1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Th.S Quản lý hoạt động truyền thông về di sản văn hóa tại Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa

142 36 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Lý Hoạt Động Truyền Thông Về Di Sản Văn Hóa Tại Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Thanh Hóa
Tác giả Đào Thị Thanh Liên
Trường học Đại Học Thanh Hóa
Chuyên ngành Quản Lý
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 32,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý hoạt động truyền thông về di sản văn hóa tại Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa 2.3. Các công trình nghiên cứu đề cập đến quản lý hoạt động truyền thông di sản văn hóa tại Đài Phát thanh và Truyền hình Với những lợi thế về âm thanh, hình ảnh, truyền hình là kênh thông tin nhanh và mạnh hàng đầu trong lĩnh vực bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa. Truyền hình đã giúp người dân nhận dạng, nuôi dưỡng và trao truyền di sản văn hóa một cách tự nguyện, qua đó nâng cao tính bền vững của các di sản. Thời gian qua đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến công tác quản lý hoạt động truyền thông di sản văn hóa trên sóng truyền hình, có thể kể đến như: Luận văn Vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong các chương trình phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam (Nguyễn Thu Liên, 1997) trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn về vấn đề giữ gìn giá trị văn hóa truyền thống dân tộc thiểu số trên hệ thống báo chí Tây Bắc, chỉ ra được thực trạng, đề xuất các phương hướng cụ thể nhằm tăng cường vai trò tác động của báo chí trong việc tuyên truyền giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc. Đề tài Vai trò của báo chí đối với việc xây dựng và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc“của Nguyễn Thị Quỳnh Ly (2008) đã nghiên cứu vai trò của Đài TTTH cơ sở với vấn đề giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, cụ thể là những mặt làm được và những mặt còn tồn tại của Đài TTTH cơ sở trong lĩnh vực tuyên truyền nhằm giữ gìn bản sắc văn hoá của đồng bào các dân tộc thiểu số, tuyên truyền và giúp người dân hiểu về giá trị của những nét văn hoá riêng của dân tộc mình. Đồng thời đưa ra những giải pháp, phương hướng mang tính bổ khuyết, gợi mở để nâng cao hơn nữa vai trò, tác dụng, hiệu quả của Đài TTTH địa phương đối với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Luận văn Vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống trên Truyền hình Hải Phòng của Trần Thị Bích Liên, 2016 đã tập trung khảo sát thực trạng tuyên truyền về “Di sản văn hóa truyền thống địa phương“tại Đài Phát thanh và Truyền hình Hải Phòng trong khoảng thời gian 2 năm (2015 2016), từ đó đưa ra những đánh giá, nhận xét về ưu và nhược điểm của Đài PTTH Hải Phòng trong việc thực hiện chức năng của mình để bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa truyền thống của Hải Phòng. Đồng thời, luận văn cũng đưa ra những kiến nghị và giải pháp để tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyên truyền của Đài PTTH Hải Phòng trong công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa truyền thống của địa phương trong các giai đoạn tiếp theo. Đề tài: “Vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể trên báo và đài truyền hình Thừa Thiên Huế“của Trần Thị Phương Nhung (2015) đã đánh giá một cách khách quan những ưu điểm và hạn chế của Báo và đài phát thanh truyền hình Thừa Thiên Huế trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể. Tuy đã có một số công trình khoa học nghiên cứu sâu về vấn đề truyền thông di sản văn hóa nói chung, truyền thông di sản văn hóa trên truyền hình nói riêng, nhưng cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu, đánh giá một cách khách quan, khoa học đến việc quản lý hoạt động truyền thông di sản văn hóa của tỉnh Thanh Hóa trên hệ thống phát thanh truyền hình địa phương, vì vậy nghiên cứu của tác giả trong luận văn này sẽ góp thêm một cách nhìn mới trong việc tuyên truyền các di sản văn hóa qua tiếng nói của đài phát thanh truyền hình trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, qua đó góp phần nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, quảng bá cho di sản tài sản quý giá của Thanh Hóa và Việt Nam. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động truyền thông di sản văn hóa tại Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa. Đánh giá thực trạng về quản lý hoạt động truyền thông di sản văn hóa tại Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động truyền thông di sản văn hóa tại Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4.1 Đối tượng nghiên cứu: hoạt động truyền thông di sản văn hóa tại Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa 4.2 Phạm vi nghiên cứu Phạm vi không gian: Đài Phát thanh truyền hình Thanh Hóa Phạm vi thời gian: từ năm 2014 đến tháng 5 năm 2019 vì khoảng thời gian 5 năm có thể nghiên cứu và đánh giá được vấn đề quản lý hoạt động truyền thông về di sản văn hóa của Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa. Đồng thời, năm 2015 là năm Thanh Hóa đăng cai tổ chức năm Du lịch quốc gia. Từ thời điểm này Đài phát Thanh và Truyền hình Thanh Hóa thực hiện nhiều chương trình truyền thông về di sản văn hóa phục vụ hoạt động du lịch. Đặc biệt, kể từ cuối năm 2018 đến tháng 5 năm 2019, cùng với các cơ quan thông tấn báo chí trong Tỉnh, Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa đã thực hiện đợt tuyên truyền cao điểm sự kiện 990 năm Thanh Hóa, trong đó tuyên truyền đậm nét về các chương trình di sản. Do đó có thể đánh giá hoạt động truyền thông về di sản văn hóa qua các dấu mốc quan trọng, từ đó có thể làm rõ mục tiêu của đề tài. 5. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phương pháp này giúp tác giả luận văn nắm vững cơ sở lý luận, thực tiễn, tổng hợp các tư liệu để phân tích thực trạng quản lý hoạt động truyền thông về di sản văn hóa tại Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Thanh Hóa. Phương pháp khảo sát thực tế, phỏng vấn: Phương pháp này thực hiện các quan sát, ghi chép, phát phiếu thăm dò ý kiến của du khách, tiếp xúc phỏng vấn sâu các chủ thể quản lý, công việc quản lý cụ thể về hoạt động truyền thông về di sản văn hóa tại Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa. Thông qua đó, tác giả khai thác các thông tin cần thiết để có được những góc nhìn toàn diện hơn về vấn đề mình đang nghiên cứu. Phương pháp thống kê, phân tích: Phương pháp này luận văn sử dụng để xử lý số liệu, đánh giá thực trạng hoạt động truyền thông qua các phương tiện loại hình thông tin. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu liên ngành: văn hóa học, du lịch học, quản lý xã hội học, nhân học văn hóa. Bởi lẽ, với đề tài quản lý hoạt động truyền thông về di sản văn hóa tại Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Thanh Hóa đòi hỏi phải có sự tiếp cận từ nhiều phía bằng các phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau. Từ đó, luận văn mới có thể triển khai các vấn đề một cách hiệu quả. 6. Những đóng góp của luận văn 6.1. Về mặt khoa học Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động truyền thông di sản văn hóa trên sóng phát thanh truyền hình tỉnh Thanh Hóa, bước đầu đề cập đến các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động truyền thông di sản văn hóa trên sóng phát thanh truyền hình. 6.2. Về mặt thực tiễn Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động quản lý, luận văn đề xuất các giải pháp để tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyên truyền của Đài PTTH Thanh Hóa trong công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa truyền thống của địa phương trong các giai đoạn tiếp theo. Nếu làm tốt được việc đó, tiềm năng văn hóa của Thanh Hóa không những được khai thác để phát triển kinh tế, du lịch mà còn làm cho công chúng hiểu và yêu quý thêm những vốn quý của địa phương. Luận văn cũng góp phần định hướng hoạt động truyền thông về di sản trong thời gian tới phù hợp với xu thế chung trong tiến trình hội nhập. 7. Bố cục của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn bao gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động truyền thông di sản văn hóa, tổng quan về Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động truyền thông về di sản văn hóa tại Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động truyền thông về di sản văn hóa tại Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa. Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG VỀ DI SẢN VĂN HÓA, TỔNG QUAN VỀ ĐÀI PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH THANH HÓA 1.1. Một số khái niệm 1.1.1. Truyền thông Theo từ điển Bách khoa mở Wikipedia: “Truyền thông là hoạt động truyền đạt thông tin thông qua trao đổi ý tưởng, cảm xúc, ý định, thái độ, mong đợi, nhận thức hoặc các lệnh như ngôn ngữ, cử chỉ phi ngôn ngữ, chữ viết, hành vi và có thể bằng các phương tiện khá” Trong cuốn “Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản“của PGS.TS Nguyễn Văn Dững chủ biên đã đưa ra khái niệm”“Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm..chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm, của cộng đồng và xã hội“12, tr.12,13. Về bản chất, truyền thông là quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều, diễn ra liên tục giữa chủ thể truyền thông và đối tượng truyền thông. Khi có sự chênh lệch trong nhận thức, hiểu biết giữa chủ thể và đối tượng truyền thông gắn với nhu cầu chia sẻ, trao đổi thì hoạt động truyền thông diễn ra. Quá trình truyền thông chỉ kết thúc khi đạt được sự cân bằng trong nhận thức, hiểu biết giữa chủ thể và đối tượng truyền thông. Về mục đích, truyền thông hướng đến những hiểu biết chung nhằm thau đổi thái độ, nhận thức, hành vi của đối tượng truyền thông và tạo định hướng giá trị cho công chúng. Truyền thông thường gồm ba phần chính: nội dung, hình thức, và mục tiêu. Nội dung truyền thông bao gồm các hành động trình bày kinh nghiệm, hiểu biết, đưa ra lời khuyên hay mệnh lệnh, hoặc câu hỏi. Các hành động này được thể hiện qua nhiều hình thức như động tác, bài phát biểu, bài viết, hay bản tin truyền hình. Mục tiêu có thể là cá nhân khác hay tổ chức khác, thậm chí là chính ngườitổ chức gửi đi thông tin. Truyền thông là hình thức hiệu quả trong việc lưu giữ, bảo vệ và phát huy giá trị các di sản văn hóa. Truyền thông góp phần nhận diện giá trị, ngăn ngừa nguy cơ làm mai một di sản cũng như làm phong phú thêm đời sống tinh thần và vật chất của xã hội; là nguồn di sản tư liệu, tạo ra các sản phẩm lưu giữ thông tin về di sản văn hóa dưới nhiều dạng thức độc đáo. 1.1.2. Hoạt động truyền thông Hoạt động truyền thông có vai trò quan trọng, phản ánh trung thực mọi hoạt động của đời sống xã hội đến công chúng và là cầu nối để công chúng tiếp nhận, phản hồi thông tin. Càng ngày, mức độ công khai của hoạt động truyền thông đến công chúng ngày càng được mở rộng. Ngoài những ấn phẩm như sách, báo, tờ gấp... các phương tiện truyền thông đại chúng khác như phát thanh, truyền hình, báo điện tử, báo in cùng với các hội nghị, hội thảo đã và đang góp phần thúc đẩy hoạt động truyền thông mạnh mẽ. Hoạt động truyền thông có thể tác động vào ý thức xã hội để xác lập và củng cố hệ thống tư tưởng chính trị thống nhất, qua đó, liên kết các thành viên rời rạc thành một khối đoàn kết. Trong định hướng dư luận xã hội, việc lựa chọn góc độ thông tin và hàm lượng thông tin phân tích và bình luận trong mỗi sản phẩm truyền thông có ý nghĩa quan trọng. Với mỗi sự kiện, vấn đề, khi được hoạt động truyền thông đề cập cấp đến sẽ tạo ra sự ảnh hưởng tới dư luận xã hội về sự kiện, vấn đề đó. Do đó, hoạt động truyền thông tại Việt Nam cần nắm chắc nội dung của dự thảo văn bản pháp luật, lường trước được những tác động của văn bản pháp luật khi đi vào đời sống, từ đó, lựa chọn góc độ tiếp cận để định hướng dư luận xã hội. 1.1.3. Quản lý Quản lý là một hiện tượng xã hội, xuất hiện từ lâu trong lịch sử loài người, được các nhà tư tưởng, các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau tìm hiểu, nghiên cứu nhưng chưa có khái niệm thống nhất. Có người cho rằng quản lý là hoạt động thiết yếu bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu của nhóm (Hà Công Tuấn, 2002). Cũng có quan điểm khác coi là quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho hệ thống hay quá trình vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được mục đích đã định trước (Nguyễn Cửu Việt, 2005) hay “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tô chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tô chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”; “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra“(Nguyễn Quốc Chi, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, 2014) 28, 18 Những quan niệm về quản lý của các tác giả trên tuy có khác nhau nhưng có thể khái quát lại như sau: “Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung”. Trong lĩnh vực di sản văn hóa và truyền thông di sản văn hóa, công tác quản lý đóng vai trò vô cùng quan trọng. Quản lý di sản văn hóa là quá trình tác động của nhà nước, các cơ quan quản lý đối với di sản văn hóa, phương tiện truyền thông. Quản lý truyền thông là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan; là quá trình xây dựng chiến lược, kế hoạch, chính sách phát triển truyền thông ban hành, chỉ đạo, kiểm soát việc thực hiện pháp luật về truyền thông, nhằm tăng cường chất lượng, hiệu quả hoạt động trong lĩnh vực này. 1.1.4. Quản lý hoạt động truyền thông Quản lý nhà nước trong lĩnh vực thông tin và truyền thông cũng như bất kỳ dạng quản lý công vụ của bộ máy hành pháp, mang tính quyền lực, tính tổ chức cao, được điều chỉnh bằng pháp luật, vừa mang tính phổ biến, vừa mang tính đặc thù quản lý ngành. Nội dung quản lý hoạt động truyền thông được thể hiện qua nguyên tắc lãnh đạo của Đảng về truyền thông. Đảng lãnh đạo định hướng thông tin truyền thông và vạch ra chiến lược phát triển. Đảng lãnh đạo về công tác tổ chức cán bộ. Đây là mặt quan trọng trong các mặt mà Đảng lãnh đạo truyền thông đại chúng. Vì xuất phát từ tầm quan trọng của truyền thông đại chúng, nên việc lãnh đạo về công tác tổ chức cán bộ của Đảng để nhằm mục đích lựa chọn, đào tạo, bố trí hợp lý đội ngũ cán bộ để họ phát huy hết trình độ, phẩm chất, năng lực của mình. Đảng lãnh đạo thông qua công tác kiểm tra. Thông qua công tác kiểm tra, Đảng kịp thời phát hiện và sửa chữa những hạn chế, khuyết điểm; khuyến khích và phát huy những mặt tích cực của hệ thống truyền thông đại chúng. Quản lý hoạt động truyền thông là các biện pháp do chủ thể quản lý đưa ra nhằm tối ưu hóa các loại hình hoạt động của đơn vị, đảm bảo giới thiệu một cách đầy đủ, nhanh nhất, rộng khắp nhất những giá trị hiện hữu của đơn vị để nhiều có thể biết đến, tạo sự hiểu biết và thân thiện. Quản lý nhà nước trong lĩnh vực thông tin và truyền thông cũng như bất kỳ dạng quản lý công vụ của bộ máy hành pháp, mang tính quyền lực, tính tổ chức cao, được điều chỉnh bằng pháp luật, vừa mang tính phổ biến, vừa mang tính đặc thù quản lý ngành. Công tác QLNN về truyền thông mang tính quyền lực nhà nước, lấy pháp luật làm công cụ chủ yếu, nhằm đáp ứng kịp thời thông tin phục vụ đời sống cá nhân, xã hội ngày càng cao, đảm bảo trật tự quản lý và quyền công dân trong lĩnh vực báo chí, xuất bản. 1.1.5. Di sản văn hóa Di sản với tư cách là một thuật ngữ khoa học, đã có quá trình hình thành lâu dài, xuất hiện và được biết đến nhiều nhất trong cách mạng tư sản Pháp 1789. Chính việc tịch thu tài sản của tầng lớp quý tộc, tăng lữ, nhà thờ giáo hội để tập trung lại thành tài sản quốc gia sau cách mạng tư sản đã dần hình thành khái niệm di sản. Để tránh hiện tượng thất thoát và phá hoại, nhà nước Pháp lúc đó đã tiến hành kiểm kê, mô tả, sắp xếp, phân loại để xác định thứ tự ưu tiên nhằm khôi phục và bảo tồn loại tài sản này. Di sản lúc đó được hiểu như ý niệm về một tài sản chung của mọi công dân, chứ không phải của riêng một ai. Đó là ý niệm đã tạo thành ý thức về di sản quốc gia. Di sản theo nghĩa Hán Việt: di là để lại, còn lại, dịch chuyển, chuyển lại; sản là tài sản, là những gì quý giá, có giá trị. Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Di sản là cái của thời trước để lại. Như vậy, di sản văn hóa được hiểu như là tài sản, là báu vật của thế hệ trước để lại cho thế hệ sau. UNESCO, trong họp phiên thứ 32 tại Paris từ 299 đến 17102003, đã ra Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể. Công ước ghi nhận: các quá trình toàn cầu hóa và chuyển đổi cơ cấu xã hội cùng với các điều kiện khác đã tạo nhiều

