PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN GIẢNG DẠY CÁC BÀI THỰC HÀNH ĐỊA LÍ TRONG CHƯƠNG TRÌNH THPT VÀ BT THPT Để dạy tốt các bài thực hành địa lí, giáo viên có thể thực hiện theo các bước sau: Bước 1: Căn[r]
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Thực hiện kế hoạch kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên theo Thông
tư số 26/2012/TT-BGDĐT ngày 10/7/2012 của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Để nhằm bổ trợ kiến thức, nâng cao chất lượng giảng dạy môn Địa lý cho giáo viên, Sở Giáo dục và Đào tạo tập hợp, biên soạn tài liệu phục vụ chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên Địa lý cấp THPT (thời lượng 30 tiết), tài liệu gồm các nội dung sau:
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ TĨNH
Trang 2PHẦN THỨ NHẤT:
NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHƯƠNG PHÁP DẠY – HỌC
ĐỊA LÝ THPT VÀ BT THPT
Bài 1.
PHƯƠNG PHÁP DẠY - HỌC BÀI THỰC HÀNH ĐỊA LÝ
I VAI TRÒ CỦA CÁC BÀI THỰC HÀNH ĐỊA LÍ
Trong chương trình Địa lí THPT và BT THPT các bài thực hành có vai trò rất quantrọng, vừa mở rộng kiến thức vừa giúp các em rèn luyện các kỹ năng địa lí
Thực hành trong học tập là một khâu hết sức quan trọng đối với quá trình dạy - họctrong nhà trường Nó có thể giúp HS nắm được kĩ năng cả về mặt lí thuyết cũng như hànhđộng Có thể nói đây là hình thức dạy kĩ năng chủ yếu và quan trọng nhất Rõ ràng muốnvận dụng được tri thức vào hành động thì cần phải có kĩ năng, mà kĩ năng xuất phát từ kiếnthức, vì vậy muốn hình thành cho HS được kĩ năng, nhất thiết phải làm cho HS vừa có kiếnthức lí thuyết vừa có kiến thức hành động
Thực hành là một loại bài học dạy về kĩ năng, trong đó có hai nhiệm vụ: Cung cấpkiến thức lí thuyết làm cơ sở cho kĩ năng và cung cấp kiến thức hành động của kĩ năng.Trước đây, trong chương trình và SGK Địa lí thường mới chỉ chú trọng đến các bàidạy kiến thức, mà chưa chú ý đến các bài thực hành, nên tỉ lệ các bài thực hành thường quáthấp Nội dung các bài thực hành cũng tuỳ tiện, nhiều khi đơn điệu, thiếu hệ thống và chưađược sắp xếp theo một trình tự từ dễ đến khó, chưa bao quát được hết các loại kĩ năng cầnthiết Một quan niệm khá phổ biến, xuất phát từ phương pháp dạy học truyền thống, chorằng thực hành chỉ là một bài học vận dụng tri thức, có mục đích củng cố kiến thức và kĩnăng đã học Với quan niệm đó bài thực hành không đem lại kiến thức gì mới cho HS, cũngkhông làm cho HS thấy hứng thú Khi dạy bài thực hành GV thường coi nhẹ và xem nónhư một bài tập tự làm bình thường của HS, GV không cần chuẩn bị cũng không cần soạngiáo án, nhiều GV dạy bài thực hành cũng giống như dạy bài lí thuyết Quan niệm về bàithực hành như vậy hoàn toàn không đúng
Hiện nay chương trình và sách giáo khoa (SGK) Địa lí đảm bảo sự cân đối và có tínhxâu chuỗi kiến thức giữa các bài lý thuyết và bài thực hành (TH), cùng với xu hướng đổimới ra đề, kiểm tra đánh giá trong những năm gần đây, nhất là đối với môn Địa lí, các đềkiểm tra, thi tốt nghiệp, học sinh giỏi, đại học cao đẳng chú trọng vào các câu hỏi vậndụng, rèn luyện kỹ năng Những vấn đề này học sinh được rèn luyện trong các bài thựchành Nhưng thực trạng giảng dạy trong nhà trường hiện nay thực hành vẫn là khâu chưađược chú trọng dẫn tới kết quả học tập của học sinh chưa tương xứng với yêu cầu Vì vậy
để đáp ứng yêu cầu đổi mới, trong quá trình giảng dạy giáo viên (GV) phải coi trọng loạibài học này và có phương pháp dạy học thích hợp
Dạy các bài thực hành cũng cần phải có sự chuẩn bị chu đáo, soạn giáo án đầy đủ, vìdạng bài này vừa có kiến thức lí thuyết, vừa có kĩ năng Đây không phải là một dạng bài
Trang 3củng cố về kiến thức, kĩ năng đã học mà là một dạng bài cung cấp những kiến thức mới vềmột loại kĩ năng mà HS chưa biết Trong quá trình dạy và học, chúng ta phải đặc biệt quantâm tới việc hình thành kĩ năng cho HS, qua đó HS mới có thể khai thác được kiến thức địa
lí qua các nguồn tri thức và GV mới có thể vận dụng phương pháp dạy học tích cực vàotrong quá trình dạy học, đặc biệt là phương pháp dạy học lấy HS làm trung tâm Các trithức địa lí được dạy trong nhà trường phổ thông gồm một hệ thống kiến thức, kĩ năng, kĩxảo địa lí được lựa chọn sắp xếp theo một lôgic nhất định trong hệ thống tri thức của khoahọc Địa lí, phù hợp với chương trình và mục tiêu đào tạo, đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi nhằm cung cấp một dung lượng kiến thức và giáo dục theo mục tiêu đào tạo của nhàtrường Đổi mới phương pháp dạy học và học bài thực hành địa lí, hoàn thiện các kĩ năngcần thiết là cơ sở áp dụng vào thực tiễn cuộc sống sau này cũng như học tập ở các bậc họctiếp theo
Để tiến hành xây dựng nhận thức thông qua các bài thực hành địa lí thì cần phải xácđịnh rõ mục đích bài học, kiến thức trọng tâm, điều đã cho và điều yêu cầu Cụ thể cần phảiđảm bảo các điều kiện:
- Một là: GV cần phải nhận biết được cái gì “đã biết”, và những cái “chưa biết”, trở
ngại HS cần phải vượt qua trong quá trình chiếm lĩnh tri thức mới
- Hai là: GV cần phải xác định rõ kết quả giải quyết mong muốn của mỗi hoạt động
(chiếm lĩnh cái gì? rèn luyện kĩ năng nào? có thái độ và hành vi gì?)
- Ba là: GV phải thiết kế được các nhiệm vụ có tiềm ẩn vấn đề giao cho HS, sao cho
HS sẵn sàng nhận nhiệm vụ đó Trong mỗi nhiệm vụ cần phải có các yếu tố cơ bản sau:+ Tư liệu cần cung cấp cho HS và gợi mở phương án trả lời
+ Lệnh và câu hỏi đề ra cho HS
+ Hình thức tổ chức và thời gian để giải bài toán nhận thức
- Bốn là, GV cần phải dự đoán trước những thắc mắc có thể của HS, để tổ chức, điều
khiển…quá trình nhận thức của HS đạt hiệu quả cao nhất Tóm lại, các bước tiến hành xâydựng và thiết kế bài thực hành địa lí cần thực hiện theo các bước:
+ Bước 1: Xác định nội dung của hoạt động nhận thức (xác định điều đã biết, điều
chưa biết, biện pháp thể hiện cái biết và chưa biết đó)
+ Bước 2: Xác định “cái đã cho” và “cái cần tìm” cho mỗi hoạt động nhận thức (quan
sát cái gì? đọc thông tin nào? để làm gì?)
+ Bước 3: Xác định hình thức tổ chức và thời gian tiến hành giải bài toán nhận thức
thông qua làm bài thực hành Theo các nhà nghiên cứu, hình thức tổ chức các hoạt động cócác dạng sau:
Công tác độc lập.
Hoạt động theo nhóm.
Làm việc chung cả lớp.
Trang 4+ Bước 4: Xác định thông tin phản hồi, chính xác hoá nội dung nhận thức Cụ thể, GV
cần phải xây dựng và thiết kế:
Nội dung: tìm hiểu vấn đề gì? đánh giá về vấn đề gì ?
.Nhiệm vụ: vẽ lược đồ (điền vào chỗ trống), đọc bản đồ, vẽ biểu đồ, nhận xét, giảithích, tìm nguyên nhân…
Thời gian…phút
Hình thức tổ chức: cá nhân, nhóm, cả lớp
Thông tin phản hồi: nội dung kiến thức cần đạt được
Trong chương trình THPT và BT THPT có 23 bài thực hành, trong đó khối 10 có 7bài, khối 11 có 8 bài và khối 12 có 9 bài, ngoài ra còn rất nhiều bài tập thực hành sau mỗibài học Các bài thực hành ngoài việc bổ sung, mở rộng kiến thức thì tập trung vào việc rènluyện các kỹ năng địa lí sau:
a Dạng bài thực hành làm việc với bản đồ, Atlat
b Dạng bài thực hành vẽ các loại biểu đồ, nhận xét, phân tích biểu đồ
c Dạng bài nhận xét, phân tích bảng số liệu
d Dạng bài thực hành viết báo cáo
e Dạng bài thực hành vẽ lược đồ
Tuy nhiên, sự phân chia này cũng chỉ có ý nghĩa tương đối bởi trong một bài thựchành sẽ có từ một đến hai kỹ năng khác nhau
II PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN GIẢNG DẠY CÁC BÀI THỰC HÀNH
ĐỊA LÍ TRONG CHƯƠNG TRÌNH THPT VÀ BT THPT
Để dạy tốt các bài thực hành địa lí, giáo viên có thể thực hiện theo các bước sau:
Bước 1: Căn dặn học sinh chuẩn bị trước khi lên lớp
Sau khi dạy xong tiết học trước, giáo viên căn dặn học sinh chuẩn bị các nội dung theoyên cầu của bài thực hành như: Chuẩn bị những bản đồ hay Atlat, sưu tầm tài liệu gì? cácdụng cụ nào và nghiên cứu trước nội dung bài thực hành
Bước 2: Định hướng thực hiện bài thực hành (3 – 4 phút)
Đây là bước đầu tiên Sau khi ổn định lớp là kiểm tra việc chuẩn bị bài cùng với cácdụng cụ mà giáo viên yêu cầu sau đó GV nêu yêu cầu bài thực hành Có thể bằng 2 cách:
GV tự trình bày hoặc yêu cầu học sinh nêu yêu cầu
Bước 3: Kiểm tra kiến thức của học sinh để làm bài thực hành (2 – 3 phút)
GV đặt một số câu hỏi kiểm tra các kiến thức liên quan đến bài thực hành
Bước 4: Hướng dẫn cách làm bài thực hành (5 – 10 phút)
Tuy vào bài thực hành mà GV làm theo hai hướng Hoặc là giáo viên làm mẫu hoặc
GV hướng dẫn gọi học học sinh làm thử
Bước 5: Hướng dẫn làm chính và hoàn thiện bài thực hành (10 – 20 phút)
Bước này GV yêu cầu học sinh làm, GV vừa quan sát vừa hướng dẫn thêm cho nhữnghọc sinh chưa rõ
Trang 5Bước 6: Kiểm tra trình độ và kỹ năng thực hiện các bài thực hành (3 – 5 phút)
Nội dung của bước này giáo viên kiểm tra đánh giá và cho điểm việc thực hiện củahọc sinh Sau đó GV khái quát cho việc hình thành kỹ năng thông qua bài thực hành đó
III PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY CÁC DẠNG BÀI THỰC HÀNH ĐỊA LÝ III.1 Dạng bài thực hành làm việc với bản đồ.
