường kinh doanh trong
nước
- Hàng dệt Trung Quốc nhập khẩu xét theo khía cạnh tích cực cũng đã bổ sung
nguyên liệu quan trọng trong ngành may trong nước
Đe dọa sản phẩm thay
thế
Trang 13
13
2.2.3.Khách hàng
Thực tế thu nhập của người dân Việt Nam không cao nên việc may mặc cũng có nhiều
hạn chế Chỉ có một phần nhỏ người tiêu dùng có thu nhập cao tiêu dùng sản phẩm cao
câp còn lại là những người có thu nhập thấp và trung bình Nhìn chung ngành dệt may của
Việt Nam ít mẫu mã đẹp, giá cao, trong khi đó hàng dệt may của nhiều nước lại có mẫu
mã đẹp, giá rẻ, đa dạng chủng loại để người tiêu dùng sử dụng Tiêu biểu là hàng dệt may
của Trung Quốc Với tâm lý của người Việt Nam là thích rẻ và đẹp nên việc lựa chọn hàng
của các nước như Trung Quốc càng có xu hướng tăng
2.3.Thị trường tài chính
2.3.1.Thị trường chứng khoán
Năm 2019, thị trường tài chính quốc tế nói chung và TTCK thế giới nói riêng chịu
nhiều tác động trái chiều vừa mang tính tiêu cực, vừa mang tính tích cực Ảnh hưởng rất
lớn trong giai đoạn này là cuộc chiến thương mại Mỹ- Trung; nguy cơ Brexit không đạt
được thỏa thuận; những bất ổn về địa chính trị tại một số khu vực và đặc biệt là sự đảo
chiều trong chính sách tiền tệ của các nước lớn trên thế giới… Nếu như, cuộc chiến
thương mại Mỹ - Trung và nguy cơ Brexit không đạt được thỏa thuận cũng như những bất
ổn về địa chính trị của một số khu vực trên thế giới năm 2019 được xem là nhân tố tiêu
cực tác động đến thị trường tài chính thế giới thì việc đảo chiều trong chính sách tiền tệ
của các nước lớn được đánh giá là nhân tố nâng đỡ TTCK
Việc lãi suất đồng USD tăng đã dẫn đến xu hướng rút vốn từ các quỹ đầu tư cổ phiếu để
chuyển sang đầu tư vào các quỹ trái phiếu tại Mỹ và các nước lớn Chính sách tiền tệ thắt
chặt khiến giá vốn tăng lên cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến trong 6 tháng
đầu năm hầu hết tăng trưởng của các nền kinh tế lớn đều giảm sút, kéo theo sự giảm sút
của TTCK, đặc biệt là thị trường cổ phiếu thế giới
• Bối cảnh trong nước
TTCK Việt Nam năm 2019 được đánh giá là có nhiều động lực tích cực hỗ trợ phát
triển nhờ các yếu tố như: Các cân đối vĩ mô được đảm bảo; chính sách tài khóa ổn định và
chính sách tiền tệ được điều hành theo hướng nới lỏng Năm 2019, tình hình kinh tế vĩ mô
tiếp tục ổn định tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế
Năm 2019, không nằm ngoài xu thế chung của thị trường thế giới, chính sách tiền tệ
của Việt Nam cũng được điều chỉnh theo hướng nới lỏng thông qua động thái cắt giảm lãi
suất liên tục của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong nửa cuối năm 2019 nhằm hỗ trợ cho
tăng trưởng kinh tế, đảm bảo các cân đối vĩ mô và giảm thiểu tác động từ các nhân tố tiêu
Trang 14cực của bối cảnh kinh tế quốc tế Chính sách tiền tệ nới lỏng của NHNN trong thời gian
vừa qua là một trong những nhân tố quan trọng để dòng tiền nhàn rỗi dịch chuyển từ kênh
tín dụng truyền thống sang các kênh đầu tư khác trong đó có TTCK
Những biến động trên của kinh tế toàn cầu và kinh tế Việt Nam trong thời gian qua
được xem là những nhân tố tác động đa chiều lên TTCK cơ sở và tạo ra những diễn biến
phức tạp trên thị trường trong năm 2019 Nhìn chung TTCK Việt Nam phục hồi tương đối
so với thời điểm cuối năm 2018
Mức vốn hóa của thị trường cổ phiếu tính đến ngày 6/12/2019 đạt 4383 nghìn tỷ đồng,
tăng 10,7% so với cuối năm 2018 (tương đương 79,2% GDP) Hiện có 748 cổ phiếu và
chứng chỉ quỹ niêm yết trên 2 Sở Giao dịch và 826 cổ phiếu đăng ký giao dịch trên
Upcom với tổng giá trị niêm yết, đăng ký giao dịch đạt gần 1.385 tỷ đồng, tăng 14,8% so
với năm 2018
Trang 15
15
2.3.2.Biến động giá cổ phiếu của ngành dệt may
Giá nhiều cổ phiếu dệt may đã bứt phá trong nửa cuối năm 2018, phản ánh kỳ vọng lạc
quan trước thềm năm 2019 Với triển vọng tích cực, hoạt động sản xuất - kinh doanh của
các doanh nghiệp ngành dệt may duy trì được sự ổn định và tăng trưởng Thống kê của