Trang 1

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi; các số liệu nêu trong luận văn là trung thực; những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Đào Thị Thanh Liên

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG 7

MỞ ĐẦU 8

1 Lý do chọn đề tài 8

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 10

2.3 Các công trình nghiên cứu đề cập đến quản lý hoạt động truyền thông di sản văn hóa tại Đài Phát thanh và Truyền hình 12

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 14

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 14

4.2 Phạm vi nghiên cứu 14

5 Phương pháp nghiên cứu 15

6 Những đóng góp của luận văn 15

6.2 Về mặt thực tiễn 15

7 Bố cục của luận văn 16

Chương 1 17

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG VỀ DI SẢN VĂN HÓA, TỔNG QUAN VỀ 17

ĐÀI PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH THANH HÓA 17

1.1 Một số khái niệm 17

1.1.1 Truyền thông 17

1.1.3 Quản lý 18

1.1.4 Quản lý hoạt động truyền thông 19

1.1.5 Di sản văn hóa 20

1.1.6 Quản lý hoạt động truyền thông về di sản văn hóa 21

Trang 3

1.2 Vai trò, đặc điểm của đài phát thanh và truyền hình trong truyền thông về

di sản văn hóa 23

1.2.1 Vai trò của Đài Phát thanh và Truyền hình đối với truyền thông về di sản văn hóa 23

1.2.2 Thế mạnh và hạn chế của Đài Phát thanh và Truyền hình trong truyền thông về di sản văn hóa 27

1.3 Các văn bản của Đảng, Nhà nước trong quản lý hoạt động truyền thông về di sản văn hóa 30

1.3.1 Văn bản định hướng của Đảng 30

1.3.2 Văn bản quản lý của nhà nước 31

1.4 Tổng quan về Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa 33

1.4.1 Lịch sử hình thành và phát triển 33

1.4.2 Chức năng 35

1.4.3.Nhiệm vụ 35

1.4.4 Tổ chức bộ máy 36

1.4.5 Cơ cấu nội dung chương trình của Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hoá 37

1.4.6 Công tác quản lý hoạt động truyền thông về di sản tại Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa 38

1.5 Kinh nghiệm quản lý hoạt động truyền thông về di sản văn hóa tại một số Đài Phát thanh và Truyền hình địa phương 40

1.5.1 Đài Phát thanh và Truyền hình Quảng Ninh 40

1.5.2 Đài Phát thanh và Truyền hình Bắc Ninh 41

1.5.3 Đài Phát thanh và Truyền hình Đà Nẵng 43

Chương 2 45

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG 45

VỀ DI SẢN VĂN HÓA TẠI ĐÀI PHÁT THANH 45

Trang 4

VÀ TRUYỀN HÌNH THANH HÓA 45

2.1 Bộ máy quản lý 45

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ phân cấp quản lý hoạt động truyền thông về di sản văn hóa tại Đài PT&TT Thanh Hóa 45

2.2 Nguồn nhân lực 50

2.2.1 Ban Giám đốc 50

2.2.2 Các phòng chuyên môn 50

* Phòng Chuyên đề - Chuyên mục 51

*Phòng Phát sóng - Truyền dẫn 53

2.3.2 Đánh giá, định hướng nội dung tuyên truyền về di sản văn hóa ở từng phòng chuyên môn 55

Bảng 2.1: Một số chương trình/Chuyên mục truyền thông về di sản văn hóa tiêu biểu tại Đài PT&TH Thanh Hóa từ năm 2014 đến năm 2019 59

2.7.1.2 Hệ thống truyền dẫn và phát sóng 68

2.7.1.3 Cơ sở vật chất phục vụ điều hành, sản xuất và phát sóng chương trình .68

2.7.2 Tài chính 69

2.8 Đánh giá chung thực trạng quản lý hoạt động truyền thông về di sản văn hóa tại Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa 70

2.8.1 Kết quả đạt được 70

2.8.2 Hạn chế, tồn tại và nguyên nhân 75

2.8.2.1 Hạn chế, tồn tại 75

Thứ hai, chất lượng các chương trình truyền thông về di sản văn hóa còn hạn chế 76

Thứ sáu, nguồn nhân lực thực hiện truyền thông về di sản văn hóa còn hạn chế 79

Trang 5

Thứ bảy, hạn chế từ công chúng tiếp nhận chương trình truyền thông về di sản

văn hóa 79

Ngoài ra, có thể kể đến một số hạn chế khác như: 80

- Nguyên nhân khách quan 81

- Nguyên nhân chủ quan 85

* Tiểu kết 86

Chương 3 87

ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG DI SẢN VĂN HÓA TẠI ĐÀI PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH THANH HÓA 87

3.1 Định hướng phát triển của truyền thông về di sản tại Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa 87

3.1.1 Quan điểm chung 87

3.1.2 Mục tiêu tổng quát 88

3.1.3 Mục tiêu cụ thể 89

3.2 Quan điểm phát triển truyền thông di sản tại Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa 89

3.2.1 Quan điểm linh hoạt và chủ động 90

3.2.2 Quan điểm phát triển đội ngũ cán bộ 91

3.2.3 Quan điểm không ngừng tương tác với công chúng 91

3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động truyền thông về di sản tại Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hoá 92

3.3.1 Nhóm giải pháp về tổ chức hoạt động 94

3.3.1.1 Xây dựng chiến lược dài hơi về truyền thông di sản 94

3.3.2.2 Giải pháp đổi mới hình thức truyền thông 97

3.3.3 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 99

3.3.4 Nhóm giải pháp đầu tư cơ sở vật chất và tài chính 104

Trang 6

3.3.5 Nhóm Giải pháp nâng cao hiệu quả bộ máy quản lý 107

KẾT LUẬN 112

TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

MỤC LỤC CỦA PHỤ LỤC 119

Phụ lục 1 120

MỘT SỐ HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG VỀ DI SẢN 120

VĂN HÓA TẠI ĐÀI PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH THANH HÓA 120

Phụ lục 2 134

PHIẾU PHỎNG VẤN 134

(Dành cho cán bộ quản lý truyền thông về di sản văn hóa) 134

Phụ lục 3 134

PHIẾU PHỎNG VẤN 135

(Dành cho cán bộ truyền thông di sản văn hóa) 135

Phụ lục 4 137

PHIẾU PHỎNG VẤN 137

(Dành cho đối tượng công chúng) 137

Phụ lục 5 139

DANH SÁCH NGƯỜI TRẢ LỜI PHỎNG VẤN 139

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ANQP : An ninh quốc phòng

CB,VC, LĐ : Cán bộ, viên chức, lao động.HĐND : Hội đồng nhân dân

VH,TT&DL : Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trang 8

DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ phân cấp quản lý hoạt động truyền thông về di sản văn hóa tại

Đài PT&TT Thanh Hóa 45

Bảng 2.1: Một số chương trình/Chuyên mục truyền thông về di sản văn hóa tiêu biểu tại Đài PT&TH Thanh Hóa từ năm 2014 đến năm 2019 59

MỤC LỤC CỦA PHỤ LỤC 119

Phụ lục 1 120

MỘT SỐ HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG VỀ DI SẢN 120

VĂN HÓA TẠI ĐÀI PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH THANH HÓA 120

Phụ lục 2 134

PHIẾU PHỎNG VẤN 134

(Dành cho cán bộ quản lý truyền thông về di sản văn hóa) 134

Phụ lục 3 134

PHIẾU PHỎNG VẤN 135

(Dành cho cán bộ truyền thông di sản văn hóa) 135

Phụ lục 4 137

PHIẾU PHỎNG VẤN 137

(Dành cho đối tượng công chúng) 137

Phụ lục 5 139

DANH SÁCH NGƯỜI TRẢ LỜI PHỎNG VẤN 139

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, mỗi quốc gia, dân tộc đều có cơ hội vàđiều kiện để phát triển, nhưng cũng đứng trước không ít thách thức, đặc biệt làtrong việc bảo tồn, giữ gìn bản sắc và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹpcủa nền văn hóa dân tộc trong quá trình giao lưu và hội nhập quốc tế

Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII(năm 1998) đã xác định 10 nhiệm vụ về xây dựng và phát triển nền văn hóa ViệtNam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Trong đó nhiệm vụ thứ tư là bảo tồn và pháthuy các di sản văn hóa Nghị quyết đã chỉ rõ nội dung của nhiệm vụ này như sau:

“Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể Nghiên cứu

và giáo dục sâu rộng những đạo lý dân tộc tốt đẹp do cha ông để lại”[1] Luật Di

sản văn hoá được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khoá X kỳ

họp thứ 9 (năm 2001) thông qua đã khẳng định “Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của Di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta“[38] Việc bảo tồn và phát huy di sản văn hoá dân tộc là nhiệm vụ then chốt được

thể hiện trong Chiến lược phát triển văn hoá đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chínhphủ phê duyệt tại Quyết định số 581/QĐ-TTg ngày 06/5/2009

Thanh Hóa là tỉnh có hệ thống di sản văn hóa phong phú, đa dạng, chứa đựngnhiều giá trị độc đáo Theo kết quả kiểm kê sơ bộ của Trung tâm Bảo tồn Di sản vănhóa Thanh Hóa, Theo thống kê của Trung tâm Bảo tồn Di sản Thanh Hóa, đến tháng12/2017, toàn tỉnh Thanh Hóa có hơn 4.000 di tích, trong đó có 1 di sản văn hóa thếgiới, 3 di tích cấp quốc gia đặc biệt, 145 di tích cấp quốc gia, 647 di tích cấp tỉnh.Các di tích tiêu biểu như: Di sản văn hóa thế giới Thành Nhà Hồ, Khu di tích lịch sửcấp quốc gia đặc biệt Lam Kinh, đền Bà Triệu, đền Đồng Cổ…; di tích khảo cổ như

Trang 10

Hang Con Moong, Đa Bút, Đông Sơn; các di tích kiến trúc nghệ thuật độc đáo như:đền Lê Hoàn, chùa Hoa Long – đền thờ Trần Khát Chân, Đình Bảng Môn, đền thờ

