BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH VIỆN VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM Lê Thị Thanh NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH ĐỒ THỜ CHẤT LIỆU ĐỒNG Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ Chuyên ngành:
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH VIỆN VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Lê Thị Thanh
NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH ĐỒ THỜ CHẤT LIỆU ĐỒNG Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật
Mã số: 9210101
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT
Hà Nội – 2021
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Văn Tạo
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp Viện họp tại:
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Số 32, Hào Nam, Ô chợ Dừa, Đống Đa, Hà Nội
Vào hồi … giờ, ngày … tháng… năm 2021
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do l a chọn đề tài
Nghệ thuật tạo hình đồ thờ chất liệu đồng ở đồng bằng Bắc Bộ là thể loại nghệ thuật dân gian, là một bộ phận của mỹ thuật Việt Nam, mang những giá trị và biểu hiện nghệ thuật độc đáo
Đã có nhiều học giả nghiên cứu về đồ thờ của người Việt, nhưng chủ yếu tiếp cận theo góc độ văn hóa học, khảo cổ học, bảo tàng học hay du lịch học, chưa có công trình chuyên sâu về nghệ thuật tạo hình
đồ thờ chất liệu đồng một cách hệ thống
Đồ thờ chất liệu đồng gắn với cuộc sống, tín ngưỡng, tôn giáo của người Việt từ hàng ngàn năm trước Vật liệu đồng là kim loại quý có giá trị đặc biệt, dễ bị tái chế nên di vật đồ đồng của các thế kỷ trước hiện tồn không nhiều, hơn nữa yếu tố tạo hình thể hiện trên đồ thờ chất liệu đồng rất đa dạng, chính vì vậy việc nghiên cứu nghệ thuật tạo hình
đồ thờ chất liệu đồng là việc làm cần thiết
2 Mục đ ch và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu: Là nhận diện biểu hiện, đặc điểm và
giá trị văn hóa, nghệ thuật tạo hình của đồ thờ chất liệu đồng ở đồng bằng Bắc Bộ
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu về tổng quan tình hình của luận án, cơ sở lý luận và khái quát về đồ thờ chất liệu đồng;
- Trình bày các biểu hiện của nghệ thuật tạo hình đồ thờ chất liệu đồng ở đồng bằng Bắc Bộ;
- Bàn luận về đặc điểm biểu hiện và giá trị nghệ thuật tạo hình của đồ thờ chất liệu đồng ở đồng bằng Bắc Bộ thông qua ngôn ngữ biểu đạt, tư duy tạo hình, sự giao lưu và tiếp biến;
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Trang 43.1 Đối tượng nghiên cứu: là các đồ thờ chất liệu đồng ở đồng
bằng Bắc bộ mang vẻ đẹp dân gian và yếu tố thủ công mỹ nghệ, được lựa chọn trong các vựng tập của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam, các sách Cổ Vật Việt Nam và Cổ vật Thăng Long - Hà Nội; các tư liệu NCS thu thập được trong quá trình nghiên cứu, điền dã
3.2 h m vi nghiên cứu: Về không gian: đình, đền, chùa, bàn
thờ gia tiên có đồ thờ chất liệu đồng tiêu biểu Về thời gian: từ đầu thế XIX đến năm 2000 Đồng thời mở rộng nghiên cứu đối chiếu, so sánh với đồ thờ chất liệu đồng trước và sau thời gian nghiên cứu để làm
sáng tỏ những vấn đề về nghệ thuật tạo hình
4 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
4.1 Câu hỏi nghiên cứu: Ngôn ngữ tạo hình, thể loại đồ thờ chất
liệu đồng ở đồng bằng Bắc Bộ từ thế kỷ XIX đến TK XX được biểu hiện như thế nào? Đặc điểm nghệ thuật tạo hình đồ thờ chất liệu đồng
ở đồng bằng Bắc Bộ từ đầu TK XIX đến năm 2000? Giá trị văn hóa nghệ thuật của đồ thờ chất liệu đồng ở đồng bằng Bắc Bộ từ TK XIX
đến TK XX ?