Mục đích nhằm rèn luyện cho học sinh kỹ năng đọc, hiểu bản đồ, để từ đó có thể xácđịnh được vị trí, quy mô, tầm quan trọng và ảnh hưởng của các đối tượng, hiện tượng Địa
lý trên bản đồ, đồng thời có thể hiểu được quy luật phân bố, sự tồn tại, phát triển và mốiquan hệ của các đối tượng Địa lý khác nhau Qua việc phân tích bản đồ, sẽ đưa ra nhữngnhận xét, đánh giá hợp lý, chính xác phù hợp với mục đích, yêu cầu bài học Khi giảng dạydạng bài này GV cần hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức trên bản đồ theo các hướngsau:
- Biết được mục đích làm việc với bản đồ
- Chọn bản đồ có nội dung phù hợp với yêu cầu
- Biết xác định các phương hướng trên bản đồ, phương hướng xác định toạ độ mộtđiểm
- Hiểu tỉ lệ bản đồ là gì, đó là cơ sở tính khoảng cách, diện tích trên bản đồ
- Đọc bản chú giải để biết cách thể hiện các đối tượng địa lí trên bản đồ
- Dựa và kí hiệu, màu sắc trên bản đồ để xác định vị trí các đối tượng địa lí
- Liên kết, đối chiếu, so sánh các kí hiệu với nhau để tìm ra đặc điểm của đối tượng
- Dựa vào bản đồ, kết hợp với kiến thức đã học và vận dụng các thao tác tư duy đểphát hiện các đặc điểm hoặc mối quan hệ địa lí
Ví dụ 1: Xác định một số phương pháp biểu hiện các đối tượng địa lý trên bản đồ
(trang 17, SGK Địa lý 10 - ban cơ bản).
Bài thực hành nhằm củng cố cho HS kiến thức về một số phương pháp biểu hiện cácđối tượng Địa lý trên bản đồ, vì vậy GV cần lựa chọn một số bản đồ có sử dụng phươngpháp biểu hiện khác nhau như: phương pháp kí hiệu, phương pháp đường chuyển động…
để học sinh phân tích
* Về kiến thức:
- Hiểu rõ một số phương pháp biểu hiện các đối tượng địa lý trên bản đồ
- Nhận biết đựơc những đặc tính của đối tượng địa lý được biểu hiện trên bản đồ
Trang 6+ Tên bản đồ.
+ Nội dung bản đồ
+ Các phương pháp biểu hiện các đối tượng địa lý trên bản đồ
- Trình bày cụ thể từng phương pháp:
+ Tên phương pháp biểu hiện
+ Phương pháp đó biểu hiện những đối tượng địa lý nào
+ Với phương pháp này, có thể biết được những đặc tính nào của đối tượng địa lýđược biểu hiện
* Lưu ý: Dựa vào quá trình dạy học ở các tiết trước, GV lựa chọn các hoạt động để
HS thực hành, nhằm tránh sự trùng lặp về hình thức tổ chức hoạt động của HS với những tiết đã dạy.
Ví dụ 2: Bài 13 Thực hành: Đọc bản đồ địa hình, điền vào lược đồ trống một số
dãy núi và đỉnh núi (Trang 56 – SGK Địa 12 - ban cơ bản)
Rèn luyện kĩ năng đọc bản đồ địa hình và điền vào lược đồ trống một số dãy núi, đỉnhnúi thực hiện theo quy trình sau:
Hoạt động 1
Bài tập 1: Đọc bản đồ địa hình, xác định vị trí các dãy núi và các cao nguyên, các
đỉnh núi và các dòng sông trên bản đồ Địa lí tự nhiên Việt Nam (hoặc Atlat Địa lí ViệtNam)
Bước 1 GV cho HS đọc kĩ đầu bài, xác định các yêu cầu của bài thực hành, gợi ý về
nội dung và các kĩ năng cần đạt được
- Về kiến thức: Khắc sâu thêm, cụ thể và trực quan hơn các kiến thức về địa hình,sông ngòi và về đặc điểm của các miền địa lí tự nhiên
- Về kĩ năng: Đọc, hiểu và biết sử dụng bản đồ
Bước 2 GV nhắc lại cách xác định vị trí để HS lên bảng xác định trên bản đồ tự nhiên
Việt Nam
Bước 3 Xác định vị trí các dãy núi, các cao nguyên, các dòng sông.
- Các dãy núi và cao nguyên, các đỉnh núi và dòng sông mà đề bài yêu cầu phản ánhcấu trúc địa hình mỗi miền địa lí tự nhiên hoặc các đơn vị nền móng cổ (khối vòm sôngChảy, Hoàng Liên Sơn, Pu Hoạt - sông Mã, Pu xai lai leng - Rào Cỏ, Kon Tum - NgọcLinh) hoặc là ranh giới quan trọng về mặt tự nhiên (Hoành Sơn, Bạch Mã) và đều có trongbản đồ treo tường, Atlat Địa lí Việt Nam Hướng và độ cao của các dãy núi chính, các đỉnhnúi cao, hướng của các thung lũng sông chính phản ánh đặc điểm cấu trúc địa hình
- Xác định vị trí các dãy núi, các cao nguyên: tuần tự theo các vùng núi Tây Bắc,Đông Bắc, Trường Sơn Bắc, Trường Sơn Nam Xác định vị trí các đỉnh núi cũng tuần tựtheo các vùng núi như trên Xác định các dòng sông: tuần tự từ Bắc Bộ vào Trung Bộ vàNam Bộ Có thể xác định các dãy núi, cao nguyên, các dòng sông… dựa trên các bảng 2.2;2.3; 2.4 kết hợp với bản đồ tự nhiên hoặc Atlat Địa lí Việt Nam:
Trang 7Các dãy núi, cánh cung Vị trí, phân bố
* Các dãy núi
- Dãy Hoàng Liên Sơn
- Dãy Hoành Sơn
- Dãy Bạch Mã
- Cánh cung sông Gâm,
Ngân Sơn, Bắc Sơn, Đông
Triều
- Thuộc vùng núi Tây Bắc, chạy dọc theo bờ phải sôngHồng, thuộc 2 tỉnh Lào Cai, Yên Bái, hướng Tây Bắc-Đông Nam
- Thuộc vùng núi Trường Sơn Bắc, là nhánh núi đâm ngang
từ Trường Sơn ra biển, ranh giới của 2 tỉnh Hà Tĩnh vàQuảng Bình
- Thuộc vùng núi Trường Sơn Bắc, là nhánh núi đâm ngang
từ Trường Sơn ra biển, ranh giới giữa Thừa Thiên - Huế vàthành phố Đà Nẵng
- Thuộc vùng núi Đông Bắc, gồm 4 nhánh núi hình cánhcung, xuất phát từ đỉnh núi Tam Đảo, xòe rộng
như nan quạt về phía biên giới Việt - Trung
* Các cao nguyên
- Cao nguyên đá vôi: Tà
Phình, Sín Chải, Sơn La,
Mộc Châu
- Các cao nguyên ba dan:
Đăk Lăk, Plây Ku, Mơ
Nông, Di Linh
- Thuộc vùng Tây Bắc, chạy dọc theo thung lũng sông Đà
- Thuộc vùng Tây Nguyên
b Các đỉnh núi
Phanxipăng: 3143m, Khoan La San: 1853m, Pu Hoạt: 2452m, Tây Côn Lĩnh: 2419m,Ngọc Linh: 2598m, Pu xai lai leng: 2711m, Rào Cỏ: 2235m, Hoành Sơn: 1046m, Bạch Mã:1444m, Chư Yang Sin: 2405m, Lang Biang: 2167m
- Nằm ở cực bắc dãy Pu Đen Đinh, thuộc địa phận huyện A
Pa Chải, tỉnh Điện Biên
- Nằm trong khối núi thượng nguồn sông Chảy, thuộc địaphận tỉnh Hà Giang
- Nằm trong khối núi phía tây tỉnh Nghệ An, thượng nguồnsông Hiếu
- Nằm sát đường biên giới Việt-Lào, trên thượng nguồnsông Cả, thuộc tỉnh Nghệ An
- Nằm sát đường biên giới Việt - Lào, phía tây tỉnh HàTĩnh
Trang 8- Sông Hồng, sông Chảy,
sông Lô, sông Đà
- Sông Đồng Nai, sông
Tiền, sông Hậu
- Là sông chính và các phụ lưu thuộc hệ thống sông Hồng,
có lưu vực gồm toàn bộ vùng Tây Bắc và khu Việt Bắc
- Là hệ thống sông khá lớn, lưu vực chủ yếu nằm trongphần phía Đông của khu Đông Bắc
- Là các sông của khu vực Bắc Trung Bộ, lần lượt thuộc cáctỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Thừa Thiên- Huế
- Là các sông của khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ, lầnlượt thuộc các tỉnh: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên
- Các sông của khu vực Đông Nam Bộ và Đồng bằng sôngCửu Long
GV hướng dẫn mẫu mỗi nội dung 1 ví dụ, sau đó giao việc cho HS HS làm việc theocặp, tìm đọc các dãy núi, các cao nguyên, đỉnh núi, các dòng sông theo yêu cầu của bài)dựa trên bản đồ Địa lí tự nhiên Việt Nam (hoặc Atlat Địa lí Việt Nam) Xác định vị trí cácdãy núi, cao nguyên, các đỉnh núi và dòng sông nêu trong bài trên bản đồ thuộc khu vựcnúi nào? thuộc miền nào của nước ta
- Sau khi đã xác định rõ, quan sát kĩ các bản đồ trong Atlat Địa lí Việt Nam để thấy rõcác đối tượng cần xác định Có thể gọi một số HS lên bảng chỉ trên bản đồ treo tường cácđịa danh dưới sự hướng dẫn của GV (có thể mời một số em chỉ các dãy núi, cao nguyên,một số em khác chỉ các đỉnh núi, một số em khác chỉ các dòng sông)
Hoạt động 3 Bài tập 2: Điền vào lược đồ trống theo yêu cầu
(GV và HS chuẩn bị sẵn lược đồ trống và điền vào lược đồ các cánh cung, các dãy
Trang 9- Các dãy núi: Hoàng Liên Sơn, Trường Sơn Bắc, Trường Sơn Nam, Hoành Sơn, BạchMã.