Lý Thường Kiệt, chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh… Bên cạnh đó, Thanh Hóa còn có

hệ thống di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc, mang đậm dấu ấn vùng miền Các lễhội, diễn xướng tiêu biểu như: hò sông Mã, dân ca Đông Anh, trò Xuân Phả, lễ hộiCầu Ngư, lễ hội Mai An Tiêm… của người Việt, hát Khặp, Khua luống, hát ru…của người Thái, xường, biểu diễn cồng chiêng, múa pồn pông của người Mường,hát gầu, múa khèn, múa ô của người Mông…

Để đẩy mạnh công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa của địaphương, ngày 17 tháng 6 năm 2013, UBND tỉnh Thanh Hóa đã ban hành Quyếtđịnh số 2060/2013/QĐ – UBND quy định về việc quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị

di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh

Trong những năm qua, với vai trò là một kênh thông tin quan trọng, Đài Phátthanh và Truyền hình Thanh Hóa đã bám sát đời sống văn hóa của đất nước, đẩymạnh công tác thông tin, tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu về đề tài văn hóa dântộc; tích cực, chủ động tuyên truyền, giải thích các quan điểm, chủ trương củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác bảo tồn và phát huy giá trịcác di sản văn hóa dân tộc, đồng thời tôn vinh những cơ quan, tổ chức và cá nhân cónhững đóng góp quan trọng vào việc bảo tồn, giữ gìn và phát triển những loại hìnhnghệ thuật truyền thống của dân tộc

Thông qua tuyên truyền, quảng bá trên truyền hình mà các cơ quan, tổ chức

và người nước ngoài biết đến giá trị của các di sản văn hóa tỉnh Thanh, giúp choquá trình giao lưu, trao đổi các hoạt động văn hóa giữa Thanh Hóa với các nước,các tổ chức quốc tế được tăng cường nhiều hơn; đồng thời các cơ quan, tổ chức, cácnhà quản lý, chuyên gia về văn hóa có thêm cơ hội, điều kiện và kinh nghiệm đểtăng cường sự hợp tác trong việc bảo tồn, gìn giữ các di sản văn hóa dân tộc Bằngsức mạnh của mình, truyền thông đã tác động vào nhận thức của công chúng, của xãhội, tạo ra ý thức cao về vị trí vai trò của các di sản văn hóa trong phát triển du lịch

nói riêng, phát triển kinh tế xã hội văn hóa của tỉnh nói chung

Với những chuyên mục về quảng bá di sản trên sóng phát thanh và truyền

Trang 11

hình, Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa đã thường xuyên thông tin, quảng

bá và kịp thời “vào cuộc”- góp phần quan trọng vào công cuộc bảo tồn và phát huygiá trị văn hóa của tỉnh Nhờ những thông tin kịp thời và đa chiều về các sự kiện,hoạt động liên quan đến di sản văn hóa của các nhà báo đã giúp cho công chúng cócái nhìn toàn diện hơn về giá trị các di sản, giúp những người làm công tác quản lý

về văn hóa có thêm thông tin hữu ích để bảo vệ và phát huy giá trị di sản Nhiềutác phẩm báo chí đã có sự phản biện đối với công việc bảo tồn phát huy di sản,qua đó góp phần làm trong sạch hơn môi trường quản lý di sản, di tích, phát huymặt tích cực, hạn chế những yếu kém, ngăn chặn kịp thời nhiều vụ việc sai tráitrong việc bảo vệ di sản văn hóa Đặc biệt, báo chí còn chủ động góp phần vàoviệc xây dựng, hoàn thiện các chủ trương, chính sách cũng như luật pháp liên quanđến di sản văn hóa

Tuy nhiên, việc tuyên truyền các di sản văn hóa trên hệ thống phát thanhtruyền hình Thanh Hóa thời gian qua vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế như: nội dungthể hiện chưa phong phú, đa dạng, chậm đổi mới, chưa hấp dẫn, đội ngũ phóngviên, biên tập viên chưa có chuyên môn sâu, cũng như sự am hiểu về di sản văn hóacòn ít Đặc biệt, Đài phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa chưa xây dựng đượcchiến lược truyền thông dài hạn, theo đó, việc truyền thông về di sản văn hóa cònmang tính thời vụ, sự kiện

Trước tình hình đó, cần phải có những nghiên cứu cụ thể, khoa học tìm ranhững giải pháp cụ thể nhằm quản lý hiệu quả công tác truyền thông các di sản vănhóa trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

Vì những lý do trên, việc nghiên cứu về vấn đề “Quản lý hoạt động truyền thông về di sản văn hóa tại Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa“có ý

nghĩa lý luận và thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng công tác bảo tồn và pháthuy giá trị di sản văn hóa trong và ngoài tỉnh

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Các công trình nghiên cứu đề cập đến truyền thông

về di sản văn hóa

Trang 12

Mặc dù đã có nhiều sách giáo trình, chuyên khảo, tham khảo, bài viết đềncập đến lĩnh vực truyền thông hay lĩnh vực di sản văn hóa Tuy nhiên, truyền thông

về di sản văn hóa còn ít được nghiên cứu Tuy nhiên, một số công trình đã xuất bản

đã trở thành tư liệu nghiên cứu quan trọng của đề tài

Tác giả Phạm Thúy Hợp trong bài viết Di sản văn hóa với truyền thông (Tạp

chí Di sản văn hóa số 41, năm 2012) đã đưa ra một số thực trạng của công táctruyền thông gắn với di sản văn hóa, đồng thời đưa ra một số đề xuất cần có mộtchiến lược truyền thông tốt cho di sản văn hóa Việt Nam Do khuôn khổ bài viết chỉ

có 2 trang nên các vấn đề được đề cập đến ngắn gọn Tuy nhiên, đây là gợi mở đểluận văn tìm hiểu thực trạng và đề xuất giải pháp thực hiện

Cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu có giá trị về hoạt động truyềnthông di sản văn hóa và công tác quản lý hoạt động này, có thể kể đến như:

Luận văn Thạc sĩ Báo Văn hóa với vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trong giai đoạn hiện nay“của Trịnh Liên Hà Quyên (2006) đã đánh giá được

thực trạng tuyên truyền về di sản văn hóa qua báo chí và tác động của báo chí đếnvấn đề bảo tồn, phát triển di sản văn hóa hiện nay của nước ta

Luận văn Thạc sĩ “Báo chí với việc bảo tồn và phát huy dân ca xoan, ghẹo“của Nguyễn Thị Thu Hà (2015) đã đánh giá được những tác động của báo chí

đến vấn đề bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa, đặc biệt nhấn mạnh đến di sảnvăn hóa phi vật thể dân ca Xoan, Ghẹo

Luận văn Thạc sĩ Quá trình truyền thông hai di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận: Hát xoan và tín ngưỡng thờ cúng vua Hùng của Nguyễn Thị

Hồng Nga, 2014; tác giả luận văn đã khái quát được quá trình truyền thông, quảng

bá trên báo chí về hát xoan và tín ngưỡng thờ cúng vua Hùng qua hai giai đoạntrước và sau khi được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể, đồng thờiđánh giá được những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình truyền thông này

Luận văn thạc sĩ “Quá trình truyền thông về di sản văn hóa phi vật thể dân

ca quan họ Bắc Ninh trên báo in“của Võ Biên Thùy, 2012; tác giả đã đưa ra được

những ưu, nhược điểm cụ thể về nội dung cũng như hình thức truyền thông của báo

Trang 13

in về Dân ca Quan họ Bắc Ninh, đồng thời đưa ra những kiến nghị cụ thể nhằmhoàn thiện hơn sự thể hiện về nội dung và hình thức của đề tài trên.

Bài viết “Truyền thông di sản: cần nhưng chưa đủ“của tác giả Ngọc Hà trên

báo Văn hóa (2017), cho biết công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản luôn rất cần

đến truyền thông để tuyên truyền tác động đến ý thức và hành động của các ban,ngành cũng như người dân Tuy nhiên, truyền thông về di sản thời gian qua vẫn cònnặng tính sự kiện mà chưa có tính chiến lược Bài viết đã trích dẫn được nhữngnhận định, đánh giá của các chuyên gia trong lĩnh vực di sản văn hóa về thực trạng

truyền thông di sản văn hóa hiện nay, như: “PGS-TS.Đỗ Văn Trụ phản ánh: Việc truyền thông về di sản hiện nay vẫn bộc lộ một số hạn chế nhất định, trong đó đáng

kể nhất là thiếu chiến lược truyền thông, báo chí phản ánh về di sản còn mang tính thời vụ, sự kiện Có hiện tượng thiếu cẩn trọng, thiếu hiểu biết toàn diện, viết bài đưa tin vội vàng, thiếu chính xác, đôi khi có trường hợp cố tình giật tít giật gân để câu khách, gây khó khăn, bất lợi cho công tác quản lý và dư luận xã hội“[20]

Luận văn thạc sĩ Quản lý di sản vịnh Hạ Long, Quảng Ninh từ góc nhìn du lịch văn hóa của tác giả Vũ Đức Minh, năm 2016, tại trường Đại học Sư phạm

Nghệ thuật Trung ương đã đánh giá, phân tích thực trạng vịnh Hạ Long, QuảngNinh từ đó đề xuất các giả pháp nhằm nâng cao chất lượng du lịch vịnh Hạ Long,quảng bá hình ảnh vịnh Hạ Long, nhằm phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh,quốc phòng tỉnh Quảng Ninh; đồng thời góp phần xây dựng các giải pháp bảo tồncác giá trị di sản vịnh Hạ Long

2.3 Các công trình nghiên cứu đề cập đến quản lý hoạt động truyền thông

di sản văn hóa tại Đài Phát thanh và Truyền hình

Với những lợi thế về âm thanh, hình ảnh, truyền hình là kênh thông tin nhanh

và mạnh hàng đầu trong lĩnh vực bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa Truyềnhình đã giúp người dân nhận dạng, nuôi dưỡng và trao truyền di sản văn hóa mộtcách tự nguyện, qua đó nâng cao tính bền vững của các di sản Thời gian qua đã cómột số công trình nghiên cứu đề cập đến công tác quản lý hoạt động truyền thông disản văn hóa trên sóng truyền hình, có thể kể đến như:

Trang 14

Luận văn Vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong các chương trình phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam (Nguyễn Thu Liên, 1997) trên cơ sở nghiên

cứu lý luận và khảo sát thực tiễn về vấn đề giữ gìn giá trị văn hóa truyền thống dântộc thiểu số trên hệ thống báo chí Tây Bắc, chỉ ra được thực trạng, đề xuất cácphương hướng cụ thể nhằm tăng cường vai trò tác động của báo chí trong việctuyên truyền giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc

Đề tài Vai trò của báo chí đối với việc xây dựng và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc“của Nguyễn Thị Quỳnh Ly (2008) đã nghiên cứu vai trò của Đài TT-TH cơ

sở với vấn đề giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, cụ thể là những mặt làm được vànhững mặt còn tồn tại của Đài TT-TH cơ sở trong lĩnh vực tuyên truyền nhằm giữgìn bản sắc văn hoá của đồng bào các dân tộc thiểu số, tuyên truyền và giúp ngườidân hiểu về giá trị của những nét văn hoá riêng của dân tộc mình Đồng thời đưa ranhững giải pháp, phương hướng mang tính bổ khuyết, gợi mở để nâng cao hơn nữavai trò, tác dụng, hiệu quả của Đài TT-TH địa phương đối với việc giữ gìn và pháthuy bản sắc văn hoá dân tộc

Luận văn Vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống trên Truyền hình Hải Phòng của Trần Thị Bích Liên, 2016 đã tập trung khảo sát thực

trạng tuyên truyền về “Di sản văn hóa truyền thống địa phương“tại Đài Phát thanh

và Truyền hình Hải Phòng trong khoảng thời gian 2 năm (2015 -2016), từ đó đưa ranhững đánh giá, nhận xét về ưu và nhược điểm của Đài PT&TH Hải Phòng trongviệc thực hiện chức năng của mình để bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóatruyền thống của Hải Phòng Đồng thời, luận văn cũng đưa ra những kiến nghị vàgiải pháp để tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyên truyền của Đài PT&THHải Phòng trong công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa truyềnthống của địa phương trong các giai đoạn tiếp theo

Đề tài: “Vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể trên báo và đài truyền hình Thừa Thiên Huế“của Trần Thị Phương Nhung (2015) đã đánh giá

một cách khách quan những ưu điểm và hạn chế của Báo và đài phát thanh truyềnhình Thừa Thiên Huế trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể

Tuy đã có một số công trình khoa học nghiên cứu sâu về vấn đề truyền thông

Trang 15

di sản văn hóa nói chung, truyền thông di sản văn hóa trên truyền hình nói riêng,nhưng cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu, đánh giá một cách kháchquan, khoa học đến việc quản lý hoạt động truyền thông di sản văn hóa của tỉnhThanh Hóa trên hệ thống phát thanh truyền hình địa phương, vì vậy nghiên cứu củatác giả trong luận văn này sẽ góp thêm một cách nhìn mới trong việc tuyên truyềncác di sản văn hóa qua tiếng nói của đài phát thanh truyền hình trên địa bàn tỉnhThanh Hóa, qua đó góp phần nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, quảng bácho di sản - tài sản quý giá của Thanh Hóa và Việt Nam.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động truyền thông disản văn hóa tại Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa

- Đánh giá thực trạng về quản lý hoạt động truyền thông di sản văn hóa tạiĐài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa

- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động truyền thông di sảnvăn hóa tại Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: hoạt động truyền thông di sản văn hóa tại Đài

Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Đài Phát thanh truyền hình Thanh Hóa

