TTKDTM, hệ thống kết nối Smartlink - Banknetvn đã chính thức đi vào hoạt động từ ngày 23/5/2008, lần đầu tiên tạo ra một mạng lưới liên minh thẻ ATM thống nhất trên toàn quốc, và đã kết
Trang 16 giải pháp thực hiện mục tiêu Thanh
toán không dùng tiền mặt
Trước thực trạng việc dùng tiền mặt chiếm phổ biến trong xã hội, theo đề nghị của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), Chính phủ đã phê duyệt đề án Thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020 theo Quyết định số 291/2006/QĐ-TTg ngày 29/12/2006
Đề án đã được giao cho NHNN, các Bộ, ngành, địa phương có liên quan phối hợp
tổ chức, triển khai xây dựng và thực hiện các đề mục thành phần Có thể nói, mục tiêu và các chỉ tiêu của Đề án là khá toàn diện và sự phân công, phân nhiệm giữa các Bộ, ngành có liên quan cũng khá chi tiết Nhờ vậy đến nay, sau mấy năm triển khai, đã đem lại kết quả tương đối khả quan
Dần dần chuyển tiền mặt ra thẻ
Theo chỉ đạo của NHNN và để phục vụ tốt cho các công tác triển khai việc
Trang 2TTKDTM, hệ thống kết nối Smartlink - Banknetvn đã chính thức đi vào hoạt động
từ ngày 23/5/2008, lần đầu tiên tạo ra một mạng lưới liên minh thẻ ATM thống nhất trên toàn quốc, và đã kết nối thanh toán thẻ giữa 42 ngân hàng thành viên của
2 liên minh thẻ Tổng số máy ATM của 2 hệ thống này chiếm khoảng 80% tổng số máy ATM và số lượng thẻ thanh toán phát hành cũng chiếm 86% thị phần trong nước Việc chi trả lương qua tài khoản đã tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại (NHTM) mở rộng và phát triển giá trị gia tăng dịch vụ ngân hàng bán lẻ Tiếp tục lộ trình, ngành ngân hàng đã tăng cường đầu tư phát triển mạnh cơ cở hạ tầng về công nghệ thông tin Với nguồn vốn vay 106 triệu USD của Ngân hàng Thế giới (WB), trong một dự án khác, NHNN cũng đã khai trương hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng giai đoạn 2 vào ngày 28/2/2009, đáp ứng nhu cầu thanh, quyết toán tức thời với dung lượng ngày càng cao, giữ vai trò là hệ thống thanh toán “trụ cột” của quốc gia, tạo cơ hội mở rộng các dịch vụ ngân hàng hiện đại, thay đổi tư duy kinh doanh ngân hàng truyền thống và tạo thuận lợi cao nhất cho mọi đối tượng khách hàng Hệ thống này đã sẵn sàng kết nối với hệ thống thanh toán của Kho bạc Nhà nước, hệ thống Thanh toán bù trừ & Quyết toán chứng khoán và các hệ thống cần thiết khác
Ngoài ra, các NHTM cũng đã hoàn thành dự án thanh toán điện tử nội bộ kết nối giao dịch thanh toán trong hệ thống giữa các chi nhánh, đẩy mạnh triển khai hệ thống Core Banking để hiện đại hóa hệ thống thanh toán nội bộ, mở rộng mạng
Trang 3lưới, không ngừng đầu tư vào cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động thanh toán Nhiều phương tiện TTKDTM mới, hiện đại, tiện ích ứng dụng công nghệ cao như thẻ ngân hàng, thanh toán qua Internet, điện thoại di động, ví điện tử khi được các NHTM cung ứng, đã đáp ứng một phần không nhỏ yêu cầu của nền kinh tế và từng bước tạo ra nhiều tiện ích cho người dân
Không dừng ở đó, NHNN cũng đã trình và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Đề án xây dựng Trung tâm chuyển mạch thẻ thống nhất, thực hiện kết nối các hệ thống ATM của các liên minh thẻ hiện hành thành một hệ thống thống nhất trên toàn quốc nhằm tăng tính thuận tiện cho người sử dụng dịch vụ thẻ ngân hàng, thúc đẩy thanh toán bằng thẻ ngân hàng, góp phần thực hiện chủ trương của Chính phủ phát triển TTKDTM