- Các đỉnh núi: Phanxipăng, Tây Côn Lĩnh, Ngọc Linh, Chư Yang Sin
Lưu ý:
- Khi điền vào lược đồ trống các dãy núi và cánh cung, HS chú ý đến hướng, chiều dàicủa dãy núi, mối quan hệ giữa dãy núi với hướng chung của địa hình, với hướng chảy củasông ngòi, với đặc điểm khí hậu của vùng, qua đó các em sẽ có được các kĩ năng đọc bản
đồ thích hợp Ví dụ: Dãy Bạch Mã, tuy độ cao không lớn, như là bức tường thành ngăn giómùa Đông Bắc lạnh, nên phần lãnh thổ phía Nam của nước ta ít chịu ảnh hưởng của khốikhí này Như vậy, HS không chỉ điền chính xác được các yếu tố theo yêu cầu của bài thựchành, mà còn có thêm và khắc sâu kiến thức, thấy thú vị hơn với bài học
Các dãy núi, cánh cung, đỉnh núi viết bằng chữ in hoa và phân biệt với nhau bằng cỡchữ Chữ cỡ lớn hơn dùng thể hiện các dãy núi, cánh cung, trải đều dọc theo đối tượng; cỡchữ nhỏ hơn dùng thể hiện đỉnh núi
- Quan sát các bản đồ trong Atlat Địa lí Việt Nam so sánh với lược đồ trống và điềncác đối tượng vào lược đồ theo yêu cầu cho đúng và chính xác Kiểm tra lại độ chính xáccủa các đối tượng, chữ (cỡ chữ, kiểu chữ, vị trí của chữ)
Bước 2 GV giới thiệu lược đồ (Hình 2.3) cho HS tham khảo.
Bước 3 GV yêu cầu HS trao đổi bài cho nhau, tìm ra và chỉ cho bạn biết những điểm
chưa chính xác trên lược đồ vừa vẽ để chỉnh sửa lại cho đúng
III.2 Dạng bài thực hành vẽ các loại biểu đồ, nhận xét, phân tích bảng số liệu, biểu đồ
2.1 Dạng bài thực hành vẽ các loại biểu đồ, nhận xét, phân tích biểu đồ
Biểu đồ là một hình vẽ cho phép mô tả một cách dễ dàng, trực quan các số liệu thống
kê phản ánh tiến trình của một hiện tượng, mối tương quan về độ lớn của các đối tượnghoặc cơ cấu thành phần của một tổng thể, của các sự vật, hiện tượng và quá trình địa lí.Dựa trên cơ sở toán học, người ta có thể phân ra các loại: biểu đồ đường biểu diễn, biểu đồhình cột, hình tròn, hình vuông, biểu đồ miền Trong dạy học địa lí, việc yêu cầu HS vẽđược các biểu đồ là một nội dung không thể thiếu được khi làm các bài tập và bài thựchành Có vẽ được biểu đồ thì các em mới hình thành được kĩ năng, hiểu rõ được công dụngcủa từng loại biểu đồ, từ đó nắm vững cách phân tích, khai thác những tri thức địa lí Việcphân tích biểu đồ cũng tương tự như cách phân tích các số liệu nhưng khó hơn Ở đây, HSvừa phải có kĩ năng đọc biểu đồ, vừa phải có những tri thức về số liệu thống kê cũng nhưcác tri thức địa lí Khi day bài thực hành kĩ năng vẽ, phân tích biểu đồ có thể thực hiện theoquy trình sau:
a) Bước 1: Xác định nội dung mà biểu đồ phải thể hiện
Cơ sở để xác định nội dung biểu đồ cần thể hiện chính là lời dẫn hay yêu cầu của bài
tập, bài thực hành: Vẽ biểu đồ thể hiện
b) Bước 2: Xác định loại biểu đồ cần vẽ: Đây là bước rất quan trọng vì nếu xác
Trang 10định sai loại biểu đồ cần vẽ sẽ kéo theo việc vẽ biểu đồ sai yêu cầu, việc nhận xét sẽ khó cóthể hoàn thiện Muốn lựa chọn được loại biểu đồ thích hợp nhất so với yêu cầu của đề bài
cần căn cứ cứ vào các yếu tố: khả năng thể hiện của biểu đồ; lời dẫn, đặc điểm của bảng số
liệu đã cho và yêu cầu của đề ra
c) Bước 3: Xử lí số liệu (nếu cần)
Trên cơ sở loại biểu đồ đã lựa chọn và bảng số liệu trong đã cho, cần xem xét và xácđịnh xem để vẽ biểu đồ theo yêu cầu của đề bài có cần phải xử lí số liệu hay không, nếu cóthì tính toán như thế nào? Dưới đây là một số phép tình thường được sử dụng trong quátrình vẽ biểu đồ:
Đối với yêu cầu vẽ biểu đồ cơ cấu mà bảng số liệu đã cho tính bằng giá trị tuyệt đối thì
cần tính tỉ lệ % của các thành phần trong cơ cấu tổng thể:
Đối với biểu đồ hình tròn để vẽ biểu đồ một cách chính xác sau khi xử lí số liệu cầnphải tính tỉ lệ % của từng thành phần tương ứng với góc ở tâm (1%= 3,60) Tuy nhiên, HSkhông nhất thiết phải ghi phần này vào trong phần bài làm song cần thiết phải ghi cụ thểtừng tỉ lệ % vào từng thành phần của biểu đồ tròn (trong phần vẽ biểu đồ)
Đối với yêu cầu vẽ biểu đồ cơ cấu và qui mô của các đối tượng qua 2 hoặc 3 năm mà
bảng số liệu ở giá trị tuyệt đối thì bên cạnh việc tính tỉ lệ của từng thành phần như trên cầnphải tính bán kính hình tròn để thể hiện tương quan về qui mô của đối tượng theo cách sau:
Gọi giá trị của năm thứ nhất ứng với hình tròn có diện tích S1 và bán kính R1
Gọi giá trị của năm thứ hai ứng với hình tròn có diện tích S2 và bán kính R2
Ta có công thức tính tương quan bán kính của 2 hình tròn:
Thay số vào ta sẽ tính được những thông số cần thiết, cho R1 bằng một đại lượngnhất định (VD R1 = 2 cm), ta sẽ tính được R2,
Đối với yêu cầu vẽ biểu đồ tốc độ tăng trưởng của một số sản phẩm mà bảng số liệu đã
cho là số liệu tuyệt đối với các đơn vị khác nhau, thì phải tính tốc độ tăng trưởng của từngsản phẩm so với giá trị của năm gốc như sau:
Lấy năm đầu tiên trong dãy số liệu là năm gốc (năm gốc bằng 100%), ta có tốc
độ tăng trưởng của năm sau so với năm gốc là:
Trong đó: Tt là tốc độ tăng trưởng của năm sau so với năm gốc, Gs là giá trị củanăm sau, Gg là giá trị của năm gốc
Tính chỉ số phát triển (mức tăng liên hoàn) là mức tăng
của năm sau so với năm trước được tính theo công thức:
Thành phần ATổng thể
Trang 11Trong đó: Tt là tốc độ tăng trưởng của năm sau so với năm gốc, Gs là giá trị của năm sau,
Gt là giá trị của năm trước
Ghi chú:
- GV phải hướng dẫn học sinh trong quá trình làm bài nhất thiết phải ghi cách tính
và tính cụ thể một thành phần, sau đó ghi tương tự ta có bảng số liệu mới => tiến hành lập bảng số liệu đã qua xử lí, chú ý đơn vị của bảng số liệu mới.
- Trong quá trình xử lí số liệu nếu các số liệu không tương đồng về giá trị cần phải
có sự chuyển đổi cho phù hợp.
d) Bước 4: Vẽ biểu đồ
Sau khi xác định loại biểu đồ, xử lí số liệu (nếu cần) => Vẽ biểu đồ Việc vẽ biểu đồphải đảm bảo tính chính xác và thẩm mĩ
Lưu ý: Sau mỗi bài thực hành vẽ biểu đồ GV cần khái quát lại khi nào cần vẽ biểu
đồ đó và khi vẽ biểu đồ phải đảm bảo đầy đủ các thông tin, như tên biểu đồ, chú thích.
e Bước 5: nhận xét, giải thích.
Mỗi loại đề bài và mỗi loại biểu đồ lại yêu cầu những phương pháp nhận xét khácnhau, gây lúng túng cho không giáo viên và học sinh lúng túng khi nhận xét Những nhậnxét rút ra từ biểu đồ nên đi từ cái chung, cái khái quát nhất, nổi bật và toàn diện của bảng sốliệu cũng như biểu đồ, sau đó nhận xét cái riêng, cái cụ thể và có tính chất đột biến Giảithích nguyên nhân tạo ra những diễn biến số liệu trên biểu đồ theo thời gian và không gian.Khi nhận xét biểu đồ cần phải có số liệu minh chứng theo đơn vị của số liệu Cách phântích, nhận xét cũng giống như nhận xét bảng số liệu Sau đây là một số gợi ý cơ bản vềphương pháp nhận xét các dạng biểu đồ:
DẠNG 1: DẠNG BIỂU ĐỒ CỘT
Trường hợp cột đơn (chỉ có một yếu tố)
* Bước 1: Xem xét năm đầu và năm cuối của bảng số liệu để trả lời câu hỏi tăng hay giảm?
và tăng giảm bao nhiêu? (lấy số liệu năm cuối trừ cho số liệu năm đầu hay chia đều được)
* Bước 2: Xem số liệu ở khoảng trong để trả lời tiếp là tăng (hay giảm) liên tục hay không
liên tục? (lưu ý những năm nào không liên tục)
* Bước 3: Nếu liên tục thì cho biết giai đoạn nào nhanh, giai đoạn nào chậm Nếu không
liên tục: thì năm nào không liên tục
* Kết luận và giải thích qua về xu hướng của đối tượng.
DẠNG 2: BIỂU ĐỒ TRÒN
* Khi chỉ có một vòng tròn: ta nhận định cơ cấu tổng quát lớn nhất là cái nào, nhì là, ba
là… Và cho biết tương quan giữa các yếu tố (gấp mấy lần hoặc kém nhau bao nhiêu %) Đặc biệt là yếu tố lớn nhất so với tổng thể có vượt xa không?
Lưu ý : Tỷ trọng có thể giảm nhưng số thực nó lại tăng, vì thế cần ghi rõ Ví dụ: xét về tỷ
trọng ngành nông nghiệp giảm… không ghi trống kiểu ngành nông nghiệp giảm … vì như thế là chưa chính xác
* Khi có từ hai vòng tròn trở lên (giới hạn tối đa là ba hình tròn cho một bài)
- Nhận xét cái chung nhất (nhìn tổng thế): tăng/ giảm như thế nào?
- Ta nhận xét tăng hay giảm trước, nếu có ba vòng trở lên thì thêm liên tục hay không liên
Tt (%) = Gs
Gt
x 100
Trang 12tục, tăng (giảm) bao nhiêu?