- Phạm vi thời gian: từ năm 2014 đến tháng 5 năm 2019 vì khoảng thời gian

5 năm có thể nghiên cứu và đánh giá được vấn đề quản lý hoạt động truyền thông

về di sản văn hóa của Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa Đồng thời, năm

2015 là năm Thanh Hóa đăng cai tổ chức năm Du lịch quốc gia Từ thời điểm nàyĐài phát Thanh và Truyền hình Thanh Hóa thực hiện nhiều chương trình truyềnthông về di sản văn hóa phục vụ hoạt động du lịch Đặc biệt, kể từ cuối năm 2018đến tháng 5 năm 2019, cùng với các cơ quan thông tấn báo chí trong Tỉnh, ĐàiPhát thanh và Truyền hình Thanh Hóa đã thực hiện đợt tuyên truyền cao điểm sựkiện 990 năm Thanh Hóa, trong đó tuyên truyền đậm nét về các chương trình di

Trang 16

sản Do đó có thể đánh giá hoạt động truyền thông về di sản văn hóa qua các dấumốc quan trọng, từ đó có thể làm rõ mục tiêu của đề tài

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phương pháp này giúp tác giả luận vănnắm vững cơ sở lý luận, thực tiễn, tổng hợp các tư liệu để phân tích thực trạng quản

lý hoạt động truyền thông về di sản văn hóa tại Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnhThanh Hóa

- Phương pháp khảo sát thực tế, phỏng vấn: Phương pháp này thực hiện cácquan sát, ghi chép, phát phiếu thăm dò ý kiến của du khách, tiếp xúc phỏng vấn sâucác chủ thể quản lý, công việc quản lý cụ thể về hoạt động truyền thông về di sảnvăn hóa tại Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa Thông qua đó, tác giả khaithác các thông tin cần thiết để có được những góc nhìn toàn diện hơn về vấn đềmình đang nghiên cứu

- Phương pháp thống kê, phân tích: Phương pháp này luận văn sử dụng để xử

lý số liệu, đánh giá thực trạng hoạt động truyền thông qua các phương tiện loại hìnhthông tin

- Phương pháp tiếp cận nghiên cứu liên ngành: văn hóa học, du lịch học,quản lý xã hội học, nhân học văn hóa Bởi lẽ, với đề tài quản lý hoạt động truyềnthông về di sản văn hóa tại Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Thanh Hóa đòi hỏiphải có sự tiếp cận từ nhiều phía bằng các phương pháp nghiên cứu khoa học khácnhau Từ đó, luận văn mới có thể triển khai các vấn đề một cách hiệu quả

6 Những đóng góp của luận văn

6.1 Về mặt khoa học

Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động truyền thông disản văn hóa trên sóng phát thanh truyền hình tỉnh Thanh Hóa, bước đầu đề cập đếncác giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động truyền thông di sản văn hóa trênsóng phát thanh truyền hình

6.2 Về mặt thực tiễn

Trang 17

Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động quản lý, luận văn đề xuấtcác giải pháp để tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyên truyền của ĐàiPT&TH Thanh Hóa trong công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóatruyền thống của địa phương trong các giai đoạn tiếp theo Nếu làm tốt được việc

đó, tiềm năng văn hóa của Thanh Hóa không những được khai thác để phát triểnkinh tế, du lịch mà còn làm cho công chúng hiểu và yêu quý thêm những vốn quýcủa địa phương

Luận văn cũng góp phần định hướng hoạt động truyền thông về di sản trongthời gian tới phù hợp với xu thế chung trong tiến trình hội nhập

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn baogồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động truyền thông disản văn hóa, tổng quan về Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động truyền thông về di sản văn hóa tạiĐài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động truyền thông về disản văn hóa tại Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN

THÔNG VỀ DI SẢN VĂN HÓA, TỔNG QUAN VỀ ĐÀI PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH THANH HÓA

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Truyền thông

Theo từ điển Bách khoa mở Wikipedia: “Truyền thông là hoạt động truyền đạt thông tin thông qua trao đổi ý tưởng, cảm xúc, ý định, thái độ, mong đợi, nhận thức hoặc các lệnh như ngôn ngữ, cử chỉ phi ngôn ngữ, chữ viết, hành vi và có thể bằng các phương tiện khá”

Trong cuốn “Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản“của PGS.TS Nguyễn

Văn Dững chủ biên đã đưa ra khái niệm”“Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm, của cộng đồng và xã hội“[12, tr.12,13].

Về bản chất, truyền thông là quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều, diễn ra liêntục giữa chủ thể truyền thông và đối tượng truyền thông Khi có sự chênh lệch trongnhận thức, hiểu biết giữa chủ thể và đối tượng truyền thông gắn với nhu cầu chia sẻ,trao đổi thì hoạt động truyền thông diễn ra Quá trình truyền thông chỉ kết thúc khiđạt được sự cân bằng trong nhận thức, hiểu biết giữa chủ thể và đối tượng truyềnthông Về mục đích, truyền thông hướng đến những hiểu biết chung nhằm thau đổithái độ, nhận thức, hành vi của đối tượng truyền thông và tạo định hướng giá trị chocông chúng

Truyền thông thường gồm ba phần chính: nội dung, hình thức, và mục tiêu.Nội dung truyền thông bao gồm các hành động trình bày kinh nghiệm, hiểu biết,đưa ra lời khuyên hay mệnh lệnh, hoặc câu hỏi Các hành động này được thể hiệnqua nhiều hình thức như động tác, bài phát biểu, bài viết, hay bản tin truyền hình

Trang 19

Mục tiêu có thể là cá nhân khác hay tổ chức khác, thậm chí là chính người/tổ chứcgửi đi thông tin

Truyền thông là hình thức hiệu quả trong việc lưu giữ, bảo vệ và phát huy giátrị các di sản văn hóa Truyền thông góp phần nhận diện giá trị, ngăn ngừa nguy cơlàm mai một di sản cũng như làm phong phú thêm đời sống tinh thần và vật chấtcủa xã hội; là nguồn di sản tư liệu, tạo ra các sản phẩm lưu giữ thông tin về di sảnvăn hóa dưới nhiều dạng thức độc đáo

1.1.2 Hoạt động truyền thông

Hoạt động truyền thông có vai trò quan trọng, phản ánh trung thực mọi hoạtđộng của đời sống xã hội đến công chúng và là cầu nối để công chúng tiếp nhận,phản hồi thông tin

Càng ngày, mức độ công khai của hoạt động truyền thông đến công chúngngày càng được mở rộng Ngoài những ấn phẩm như sách, báo, tờ gấp cácphương tiện truyền thông đại chúng khác như phát thanh, truyền hình, báo điện tử,báo in cùng với các hội nghị, hội thảo đã và đang góp phần thúc đẩy hoạt độngtruyền thông mạnh mẽ

Hoạt động truyền thông có thể tác động vào ý thức xã hội để xác lập và củng

cố hệ thống tư tưởng chính trị thống nhất, qua đó, liên kết các thành viên rời rạcthành một khối đoàn kết Trong định hướng dư luận xã hội, việc lựa chọn góc độthông tin và hàm lượng thông tin phân tích và bình luận trong mỗi sản phẩm truyềnthông có ý nghĩa quan trọng Với mỗi sự kiện, vấn đề, khi được hoạt động truyềnthông đề cập cấp đến sẽ tạo ra sự ảnh hưởng tới dư luận xã hội về sự kiện, vấn đề

đó Do đó, hoạt động truyền thông tại Việt Nam cần nắm chắc nội dung của dự thảovăn bản pháp luật, lường trước được những tác động của văn bản pháp luật khi đivào đời sống, từ đó, lựa chọn góc độ tiếp cận để định hướng dư luận xã hội

1.1.3 Quản lý

Quản lý là một hiện tượng xã hội, xuất hiện từ lâu trong lịch sử loài người,được các nhà tư tưởng, các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau tìm hiểu,nghiên cứu nhưng chưa có khái niệm thống nhất Có người cho rằng quản lý là hoạt

Trang 20

động thiết yếu bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục tiêucủa nhóm (Hà Công Tuấn, 2002) Cũng có quan điểm khác coi là quản lý là điềukhiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật, định luậthay nguyên tắc tương ứng để cho hệ thống hay quá trình vận động theo ý muốn củangười quản lý nhằm đạt được mục đích đã định trước (Nguyễn Cửu Việt, 2005) hay

“Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tô chức bằng cách vận dụng các hoạtđộng (chức năng) kế hoạch hóa, tô chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”; “Quản lý

là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lýnhằm đạt mục tiêu đề ra“(Nguyễn Quốc Chi, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, 2014) [28, 18]

Những quan niệm về quản lý của các tác giả trên tuy có khác nhau nhưng có

thể khái quát lại như sau: “Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung”.

Trong lĩnh vực di sản văn hóa và truyền thông di sản văn hóa, công tác quản

lý đóng vai trò vô cùng quan trọng Quản lý di sản văn hóa là quá trình tác động củanhà nước, các cơ quan quản lý đối với di sản văn hóa, phương tiện truyền thông

Quản lý truyền thông là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đốitượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vicủa cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật kháchquan; là quá trình xây dựng chiến lược, kế hoạch, chính sách phát triển truyền thôngban hành, chỉ đạo, kiểm soát việc thực hiện pháp luật về truyền thông, nhằm tăngcường chất lượng, hiệu quả hoạt động trong lĩnh vực này

1.1.4 Quản lý hoạt động truyền thông

Quản lý nhà nước trong lĩnh vực thông tin và truyền thông cũng như bất kỳdạng quản lý công vụ của bộ máy hành pháp, mang tính quyền lực, tính tổ chức cao,được điều chỉnh bằng pháp luật, vừa mang tính phổ biến, vừa mang tính đặc thùquản lý ngành

Nội dung quản lý hoạt động truyền thông được thể hiện qua nguyên tắc lãnh đạo của Đảng về truyền thông.

Đảng lãnh đạo định hướng thông tin truyền thông và vạch ra chiến lược pháttriển Đảng lãnh đạo về công tác tổ chức cán bộ Đây là mặt quan trọng trong các

Trang 21

mặt mà Đảng lãnh đạo truyền thông đại chúng Vì xuất phát từ tầm quan trọng củatruyền thông đại chúng, nên việc lãnh đạo về công tác tổ chức cán bộ của Đảng đểnhằm mục đích lựa chọn, đào tạo, bố trí hợp lý đội ngũ cán bộ để họ phát huy hếttrình độ, phẩm chất, năng lực của mình Đảng lãnh đạo thông qua công tác kiểm tra.Thông qua công tác kiểm tra, Đảng kịp thời phát hiện và sửa chữa những hạn chế,khuyết điểm; khuyến khích và phát huy những mặt tích cực của hệ thống truyềnthông đại chúng.

Quản lý hoạt động truyền thông là các biện pháp do chủ thể quản lý đưa ranhằm tối ưu hóa các loại hình hoạt động của đơn vị, đảm bảo giới thiệu một cáchđầy đủ, nhanh nhất, rộng khắp nhất những giá trị hiện hữu của đơn vị để nhiều cóthể biết đến, tạo sự hiểu biết và thân thiện

Quản lý nhà nước trong lĩnh vực thông tin và truyền thông cũng như bất kỳdạng quản lý công vụ của bộ máy hành pháp, mang tính quyền lực, tính tổ chức cao,được điều chỉnh bằng pháp luật, vừa mang tính phổ biến, vừa mang tính đặc thùquản lý ngành

Công tác QLNN về truyền thông mang tính quyền lực nhà nước, lấy phápluật làm công cụ chủ yếu, nhằm đáp ứng kịp thời thông tin phục vụ đời sống cánhân, xã hội ngày càng cao, đảm bảo trật tự quản lý và quyền công dân trong lĩnhvực báo chí, xuất bản

1.1.5 Di sản văn hóa

Di sản với tư cách là một thuật ngữ khoa học, đã có quá trình hình thành lâudài, xuất hiện và được biết đến nhiều nhất trong cách mạng tư sản Pháp 1789 Chínhviệc tịch thu tài sản của tầng lớp quý tộc, tăng lữ, nhà thờ giáo hội để tập trung lạithành tài sản quốc gia sau cách mạng tư sản đã dần hình thành khái niệm di sản Đểtránh hiện tượng thất thoát và phá hoại, nhà nước Pháp lúc đó đã tiến hành kiểm kê,

mô tả, sắp xếp, phân loại để xác định thứ tự ưu tiên nhằm khôi phục và bảo tồn loạitài sản này Di sản lúc đó được hiểu như ý niệm về một tài sản chung của mọi côngdân, chứ không phải của riêng một ai Đó là ý niệm đã tạo thành ý thức về di sảnquốc gia

Trang 22

Di sản theo nghĩa Hán Việt: di là để lại, còn lại, dịch chuyển, chuyển lại; sản

là tài sản, là những gì quý giá, có giá trị Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Di sản làcái của thời trước để lại Như vậy, di sản văn hóa được hiểu như là tài sản, là báuvật của thế hệ trước để lại cho thế hệ sau

UNESCO, trong họp phiên thứ 32 tại Paris từ 29/9 đến 17/10/2003, đã raCông ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể Công ước ghi nhận: các quá trìnhtoàn cầu hóa và chuyển đổi cơ cấu xã hội cùng với các điều kiện khác đã tạo nhiều

cơ hội đối thoại mới giữa các cộng đồng, đồng thời cũng làm nảy sinh những mối

đe dọa về sự suy thoái biến mất và hủy hoại các di sản văn hóa phi vật thể

Ngày nay khái niệm di sản không hoàn toàn đồng nhất với khái niệm tài sản

từ quá khứ Không phải bất cứ quá khứ nào cũng được coi là di sản Di sản là sảnphẩm của quá khứ nhưng đó là quá khứ đã được lựa chọn theo nhu cầu của xã hộihiện đại Di sản là sự lựa chọn từ quá khứ lịch sử, ký ức và báu vật của cộng đồngthể hiện nhu cầu, nguyện vọng, mong muốn của xã hội hiện tại