4.2 Giả thuyết nghiên cứu: Ngôn ngữ tạo hình, thể loại nghệ
thuật tạo hình đồ thờ chất liệu đồng được thể hiện đa dạng về tạo dáng, hình khối, chủ đề và đồ án trang trí (1) Đặc điểm nghệ thuật tạo hình: thế kỷ XIX - 1954 thiên về đồ thờ để trơn, ít trang trí; từ 1954 - 1986 chú trọng tính hình thức, gia tăng chất liệu, từ 1986 - 2000 đồ thờ chất liệu đồng mang vẻ hào nhoáng, quy mô to lớn, làm cho tính thẩm mỹ
bị mờ nhạt (2) Giá trị: ghi dấu ấn giai đoạn lịch sử, mang tính thẩm
mỹ cao gợi ý nhiều bài học về nghệ thuật tạo hình (3)
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 hương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp
5.2 hương pháp điền dã
5.3 hương pháp thống kê, so sánh
Trang 55.4 Hướng tiếp cận liên ngành
6 Ý nghĩa khoa học và th c tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa khoa học
Luận án đã vận dụng cơ sở lý luận vào nghiên cứu một cách toàn
diện về nghệ thuật tạo hình đồ thờ chất liệu đồng ở đồng bằng Bắc Bộ
Bằng những kết quả khảo sát và nghiên cứu, luận án đã cho thấy diện mạo, hiện trạng của nghệ thuật tạo hình đồ thờ chất liệu đồng ở đồng bằng Bắc Bộ, cung cấp thông tin số liệu về đồ thờ chất liệu đồng hiện tồn trong các đình, đền, chùa, nhà dân một cách chân thực, khách quan, khoa học
7 Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu 13 (trang); Kết luận (3 trang), Tài liệu tham
khảo (14 trang), Phụ lục (93 trang) Nội dung luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về đồ thờ chất liệu đồng (40 trang)
Chương 2: Biểu hiện của nghệ thuật tạo hình đồ thờ chất liệu đồng ở đồng bằng Bắc Bộ (59 trang)
Chương 3: Bàn luận về đặc điểm và giá trị văn hóa, nghệ thuật của đồ thờ chất liệu đồng ở đồng bằng Bắc Bộ (42 trang)
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN
VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỒ THỜ CHẤT LIỆU ĐỒNG
Trang 61 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về làng nghề đúc đồng: Vấn đề về
làng nghề đúc đồng của người Việt gồm các nội dung: lịch sử những
làng nghề, các vị tổ nghề, nguyên liệu, quy trình sản xuất, điều làm nên nét độc đáo trong mỗi làng nghề, tinh thần gìn giữ nghề truyền thống
của các nghệ nhân và sự hỗ trợ của nhà nước như các cuốn Tổng tập
nghề và làng nghề truyền thống Việt Nam của Trương Minh Hằng,
sách Làng Đại Bái gò đồng của Đỗ Thị Hảo; Tống Xá làng nghề đúc
truyền thống cội nguồn Xưa và Nay của Dương Minh Đức Áp dụng
trong luận án cho thấy những sắc thái riêng trong nghệ thuật tạo hình
là có cơ sở từ kinh tế xã hội đương thời, cũng như kỹ thuật thể hiện của các làng nghề đúc đồng từng bước khẳng định rõ nét trên đồ thờ chất
thuật tạo tác tượng Phật trong các ngôi chùa Việt như sách Đồ thờ
trong di tích của người Việt của Trần Lâm Biền; sách Đồ đồng Thời Nguyễn của Đặng Văn Thắng và Phạm Hữu Công; sách Nghệ thuật tạo tác tượng Phật trong các ngôi chùa Việt của Trang Thanh Hiền qua
đó cho thấy đồ đồng đã phổ biến ở các thời Lý, Trần, Lê tuy nhiên do tính chất quý hiếm vật chất mà thể loại đồ thờ trước kia còn rất ít đến ngày nay; đồ thờ hiện biết đến chủ yếu có từ cuối thế kỷ XVIII, thế kỷ