- Sau đó mới nhận xét về nhất, nhì, ba … của các yếu tố trong từng năm, nếu giống nhau thì ta gom chung lại cho các năm một lần thôi (không nhắc lại 2, 3 lần)
* Cuối cùng, cho kết luận về mối tương quan giữa các yếu tố
* Có thêm giải thích chút về vấn đề
DẠNG 3: BIỂU ĐỒ MIỀN
- Nhận xét chung toàn bộ bảng số liệu: nhìn nhận, đánh giá xu hướng chung của số liệu
- Ta nhận xét hàng ngang trước: theo thời gian yếu tố A tăng hay giảm, tăng giảm như thế nào, tăng giảm bao nhiêu? Sau đó đến yếu tố B tăng hay giảm … yếu tố C (mức chênh lệch)
- Nhận xét hàng dọc: yếu tố nào xếp hạng nhất, nhì, ba và có thay đổi thứ hạng hay không?
- Tổng kết và giải thích
DẠNG 4: DẠNG BIỂU ĐỒ ĐỒ THỊ
Trường hợp thể hiện một đối tượng:
Bước 1: So sánh số liệu năm đầu và năm cuối có trong bảng số liệu để trả lời câu hỏi: Đối
tượng cần nghiên cứu tăng hay giảm? Nếu tăng (giảm) thì tăng (giảm) bao nhiêu? (lấy số liệu năm cuối trừ cho số liệu năm đầu hay chia gấp bao nhiêu lần cũng được)
Bước 2: Xem đường biểu diễn đi lên (tăng) có liên tục hay không? (lưu ý năm nào không
liên tục)
Bước 3:
+ Nếu liên tục thì cho biết giai đoạn nào tăng nhanh, giai đoạn nào tăng chậm
+ Nếu không liên tục: Thì năm nào không còn liên tục
Bước 4: Một vài giải thích cho đối tượng, giải thích những năm không liên tục.
Trường hợp cột biểu đồ hai đường trở lên:
- Ta nhận xét từng đường một giống như trên theo đúng trình tự bảng số liệu cho: Đường Atrước, rồi đến đường B, rồi đến C,D…
- Sau đó, chúng ta tiến hành so sánh, tìm mỗi liên hệ giữa các đường biểu diễn
- Kết luận và giải thích
DẠNG 5: BIỂU ĐỒ KẾT HỢP
Bước 1: So sánh số liệu năm đầu và năm cuối có trong bảng số liệu để trả lời câu hỏi: Đối
tượng cần nghiên cứu tăng hay giảm? Nếu tăng (giảm) thì tăng (giảm) bao nhiêu? (lấy số liệu năm cuối trừ cho số liệu năm đầu hay chia gấp bao nhiêu lần cũng được)
Bước 2: Xem đường biểu diễn đi lên (tăng) có liên tục hay không? (lưu ý năm nào không
liên tục)
Bước 3:
+ Nếu liên tục thì cho biết giai đoạn nào tăng nhanh, giai đoạn nào tăng chậm
+ Nếu không liên tục: Thì năm nào không còn liên tục
Bước 4: Một vài giải thích cho đối tượng, giải thích những năm không liên tục.
MỘT SỐ VÍ DỤ:
Ví dụ 1: Bài 23 Thực hành: Phân tích sự chuyển dịch cơ cấu ngành trồng trọt
(Trang 98 – SGK Địa 12 - ban cơ bản).
Rèn luyện kĩ năng vẽ biểu đồ, phân tích số liệu để rút ra các nhận xét cần thiết về sựchuyển dịch cơ cấu ngành trồng trọt theo quy trình sau:
Hoạt động 1 Tìm hiểu mục tiêu, yêu cầu của bài thực hành
- GV cho HS làm rõ mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ và một số điểm cần lưu ý của bàithực hành
Trang 13- Một số HS nêu sản phẩm của bài thực hành là gì GV xác nhận ý đúng, sản phẩm củabài thực hành cần có là:
+ Tính tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất của ngành trồng trọt theo từng nhóm câytrồng Vẽ biểu đồ tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất của các nhóm cây trồng (%) và nhậnxét về mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng và sự thay đổi cơ cấu giá trị sản xuất ngànhtrồng trọt
+ Các nhận xét về xu hướng biến động diện tích gieo trồng cây công nghiệp hàng năm
và cây công nghiệp lâu năm trong khoảng thời gian từ năm 1975 đến năm 2005
+ Các nhận xét về mối liên quan của sự thay đổi trong cơ cấu diện tích cây côngnghiệp với sự thay đổi trong phân bố sản xuất cây công nghiệp Qua nội dung thực hànhcủng cố kiến thức đã học về ngành trồng trọt
Hoạt động 2: Bài tập 1.
Bước 1 Xử lí số liệu vẽ biểu đồ
- GV hướng dẫn cách nhận dạng biểu đồ: Tuỳ theo yêu cầu của từng bài cụ thể mà cho
HS thấy rằng, cùng một bảng số liệu, có thể có các yêu cầu vẽ các dạng biểu đồ rất khácnhau Trong trường hợp này, bài thực hành yêu cầu vẽ biểu đồ đường biểu diễn tốc độ tăngtrưởng (lấy năm gốc bằng 100%)
- Bằng các câu hỏi kiểm tra kĩ năng, GV yêu cầu HS nhắc lại cách tính tốc độ tăngtrưởng, yêu cầu khi vẽ biểu đồ đường Hướng dẫn HS các điểm cần thực hiện khi xử lí sốliệu, vẽ biểu đồ: khoảng cách năm trên trục hoành, tỉ lệ trên trục tung, lựa chọn các kí hiệuthể hiện, chú giải, tên biểu đồ
- Hướng dẫn HS quy trình vẽ (xử lí số liệu, vẽ trục toạ độ )
GV chia lớp thành các nhóm nhỏ (nhóm đôi), HS làm việc theo nhóm và làm việc độclập
+ Xử lí số liệu: từ bảng số liệu đã cho, tính toán chuyển sang bảng số liệu tương đối
HS có thể thực hiện theo mẫu bảng
+ Vẽ biểu đồ đường biểu diễn tốc độ tăng trưởng
(Chú ý: Trong trường hợp HS không đủ thời gian để hoàn thành bài tập trên lớp, GV
giới thiệu biểu đồ mẫu và yêu cầu HS về nhà hoàn thiện biểu đồ)
Bước 2: Nhận xét về mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng và sự thay đổi cơ cấu giá trị sản xuất ngành trồng trọt
- Nếu HS đã vẽ xong biểu đồ thì dựa vào biểu đồ và bảng số liệu để nhận xét, nếuchưa vẽ xong biểu đồ, thì dựa vào bảng số liệu để nhận xét
- Nên dành thời gian thích đáng cho việc hướng dẫn HS rút ra các nhận xét, vì đây là
kĩ năng khó Cách viết nhận xét: ngắn gọn, nêu các ý chính, bám sát các thông tin đượckhai thác từ bảng số liệu và biểu đồ Cần tập trung vào một số điểm, dựa trên việc trả lờicác câu hỏi sau:
Trang 14+ Xu hướng tăng, giảm tỉ trọng của các nhóm cây trong cơ cấu giá trị sản xuất của ngành trồng trọt? (dẫn chứng).
+ Kết hợp với biểu đồ cơ cấu giá trị sản xuất ngành trồng trọt (hình 22.1) SGK Địa lí
12, trang 93 Mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng và sự thay đổi cơ cấu giá trị sản xuất ngành trồng trọt được thể hiện như thế nào?
+ Sự thay đổi cơ cấu giá trị sản xuất trồng trọt và xu hướng tăng, giảm của một số nhóm cây trồng chứng tỏ điều gì? (sản xuất lương thực, thực phẩm đã có xu hướng đa dạng hoá, các loại rau đậu được đẩy mạnh sản xuất Lưu ý sản xuất cây công nghiệp tăng nhanh nhất, gắn liền với việc mở rộng diện tích các vùng chuyên canh cây công nghiệp, nhất là các cây công nghiệp nhiệt đới).
- HS làm việc theo cặp đôi, rút ra các nhận xét theo yêu cầu của bài thực hành
Hoạt động 3: Bài tập 2.
Bước 1 Phân tích xu hướng biến động diện tích gieo trồng cây công nghiệp hàng năm và cây công nghiệp lâu năm, thời kì 1975 - 2005.
- HS làm việc theo cặp đôi, phân tích bảng số liệu 23.2 trong SGK kết hợp với biểu đồ
Hình 2.6 Diện tích gieo trồng cây công nghiệp hàng năm và cây công nghiệp lâu năm giai đoạn 1975- 2005 (GV chuẩn bị sẵn) rút ra các nhận xét cần thiết GV gợi ý HS tính toán, so
sánh: đối với từng nhóm cây công nghiệp, nhận xét về tốc độ tăng của năm 2005 so vớinăm 1975 (tăng bao nhiêu ha, tăng gấp mấy lần?) những mốc quan trọng trong sự biếnđộng diện tích gieo trồng cây công nghiệp? so sánh về tốc độ tăng của cây công nghiệp lâunăm và cây công nghiệp hàng năm? (có thể hướng dẫn HS tính cơ cấu cây công nghiệp lâunăm, hàng năm, hoặc tính tốc độ tăng trưởng cây công nhiệp hàng năm, lâu năm từ đó HS
+ Sự thay đổi cơ cấu cây công nghiệp biểu hiện như thế nào? (dẫn chứng)
+ Mối quan hệ giữa tốc độ tăng về diện tích cây công nghiệp và sự thay đổi cơ cấu câycông nghiệp?
+ Nguyên nhân của sự thay đổi cơ cấu cây công nghiệp?