Luật Di sản văn hóa của Việt Nam đã xác định “di sản văn hóa bao gồm disản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất cógiá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ởnước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”[38]

Di sản văn hóa là yếu tố cốt lõi của văn hóa, tiềm ẩn bản sắc văn hóa củacộng đồng xã hội Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản văn hóa quý giá của cộngđồng các dân tộc Việt Nam và cũng là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, cóvai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta, đồng thời làgiao diện quan trọng của văn hóa nhân loại Bảo tồn và phát huy các giá trị di sảnvăn hóa là hoạt động thiết thực nhằm hướng tới xây dựng nền văn hóa Việt Namtiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và đóng góp vào việc giữ gìn và làm phong phúcho kho tàng di sản văn hóa nhân loại

1.1.6 Quản lý hoạt động truyền thông về di sản văn hóa

- Mục đích của hoạt động truyền thông về di sản văn hóa

Quản lý hoạt động động truyền thông về di sản văn hóa nhằm mục đíchtăng cường tuyên truyền quảng bá hình ảnh, giá trị di sản, từ đó nâng cao nhận

Trang 23

thức của cộng đồng về công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản, kêu gọi cùngchung tay bảo vệ di sản

Cùng với đó công tác tuyên truyền, quảng bá về cảnh quan thiên nhiên, vềcon người, về những giá trị văn hóa lịch sử truyền thống của các dân tộc, nhất lànhững điều kiện, giá trị tự nhiên và nhân văn đặc sắc, độc đáo - cơ sở để xây dựng,phát triển các loại hình, sản phẩm du lịch; xây dựng môi trường du lịch văn minh,thu hút mạnh đối với du khách và các nhà đầu tư

Quản lý tốt công tác truyền thông về di sản văn hóa sẽ góp phần nâng caonhận thức cộng đồng cùng chung tay bảo vệ và phát huy bền vững các giá trị di sảnvăn hóa Không những thế, hoạt đông này còn thúc đẩy sự liên kết, hợp tác với các

cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước, quốc tế trong công tác quản lý, bảo tồn vàphát huy giá trị di sản văn hóa

- Nội dung truyền thông về di sản văn hóa

Các nội dung chủ yếu truyền thông về di sản văn hóa gồm có: Các giá trị disản văn hóa; thành tựu, kết quả đạt được trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị disản văn hóa; Một số văn bản pháp luật liên quan (Luật Di sản văn hóa, Luật Bảo vệmôi trường, Quy định về quản lý di sản văn hóa…); Quan điểm, chủ trương chỉ đạocủa trung ương, của tỉnh Thanh Hóa; các sự kiện chính trị - văn hóa - xã hội củaquốc gia, tỉnh, thành phố có liên quan; Các nội dung liên quan đến công tác bảo vệmôi trường; đảm bảo an toàn, an ninh trật tự, giữ gìn di sản văn hóa; Tham gia giámsát các tổ chức doanh nghiệp, cá nhân có hoạt động kinh tế xã hội trong khu vực disản thực hiện nghiêm các văn bản pháp luật hiện hành; Giới thiệu các dịch vụ dulịch gắn với di; Giáo dục, nâng cao nhận thức về bảo vệ di sản tới cộng đồng nhândân địa phương

- Nội dung quản lý hoạt động truyền thông về di sản văn hóa

Trong luận văn này, chúng tôi tiếp cận việc quản lý hoạt động truyền thông

về di sản văn hóa gồm 5 nội dung sau: Ban hành văn bản thực hiện quản lý; Tậphuấn cán bộ; Tổ chức giao ban, chỉ đạo, đánh giá, định hướng; Tổ chức các hoạtđộng truyền thông; Thanh tra, kiểm tra

Trang 24

1.2 Vai trò, đặc điểm của đài phát thanh và truyền hình trong truyền thông về di sản văn hóa

1.2.1 Vai trò của Đài Phát thanh và Truyền hình đối với truyền thông về

di sản văn hóa

Thông tin trên đài phát thành và truyền hình cũng như trên báo chí nói chung

đã góp phần tạo sự chuyển biến về nhận thức, nâng cao trách nhiệm và hành độngcủa các cấp ủy đảng, chính quyền, các tổ chức, đoàn thể trong hệ thống chính trị vàcủa mỗi người dân ở trong nước cũng như người Việt Nam ở nước ngoài trong việcbảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa dân tộc Đài phát thanh và truyền hình

là kênh thông tin phản ánh đa chiều về các sự kiện, các hoạt động liên quan đến việcbảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa dân tộc, để từ đó giúp cho các cơ quanchức năng và những người làm công tác quản lý, nghiên cứu về văn hóa có thêmthông tin hữu ích Mặt khác, cũng như các loại hình báo chí nói chung, kênh phátthanh và truyền hình còn chủ động đóng góp vào việc xây dựng, hoàn thiện các chủtrương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến lĩnh vực di sảnvăn hóa

Hiện nay, cả nước có 838 cơ quan báo in, 67 đài phát thanh, truyền hình, 92báo, tạp chí điện tử và 01 hãng thông tấn quốc gia Với vai trò là phương tiện thôngtin nhanh nhạy, kịp thời và rộng khắp, công tác thông tin, tuyên truyền, quảng bá,giới thiệu về đề tài bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa dân tộc được đẩymạnh ở tất cả các loại hình báo chí của các cơ quan, tổ chức, đoàn thể từ Trungương đến địa phương Cùng với việc thông tin kịp thời các tin tức, sự kiện liên quanđến các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, đặc biệt là các di sản văn hóađược UNESCO vinh danh, báo chí còn phản ánh chân thực, có chiều sâu nét đẹpvăn hóa trong các phong tục, tập quán, các lễ hội truyền thống của đồng bào các dântộc; các làn điệu dân ca, dân vũ đặc sắc; các loại hình nghệ thuật truyền thống củadân tộc (tuồng, chèo, cải lương, múa rối nước, ca trù ); các ngành nghề cổ truyền;món ăn ẩm thực; các nghi thức, nghi lễ truyền thống; các hương ước, quy ước củabản, làng, dòng họ gắn liền với tín ngưỡng, tâm linh trong đời sống hằng ngày,mang đặc trưng riêng của từng dân tộc, từng dòng họ Qua đó, đã góp phần khơi

Trang 25

dậy lòng tự hào, tự tôn dân tộc, phát huy vai trò của đồng bào các dân tộc trong việcbảo tồn, giữ gìn và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống, làm cho nét đẹp vănhoá truyền thống lan rộng trong đời sống xã hội.

Ngày nay, du lịch được coi là một trong những phương tiện hàng đầu để traođổi, giao lưu văn hóa, là động lực tích cực trong việc bảo tồn và phát huy giá trị củacác di sản văn hóa Do đó, việc thông tin, tuyên truyền, quảng bá về du lịch trênsóng phát thành và truyền hình đã giới thiệu với người dân ở mọi miền đất nướccũng như bạn bè quốc tế về những di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh,các lễ hội truyền thống, các loại hình nghệ thuật truyền thống, những phong tục, tậpquán tốt đẹp của từng dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; giáo dụctruyền thống lịch sử và lòng tự hào dân tộc, tình yêu quê hương, đất nước, cũng nhưhạn chế đến mức thấp nhất những tác động xấu đối với di sản văn hoá từ hoạt động

du lịch

Thông qua việc tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu các di sản văn hóa dân tộc

đã làm cho bạn bè quốc tế thấy được những đóng góp to lớn của nền văn hóa ViệtNam vào kho tàng văn hóa nhân loại, phát huy những giá trị tốt đẹp của văn hóa dântộc trong giao lưu, hội nhập về văn hóa với các quốc gia, dân tộc trên thế giới Thôngqua tuyên truyền, quảng bá trên đài phát thành và truyền hình mà các cơ quan, tổchức và người nước ngoài biết đến giá trị của các di sản văn hóa Việt Nam, giúp choquá trình giao lưu, trao đổi các hoạt động văn hóa giữa Việt Nam với các nước, các tổchức quốc tế được tăng cường nhiều hơn; đồng thời các cơ quan, tổ chức, các nhàquản lý, chuyên gia về văn hóa có thêm cơ hội, điều kiện và kinh nghiệm để tăngcường sự hợp tác trong việc bảo tồn, gìn giữ các di sản văn hóa dân tộc

Đài phát thanh và truyền hình cũng tham gia rất tích cực trong việc pháthiện, tôn vinh những tài năng có nhiều công lao phát triển các loại hình nghệ thuậtdân tộc, cũng như phát hiện, tôn vinh những người đang lưu giữ, bảo tồn những loạihình nghệ thuật truyền thống có nguy cơ mai một; tôn vinh những cơ quan, tổ chức

và cá nhân có những đóng góp quan trọng vào việc bảo tồn, giữ gìn và phát triểnnhững loại hình nghệ thuật truyền thống của dân tộc Đài phát thanh và truyền hìnhcũng tập trung tuyên truyền, phản ánh việc đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động bảo tồn

Trang 26

di sản văn hóa, khuyến khích sự tham gia của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trongnước và ngoài nước đóng góp kinh phí để tu bổ di tích, hiến tặng hiện vật cho bảotàng nhà nước.

Bên cạnh việc tuyên truyền giá trị của các di sản văn hóa, đài phát thanh vàtruyền hình thông tin những mặt trái, những nguy cơ đe dọa hủy hoại môi trường tàinguyên di sản văn hóa; kêu gọi cộng đồng bảo vệ, giữ gìn giá trị của di sản văn hóacũng như sự ứng xử của con người đối với công tác bảo vệ môi trường cảnh quanxung quanh di sản văn hóa

Thực tế những năm qua cho thấy, hầu hết các báo, đài đều xây dựng chuyêntrang, chuyên mục về đề tài văn hoá, trong đó ít nhiều đề cập đến nội dung bảo tồn

và phát huy giá trị di sản văn hoá, đồng thời cũng phê phán, lên án mạnh mẽ nhữnghành vi xâm hại đến di sản văn hoá Nhờ có báo chí phát hiện, lên tiếng kịp thời màchính quyền, các cơ quan quản lý về văn hóa quan tâm hơn đến việc bảo vệ, đầu tưphục hồi những di tích bị hư hỏng, xuống cấp hoặc bị mất hiện vật, cũng như những

vụ việc xâm hại đến di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh Báo chí cũng lêntiếng phê phán mạnh mẽ những hiện tượng lợi dụng lễ hội truyền thống để hoạtđộng mê tín, dị đoan, đồng thời tuyên truyền, giải thích, hướng dẫn nhân dân thamgia lễ hội một cách lành mạnh, bài trừ các tệ nạn xã hội trong các lễ hội

Đài phát thanh và truyền hình đã cùng với các loại hình báo chí khác đóngvai trò quan trọng trong việc đấu tranh bảo vệ các giá trị truyền thống, bản sắc vănhóa dân tộc trước sự tấn công, du nhập của các trào lưu văn hóa, lối sống phươngTây xa lạ với truyền thống văn hóa dân tộc; tuyên truyền, giáo dục lòng yêu nước,tình đoàn kết, tính nhân văn, nhân đạo, cách ứng xử nhân ái giữa con người với conngười đối với các thế hệ người Việt Nam

Ông Phạm Văn Tuấn, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di sản văn hóa Thanh

Hóa cho biết: “Truyền thông có vai trò quan trọng hàng đầu trong phát triển du lịch nói chung và phát triển bền vững du lịch di sản nói riêng Để khai thác sức mạnh truyền thông trong phát triển bền vững du lịch, hơn lúc nào hết, cần chuẩn bị thông điệp truyền thông về các giá trị cốt lõi của di sản cũng như các quy định, hướng dẫn về các nguyên tắc bảo tồn di sản trong quá trình phát triển Đài PT&TH

Trang 27

Thanh Hóa cũng cần phải chủ động trong việc đưa ra chiến lược truyền thông dài hạn, phát triển các kênh, các loại hình truyền thông, biết tận dụng lợi thế của công nghệ số hiện đại Và trên hết phải đổi mới phương thức, nội dung, nâng cao tính chuyên nghiệp để tạo ra hiệu quả cao cho công tác tuyên truyền“[Tác giả phỏng

vấn ngày 22/6/2019]

Chia sẻ về tầm quan trọng của việc quảng bá di sản văn hóa trên sóng truyềnhình nói chung và đài PTTHPT&TH Thanh Hoá nói riêng trong công tác bảo tồn vàphát huy di sản, Bà Vương Thị Hải Yến - Phó Giám đốc Sở Văn hoá -Thể thao du

lịch Thanh Hoá cho biết: “Đối với truyền hình, di sản nói riêng và văn hóa nói chung là một lĩnh vực hết sức quan trọng Tuyên truyền cho di sản văn hóa, vừa là trách nhiệm và cũng vừa là quyền lợi của các Đài truyền hình, bởi các Đài truyền hình phải hướng tới những gì khán giả thực sự cần, trong đó tuyên truyền cho di sản là những đề tài có nội dung rất hấp dẫn, và không có lý do gì mà Đài truyền hình không tập trung tuyên truyền cho di sản văn hóa Trong sự phát triển của ngành du lịch Thanh Hoá luôn có sự đồng hành, ủng hộ chung tay đóng góp của các ngành, lĩnh vực khác Trong đó, báo chí truyền thông đóng vai trò ngoại lực -tạo nên cú huých cho du lịch Thanh Hoá thay đổi diện mạo như hiện nay Những chương trình, sự kiện văn hóa, du lịch của tỉnh được các cơ quan báo chí truyền hình trong nước tích cực đưa tin Quan điểm của tỉnh là luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho đội ngũ phóng viên báo chí tác nghiệp để không chỉ tuyên truyền, quảng bá hình ảnh Xứ Thanh, để đưa các giá trị di sản văn hóa dân tộc lan tỏa đến đông đảo công chúng, qua đó, góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế, văn hóa,

xã hội của Tỉnh nhà“[Tác giả phỏng vấn ngày 19/7/2019]

Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn một số cơ quan báo chí nói chung

và đài phát thanh, truyền hình nói riêng chưa thực sự quan tâm đến chủ đề này màchạy theo những tin, bài về văn hóa “thời thượng“giật gân, câu khách, những phátngôn “sốc“về văn hóa tác động xấu đến các giá trị truyền thống tốt đẹp của vănhóa dân tộc Không ít phóng viên, biên tập viên do kiến thức, sự hiểu biết về vănhóa dân tộc còn hạn chế nên khi viết các tin, bài về chủ đề văn hóa dân tộc đã thôngtin sai lệch Vô hình chung, họ đã “tiếp tay“cho việc làm mai một di sản văn hóa

Trang 28

dân tộc, làm lu mờ bản sắc văn hóa dân tộc Thời gian qua, Bộ Thông tin và Truyềnthông đã xử lý nghiêm khắc một số cơ quan báo chí theo quy định của Luật Báo chí,đình bản một số tờ báo, thu hồi thẻ nhà báo đối với một số phóng viên đã có nhữngbài viết hoặc cho đăng những bài viết về chủ đề văn hóa vi phạm đạo đức, lối sống,thuần phong mỹ tục của dân tộc, bị dư luận xã hội phê phán, lên án mạnh mẽ.