XIX, TK XX
1.1.3 Tình hình nghiên cứu về đồ thờ Việt Nam của tác giả
Trang 7nước ngoài: Vấn đề các loại đồ thờ, các hình tượng thờ và các loại
họa tiết trang trí trên các đồ thờ gồm những biểu tượng đồ thờ, mô hình chùa thờ Phật của người An Nam, những pho tượng hoặc những bức vẽ minh họa; sự ảnh hưởng của tạo hình đồ đồng Trung Quốc tới kiểu dáng
đồ thờ và các hoa văn trang trí của đồ thờ Việt Nam như sách Les
symboles, les emblèmes et les accessoires du culte chez les Annamites của Goustave Dumoutier; sách Les Arts décoratifs au Tonkin của
Marcel Bernanosse; Arts of Vietnam 1009 – 1945 của Kerry Nguyễn
Long đã cung cấp nhiều thông tin, cũng như một số nhận định về đặc trưng của loại hình mỹ thuật tôn giáo tín ngưỡng, rất cần thiết và giúp cho luận án có được cơ sở khoa học, nhiều gợi mở để phát triển hướng
nghiên cứu mới
1 2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Khái niệm và thuật ngữ
1.2.1.1 Khái niệm Nghệ thuật tạo hình: là sự nhận thức hiện thực
đặc thù bằng hình tượng trong đó con người không chỉ lĩnh hội thế giới xung quanh mà còn xây dựng thái độ thẩm mỹ đối với thế giới đó, đồng thời cải tạo nó “theo quy luật của cái đẹp” Thông qua nghệ thuật tạo hình, con người phản ánh thế giới không chỉ bằng hệ thống các
khái niệm mà bằng cả các hình tượng, biểu tượng nghệ thuật
Đồ thờ: (theo nghĩa rộng) là tất cả những hiện vật được đặt trong
không gian linh thiêng của Đình, chùa, đền, miếu (theo nghĩa hẹp) là bát hương, cây nến, lư đỉnh… thường được làm phổ biến bằng chất
liệu gốm, đá và đồng
Chất liệu đồng: Là kim loại có bề mặt màu vàng lạnh (đồng thau)
hoặc cam đỏ (đồng đỏ), đồng tinh khiết có màu cam đỏ khi tiếp xúc với không khí nó chuyển thành màu lam ngọc Đồng có tính dẻo, mềm,
dễ dát mỏng và dễ uốn Chính vì vậy, đồng được sử dụng rất phổ biến
trong đời sống và các lĩnh vực tạo tác đồ thờ
Trang 8Nghệ thuật t o hình đồ thờ chất liệu đồng là nghệ thuật tạo hình
dân gian, nằm trong mảng điêu khắc, chú trọng đến thuộc tính kim loại đồng và sức biểu cảm trên bình diện khối, hình, nét, mầu sắc, bố cục,
đề tài, đồ án trang trí phù hợp để tạo ra đồ thờ có chức năng đáp ứng yêu cầu tâm linh và tuân theo theo quy luật của cái đẹp
1.2.1.2 Thuật ngữ
Đồ thờ nhân dạng (tượng thờ), Đồ thờ phi nhân dạng (đồ thờ Tam
sự, Ngũ sự), Hoa văn trang trí, Đồ án trang trí, Mô típ trang trí, Kỹ thuật tạo tác Là nhóm thuật ngữ được luận án giải thích nhằm cụ thể hóa các nhận định trong nghiên cứu
1.2.2 Lý thuyết nghiên cứu
Lý thuyết về Tiếp biến văn hóa Luận án xem xét các hình thức,
thể loại tạo hình đồ thờ chất liệu đồng trong tương tác với đồ thờ bằng
gỗ, đá, sứ, gốm, cho thấy đồ thờ chất liệu đồng có một hệ số chung nhưng cũng có những biểu hiện riêng (chương1) Làm sáng tỏ sự đa dạng về thể loại và hình thức biểu hiện về hình khối, chất liệu, mầu sắc của đồ thờ chất liệu đồng trong quá trình bảo lưu tiếp xúc với các nền văn hóa khác (chương 2) Những nhận định về đặc điểm và giá trị nghệ thuật của đồ thờ chất liệu đồng ở đồng bằng Bắc Bộ từ thế kỷ XIX đến năm 2000 vẫn phát triển khi nhiều lĩnh vực văn hóa khác chịu tác động của kinh tế thị trường (chương 3)