2.2 Dạng bài thực hành phân tích bảng số liệu
Trang 15Các số liệu thống kê có ý nghĩa nhất định trong việc hình thành các tri thức về địa lí tựnhiên cũng như địa lí kinh tế - xã hội Nghiên cứu số liệu thống kê trong địa lí là nghiêncứu về mặt số lượng của hiện tượng địa lí, chúng có mối quan hệ mật thiết với chất lượngtrong những điều kiện địa lí nhất định Tuy nhiên số liệu gắn liền với các hiện tượng địa líchỉ có tác dụng làm rõ hoặc làm chỗ dựa để nêu bật ý nghĩa của những tri thức địa lí chứbản thân chúng không phải là tri thức địa lí Trong quá trình sử dụng các số liệu, GV cầnbồi dưỡng cho HS năng lực so sánh, đối chiếu, phân tích Các số liệu trong địa lí rất đadạng và được sử dụng trong các bài thực hành với các mục đích khác nhau, khi phân tíchnội dung bảng số liệu, cần hướng dẫn cho HS tìm ra những mối quan hệ giữa các số liệu,phân tích theo nội dung từng vấn đề thể hiện trong các cột, các hàng Việc so sánh, đốichiếu các số liệu theo cột, hàng là hết sức cần thiết, để từ đó rút ra những nhận xét và kếtluận Tuy nhiên, HS cũng cần phải suy nghĩ, vận dụng những tri thức địa lí đã có, kết hợpvới kĩ năng phân tích các số liệu để tìm ra được những tri thức địa lí mới Rèn luyện kĩnăng khai thác bảng số liệu có thể thực hiện theo quy trình sau:
Bước 1 Giúp HS nắm được mục đích làm việc với bảng số liệu Mục đích làm việc với
bảng số liệu được xác định bởi mục đích, yêu cầu và nội dung của bài giảng, cụ thể là việctruyền thụ tri thức, phát triển tư duy và rèn luyện kỹ năng bộ môn Để làm tốt bước này,yêu cầu GV phải nêu rõ nhiệm vụ cho HS là nhận xét, so sánh, phân tích hay giải thích …các con số trong bảng số liệu
Bước 2 Hướng dẫn HS đọc tiêu đề của bảng số liệu thống kê để nắm được chủ đề của bảng
số liệu
Hiểu được các đặc trưng không gian, thời gian của các đại lượng được trình bày trongbảng Để đạt được mục đích của mình trong việc phân tích bảng số liệu, GV cần cho HSnghiên cứu kỹ xem chủ đề của bảng số liệu đó là gì, nó có phự hợp với yêu cầu đặt ra haykhông hay chỉ khai thác một vài khía cạnh nào đó trong bảng số liệu
Bước 3 Hướng dẫn HS tìm các trị số lớn nhất, nhỏ nhất, trung bình trong bảng và xử lý các
số liệu đó cho trong bảng theo yêu cầu đề ra
Mục đích của bước này là tìm ra những số liệu điển hình để thuận tiện cho việc so sánh,phân tích giữa các đối tượng cung cấp hoặc giữa đối tượng riêng lẻ với tổng thể các đốitượng (thông qua chỉ số trung bình)
Các số liệu có ở hai dạng: số liệu tuyệt đối và số liệu tương đối GV yêu cầu HS chuyểnđược từ số liệu tuyệt đối sang số liệu tương đối và ngược lại
Bước 4 Hướng dẫn HS xác lập mối quan hệ giữa các số liệu So sánh, đối chiếu các số liệu
theo hàng, theo cột để rút ra nhận xét So sánh số liệu ở đây nghĩa là đối chiếu các số liệuvới nhau để rút ra được những kết luận cần thiết
Bước 5 Nêu kết luận về giá trị của các số liệu thống kê trong bảng đối với việc thực hiện
nội dung bài giảng Đây là bước cuối cùng và quan trọng nhất của quy trình phân tích bảng
số liệu Nó giải đáp một cách rõ ràng, tỉ mỉ và có căn cứ khoa học các vấn đề mà việc phântích bảng số liệu cần đạt được
*.Lưu ý: Để khai thác bảng số liệu có hiệu quả cần chú ý những yêu cầu sau:
- Khi tiến hành phân tích bảng số liệu GV cần hướng dẫn HS phân tích tổng quát trước, sau
đó mới đi vào các số liệu cụ thể
- GV hướng dẫn HS quan sát, không bỏ sót các số liệu, các dữ kiện trong bảng (theo hàngngang, cột dọc)
Trang 16- Đối với những bảng được trình bày quá nhiều số liệu, nhiều thành phần, GV cần hướngdẫn HS phân tích, nhận xét tổng quát, sau đó phân tích, nhận xét những số liệu mang tínhđiển hình.
- GV nên tăng cường các yêu cầu tính toán, xử lý số liệu, mô hình hoá các bảng số liệu
Ví dụ2: Địa lí 10: Bài 30 Thực hành: Vẽ và phân tích biểu đồ về sản lượng lương
thực, dân số của thế giới và một số quốc gia (trang 117 - ban cơ bản)
1 Về kiến thức:
Củng cố kiến thức về địa lý cây lương thực
2 Về kỹ năng:
- Rèn luyện kỹ năng vẽ biểu đồ hình cột
- Biết cách tính bình quân lương thực theo đầu người
3 Tiến trình
Kiểm tra công tác chuẩn bị
- Thước kẻ, compa, bút chì, máy tính cá nhân
- Các bản đồ: Nông nghiệp thế giới, Các nước trên thế giới
- Tập bản đồ thế giới và các châu lục
Yêu cầu
1- Vẽ biểu đồ thể hiện sản lượng lương thực và dân số các nước
2- Tính bình quân lương thực theo đầu người của một số nước và thế giới
1200 1000 800 600 400 200 0
Trang 17Biểu đồ sản lượng lương thực, dân số một số nước trên thế giới năm 2002
2- Sản lượng lương thực bình quân đầu người
Ấn ĐộPhápIndonesiaViệt Nam Thế giới
31210402121161267460327
Nhận xét
- Nước đông dân: Trung Quốc, Ấn Độ, Hoa Kỳ, Indonesia
- Nước có sản lượng lương thực lớn: Trung Quốc, Ấn Độ, Hoa Kỳ
- Nước có sản lượng lương thực bình quân đầu người cao: Hoa Kỳ, Pháp
- Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia do dân đông, mặc dù sản lượng lương thực caonhưng lương thực bình quân đầu người thấp
- Việt Nam ở mức khá so với thế giới
2.3 Dạng bài thực hành viết báo cáo
Rèn luyện kĩ năng thu thập, phân tích và xử lí thông tin, viết báo cáo ngắn theo chủ đềđược dựa trên cơ sở phương pháp nghiên cứu (phương pháp tìm tòi, khám phá) Phươngpháp dạy học này, được dựa trên cơ sở tâm lí, cho rằng nhân cách của người học được hìnhthành thông qua các hành động có ý thức Mục đích chủ yếu của phương pháp này là giúp
HS làm quen với hoạt động sáng tạo cũng như phát triển năng lực tư duy độc lập Để viếtđược một báo cáo ngắn theo chủ đề, nội dung này không phải lấy ra từ một cuốn SGK cósẵn, mà do chính HS rút ra dựa trên kết quả tìm tòi, nghiên cứu của bản thân như: sưu tầmcác nguồn thông tin địa phương, phân tích các tài liệu, số liệu thống kê để trình bày trongbáo cáo của mình Trong phương pháp nghiên cứu, HS có vai trò rất quan trọng: khám phácác khía cạnh của vấn đề được đặt ra, thu thập số liệu , tích cực tham gia vào toàn bộ quátrình học tập, từ xác định vấn đề đến việc rút ra kết luận Qua việc thực hiện đầy đủ các
Tr/Quốc Hoa Kỳ Ấ n Độ Pháp Indonesia Việt Nam
Trung Quốc
Trang 18khâu cần thiết để tìm ra được câu trả lời cho vấn đề, HS hình thành được kĩ năng học tậpcho mình, óc phê phán cũng được phát triển, học được cách thử nghiệm các vấn đề, phântích, đánh giá thông tin, đưa ra các nhận định của mình trên cơ sở bài báo cáo Viết báo cáongắn được dùng đối với các lớp cuối cấp THPT, vì HS đã có trình độ kiến thức, kĩ năngnhất định và nhất là đã nắm vững các biện pháp hoạt động nhận thức.
Để viết được báo cáo, cần có một số điều kiện nhất định:
- Về phía GV: phải nắm vững kiến thức, kĩ năng và chuẩn bị chu đáo để hướng dẫn
HS trong từng bước của quá trình thực hiện
- Về phía HS: phải có năng lực trí tuệ, có động cơ học tập, hứng thú trong việc tìm tòi,nghiên cứu khoa học và thường xuyên được bồi dưỡng năng lực tự học
Ngoài ra, các điều kiện khác không kém phần quan trọng, đó là phải có thời gian tốithiểu để HS sưu tầm, đọc các tài liệu tham khảo ngoài SGK Để hoàn thiện một bài báo cáochi tiết, có thể được tiến hành theo trình tự sau:
Ví dụ: - Bài 4 Thực hành: Tìm hiểu những cơ hội và thách thức của toàn cầu hóa đối với các nước đang phát triển (Địa lí 11 - ban cơ bản)
Nhận thức rõ ràng, cụ thể những khó khăn mà Việt Nam phải đối mặt
B Phương pháp: Thảo luận nhóm, nêu vấn đề
Hoạt động 1: Tìm hiểu những cơ hội và thách thức của toàn cầu hoá đối với các nước
đang phát triển (Hình thức: Cả lớp/ Nhóm)
Trang 19+ GV: - Nêu mục đích và yêu cầu của bài thực hành
- Giới thiệu khái quát: mỗi ô kiến thức trong SGK là nội dung về 1 cơ hội và tháchthức của toàn cầu hoá đối với các nước đang phát triển
- Sau đó, GV làm mẫu 1 ô kiến thức
- GV đặt câu hỏi: Yêu cầu HS đọc ô 1 và trả lời câu hỏi:
+ Hàng rào thuế quan bị bãi bỏ tạo thuận lợi gì cho thị trường, sản xuất ?
+ Nền sản xuất của các nước nghèo sẽ gặp những khó khăn gì ?
- GV: Chia lớp thành 6 nhóm, và giao nhiệm vụ:
+ Mỗi nhóm tìm hiểu 1 nội dung (từ ý 2 -> 7) kết hợp với hiểu biết cá nhân để rút rakết luận về 2 nội dung: Những cơ hội - thách thức của toàn cầu hoá đang đặt ra với cácnước đang phát triển? Lấy dẫn chứng
+ Đại diện các nhóm lên trình bày kết quả thảo luận
+ Các nhóm khác cho ý kiến, bổ sung
+ GV chuẩn kiến thức
- GV nêu yêu cầu: Trên cơ sở các kết luận rút ra từ các ô kiến thức, HS nêu kết luận
chung về 2 mặt:
+ Các cơ hội về toàn cầu hoá đối với các nước đang phát triển.
+ Các thách thức của toàn cầu hoá đối với các nước đang phát triển.