1.2.2 Thế mạnh và hạn chế của Đài Phát thanh và Truyền hình trong truyền thông về di sản văn hóa

Thế mạnh và hạn chế của Đài Phát thanh và Truyền hình trong truyền thông

về di sản văn hóa thống nhất với thế mạnh và hạn của truyền hình nói chung trongcông tác truyền thông Cụ thể như sau:

1.2.2.1 Thế mạnh

- Truyền phát tín hiệu bằng hình ảnh và âm thanh

Truyền hình là kỹ thuật truyền tín hiệu bằng hình ảnh và âm thanh đến vớingười xem, thị giác, thính giác của con người được tác động bởi những hình ảnhchuyển động và những âm thanh sống động trên màn hình Đây được coi là thếmạnh lớn nhất của truyền hình Truyền hình chuyển tải thông tin bằng hình ảnhđộng và âm thanh Nếu so sánh với các loại hình truyền thông đại chúng khác,truyền hình sử dụng tổng hợp tất cả các loại hình truyền thông có trong báo, phátthanh, phim ảnh… và thể hiện sự vượt trội hơn hẳn của nó

Chúng ta không thể phủ nhận vai trò to lớn của sách, báo và các loại tạpchí… trong việc nâng cao dân trí, tuy nhiên do dung lượng tri thức lớn, số trang inlớn nên đọc sách, báo phải có thời gian, sách cũng kén chọn công chúng Người đọcsách, báo không những phải biết chữ mà còn phải có trình độ văn hoá ở mức nhấtđịnh, các ký hiệu thông tin của báo đơn điệu, chỉ có chữ viết và hình ảnh tĩnh, nếu

kỹ năng xử lý thông tin bằng ngôn ngữ không cao và kỹ thuật trình bày, in ấn khôngbắt mắt sẽ hạn chế tính hấp dẫn, tính cập nhật thông tin và tri thức trong sách, báokhông cao, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường và tốc độ phát triển nhanh củakhoa học - công nghệ Còn Internet là mạng thông tin toàn cầu, là “xa lộ thông tinsiêu tốc”cho phép kết nối và truyền tải một dung lượng thông tin khổng lồ, có thểnói là vô hạn định với tốc độ siêu nhanh, con người trên khắp hành tinh dễ dàng

Trang 29

liên kết với nhau, chia sẻ, và trao đổi song độ tin cậy của các thông tin trên mạnginternet không cao, vì nguồn tin không rõ ràng Kênh truyền thông này như mộtdòng lũ khổng lồ gom từ đủ các con suối, nguồn lạch mang cả phù sa màu mỡ lẫnrác rưởi và chất độc hại rất khó hoặc không thể kiểm soát được Còn truyền hình làkênh thông tin có độ tin cậy cao, chính xác và hội tụ những trang thiết bị kỹ thuậthiện đại Hầu hết bất cứ sự kiện, vấn đề gì trong hiện thực đều có thể biểu đạt, phảnánh qua các chương trình truyền hình Điều này tạo cho truyền hình có một khảnăng đặc biệt trong việc đa dạng hóa chức năng, đáp ứng nhu cầu thông tin xã hộitheo một dải tần rất rộng Truyền hình hấp dẫn công chúng ở chỗ nó cho người tathấy cuộc sống hiện thực ở những chi tiết, những trạng thái của bản thân cuộc sốngđang diễn ra ngay trước mắt chúng ta, đồng thời truyền hình đạt tới độ tuyệt đối vềphạm vi công chúng xã hội Khoa học và kĩ thuật thôi chưa đủ, góp phần lớn vào sựthành công trên của truyền hình là nhờ, sự kết hợp hài hoà giữa hình ảnh động và

âm thanh tạo cho truyền hình có khả năng truyền tải các nội dung thông tin vô cùngphong phú

- Tính chân thực, khách quan

Khách quan, chân thật là nguyên tắc hàng đầu của báo chí Tính khách quan,chân thực đã tạo cho người xem độ tin cậy khi đón nhận những thông tin mà truyềnhình chuyển tải đến Nếu như báo mạng, báo in, báo phát thanh còn tạo cho ngườixem, người nghe sự nghi ngờ nhất định thì báo hình có thể làm cho người ta tinngay đó là sự kiện có thật, đã, đang diễn ra thông qua những hình ảnh chuyển động

và âm thanh sống động được ghi lại từ hiện trường Mặt khác đó là những hình ảnhđược ghi lại từ nhiều góc độ khác nhau của ống kính máy quay và màu sắc sinhđộng của hình ảnh cho người xem cảm hứng và tạo cho họ như đang được tham giavào sự kiện

- Phát huy được vai trò của “tầng thông tin thứ hai”

Tầng thông tin thứ hai đó chính là những cử chỉ, hành động và cảm xúc củacác nhân vật đang tham gia vào sự kiện Khi xem và nghe những giãi bày tâm huyếtcủa người dân ở nơi có di sản đang bị hư hỏng, hoặc sự tự hào, nồng nhiệt củanhững người dân, nhà quản lý khi một di sản được thế giới công nhận, được bảo tồn

Trang 30

và khai thác hiệu quả… người xem sẽ bị cuốn theo và có cảm xúc tương tự Nếunhư chỉ bằng những con chữ trên mặt báo có lẽ sẽ không thể tác động vào tâm tư,tình cảm trong lòng công chúng mà điều này chỉ có được ở truyền hình Đó là hiệuquả vô cùng quan trọng ẩn chứa ở tầng thông tin thứ hai của truyền hình Tầngthông tin đó không cần có sự miêu tả mà bản thân hình ảnh đã nói lên điều đó.

- Tính thời sự, cập nhật

Nhưng tính thời sự của truyền hình vẫn được coi là thế mạnh của loại hìnhtruyền thông này chính là ở sự kết hợp giữa hai yếu tố âm thanh và hình ảnh làmcho người ta thấy tính chân thực của sự kiện, làm cho người xem như đang đượctham gia vào sự kiện ấy Đặc biệt là những chương trình truyền hình trực tiếp vànhững chương trình cầu truyền hình Truyền hình trực tiếp hay những chương trìnhcầu truyền hình, đặc biệt với hình thức đưa tin hiện trường đã khắc học rõ tính chânthực của truyền hình đồng thời mang tính thời sự rất đặc trưng Chính vì thế mạnhnày mà ngày nay đài truyền hình Việt Nam, các đài phát thanh và truyền hình trong

cả nước đang xây dựng khá nhiều các chương trình truyền hình trực tiếp

1.2.2.2 Hạn chế

- Không lưu trữ được

Báo in, báo mạng là những loại hình truyền thông có khả năm lưu trữ thôngtin lâu nhất Nếu như báo in báo mạng, hôm nay người ta đọc dở bài viết này, thìngày mai có thể đọc tiếp nhưng không nhất thiết phải đọc ngay lập tức Mỗi khi tađọc thấy những thông tin hay, hữu ích, ta có thể copy (báo mạng) hay cất tờ báo đóvào tủ sách, nhưng với truyền hình thì điều đó không thể thực hiện được Chính ởyếu tố thông tin liêu tục và truyền tín hiệu với dung lượng rất lớn nên truyền hìnhbuộc người ta phải theo dõi sự kiện đó từ đầu đến cuối chứ không thể vừa làm việcvừa theo dõi Đó là hạn chế rất lớn của truyền hình so với báo in, báo mạng

- Thông tin nhanh ảnh hưởng đến sự tiếp nhận của công chúng

Khác với báo in, báo mạng chính vì tính thời sự và khả năng truyền tải thông tinliên tục do đó báo hình cũng khiến cho người ta chóng quên, trong khi báo viết, báomạng, người ta có thể đọc đi đọc lại và người ta có thể lưu giữ thông tin nếu họ thích

Trang 31

Tín hiệu hình ảnh động và âm thanh theo tuyến tính của truyền hình làm chođối tượng công chúng bị động hoàn toàn về tốc độ, trình tự tiếp nhận thông tin Cái

gì đã qua không lặp lại và trong nhiều trường hợp thì những chi tiết đó làm mất đitính liên tục của logic, làm thông tin không đầy đủ hay bị hiểu sai lệch Nhữngthông tin phức tạp có mâu thuẫn logic khó có thể chuyển tải qua truyền hình

Khi xem truyền hình, người tiếp nhận thông tin hầu như tập trung toàn bộcác giác quan vào những gì diễn ra trên truyền hình Điều ấy cản trở các khả năngkết hợp tiếp nhận thông tin truyền hình với các hoạt động sống khác của con người

Ngoài ra truyền hình còn một số hạn chế khác như: Sự cồng kềnh của cácthiết bị phương tiện kĩ thuật ghi hình và chuyển phát sóng không cho phép người tatiếp cận nhanh những sự kiện thời sự ở xa các thành phố trung tâm hay ở những nơiđịa hình núi non hiểm trở Các chương trình lặp lại nhiều về nội dung, về đề tài cóthể dẫn đến nhàm chán Quảng cáo có ý nghĩa kinh tế quan trọng đối với sự tồn tạo

và phát triển của truyền hình nhưng lại tạo ra những ức chế, tâm lí nặng nề đối vớicông chúng Sự thiếu trách nhiệm hay ý đồ không lành mạnh của người sản xuấtchương trình truyền hình rất dễ ảnh hưởng xấu đến thuần phong, mỹ tục, văn hóa,lối sống và cả về đời sống chính trị xã hội

1.3 Các văn bản của Đảng, Nhà nước trong quản lý hoạt động truyền thông về di sản văn hóa

1.3.1 Văn bản định hướng của Đảng

Đảng lãnh đạo về định hướng thông tin truyền thông và vạch ra chiến lượcphát triển Đảng lãnh đạo về công tác tổ chức cán bộ Đây là mặt quan trọng trongcác mặt mà Đảng lãnh đạo truyền thông đại chúng Vì xuất phát từ tầm quan trọngcủa truyền thông đại chúng, nên việc lãnh đạo về công tác tổ chức cán bộ của Đảng

để nhằm mục đích lựa chọn, đào tạo, bố trí hợp lý đội ngũ cán bộ để họ phát huy hếttrình độ, phẩm chất, năng lực của mình Đảng lãnh đạo thông qua công tác kiểm tra.Thông qua công tác kiểm tra, Đảng kịp thời phát hiện và sửa chữa những hạn chế,khuyết điểm; khuyến khích và phát huy những mặt tích cực của hệ thống truyềnthông đại chúng

Trang 32

Ngày 05/9/2016, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóaXII đã ban hành Chỉ thị số 06-CT/TW về đẩy mạnh công tác thông tin cơ sở trongtình hình mới Trong đó khẳng định: “Công tác thông tin cơ sở là nhiệm vụ thườngxuyên, quan trọng của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở Phát huy sứcmạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, kết hợp chặt chẽ các phương tiện truyềnthông hiện đại với cơ sở vật chất kỹ thuật, thiết chế văn hóa - thông tin ở cơ sở hiện

có và chương trình nông thôn mới để làm tốt công tác thông tin ở cơ sở; bảo đảmcung cấp đầy đủ, kịp thời những thông tin, kiến thức cần thiết cho cuộc sống laođộng, sản xuất kinh doanh của người dân trên địa bàn dân cư xã, phường, thị trấn;đồng thời chủ động đấu tranh, phản bác các thông tin sai trái, xấu độc, xuyên tạc,góp phần củng cố sự đoàn kết và đồng thuận xã hội ở cơ sở và từ cơ sở”[2]

1.3.2 Văn bản quản lý của nhà nước

Luật Báo chí ra đời năm 1989 (Sửa đổi năm 1999 và 2016) Luật Báo chí có

từ năm 1989 và đã được sửa đổi, bổ sung một số lần để phù hợp với những quy địnhcủa pháp luật cũng như sự thay đổi của đời sống báo chí trong nước Trong nhữngnăm qua Luật Báo chí đã góp phần tác động tích cực đến các bước quy trình sảnxuất của cơ quan báo chí đồng thời cũng có tác động không nhỏ trong việc địnhhướng, điều chỉnh hành vi của nhà báo trong quá trình tác nghiệp; từ đó góp phầntạo ra những sản phẩm báo chí, truyền thông có chất lượng cao, có ích cho sự đổimới của đất nước

Luật Báo chí 2016 được đánh giá là sát với thực tế đời sống báo chí trongnước, nhất là các quy định về nội dung quản lý nhà nước về báo chí Đây là nềntảng, cơ sở pháp lý quan trọng, giúp những người làm báo dựa vào để phục vụ xãhội và người dân tốt hơn Những người làm việc trong lĩnh vực báo chí, truyềnthông cần phải nghiên cứu, học tập để nắm vững các điều luật của Luật nhằm phục

vụ tốt hơn công việc của mình, tránh sai sót trong quá trình tác nghiệp

Cơ quan quản lý nhà nước về báo chí được quy định tại Điều 7 Luật báo chí

2016 như sau:

- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về báo chí

Trang 33

- Bộ Thông tin và Truyền thông chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiệnquản lý nhà nước về báo chí.