Báo Đầu tư Chứng khoán cho thấy, trong nhóm 20 doanh nghiệp dệt may có tổng tài sản
lớn nhất đang niêm yết trên thị trường chứng khoán, trong quý I vừa qua, chỉ có 1 doanh
nghiệp báo lỗ.Trong đó, cổ phiếu của Đầu tư và Phát triển Đức Quân (HOSE: FTM) giảm
mạnh hơn 80%, Tập đoàn Trường Tiền (HNX: MPT) giảm hơn 63%, Sản xuất Kinh
doanh và Xuất nhập khẩu Bình Thạnh (HOSE: GIL) giảm gần 38%
Chỉ có 4 cổ phiếu tăng giá, với mức tăng nhẹ từ 3-38% Cổ phiếu May Sông Hồng
(HOSE: MSH) tăng mạnh nhất gần 38%, Sợi Thế Kỷ (HOSE: STK) tăng gần 20%, còn lại
tăng không đáng kể
Trang 16
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH3.1.Phân tích lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành thông qua phân
tích tài chính
Trang 17CTCP Dệt May Hoà Thọ (HTG) CTCP May Việt Tiến CTCP May Sông Hồng
Chỉ số chung của ngành
Trang 18- Về mặt doanh thu, nhìn chung công ty dệt may Việt Tiến có chỉ số cao đứng đầutrong 3 công ty Chỉ số ROA và ROE của CTCP Việt Tiến thể hiện rằng doanhnghiệp đang sử dụng tốt tài sản và nguồn vốn của mình, CTCP may Việt Tiếntrong 2 năm 2018 và 2019 có ROA và ROE đều lớn hơn chỉ số bình quân ngànhROA là 10.15% năm 2018 và 8,39% năm 2019 so với ROA của ngành hàng tiêudùng là 6.27% ROE là 28.59% ở năm 2018 và 29.03% ở năm 2019 Theo chuẩnquốc tế thì khi ROE > 15% và ROA > 7.5% chứng tỏ doanh nghiệp đủ năng lực vềmặt tài chính, mà ở bảng trên chúng ta có được số liệu % ROA và ROE đều lớnbình quân ngành, vì vậy CTCP Việt Tiến là một doanh nghiệp có năng lực về mặttài chính Nhìn vào chỉ số ROA và ROE các nhà đầu tư sẽ biết được doanh nghiệpkiếm được bao nhiêu tiền lãi trên 1 đồng tài sản hoặc nguồn vốn Tuy nhiên công
ty cần có các giải pháp cải thiện hơn nữa sao cho ROA(ROE) tiêu chuẩn +ROA(ROE) ngày càng tăng + duy trì ít nhất 3 năm => Doanh nghiệp tốt
- Biên lợi nhuận gộp của doanh nghiệp năm 2018 và 2019 lần lượt là 12.04% và12.49% cho thấy được doanh nghiệp còn sử dụng rất nhiều tiền cho việc sản xuấthay giá cả nguyên vật liệu còn cao làm cho lợi nhuận gộp thu được thấp so với chỉ
số ngành biên lợi nhuận là 16.69% để nâng cao lợi thế cạnh tranh thì doanh nghiệpcần giảm khoản tiền cho nguyên vật liệu và sản xuất xuống mức tối đa để có thểgiảm giá thành sản phẩm và tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp So với bìnhquân ngành thì biên lợi nhuận gộp của công ty đang còn thấp chưa thể so sánh vớiđối thủ cạnh tranh để góp phần đưa ra các điều chỉnh chiến lược giá bán, phục hồithị phần
Trang 193.2.Phân tích tài chính và đánh giá rủi ro của công ty
7 EPS 4.728 5.164 120,71%
Năm 2019 có tổng giá trị tài sản thấp hơn năm 2018 cụ thể là 221.582 triệu đồng Điềunày cũng có thể thấy được rằng năm 2019 nền kinh tế đã đối mặt với cuộc chiến thươngmại Mỹ-Trung cũng như cuộc biến đổi thị trường dầu mỏ, cháy rừng Amazon đã làmcho nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng chịu nhiều tác động Những tácđộng đã ảnh hưởng không nhỏ đến ngành dệt may Việt Nam Trước bối cảnh kinh tế vĩ
mô cua ngành, công ty cổ phần Dệt May Hòa Thọ đã cơ bản hoàn thành được những kếhoạch đề ra Chỉ tiêu DTT năm 2019 đạt được 4.253,607 tỷ đồng, giảm nhẹ 2,1% so vớinăm 2018 Các khoản chi phí cũng có phần sụt giảm so với cùng kỳ năm trước những kếttrả trên cho thấy được, sự điều hành cũng như chỉ đạo đúng đắn của tổng công ty, cùng sự
nổ lực của CBCNV đã giúp công ty phát triển trên HTG
3.2.2.Tình hình tài sản
Trang 202019 cũng thấp hơn năm ngoái 47,916 tỷ đồng, nguyên nhân là do tài sản cố định giảm10,34% chủ yếu đến từ việc khấu hao các tài sản như: máy móc, thiết bị, phương tiện vậnchuyển,…
Xét về cơ cấu năm 2019, tỷ trọng tài sản ngắn hạn chiếm 53,49% trong tổng tài sản, chiếm
tỷ trọng lớn là hàng tồn kho (chiếm 70,94%) và khoản phải thu khách hàng (chiếm 20,85%)
Tỷ trọng tài sản dài hạn chiếm 46,51% trong tổng tài sản, tài sản cố định đóng góp phầnlớn vào tài sản dài hạn
2018 2019
Tài sản ngắn hạn Tài sản dài hạn
Trang 212018 2019
Nợ ngắn hạn Nợ dài hạn