Hoạt động 2: HS trình bày báo cáo:
- Về nhà mỗi HS hoàn thành bài báo cáo hoàn chỉnh từ 150 – 200 từ
4 Rèn luyện kĩ năng vẽ lược đồ
Trong chương trình địa lí, có những nội dung hoàn toàn mới và khó, một trong nhữngnội dung đó là yêu cầu HS phải vẽ được lược đồ Yêu cầu vẽ được lược đồ trong giảng dạy
và học tập địa lí là rất quan trọng và cần thiết Những năm trước đây, trong các kì thi Đạihọc, Cao đẳng khi các trường tự ra đề thi, nội dung vẽ lược đồ Việt Nam và xác định trênlược đồ một số kiến thức theo yêu cầu đã được rất nhiều các trường lựa chọn và sử dụngtrong đề thi của trường mình Nhưng trong chương trình không có tiết dạy về nội dung này
và cũng không có tài liệu hướng dẫn chính thức Hiện nay, do những đổi mới về nội dung,chương trình, trước những đòi hỏi mới của xã hội, có tiết học vẽ lược đồ Việt Nam trongchương trình địa lí 12 và có hướng dẫn thực hành cụ thể Việc vẽ được lược đồ Việt Nam là
Trang 20rất quan trọng và cần thiết, có tác dụng giúp cho HS có được tư duy không gian, biết thểhiện các hiểu biết của mình về Địa lí bằng những lược đồ đơn giản Hình ảnh vùng lãnh thổđược in sâu vào trí nhớ
Ví dụ: Bài 3 Thực hành: Vẽ lược đồ Việt Nam (Địa lí 12 – ban cơ bản)
Rèn luyện kĩ năng vẽ lược đồ Việt Nam tiến hành theo quy trình sau:
Hoạt động 1: Xác định mục tiêu, yêu cầu của bài thực hành
GV cho HS làm rõ mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ và một số điểm cần lưu ý của bài thựchành Như vậy, bài thực hành có 2 yêu cầu:
- Nắm được cách vẽ lược đồ Việt Nam bằng việc sử dụng hệ thống ô vuông và cácđường tạo khung Xác định được vị trí địa lí của nước ta và một số địa danh quan trọng
- Vẽ được tương đối chính xác lược đồ Việt Nam (phần đất liền) và một số đối tượngtheo yêu cầu
Hoạt động 2: Vẽ lược đồ Việt Nam bằng việc sử dụng hệ thống lưới ô vuông và các điểm, các đường khống chế
Bước 1 Vẽ lưới ô vuông.
Bước 2 Xác định hệ thống kinh, vĩ tuyến Các điểm khống chế và đường khống chế,
nối lại thành khung thể hiện hình dáng lãnh thổ Việt Nam (phần đất liền)
Bước 3 Vẽ từng đoạn biên giới và bờ biển để hợp lại thành khung lãnh thổ Việt Nam Bước 4 Vẽ một số đảo và quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa lên lược đồ khung vừa
thể hiện
Bước 5 Vẽ các sông chính.
Bước 6 Điền lên lược đồ các thành phố, thị xã theo yêu cầu của bài thực hành.
IV MỘT SỐ LƯU Ý KHI GIẢNG DẠY BÀI THỰC HÀNH
Các bài thực hành nói chung được hướng dẫn cách thực hiện rất cụ thể ở trong sáchgiáo khoa, sách giáo viên Tuy nhiên về phương pháp khi giảng dạy các bài thực hành cầnlưu ý một số vấn đề sau:
- Yêu cầu học sinh phải nghiên cứu trước bài thực hành ở nhà, đến lớp giáo viên đọclại, nhấn mạnh những ý chính của bài thực hành, cho học sinh nghiên cứu thêm khoảng 5phút
- Giáo viên yêu cầu học sinh trình bày định hướng thực hiện bài thực hành.
- Giáo viên kiểm tra kiến thức của học sinh để làm bài thực hành
- Cho học sinh làm thử, hoặc giáo viên làm mẫu (nếu đó là dạng bài mới)
- Hướng dẫn học sinh làm chính và hoàn thiện yêu cầu của bài thực hành
- Trong quá trình học sinh tiến hành làm bài thực hành, giáo viên kiểm tra trình độ và
kĩ năng thực hiện bài thực hành của học sinh
- Trong quá trình hướng dẫn học sinh các bài thực hành cần một số lưu ý:
+ Phải coi bài thực hành là truyền thụ tri thức mới, không nên coi đó là bài học phụ
mà thực hiện qua loa, hời hợt
Trang 21+ Phải có kiểm tra và đánh giá để phân loại trình độ học sinh tạo cho học sinh ý thứclàm việc độc lập hoặc làm việc theo nhóm.
+ Khi hướng dẫn thực hiện không nên dùng kiểu thông báo mà phải trên tinh thầnhướng dẫn học sinh chủ động thực hiện Bằng cách gợi ý, đặt câu hỏi để hướng dẫn họcsinh làm bài thực hành Với các bài đầu, có thể giáo viên hướng dẫn và làm mẫu nhiều hơn.Còn các bài sau cần tăng cường tính độc lập của học sinh
Bài 2.
MỘT VÀI GỢI Ý VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC ÔN TẬP ĐỊA LÍ
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
I – MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ÔN TẬP
1.Vai trò, vị trí của ôn tập
Các bài ôn tập hết sức quan trọng, nhằm mục đích giúp học sinh củng cố, chuẩn hóanhững kiến thức, kĩ năng cần thiết, chuẩn bị cho việc bước sang một phần học mới, mộtchương trình mới, hay chuẩn bị cho một bài kiểm tra, một bài thi cuối kì, cuối cấp
Các bài ôn tập thường phát huy cao độ khả năng tổng hợp, hệ thống hóa kiến thức đãhọc, xác lập mối quan hệ giữa các yếu tố địa lí, củng cố các kĩ năng phân tích, so sánh vàgiải thích các hiện tượng liên quan, đồng thời khắc sâu, nâng cao kiến thức, kĩ năng đã học,chuẩn bị cho học sinh những kiến thức, kĩ năng cần thiết để làm bài kiểm tra giữa kỳ, cuối
kì, cuối cấp, các bài ôn tập còn là cơ sở giúp học sinh tiếp thu kiến thức, kĩ năng mới saunày và vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn Điều này cho thấy việc ôn tập đóng vaitrò hết sức quan trọng trong giáo dục phổ thông nói chung và môn Địa lí nói riêng
2 Mục đích của ôn tập
Sau bài ôn tập sẽ giúp học sinh:
- Nhớ lại, hệ thống hóa, khái quát hóa hệ thống tri thức đã được học riêng rẻ ở nhiềuphần, nhiều bài, nhiều chương khác nhau
- Từ cách nhìn tổng thể học sinh hiểu rõ hơn các vấn đề đã được học, khẳng định lạinhững kiến thức đã được nắm, có thể chủ động hơn, tự tin hơn điều chỉnh những nhận thứcchưa được chính xác trong quá trình học và là cơ sở để tiếp nhận tri thức mới
- Bằng tư duy khái quát qua bài ôn tập, giúp HS tổng hợp được kiến thức, tìm ra cácmối quan hệ địa lí, có kĩ năng, kĩ xảo trong phân tích, đánh giá các mối quan hệ địa lí đãđược học, vận dụng nhuần nhuyễn hơn kiến thức đã học vào thực tiễn
3 Một số dạng bài ôn tập
Căn cứ vào chức năng ôn tập, có thể phân loại các dạng bài ôn tập như sau:
- Ôn tập, cũng cố kiến thức sau khi vừa mới lĩnh hội tri thức nhằm khắc sâu hơn kiếnthức vừa học
- Khái quát hóa, hệ thống hóa tri thức diễn ra sau khi học xong một phần, mộtchương, một số chương học Việc ôn tập này nhằm khái quát hóa, hệ thống hóa, đào sâu,
mở rộng tri thức, hoàn thiện những kĩ năng, kĩ xảo Nó diễn ra trong quá trình lĩnh hội trithức mới, luyện tập, vận dụng, tổng hợp tri thức đã học Ôn tập dạng này thường được thểhiện ở các tiết ôn tập trước kiểm tra một tiết, kiểm tra học kì
Trang 22- Ôn tập sau khi hoàn thành chương trình học, thường là ôn thi tốt nghiệp, ôn thi đạihọc, ôn thi học sinh giỏi Việc ôn tập này không những hệ thống hóa, khái quát hóa cáckiến thức kĩ năng đã học mà sau khi ôn tập học sinh nhận thức vấn đề một cách có hệthống, vận dụng một cách nhuần nhuyễn cac kiến thức, kĩ năng của chương trình vào thựctiễn cuộc sống.
II - PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC ÔN TẬP
Ôn tập là phương pháp dạy học giúp học sinh mở rộng, đào sâu, khái quát hóa, hệthống hóa tri thức đã học, nắm vững những kĩ năng, kĩ xảo một cách hệ thống, phát triển trínhớ, tư duy, đồng thời qua đó có thể điều chỉnh, sửa chữa những sai lầm trong hệ thống trithức của mình
Dạy học là cả một nghệ thuật đòi hỏi người giáo viên phải dày công rèn luyện, dạymột tiết học bình thường vốn đã khó, việc dạy một tiết ôn tập càng khó khăn hơn nhiều.Muốn dạy một tiết ôn tập, một bài ôn tập hay ôn tập một hệ thống đòi hỏi giáo viên khôngnhững có kiến thức chắc chắn, chuyên sâu mà còn phải nắm chắc các quy trình ôn tập, có kĩnăng, kĩ xảo trong sử dụng các phương pháp ôn tập, phải đảm bảo được những yêu cầu sửdụng phương pháp ôn tập
1 Những yêu cầu sử dụng phương pháp ôn tập
- Ôn tập phải có tính hệ thống và phải đảm bảo tuân thủ theo kế hoạch
- Ôn tập phải theo nhiều hình thức khác nhau để vận dụng hiệu quả tối đa các mặtmạnh của mỗi phương pháp và khắc phục những hạn chế của mỗi phương pháp
- Ôn tập là một công việc cần được làm thường xuyên, từ việc cũng cố sau mỗiphần, mỗi bài, ôn xen kẽ với việc tiếp nhận tri thức mới, tránh tình trạng để vấn đề đượchọc bị bỏ quên khá lâu nên rất khó nhớ lại
- Cần vận dụng phương pháp sơ đồ, bảng hệ thống nhằm hệ thống hóa những kháiniệm, quy luật các mối quan hệ giữa các yếu tố địa lí với nhau theo một hệ thống tri thứcnhất định
2 Cách thức tiến hành dạy học ôn tập
Có thể tiến hành ôn tập theo các cách sau:
- Tiến hành dạy ôn tập bằng hình thức quy nạp: Với hình thức quy nạp giúp học sinhtổng hợp được các kiến thức đã lĩnh hội và tự tin khẳng định hệ thống tri thức mà bản thân
đã được học, đã tư duy tích hợp nên Tuy nhiên hình thức này đòi hỏi có thời gian và việc
đi từ vấn đề chi tiết đến tổng hợp mất nhiều thời gian không phù hợp cho việc ôn tập mộtlượng kiến thức lớn Hình thức này nên dùng trong quá trình phân tích tổng hợp ở mộtlượng kiến thức nhỏ trong phạm vi một mục bài, một bài học Nếu dùng trong ôn tập chỉnên đặt một vài câu hỏi tổng hợp cuối những nội dung lớn mang tính mở rộng, nâng cao
Ví dụ:
+ Sau khi đã hệ thống hóa kiến thức về sự phân bố các yếu tố khí áp, khối khí, nhiệt
độ, mưa trên trái đất Giáo viên có thể đặt câu hỏi sự phân bố các yếu tố này trêntrái đất theo những quy luật nào?