- Các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình cótrách nhiệm phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện quản lý nhà nước

Điều 54 của Luật Di sản văn hóa quy đinh các nội dung của quản lý nhànước về di sản văn hóa bao gồm:

- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sáchphát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá;

- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sảnvăn hoá;

- Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá;tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hoá;

- Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng độingũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hoá;

- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị disản văn hoá;

- Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sảnvăn hoá;

- Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sảnvăn hoá;

- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và

Trang 34

xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hoá.

Sở Thông tin và Truyền thông Thanh Hóa có nhiệm tham mưu giúp Uỷ bannhân dân tỉnh quản lý hoạt động báo chí trên địa bàn, trong đó có hoạt động phátthanh, truyền hình và thông tin điện tử Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tácquản lý Nhà nước về phát thanh, truyền hình ở địa phương, Sở Thông tin và Truyềnthông Thanh Hóa đã đề ra những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể như: Quán triệt, triểnkhai đầy đủ các Luật, văn bản pháp quy thuộc lĩnh vực báo chí, phát thanh và truyềnhình; tiếp tục ổn định, củng cố tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chứcgiỏi về chuyên môn, nghiệp vụ; tập trung triển khai “Đề án phát triển thông tin-truyền thông trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2010-2020”; “Quy hoạch truyềndẫn, phát sóng phát thanh, truyền hình đến năm 2020“theo Quyết định của ThủTướng Chính phủ; tăng cường quản lý nội dung, kỹ thuật của Đài phát thanh, truyềnhình tỉnh, các đơn vị truyền hình trả tiền; đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra hoạtđộng phát thanh, truyền hình trên địa bàn tỉnh…

1.4 Tổng quan về Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa

1.4.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Đài PT&TH Thanh Hóa tiền thân là Đài Truyền thanh Thanh Hóa, thành lậpngày 26/9/1956, làm nhiệm vụ tiếp âm chương trình của Đài Tiếng nói Việt Nam(VOV) Hơn 20 năm sau, ngày 2/9/1978, Đài sản xuất chương trình truyền hình đầutiên, phát thử nghiệm trên máy phát công suất 20W và thực hiện nhiệm vụ tiếp sóngĐài Truyền hình Việt Nam (VTV)

Hiện nay, Đài PT&TH Thanh Hóa đóng tại Phường Đông Hải, thành phốThanh Hóa

Hơn 60 năm xây dựng và phát triển, Đài PT&TH Thanh Hóa luôn hoànthành tốt nhiệm vụ chính trị của tỉnh giao; đổi mới và phát triển toàn diện; đóng góptích cực và hiệu quả vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc,xây dựng và phát triển quê hương, đất nước

Hiện nay, 100% dân số tỉnh Thanh Hoá đã được phủ sóng mặt đất ít nhất một

Trang 35

kênh phát thanh của VOV, trên 95% dân số của tỉnh đã được phủ sóng truyền hình mặtđất, số còn lại một phần đã được xem VTV qua chảo thu vệ tinh Quá trình phát triểncủa Đài PT&TH Thanh Hóa có những dấu mốc quan trọng

Năm 2001, Đài PT&TH Thanh Hóa khánh thành Trung tâm truyền hình kỹthuật số với tổng vốn đầu tư 5 triệu USD từ nguồn vốn ODA của Đan Mạch Đây làtrung tâm truyền hình công nghệ kỹ thuật số đồng bộ đầu tiên trong hệ thống ĐàiPT&TH các tỉnh, thành trên cả nước lúc bấy giờ

Đặc biệt, từ tháng 1 năm 2009, được sự đồng ý của Bộ Thông tin và Truyềnthông, Ủy ban Nhân dân (UBND) tỉnh Thanh Hóa đã cho phép Đài PT&TH ThanhHóa thuê truyền dẫn tín hiệu chương trình truyền hình qua vệ tinh Vinasat-1 Bắtđầu từ ngày 22 tháng 1 năm 2009, sóng của Đài PT&TH Thanh Hoá đã chính thứcđược truyền qua vệ tinh Vinasat 1 phủ sóng toàn quốc và khu vực Đến tháng 7 năm

2019, sóng phát thanh Thanh Hóa đã phát sóng qua vệ tinh Vinasat-1, góp phần mởrộng diện phủ sóng trong phạm vi toàn tỉnh và cả nước

Tín hiệu của Đài cũng được đưa vào hệ thống MyTV của Tập đoàn Viễnthông Việt Nam - VNPT, NextTV (của Viettel) và Truyền hình cáp Việt Nam(VTC), góp phần cung cấp thông tin, tăng cường giới thiệu, quảng bá hình ảnh đất

và người xứ Thanh đến với khán, thính giả trong nước và quốc tế

Tháng 9 năm 2016, Đài PT&TH Thanh Hóa đã đưa ứng dụng TTVGo vàohoạt động, cho phép khán giả xem trực tiếp các chương trình truyền hình, nghe phátthanh, xem lại các chương trình truyền hình của Đài PT&TH Thanh Hóa mọi lúc,mọi nơi, trên mọi thiết bị di động

Từ cuối năm 2017, Đài PT&TH Thanh Hóa cũng đã chuyển sang sản xuất vàphát sóng truyền hình theo chuẩn HD

Những năm qua, Đài đã tập trung đổi mới nội dung và hình thức thể hiệncác chương trình PT&TH Các chương trình ngày càng sâu sắc, nhanh nhạy, đachiều, bám sát các lĩnh vực của đời sống Không gian tác nghiệp của phóng viênđược mở rộng ra địa bàn cả nước và nước ngoài

Với phương châm “Thiết thực, hiệu quả, chuyên nghiệp, chuyên sâu”, Đài

Trang 36

PT&TH Thanh Hóa đã bám sát và tuyên truyền kịp thời, có hiệu quả các chủtrương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Nhiều sự kiệnchính trị quan trọng của tỉnh, của đất nước được tuyên truyền đậm nét, có chấtlượng Đài cũng đã tích cực, chủ động cộng tác với 2 Đài Quốc gia là VTV và VTC,tăng cường phối hợp về chuyên môn nghiệp vụ với các Đài PT&TH trong cả nước.

Có thể nói, Đài PT&TH Thanh Hóa đã thực sự trở thành kênh thông tin uy tín, hấpdẫn, thực hiện tốt chức năng phản biện xã hội, là cầu nối quan trọng của Đảng bộ,chính quyền với nhân dân tỉnh Thanh Hóa

1.4.2 Chức năng

Đài PT&TH Thanh Hóa là đơn vị sự nghiệp trực thuộc UBND tỉnh ThanhHóa, có chức năng thông tin, tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, phápluật, chế độ, chính sách của Nhà nước; quản lý thống nhất sự nghiệp PT&TH trênđịa bàn tỉnh

Đài PT&TH Thanh Hóa chịu sự chỉ đạo và quản lý trực tiếp, toàn diện củaUBND tỉnh Thanh Hóa; chịu sự quản lý nhà nước về báo chí, về truyền dẫn và phátsóng của Bộ Thông tin và Truyền thông, Sở Thông tin và Truyền thông Thanh Hóa,thực hiện quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh theo phân công của UBND tỉnh; đồngthời, chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của hai Đàiquốc gia là VTV và VOV

1.4.3.Nhiệm vụ

Đài PT&TH Thanh Hóa thực hiện đầy đủ những nhiệm vụ, quyền hạn đã đượcquy định tại các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của Nhà nước và của UBNDtỉnh về lĩnh vực phát thanh và truyền hình; có nhiệm vụ và quyền hạn chủ yếu:

Tổ chức thực hiện các Nghị quyết, Quyết định, Chỉ thị của Tỉnh ủy, Hộiđồng Nhân dân (HĐND), UBND tỉnh về lĩnh vực phát thanh, truyền hình trên địabàn tỉnh Thanh Hóa;

Nghiên cứu, xây dựng trình UBND tỉnh quy hoạch, kế hoạch phát triển vềphát thanh và truyền hình trong tỉnh, các chương trình phát thanh và truyền hìnhtheo định hướng chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh nhằm kịp thời phổ

Trang 37

biến, tuyên truyền đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, nhiệm

vụ chính trị và các chủ trương công tác của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh; tổ chứcchỉ đạo thực hiện sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt

Triển khai thực hiện pháp luật, chế độ, chính sách của Trung ương và củaUBND tỉnh về quản lý phát thanh và truyền hình; phát hiện các vấn đề về cơ chế,chính sách của Nhà nước không phù hợp, đề xuất với các cấp có thẩm quyền sửađổi, bổ sung

Lập quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chứcchuyên môn nghiệp vụ về phát thanh và truyền hình ở địa phương trình UBND tỉnh

Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn nghiệp vụ và quản lý thốngnhất trang thiết bị kỹ thuật chuyên môn các đài huyện và cơ sở;

Tổ chức và quản lý việc hợp tác quốc tế lĩnh vực phát thanh và truyền hình

Đài PT&TH Thanh Hóa còn có 3 đơn vị trực thuộc là: Trường Trung cấpnghề PT&TH, Trung tâm Dịch vụ PT&TH và tổ chức sự kiện; Trung tâm Triển lãm

- Hội chợ - Quảng cáo

Tổng số cán bộ, viên chức, lao động (CBVCLĐ) của Đài là 275 người, trong

đó có 128 người là CBVC và lao động hợp đồng có quỹ lương, 116 lao động hợpđồng, 19 lao động học việc và 12 cộng tác viên thường xuyên

Về trình độ chuyên môn: có 18 Thạc sĩ và 7 người đang học Thạc sĩ, chiếm

Trang 38

gần 9,1% ; 225 người có trình độ Đại học, chiếm 81,8% ; 20 người có trình độCao đẳng, Trung cấp, chiếm 7,3%; còn lại 5 lao động phổ thông, chiếm 1,8%

Những năm qua, Đài đã tập trung nâng cao chất lượng đội ngũ CBVCLĐ.Ngoài việc chú trọng công tác đào tạo nâng cao trình độ cho lực lượng hiện có, Đàicòn tuyển chọn, bổ sung một số lượng lớn lao động trẻ được đào tạo bài bản, cónăng lực và lòng yêu nghề, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao yêu cầu của công việc

1.4.5 Cơ cấu nội dung chương trình của Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hoá

Đài PT&TH Thanh Hoá hiện nay thực hiện phát sóng mặt đất chương trìnhtruyền hình thời sự, chính trị tổng hợp, có logo TTV trên kênh 9 VHF Thời lượngphát sóng truyền hình 19giờ/ ngày, phát liên tục từ 5h00’ đến 24h00’ (theo Giấyphép hoạt động Truyền hình số 1523/GP-BTTTT cấp ngày 21 tháng 9 năm 2011 vàGiấy phép sửa đổi, bổ sung Giấy phép hoạt động Truyền hình số 237/GP-BTTTTcấp ngày 10 tháng 5 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Thông Tin và Truyền Thông cấpcho Đài PT&TH Thanh Hoá) Trong đó, tổng thời lượng các chương trình tự sảnxuất trung bình là 9 giờ 50 phút/ ngày, tương đương 51,8 % tổng thời lượng phátsóng trong ngày

Chương trình PT&TH của Đài PT&TH Thanh Hóa phong phú, đa dạng, gópphần quảng bá, giới thiệu thành tựu phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng

- an ninh, đáp ứng một phần nhu cầu thông tin giải trí, nâng cao đời sống tinh thầncủa đồng bào các dân tộc trong tỉnh Những năm gần đây, Đài không ngừng đổi mới

về nội dung chương trình, hình thức thể hiện làm cho chương trình ngày càng phongphú, hấp dẫn Cùng với việc nâng cao chất lượng các bản tin trong tỉnh, trong nước

và quốc tế, các chuyên mục trên truyền hình và phát thanh, tập trung truyền tải cả 3nội dung: Thông tin, tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách phápluật của Nhà nước; phố biến, giáo dục kiến thức khoa học kỹ thuật, văn hóa xã hội;cung cấp các chương trình giải trí, giáo dục thẩm mỹ, nâng cao đời sống tinh thầncủa người dân Khán thính giả còn được thưởng thức các chương trình văn hóa, vănnghệ, thể thao và các chương trình phim truyện, sân khấu… khá đa dạng, phong