1.2.2.2 Lý thuyết về tính tương đối văn hóa theo đó, Franz Boas
lấy yếu tố tộc người làm yếu tố định hình các giá trị văn hóa Yếu tố đặc thù lịch sử bao hàm các vấn đề môi cảnh sinh tồn, điều kiện kỹ thuật, phương thức kiếm sống và tinh thần xã hội ở mỗi thời điểm lịch
sử cụ thể Dưới cách tiếp cận này, luận án phân tích được nguyên nhân, những yếu tố tác động đến các xu hướng phong cách tạo hình khác nhau trên đồ thờ chất liệu đồng ở đồng bằng Bắc Bộ từ thế kỷ XIX đến năm 2000
Trang 91.3 Khái quát về đồ thờ chất liệu đồng
1.3.1 Khái quát về đồng bằng Bắc Bộ
Đồng bằng Bắc Bộ tập trung đông tại đồng bằng sông Hồng Có tới 500 làng nghề ở Nam Định, Bắc Ninh, Hà Nội, Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên trong đó nổi bật là các làng đúc đồng Ngũ Xã Hà Nội, Tống Xá Nam Định, Đại Bái Bắc Ninh, Về văn hoá có tục giỗ tết, cúng linh thần, Về nghệ thuật có kho tàng ca dao, cổ tích, sân khấu chèo, tuồng, hát quan họ, múa rối Về chính trị và quân sự bảo
vệ đất nước chống ngoại xâm thì đồng bằng Bắc Bộ cũng là một điển hình Điểm qua một số nét tiêu biểu như trên cho thấy văn hóa đồng bằng Bắc Bộ là cội nguồn văn hóa Việt Nam
1.3.2 Khái quát về đồ thờ chất liệu đồng ở đồng bằng Bắc Bộ
Đồ thờ phi nhân dạng gồm: Các hiện vật thờ tại nhà cổ bà Lan,
Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội; nhà thờ họ Phạm, làng Vẽ, Bắc Từ Liêm, Hà Nội; Bộ Tam sự chùa Thánh Ân, Vị Xuyên, Nam Định; Bộ tam sự bàn thờ quan hữu đình làng Kiêu Kỵ, Gia Lâm, Hà Nội; Bộ Tam sự đình Ngũ Xã, Hà Nội; Bộ tam sự bàn thờ Chu Văn An, Quốc
Tử Giám, Hà Nội; Bộ ngũ sự đền Giếng, Đền Hùng, Phú Thọ; Bộ thất
sự đền Thượng, Đền Hùng, Phú Thọ; Bộ thất sự đền Hai Cô, xóm Soi, Long Biên, Hà Nội
Đồ thờ nhân dạng gồm: Tượng Thần: Huyền Thiên Trấn Vũ, đền
Cự Linh, Long Biên, Hà Nội; Bộ tượng Tam Thánh chùa Trung Hưng, Quốc Oai, Hà Nội Tượng Phật: Phật Tam thế, thế kỷ XIX Bảo tàng lịch sử Quốc gia Việt Nam; Phật A Di Đà chùa Thần Quang, Ngũ Xã,
Hà Nội; Phật Tam thế Bảo tàng lịch sử Quốc gia Việt Nam; Phật Quan
âm Chuẩn đề Bảo tàng lịch sử Quốc gia Việt Nam Tượng chân dung: Tượng từ đường họ Phan, Hà Nội; Vua An Dương Vương đền Thượng,
Cổ Loa, Hà Nội, đều là các đồ thờ cho thấy sự dụng công của các
Trang 10nghệ nhân đúc đồng trong tạo tác, khẳng định phong cách, ý đồ và biên
độ nghệ thuật tạo hình đồ thờ chất liệu đồng ở đồng bằng Bắc Bộ
Tiểu kết
Kết quả nghiên cứu của chương 1 đã xây dựng cơ sở lý luận, là khái niệm công cụ và bức tranh toàn cảnh về lịch sử đồ thờ chất liệu đồng ở đồng bằng Bắc Bộ làm cơ sở cho việc nghiên cứu sâu hơn ở chương 2 của luận án
Chương 2 BIỂU HIỆN CỦA NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH ĐỒ THỜ CHẤT LIỆU ĐỒNG Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
2 1 Đề tài và mô t p trên đồ thờ chất liệu đồng
2.1.1 Đề tài và mô típ linh thú, động vật
Mô típ Long (Rồng): Ở bộ Tam sự đình Ngũ Xã, Hà Nội có 3
tượng rồng dưới chân đỉnh, tạo hình theo lối tả thực của tượng tròn