+ Từ phân tích những nhân tố tác động tới các yếu tố trong khí quyển, thủy quyển,sinh quyển, thổ nhưỡng quyển chúng ta đều thấy chúng liên quan nhiều tới yếu tốnào? ( Tác động nhiều nhất của yếu tố bức xạ mặt trời từ đó rút ra kết luận các yếu
tố tự nhiên diễn ra trong khí quyển trên bề mặt Trái Đất chịu tác động mạnh mẽ nhấtcủa yếu tố ngoại lực - nhất là bức xạ mặt trời)
- Tiến hành dạy học ôn tập theo hình thức diễn dịch: Hình thức diễn dịch là hìnhthức thuận tiện nhất trong dạy học ôn tập Sau khi đã học nhiều kiến thức ở các bài,
Trang 23chương, phần giúp học sinh khái quát lại những nội dung lớn, mỗi nội dung lớn gồm nhiềunội dung nhỏ hơn, cứ như thế giáo viên tổ chức cho học sinh hệ thống lại lượng kiến thứclớn theo một lô gic dễ hiểu, dễ nhớ và sự nhớ lại này không còn nhàm chán, đơn thuần củaviệc tái hiện lại các kiến thức đã học mà là nhớ lại một cách có hệ thống hay nói đúng hơn
tư duy lại lượng kiến thức đã học phân tán ở mỗi bài, mỗi phần theo một trật tự mới vàđược phân cấp một cách rõ ràng, khoa học
Với hình thức này, trong một thời gian ngắn các em có thể hệ thống lại một lượngkiến thức lớn, điều chỉnh lại những kiến thức chưa đúng và mau chóng nhận thức một cáchtổng thể, từ tổng thể các em tiếp tục triển khai, vận dụng các kiến thức đã học một cách hợp
lí, khoa học, dễ dàng nhận thức được các mối quan hệ địa lí một cách mạch lạc
Ví dụ khi dạy tiết ôn tập trước kiểm tra học kì II, chương trình địa lí 12, giáo viênđặt câu hỏi:
Hãy cho biết trong toàn bộ chương trình địa lí 12 chúng ta đã học được những vấn
đề lớn nào? Trong mỗi vấn đề đó ta tìm hiểu những nội dung gì?
Sau khi một vài học sinh trả lời chúng ta đã có một khung kiến thức cần ôn tập của địa lí 12( Địa lí Việt Nam) và học sinh đã hình dung được kiến thức của cả chương trình Từ đóbằng nhiều phương pháp khác nhau giáo viên và học sinh sẽ tiến hành triển khai, hệ thốnghóa và hoàn thiện kiến thức một cách cụ thể hơn, chi tiết hơn
- Dạy học ôn tập kết hợp cả hai hình thức quy nạp và diễn dịch: Trong dạy học ôntập giáo viên cũng nên lồng ghép cả hai hình thức quy nạp và diễn dịch nhưng nên sử dụnghình thức quy nạp ít hơn, định hướng chung nên dùng hình thức diễn dịch sẽ hiệu quả caohơn, phù hợp với nhiều đối tượng hơn và phù hợp với nội dung ôn tập của bộ môn Địa lí
3 Hình thức tổ chức ôn tập
Có hai hình thức ôn tập phổ biến đó là ôn tập theo chuyên đề và ôn tập theo chươngmục
- Ôn tập theo chương mục: là cách làm đơn giản nhất, học sinh cũng dễ dàng nhớ
lại hệ thống kiến thức đã học theo quá trình học mà không bỏ sót một nội dung nào, đảmbảo được toàn bộ kiến thức, kĩ năng của chương trình sách giáo khoa Hơn nữa các chươngmục trong chương trình địa lí THPT thì chương mục cũng đã có sự sắp xếp theo chuyên đề.Hình thức ôn tập này thường dùng cho ôn tập với thời gian ngắn hoặc là với mục đích nắmvững hệ thống kiến thức, kĩ năng cơ bản trong chương trình Vì thế đối với các tiết ôn tậptrước kiểm tra một tiết, trước kiểm tra học kì, hoặc ôn thi tốt nghiệp nên ôn tập theo hìnhthức này Ôn tập chương mục kết hợp với hình thức triển khai diễn dịch giúp học sinh kháiquát bài, hệ thống hóa kiến thức một cách thuận tiện
Ví dụ: Chúng ta có thể ôn tập chương trình Địa lí 12 theo chương mục, ở chương trình
Địa lí 12 ngoài bài mở đầu, gồm 3 phần lớn, với nhiều nội dung được sắp xếp như sau: ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN: 1 Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ; 2 Đặc điểm chung của tự nhiên; 3.Vấn đề sử dụng và bảo vệ tự nhiên
ĐỊA LÍ DÂN CƯ: 1 Đặc điểm dân số và sự phân bố dân cư; 2 Lao động và việc làm; 3
Đô thị hóa
ĐỊA LÍ KINH TẾ: 1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế; 2 Địa lí các ngành kinh tế; 3 Địa lí cácvùng kinh tế; 4 Địa lí địa phương
- Ôn tập theo chuyên đề: Chúng ta không nên nhầm lẫn là chương trình sách giáo
khoa đã sắp xếp nội dung theo chuyên đề nên ôn tập theo chương mục cũng là ôn tập theochuyên đề Ôn tập theo chuyên đề có tính chuyên sâu hơn theo từng mảng kiến thức mangtính độc lập hơn
Việc ôn tập theo hình thức này sẽ giúp học sinh hiểu từng vấn đề một cách sâu hơn,
Trang 24rộng hơn, lô gíc hơn nhưng cũng đòi hỏi thời gian nhiều hơn, dày công hơn Việc ôn tậpnày của chương trình địa lí THPT cũng cần dựa trên cơ sở đã nắm được hệ thống kiến thức,
kĩ năng cơ bản trong chương trình sách giáo khoa qua hệ thống chương mục đã được học.Sau khi nắm chắc hệ thống kiến thức, kĩ năng cơ bản trong chương trình sách giáo chúng tamới ôn tập theo chuyên đề Có thể chọn một vài chuyên đề quan trọng để ôn tập, có thể ôntập hết các chuyên đề
Việc ôn tập này không những chỉ yêu cầu học sinh nắm được hệ thống kiến thức cơbản mà còn hiểu rộng hơn, sâu hơn từng vấn đề được học và vận dụng vấn đề, giải quyếtvấn đề được học vào các dạng bài tập, câu hỏi, thực tiễn một cách nhuần nhuyễn hơn Hìnhthức ôn tập này thường dùng cho ôn tập học sinh giỏi, ôn thi đại học
Ví dụ: Ôn tập chuyên đề về biển đảo Việt Nam ở chương trình địa lí 12 THPT,
chúng có thể kết hợp kiến thức của các bài học trong chương trình như: Bài 2 (Vị trí địa lí
và phạm vi lãnh thổ), Bài 8 (Thiên nhiên chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển), Bài 42 (Vấn đềphát triển kinh tế, an ninh, quốc phòng ở Biển Đông và các đảo, quần đảo) Mở rộng thêmkiến thức về bảo vệ tài nguyên môi trường biển đảo, nâng cao, tổng hợp việc phát triểnkinh tế biển của các vùng, tổng hợp kiến thức phát triển giao thông, công nghiệp, du lịch,ngành thủy sản đã học ở địa lí kinh tế ngành Rèn luyện kĩ năng vẽ lược đồ, sơ đồ về cácvùng biển, đảo.v.v
Lưu ý: Ôn tập theo chuyên đề chỉ được thực hiện sau khi học sinh đã nắm vững hệ thống
kiến thức, kĩ năng cơ bản trong chương trình sách giáo khoa
4 Các phương pháp thường sử dụng trong dạy học ôn tập
Trong ôn tập giáo viên cần sử dụng nhuần nhuyễn nhiều phương pháp dạy học khácnhau, các phương pháp hay được sử dụng gồm:
- Phương pháp thảo luận nhóm: Đây là phương pháp rất cần trong ôn tập để giúp
các nhóm học tập nhanh chóng hệ thống lại một lượng kiến thức tương đối nhiều nhờ vậndụng thế mạnh của sự hợp tác lẫn nhau trong một nhóm học, các em có thể chia sẻ nhữngbăn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, khẳng định lại kiến thức đã học và điều chỉnh nhữngnhận thức chưa đúng một cách tự tin
- Phương pháp lập bảng hệ thống, lập sơ đồ lôgíc, sơ đồ tư duy.
Hình thức này cần vận dụng một cách triệt để để giúp học sinh có thể hệ thống, tậphợp một lượng kiến thức lớn một cách lôgíc nhất, nhanh nhất và để từ đó dễ dàng khái quáthóa các kiến thức một cách chính xác nhất
- Ví dụ:
+ Bằng một số sơ đồ “ cành cây” ( sơ đồ tư duy) sẽ giúp các em ôn tập được mộtlượng kiến thức lớn, một sơ đồ tư duy có thể hệ thống hóa kiến thức cả một chương học.Phương pháp này rất phù hợp với phương pháp tự ôn tập của HS
+ Bằng một bảng hệ thống sau, chúng ta có thể hệ thống củng cố một cách chínhxác, súc tích một lượng kiến thức lớn và qua bảng hệ thống còn giúp các em dễ dàng sosánh các đối tượng địa lí với nhau để rút ra những đặc tính chung và những đặc tính riêng
Trang 25của các đối tượng địa lí VD chúng ta có thể lập một bảng hệ thống về quy mô, thế mạnh,hạn chế, phương hướng khai thác lãnh thổ của bảy vùng kinh tế nước ta ở chương trình Địa
lí 12 bằng bảng hệ thống sau:
Vùng kinh tế Quy mô lãnh
thổ (số đơn vịhành chính,diện tích, dânsố)
Thế mạnh vàhạn chế (tựnhiên, kinh tế -
xã hội)
Phương hướngkhai thác lãnhthổ
Một số ngànhsản xuất chính
và cơ sở, trungtâm sản xuấttiêu biểu
- Phương pháp hướng dẫn học sinh tự ôn tập
Hướng dẫn học sinh ôn tập ở nhà là vấn đề hết sức quan trọng, bởi nếu GV tổ chức
ôn tập ở lớp tốt bao nhiêu cũng sẽ không có hiệu quả cao nếu các em không tự ôn tập ở nhà
và không có phương pháp tự ôn tập Muốn HS ôn tập tốt, GV cần hướng dẫn cho học sinhphương pháp tự ôn luyện, đối với bộ môn địa lí nên hướng dẫn các em cách lập bảng hệ
thống, cách sử dụng sơ đồ tư duy, cách ghi nhớ, cách tư duy, phải luôn đặt câu hỏi: Như
thế nào? Tại sao? và tự trả lời, nếu chưa trả lời được thì nên tham khảo ý kiến của bạn bè,
ý kiến của thầy cô Giáo viên cũng cần ra đề cương cho các em ôn tập để các em có địnhhướng rõ hơn và tích cực giúp HS trước những vấn đề các em chưa rõ
Lưu ý chung:
- Trước khi tiến hành dạy ôn tập GV cần chuẩn bị kế hoạch dạy học chu đáo, HSchuẩn bị kiến thức nhất định trên cơ sở hướng dẫn của GV
- Ôn tập phải có tính hệ thống và phải đảm bảo tuân thủ theo kế hoạch
- Tiết ôn tập không phải là việc GV nhắc lại hay giảng lại kiến thức đã học mà giúp
HS nhớ lại và tìm ra mạch kiến thức cơ bản của các nội dung đã học
- Luôn thay đổi hình thức ôn tập cho đa dạng, trong bất kì hình thức nào HS cũngphải là đối tượng chủ động tham gia
5 Xây dựng kế hoạch dạy ôn tập
Các tiết ôn tập cũng là dạy học, việc lên kế hoạch ôn tập cũng như kế hoạch dạy họcnói chung, cũng cần đảm bảo các bước và cần có kế hoạch cụ thể và đòi hỏi GV phải dàycông cho việc lập kế hoạch, chuẩn bị cho dạy ôn tập
a) Các bước xây dựng kế hoạch bài ôn tập
a1 Xác định mục tiêu của bài ôn tập
a2 Nghiên cứu SGK và các tài liệu liên quan, chuẩn bị lượng kiến thức, kĩ năng đầy
đủ, hệ thống và GV phải thực sự làm chủ, chắc chắn, nhuần nhuyễn các kiến thức, kĩnăng cần ôn tập của cả chương trình
a3 Xác định khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức của học sinh, dự kiến nhữngkhó khăn, tình huống có thể xẩy ra
a4 Lựa chọn phương pháp dạy học, phương tiện, thiết bị dạy học, hình thức tổ chức,cách thức tiến hành ôn tập phù hợ với dạng bài, nội dung ôn tập
b) Cấu trúc kế hoạch bài học
b1 Mục tiêu bài học: Về kiến thức, về kĩ năng, về thái độ
b2 Chuẩn bị của GV và HS: GV chuẩn bị thiết bị dạy học, phương tiện dạy học; HS
Trang 26chuẩn bị bài theo hướng dẫn của GV.