Trang 39

phú Ngoài ra, nhiều sự kiện lớn của tỉnh đã được Đài PT&TH Thanh Hóa truyềnhình trực tiếp (Riêng Năm du lịch Quốc gia 2015 - Thanh Hoá, Đài PT&TH ThanhHoá đã thực hiện truyền hình trực tiếp 64 cuộc, trung bình mỗi cuộc thời lượng90’) Đài luôn chú trọng đảm bảo sự cân đối hài hòa các thể loại, các lĩnh vực trongkết cấu chương trình, không ngừng nâng cao chất lượng các chương trình, trước hết

là đưa tin cập nhật, kịp thời, chính xác, đúng định hướng các hoạt động của tỉnh,ngành, địa phương Chú trọng mở rộng và nâng cao chất lượng các chuyên mụckhoa giáo, các chương trình giải trí phục vụ yêu cầu đa dạng của khán thính giả.Trong điều kiện còn nhiều khó khăn, Đài không ngừng tăng thời lượng, đồng thờicải tiến nâng cao chất lượng Qua làn sóng PT&TH tỉnh Thanh Hoá, người dântrong tỉnh và người Thanh Hóa trong cả nước nhìn thấy sự phát triển đi lên hàngngày của tỉnh, nhìn thấy những thành quả kinh tế xã hội mà họ chung sức xây dựngnên, càng phấn khởi, thi đua trong lao động sản xuất, học tập, góp phần vào côngcuộc xây dựng tỉnh Thanh Hoá ngày càng phồn vinh

Theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông tại Thông tư số15/2010/TT–BTTTT ngày 01/ 7/ 2010 quy định điều kiện, thủ tục phát sóng quảng

bá trực tiếp các kênh chương trình truyền hình địa phương trên vệ tinh, trong đó,tổng thời lượng phát sóng kênh chương trình truyền hình tối thiểu là 15 tiếng/ ngày,thời lượng chương trình tự sản xuất tối thiểu đạt 40% tổng thời lượng kênh chươngtrình/ ngày Căn cứ trên các quy định đó, Đài PT&TH Thanh Hóa đã xây dựngkhung chương trình chú trọng tập trung nâng cao thời lượng tự sản xuất các bản tin,tạp chí, chuyên đề, chuyên mục, giảm bớt các chương trình khai thác và cơ cấu lạithời gian phát lại chương trình tự sản xuất Từ tháng 1/2009, Đài PT&TH Thanh Hoáphát sóng 18 giờ/ ngày đưa lên vệ tinh Vinasat1 + TH số mặt đất của VTC Từ 01/ 12/

2010, Đài PT&TH Thanh Hoá tăng thời lượng phát sóng chương trình truyền hình lên19giờ/ ngày (theo công văn 6428/UBND-VX, ngày 22 tháng 11 năm 2010 củaUBND tỉnh Thanh Hoá) Do đó, tổng thời gian phát sóng truyền hình hiện nay củaĐài là 19 giờ/ ngày

1.4.6 Công tác quản lý hoạt động truyền thông về di sản tại Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa

Trang 40

Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biênchế và công tác của Uỷ ban nhân dân tỉnh; đồng thời chịu sự quản lý nhà nước vềhoạt động báo chí và tần số truyền dẫn, phát sóng truyền hình của Bộ Thông tin vàTruyền thông Trong khi Đài Truyền hình và Đài Tiếng nói Việt Nam là cơ quanquản lý về chuyên môn.

Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh sẽ quản lý Đài Phát thanh - Truyền hìnhThanh Hóa về mặt Nhà nước, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh thực hiện nhiệm

vụ hướng dẫn, giúp đỡ về định hướng trọng tâm tuyên truyền, nội dung thông tin,

áp dụng công nghệ tiên tiến, cải tiến kỹ thuật trong sản xuất các chương trình

Các nội dung quản lý hoạt động truyền thông về di sản văn hóa tại Đài Phátthanh và Truyền hình Thanh Hóa bao gồm:

- Quản lý nguồn nhân lực làm công tác truyền thông về di sản văn hóa: CácĐài PT&TH địa phương căn cứ vào trình độ năng lực để phân công nhiệm vụ phùhợp Nguồn nhân lực chuyên nghiệp phải đảm bảo tiêu chuẩn nghề nghiệp và cầnđược đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đáp ứng với yêu cầu tạo ra các sản phẩmtruyền thông có chất lượng Ngoài nguồn nhân lực chuyên nghiệp, trong công táctruyền thông có thể có thêm các cộng tác viên phối hợp

Đội ngũ cán bộ quản lý và nhân viên của Đài PT&TH có trình độ chuyên a

về nội dung chương trình Nội dung truyền thông về di sản cần được quản lý chuyênmôn xét duyệt trước khi phát sóng đảm bảo nội dung phong phú, đa dạng, hấp dẫn

- Quản lý hình thức truyền thông về di sản văn hóa: Các Đài PT&TH địaphương cấp tỉnh cần có kết hợp nhiều hình thức truyền thông như tin, phóng sự,bình luận, phỏng vấn…

- Quản lý cơ sở vật chất và tài chính cho hoạt động truyền thông di sản văn hóa:+ Các Đài PT&TH địa phương cần quản lý cơ sở vật chất như thiết bị sảnxuất chương trình, hệ thống lưu trữ dữ liệu, hệ thống truyền dẫn đảm bảo cho quátrình truyền thông về di sản văn hóa

+ Về quản lý tài chính: Các đài PT&TH địa phương cần nắm rõ nội dungcác khoản thu, chi đảm bảo kinh phí cho quá trình truyền thông về di sản văn hóa

- Công tác thanh tra, kiểm tra chuyên ngành được chú trọng triển khai thực

Ngày đăng: 10/09/2021, 13:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Trung ương (1998), Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, ban hành ngày 16/7/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm BanChấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền vănhóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 1998
3. Bảo tàng tổng hợp tỉnh Thanh Hóa (2001), Thanh Hóa di tích và thắng cảnh, tập 1, Nxb Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Hóa di tích và thắng cảnh
Tác giả: Bảo tàng tổng hợp tỉnh Thanh Hóa
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa
Năm: 2001
4. Nguyễn Chí Bền (2007), “Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Cộng sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể ở nước ta hiệnnay”, Tạp chí
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Năm: 2007
5. Nguyễn Chí Bền (Chủ biên) (2010), Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể Thăng Long - Hà Nội, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóavật thể Thăng Long - Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Chí Bền (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2010
7. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014), Nghị định số 62/2014/NĐ-CP ngày 25/06/2014 quy định về xét tặng danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân”, “Nghệ nhân ưu tú”trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số62/2014/NĐ-CP ngày 25/06/2014 quy định về xét tặng danh hiệu “Nghệ nhânnhân dân”, “Nghệ nhân ưu tú
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2014
8. Cục Di sản Văn hóa (2006), Một con đường tiếp cận di sản văn hóa, Tập 2, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một con đường tiếp cận di sản văn hóa
Tác giả: Cục Di sản Văn hóa
Năm: 2006
9. Cục Di sản Văn hóa (2008), Một con đường tiếp cận di sản văn hóa, Tập 3, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một con đường tiếp cận di sản văn hóa
Tác giả: Cục Di sản Văn hóa
Năm: 2008
10. Cục Di sản Văn hóa (2009), Một con đường tiếp cận di sản văn hóa, Tập 4, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một con đường tiếp cận di sản văn hóa
Tác giả: Cục Di sản Văn hóa
Năm: 2009
11. Cục Di sản Văn hóa (2010), Một con đường tiếp cận di sản văn hóa, Tập 5, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một con đường tiếp cận di sản văn hóa
Tác giả: Cục Di sản Văn hóa
Năm: 2010
12. Nguyễn Văn Dững (2018), Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản, Nxb Thông tin Truyền thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: NxbThông tin Truyền thông
Năm: 2018
20. Ngọc Hà (2017), “Truyền thông di sản: cần nhưng chưa đủ” , Báo Văn hóa số 10 năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Truyền thông di sản: cần nhưng chưa đủ”", Báo" Văn hóa
Tác giả: Ngọc Hà
Năm: 2017
21. Nguyễn Thị Thu Hà (2015), Báo chí với việc bảo tồn và phát huy dân ca xoan, ghẹo, Luận văn Thạc sĩ Báo chí Truyền Thông, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí với việc bảo tồn và phát huy dân caxoan, ghẹo", Luận văn Thạc sĩ Báo chí Truyền Thông, Đại học Khoa học Xãhội và Nhân văn
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hà
Năm: 2015
22. Hoàng Thị Hoa (2015), Bảo tồn di sản văn hóa khu vực tây Yên Tử gắn với phát triển du lịch, Luận án Tiến sĩ Văn hóa học, Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di sản văn hóa khu vực tây Yên Tử gắn vớiphát triển du lịch
Tác giả: Hoàng Thị Hoa
Năm: 2015
23. Phạm Thúy Hợp (2012), “Di sản văn hóa với truyền thông”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 41, năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản văn hóa với truyền thông”, Tạp chí "Di sảnvăn hóa
Tác giả: Phạm Thúy Hợp
Năm: 2012
24. Đào Thị Huệ (2008), Quản lý di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, Luận văn Thạc sĩ Văn hoá học, Trường Đại học Văn hoá Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn quận Hoàn Kiếm
Tác giả: Đào Thị Huệ
Năm: 2008
25. Nguyễn Quốc Hùng, “Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong quan niệm tu bổ tôn tạo di tích”, Tạp chí Kiến trúc Việt Nam số 5, năm 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong quan niệm tu bổtôn tạo di tích”, "Tạp chí "Kiến trúc Việt Nam
26. Nguyễn Quốc Hùng, “Tu bổ tôn tạo di tích - lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tu bổ tôn tạo di tích - lý luận và thực tiễn”
27. Nguyễn Quốc Hùng, “Truyền thống dân tộc trong việc phát huy và bảo tồn di sản văn hóa”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 3, năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Truyền thống dân tộc trong việc phát huy và bảo tồn disản văn hóa”," Tạp chí "Di sản văn hóa
28. Phạm Quang Lê (2007), Giáo trình Khoa học Quản lý I, Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Khoa học Quản lý I
Tác giả: Phạm Quang Lê
Năm: 2007
29. Nguyễn Thu Liên (1997), Vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong các chương trình phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam , Luận văn Thạc sĩ báo chí, Phân viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong cácchương trình phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thu Liên
Năm: 1997

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

VÀ TRUYỀN HÌNH THANH HÓA 2.1. Bộ máy quản lý  - Luận văn Th.S Quản lý hoạt động truyền thông về di sản văn hóa tại Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa
2.1. Bộ máy quản lý (Trang 46)
Bảng 2.1: Một số chương trình/Chuyên mục truyền thông về di sản văn hóa tiêu biểu tại Đài PT&TH Thanh Hóa từ năm 2014 đến năm 2019 - Luận văn Th.S Quản lý hoạt động truyền thông về di sản văn hóa tại Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa
Bảng 2.1 Một số chương trình/Chuyên mục truyền thông về di sản văn hóa tiêu biểu tại Đài PT&TH Thanh Hóa từ năm 2014 đến năm 2019 (Trang 60)
Xuân Phả là một loại hình diễn xướng văn hóa dân  gian độc đáo vào bậc nhất ở Xứ Thanh - Luận văn Th.S Quản lý hoạt động truyền thông về di sản văn hóa tại Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa
u ân Phả là một loại hình diễn xướng văn hóa dân gian độc đáo vào bậc nhất ở Xứ Thanh (Trang 61)
Hàng năm, Đài Phát thanh và truyền hình Thanh Hóa tổ chức chương trình truyền thông về sự kiện Lễ hội du lịch Sầm Sơn: phối hợp với VTV1 đưa thông tin về Liên hoan và Lễ hội bằng hình thức chạy chữ trong chương trình thời sự VTV1 buổi 19 giờ; phối hợp với - Luận văn Th.S Quản lý hoạt động truyền thông về di sản văn hóa tại Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa
ng năm, Đài Phát thanh và truyền hình Thanh Hóa tổ chức chương trình truyền thông về sự kiện Lễ hội du lịch Sầm Sơn: phối hợp với VTV1 đưa thông tin về Liên hoan và Lễ hội bằng hình thức chạy chữ trong chương trình thời sự VTV1 buổi 19 giờ; phối hợp với (Trang 63)
VÀ TRUYỀN HÌNH THANH HÓA - Luận văn Th.S Quản lý hoạt động truyền thông về di sản văn hóa tại Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa
VÀ TRUYỀN HÌNH THANH HÓA (Trang 121)
Truyền hình Trực tiếp năm Du lịch quốc gia 2015 - Luận văn Th.S Quản lý hoạt động truyền thông về di sản văn hóa tại Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa
ruy ền hình Trực tiếp năm Du lịch quốc gia 2015 (Trang 123)
MỘT SỐ HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG VỀ DI SẢN VĂN HÓA TẠI ĐÀI PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH THANH HÓA - Luận văn Th.S Quản lý hoạt động truyền thông về di sản văn hóa tại Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa
MỘT SỐ HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG VỀ DI SẢN VĂN HÓA TẠI ĐÀI PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH THANH HÓA (Trang 123)
Truyền hình trực tiếp Khai mạc lễ kỷ niệm 990 năm danh xưng Thanh Hóa - Luận văn Th.S Quản lý hoạt động truyền thông về di sản văn hóa tại Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa
ruy ền hình trực tiếp Khai mạc lễ kỷ niệm 990 năm danh xưng Thanh Hóa (Trang 134)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w