Mô típ Rồng ở bộ tam sự bàn thờ Chu Văn An, Quốc Tử Giám, Hà Nội
là hình ảnh sao chép của hình hồng thời Lý cho thấy sự vụng về, lối thể hiện chưa đạt, hiệu quả thẩm mỹ còn nhiều hạn chế Mô típ Rồng
trên trang phục của tượng thờ Thân Vương nhà họ Phan, Hà Nội, thế
kỷ XIX là cách trang trí dày đặc trên trang phục tượng phản ánh cách tạo hình mới khác biệt so với cách chọn lọc vị trí trong tạo hình truyền thống của người Việt
Mô típ Lân: Ở nắp đỉnh trầm nhà cổ bà Lan, Đường Lâm, Sơn
Tây hình lân rất khỏe khoắn, hồn nhiên như trong điêu khắc đình làng Lân ở đỉnh trầm bộ Tam sự chùa Thánh Ân, Nam Định các nét chạm khắc hoa văn hình vân soắn ốc trên mình, đầu và chân rõ nét cho thấy con lân này dường như mang cá tính mạnh mẽ, rõ ràng và khúc triết hơn Lân trên nắp đỉnh bộ tam sự đình Ngũ Xã, Hà Nội lại đang dạo bước thong dong, vẩy toàn thân như vẩy cái chép, gần giống tượng
Long Mã thời Nguyễn, thế kỷ XIX - XX hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch
Trang 11sử Quốc gia Việt Nam Ngoài các tượng tròn hình lân, luận án còn chỉ
ra các phù điêu Lân và các bức tranh khảm tam khí, ngũ sắc hình Lân
cho thấy đây là mô típ phổ biến trong đồ thờ chất liệu đồng
Mô típ Quy: Trong bộ ngũ sự đền Giếng, Đền Hùng, Phú Thọ,
mô típ Rùa là một mô típ mang tính cách điệu cao: tạo hình con Rùa từ cấu tạo mai vốn là hình lục lăng thì đã được cách điệu như những viên ngói lá đề ghép lại, chiếc đuôi, cổ và chân dài tạo hình vảy cá chép với những hoa văn đốm lửa… gợi cảm giác về tích thiêng hơn là tính hiện
thực so với nhiều bộ đồ thờ khác trong luận án
Mô típ Phượng: Ở thân bình hoa của Bộ thất sự đền Thượng,
Đền Hùng, Phú Thọ, Phượng được tạo hình múa rất sinh động bằng kỹ thuật khảm tam khí gia tăng sức hút thị giác Họa tiết chim Phượng kết
hợp với vân mây và hoa dây leo tạo nên sự hài hòa, cân đối rõ rệt
Đề tài và mô típ động vật: Chân nến hình hươu cõng bình sen,
chất liệu đồng đỏ hun đen, cho thấy tạo hình thanh thoát nhẹ nhõm và
tao nhã của hình Hươu tạo nên một chỉnh thể khá đài các cho toàn bộ đỉnh
Hình khắc con Quỳ ở bộ Tam sự bàn thờ Quan hữu Đình làng Kiêu Kỵ, Gia Lâm, Hà Nội với dải hoa văn sóng cuộn trên đầu gợi cảm giác về con vật hung dữ dạng quái thú của biển cả được cảm hóa trong tôn giáo gợi nên sự hấp dẫn kịch tính trong bố cục tổng thể của
bộ đồ thờ
Bức tranh nhị Công trong bộ tam sự đình Ngũ Xã, Hà Nội đang chầu bông hoa cúc mãn khai có sự lộng lẫy của màu sắc và sự cần trọng trong từng đường nét, bố cục, nhịp điệu đem đến 1 tác phẩm sang trọng, trang nghiêm của một món thờ trong 1 không gian mờ tối của đình Ngũ Xã, Hà Nội
Như vậy ở đề tài và mô típ linh thú, động vật ta thấy, nhóm mô
típ linh thú chiếm đại đa số trên đồ thờ chất liệu đồng, còn nhóm mô
Trang 12típ động vật chiểm tỉ lệ rất ít, có lẽ vì đồ thờ chất liệu đồng mang chức
năng là công cụ trong lễ nghi, có vai trò truyền tải những lời cầu xin đến thế giới siêu hình, nên hội tụ các mô típ con vật thiêng nhằm gia tăng tính trang trọng trong các không gian thờ tự