Đi tìm những giải pháp
Để có thể thực hiện được mục tiêu TTKDTM trong lộ trình từ 5-10 năm, cần phải
có những giải pháp mang tính thực tiễn và cụ thể để từ đó, chuyển hẳn việc dùng tiền mặt ra thẻ trên tinh thần mang lại lợi ích toàn diện cho người dân Theo Tài chính Vàng, có thể ứng dụng 6 giải pháp như sau:
Thứ nhất, đẩy mạnh hơn nữa việc phát triển TTKDTM trong khu vực công bằng
cách tăng phát triển thẻ trong các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp Nhà nước đồng thời khuyến khích đội ngũ cán bộ, công nhân viên chức của cơ quan, đơn vị này tham gia tích cực việc TTKDTM trong cuộc sống Cố gắng lên kế hoạch trong
Trang 4năm 2010-2011 thực hiện tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, sở, ban ngành ở một số tỉnh, thành phố lớn và sau đó từ
2011-2020, triển khai mở rộng đến các đối tượng là sở, ban, ngành, các cấp chính quyền huyện, xã trên phạm vi toàn quốc
Thứ hai, đẩy mạnh việc phát triển TTKDTM trong khu vực doanh nghiệp, bao
gồm doanh nghiệp quốc doanh; doanh nghiệp ngoài quốc doanh; doanh nghiệp tư nhân bằng cách lên kế hoạch nghiên cứu và định hướng chuyên sâu để từ đó có thể xác định nhu cầu và khả năng TTKDTM của các doanh nghiệp Trước mắt trong giai đoạn 2010-2011, ứng dụng việc TTKDTM đối với các tập đoàn và các tổng công ty lớn trên 4 thành phố lớn là Hà Nội, Đà Nẵng, TP.HCM và Cần Thơ
để từ đó đề ra biện pháp thích hợp hơn nhằm phát triển rộng khắp cả nước sau năm
2011
Thứ ba, có kế hoạch cụ thể để đẩy mạnh việc phát triển TTKDTM trong khu vực
cộng đồng dân cư, bằng cách tập trung triển khai phổ biến các giao dịch thanh toán định kỳ qua tài khoản như thanh toán tiền điện, nước, dịch vụ công cộng khác và đồng thời phát triển các phương tiện, dịch vụ TTKDTM tại các trung tâm thương mại, dịch vụ, khách sạn, nhà hàng
Thứ tư, nghiên cứu và đề xuất những lộ trình phát triển các hệ thống thanh toán và
giải pháp hỗ trợ phát triển TTKDTM: Phát triển và củng cố các liên minh thẻ hiện có; tiến hành kết nối trung tâm chuyển mạch thẻ quốc gia Hình thành các chính
Trang 5sách ưu đãi về thuế, phí trong lĩnh vực thanh toán Đặc biệt khuyến khích TTKDTM bằng chính sách thuế giá trị gia tăng; xây dựng cơ chế tính phí dịch vụ thanh toán hợp lý và các giải pháp về tài chính phục vụ phát triển TTKDTM Khắc phục các trường hợp chăm sóc khách hàng chưa tốt: Máy ATM hết tiền, gặp trục trặc kỹ thuật, việc giải quyết khiếu nại, khiếu kiện chưa nhanh chóng, kịp thời để nâng cao uy tín và tiện ích của việc TTKDTM
Thứ năm, NHNN nên kết hợp với Bộ Thông tin & Truyền thông, các cơ quan báo
đài thực hiện các chương trình tuyên truyền nhằm phổ biến kiến thức về TTKDTM để nâng cao ý thức của cộng đồng, giúp “in” đậm nó trong tiềm thức của từng người dân Việt Nam
Thứ sáu, cần gấp rút hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động TTKDTM ở
Việt Nam: Phân định rõ quyền hạn, trách nhiệm của các bên tham gia TTKDTM Trên cơ sở đó, việc tiến hành kiểm soát rủi ro pháp lý phải bảo đảm phù hợp với các chuẩn mực thông lệ quốc tế; tạo lập môi trường cạnh tranh công bằng, đảm bảo khả năng tiếp cận thị trường và dịch vụ của các chủ thể tham gia; hình thành
cơ chế bảo vệ khách hàng và bảo đảm quy trình giải quyết tranh chấp khách quan