Tự ôn tập ở nhà là công việc hết sức quan trọng, muốn có kết quả cao việc tự ôn tập
là hết sức cần thiết Tự học ôn tập ở nhà là khâu quan trọng nhất để các em nắm chắc, nhớlâu, vận dụng linh động kiến thức, kĩ năng đã được học Tuy nhiên việc tự ôn tập ở nhà của
HS phải dựa trên sự hướng dẫn của GV, GV phải hướng dẫn cho học sinh phương pháp tựhọc, những nội dung cần học Một số phương pháp hướng dẫn HS tự học: Giao những nộidung, những vấn đề cần học; giao các bài tập, câu hỏi, chuyên đề và lên kế hoạch cần thựchiện cho các em (thực hiện trong bao lâu, thời gian nào thực hiện những công việc gì);hướng dẫn những tài liệu cần tham khảo; hướng dẫn một số phương pháp tự ôn tập có hiệuquả như phương pháp lập sơ đồ (sơ đồ tư duy - dạng cành cây là phương pháp sử dụng tựhọc rất hiệu quả và rất thú vị), phương pháp lập bảng hệ thống Ví dụ: GV hướng dẫn HSlập bảng hệ thống so sánh đặc điểm tự nhiên của các miền tự nhiên trong chương trình Địa
lí lớp 12, lập bảng so sánh đặc điểm về trình độ phát triển kinh tế giữa nhóm nước pháttriển và đang phát triển trên thế giới ở chương trình Địa lí lớp 11… tương tự như cách lậpbảng hệ thống Đặc điểm các vùng nông nghiệp trong sách giáo khoa Địa lí 12, bảng hệthống Sự phân bố sinh vật, đất theo vĩ độ ở SGK Địa lí lớp 10 (trang 69, 70)
III - MỘT SỐ GIÁO ÁN DẠY ÔN TẬP MINH HỌA Giáo án1 Tiết 15: Ôn tập (Ôn tập trước kiểm tra một tiết, chương trình Địa lí lớp 10)
- Hiểuđược các mối quan hệ giữa nội lực, ngoại lực với địa hình bề mặt Trái Đất, mối qua hệ giữa bức xạ mặt trời với các yếu tố nhiệt, khí áp, gió, mưa; mối quan hệ giữa các quá trình ngoại lực
- Vận dụng được những hiểu biết về thuyết kiến tạo mảng, nội lực, ngoại lực, hệ quảcác vận động của Trái Đất, các khái niệm và sự phân bố của các yếu tố thạch quyển, khí quyển để giải thích được các hiện tượng tự nhiên liên quan
2 Về kĩ năng:
- Nhận biết được các phương pháp sử dụng kí hiệu trên bản đồ, có kĩ năng đọc, phântích các bản đồ
- Kĩ năng phân tích biểu đồ khí hậu
- Kĩ năng phân tích một số sơ đồ, bảng hệ thống, bảng số liệu
II - CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH
1 Chuẩn bị của giáo viên:
- Máy chiếu (nếu có)
Trang 27- Các sơ đồ, bảng hệ thống
- Phiếu học tập
2 Chuẩn bị của học sinh:
- Xem lại toàn bội nội dung đã được học, các câu hỏi ở trong SGK
- Ghi lại những thắc mắc, nghi vấn trong phần được học cần trao đổi, làm rõ cùng
GV và cả lớp
III - PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
1 Hình thức ôn tập: Ôn tập theo chương mục
2 Cách thức tiến hành: Tiến trình chung là tiến hành theo hình thức diễn dịch, có kết hợp hình thức quy nạp ở một số phần
3 Phương pháp chính: Kết hợp các phương pháp: đàm thoại và vấn đáp, thảo luận nhóm, lập bảng hệ thống, sơ đồ hóa, sơ đồ lôgic
IV - CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC
Ổn định lớp
Bài mới: Tiết 15 Ôn tập
Hoạt động 1: Tổng hợp lại những nội dung đã được học
Câu hỏi: Hãy nêu những những nội dung đã
được học từ tiết 1 đến nay
I - Vũ Trụ, Hệ Mặt Trời, hệ quả các vận động của Trái Đất
II - Cấu trúc của Trái Đất Các quyển trong lớp vỏ địa lí (Thạch quyển, thủy quyển)
Hoạt động 2: Hệ thống các kiến thức cơ bản của phần bản đồ
- Tìm hiểu nội dung: I - Các phương
pháp
Bước 1 Câu hỏi: Đối với bài này chúng ta
cần nắm những vấn đề gì?
Sau khi HS trả lời, GV bổ sung và ghi bảng
Bước 2 Phát phiếu mẫu bảng hệ thống kiến
thức yêu cầu học sinh về nhà hoàn thiện
GV sử dụng một slied mẫu hướng dẫn
- Tìm hiểu nội dung: II - Sử dụng bản
Mẫu bảng:
Phương pháp tượng Đối
biểu hiện
Dạng kí hiệu năng Khả
biểu hiện
1 PP kí hiệu
Trang 28Hoạt động 3: Tìm hiểu Vũ Trụ, Hệ Mặt Trời, hệ quả các vận động của TĐ
Bước 1 Hệ thống những nội dung cần nắm
Câu hỏi: Nêu những nội dung cần nắm ở vấn
đề I
HS trả lời, GV tổng hợp
Bước 2 Thảo luận nhóm (mỗi bàn 1 nhóm,
mỗi dãy tìm hiểu hệ quả một vận động):
Trình bày những vấn đề cần nắm về các hệ
quả của vận động tự quay và vận động quay
quanh Mặt Trời của Trái Đất và hoàn thành
sơ đồ theo mẫu:
Ngày-đêm luân phiên
Vận động tự quay Giờ trên TĐ
1 Khái niệm: Vũ Trụ, thiên hà
2 Khái niệm HMT, Trái Đất trong Hệ Mặt Trời (vị trí, chuyển động)
3 Hệ quả các vận động của Trái Đất
Ngày-đêm luân phiênVận động tự quay Giờ trên TĐ
Sự lệch hướng chuyển động của các vật thể
Chuyển động biểu kiến của Mặt trờiVận động quay Mùa
quanh MT
Ngày-đêm dài ngắn theo mùa và theo vĩ độ
Hoạt động 4: Tìm hiểu Cấu trúc của Trái Đất
Câu hỏi: Nêu khái quát cấu trúc của TĐ? Ý
nghĩa của việc hiểu được cấu trúc của T.Đ?
II - Cấu trúc của Trái Đất Các quyển trong lớp vỏ địa lí
1 Cấu trúc của Trái Đất
Hoạt động 5: Tìm hiểu Thạch quyển
Bước 1 Hệ thống kiến thức cơ bản của thạch
quyển
Bước 2 Hoàn thành sơ đồ tư duy (dạng cành
cây) về tác động của nội lực và hoàn thành
bảng hệ thống về tác động của ngoại lực
2 Thạch quyển
- Khái niệm
- Thuyết kiến tạo mảng
- Tác động của nội lực và ngoại lực lên bề mặt Trái Đất
+ Nội lực: Khái niệm, tác động + Ngoại lực: Khái niệm, các quá trình ngoại lực
Trang 29Bước 3 Đánh giá các tác động của ngoại lực
và nội lực lên bề mặt địa hình? Mối quan hệ
của Thuyết kiến tạo mảng với các quá trình
nội lực?
Các quá trình ngoại lực
Khái niệm
Tác nhân chủ yếu
Kết quả
Phong hóaBóc mònVận chuyểnBồi tụ
Hoạt động 6: Tìm hiểu Khí quyển
Lươngmưa
Bước 3 Sự phân bố giữa các yếu tố trong khí
quyển có mối quan hệ gì không? Nhân tố nào
là nhân tố chủ yếu chi phối tới sự phân bố
này?
3 Khí quyển
- Các khái niệm: khí quyển, khối khí, frông,khí áp, bức xạ nhiệt
- Các nhân tố ảnh hưởng tới sự thay đổi nhiệt
độ không khí trên bề mặt trái đất, khí áp, mưa
- Sự phân bố các khối khí, frông, nhiệt độ, khí
áp, đới gió, mưa(Bảng hệ thống ở phụ lục)
- Các yếu tố trong khí quyển chịu ảnh hưởngmạnh mẽ của bức xạ mặt trời và chúng cũngthay đổi, phân bố phụ thuộc nhiều vào lượngbức xạ mặt trời Vì thế sự phân bố các yếu tốtrong khí quyển cũng có tính quy luật rất rõ
Hoạt động 5: Lưu ý một số kĩ năng
Một số kĩ năng cần nắm? - Nhận dạng các kí hiệu trên bản đồ
+ T: rất
- Có 2 loại frong và dải hội tụ nhiệt+ FIT phân bố giữa 2 khối
- Có 7 đai khí áp, các đai áp thấp
và các đai ápcao phân bố xen kẽ và đốixứng qua đai
- Mỗi bán cầu có
3 đới gió chính:
+ Gió Tín phong: thổi từ khu áp cao cận nhiệt đới về áp thấp XĐ
- Phân bố theo vĩ độ: Xích đạo mưa nhiều, gần chí tuyếnmưa tương đối ít, ở vĩ độ