2.1.2 Đề tài và mô típ thực vật và tranh dân gian
Đề tài và mô típ thực vật
Hình đồ án trang trí hoa Cúc mãn khai nhìn ở góc nghiêng được giản lược tối đa mật độ nét tạo ra quy luật biến đổi lặp lại, to nhỏ, sắc điệu… thích hợp cho việc trang trí các đường biên trải dài trên cổ đỉnh trầm
Mô típ hoa Sòi ở bụng đỉnh bàn thờ quan hữu đình làng Kiêu Kỵ,
Gia Lâm, Hà Nội là hoa văn du nhập từ phương Tây nhưng được chuyển hóa nhuần nhuyễn mang lại vẻ đẹp thuần Việt
Đề tài và mô típ tranh dân gian
Nội dung và hình ảnh tranh “Vinh quy bái tổ” trên bụng đỉnh trầm làng Đại Bái – Bắc Ninh hiện lên vẻ đẹp sang trọng, thuần nhã với những đường chạm trổ trau chuốt, nét gò điêu luyện tinh xảo thể hiện mong ước vinh hiển ngàn đời của người Việt
Nội dung và hình ảnh tranh Đánh cờ trên bụng đỉnh trầm làng Đại Bái – Bắc Ninh cho thấy sự chủ động và chững chạc trong nghệ thuật tạo hình của các nghệ nhân Việt bởi các hình ảnh trên toát lên nét tài hoa tài tử trong tay nghề của làng Đại Bái
Nội dung và hình ảnh tranh Giã bạn trên bụng đỉnh trầm làng Ngũ Xã,
Hà Nội Mang hình ảnh của 1 cuộc chia tay đầy lưu luyến, cho ta nhớ đến đoạn “Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều” Như vậy với bụng đỉnh trầm này người xem có thể thấy được biên độ mở rộng của các đề tài và nghệ thuật tạo hình của các nghệ nhân đúc đồng làng Ngũ Xã, Hà Nội một cách rõ nét
Trang 13Về mặt nghệ thuật tạo hình, giải pháp khắc phục bề mặt rộng lớn của đỉnh trầm bằng hình ảnh của tranh dân gian là giải pháp độc đáo vừa tăng mỹ cảm vừa kết nối tâm linh và truyền thống dân tộc tạo nên những giá trị nhất định trong nghệ thuật tạo hình làm sáng rõ mạch kết dính giữa mỹ thuật truyền thống và hiện đại
2.1.3 Đề tài và mô típ đồ vật và chữ Hán – Việt
Đề tài và mô típ đồ vật
Mô típ đồ vật là tay nải của thần Độc Cước, có vẻ gợi tả vật chất thật, có thể ngài là 1 đạo sỹ, tuy nhiên y phục nói chung của người Việt trước đây cũng có cái túi tượng dạng tay nải, gọi là hành trang Như vậy có lẽ nghệ nhân đúc đồng xưa đã tạo ra chi tiết này để nhắc đến
đặc điểm của người Việt của bất kỳ 1 nông dân nào đó…
Mô típ hình Kiếm của tượng Huyền Thiên Trấn Vũ tại đền Cự
Linh, phường Thạch Bàn, Long Biên, Hà Nội được nổi lên cận với tầm nhìn của người thưởng lãm, vì vậy dù kết cấu nhỏ, mảnh nhưng thanh kiếm vẫn gây được sự chú ý của người xem, đặt biệt khi hướng mắt xuống phía đầu mũi kiếm ta bắt gặp tượng rùa đang ngóc đầu lên như
hô ủng cùng hình rắn quấn quanh thanh kiếm tạo nên sức mạnh tập thể hội tụ tại mô típ này
Đề tài và mô típ chữ Hán – Việt
Trên Bộ thất sự đền Thượng, Đền Hùng, Phú Thọ có nắp đỉnh trổ
thủng hình chữ Thọ, cách xử lý nhịp điệu, mảng trổ thủng khá linh hoạt đã tạo ra những hiệu quả thẩm mỹ tích cực nhất định khi cỡ kích khối tăng cao
Mô típ chữ Thọ xuất hiện dạng hình được chạm thủng ở nắp đỉnh
của bộ Tam sự bàn thờ chùa Thánh Ân, tỉnh Nam Định, mục đích là để
thoát khói trầm mô típ này còn được nhắc lại ở đế đỉnh tạo nên mối quan hệ thú vị giữa các khối chạm nổi, chạm lõm và chạm thủng và gợi sự thống nhất trong phong cách và kết cấu đỉnh thờ