MỞ ĐẦU 1 1. Giới thiệu 3 2. Lý do chọn đề tài 4 3. Tổng quan tài liệu 4 4. Mục đích nghiên cứu 6 5. Nhiệm vụ nghiên cứu 6 6. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 6 7. Mẫu khảo sát 6 8. Phạm vi nghiên cứu 6 9. Câu hỏi nghiên cứu 7 10. Phương pháp nghiên cứu 7 PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 8 Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận 8 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8 1.2. Cơ sở lí luận 10 Tiểu kết chương 1 10 Chương 2. Đặc điểm hiện tượng trộn mã tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt 11 2.1 Tổng quát sự thể hiện ngôn ngữ của sinh viên 11 2.2 Đặc điểm của hiện tượng chêm xen tiếng Anh 11 Tiểu kết chương 2 12 Chương 3. Đặc điểm ngôn ngữ trộn mã từ giao tiếp xã hội 12 3.1. Đặc điểm lựa chọn ngôn ngữ trong giao tiếp 12 3.2. Đặc điểm nhân vật giao tiếp 12 3.3. Đặc điểm hoàn cảnh giao tiếp 13 Tiểu kết chương 3 13 Chương 4: Thái độ ngôn ngữ của xã hội đối với việc chêm xen tiếng anh của sinh viên 13 4.1. Đặt vấn đề 13 4.2. Thái độ ngôn ngữ đối với việc chêm xen tiếng anh của sinh viên 13 Tiểu kết chương 4 14 KẾT LUẬN 14 TÀI LIỆU THAM KHẢO 16 MỞ ĐẦU 1. Giới thiệu Tiếng Anh đã và đang trở thành thứ ngôn ngữ toàn cầu, một phương tiện giao tiếp chung của toàn nhân loại. Vai trò và vị thế của tiếng Anh càng được chú trọng hơn từ sau khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 11.01. 2007. Hiện tượng dùng xen tiếng Anh trong khi đang sử dụng một ngôn ngữ khác giữa người bản ngữ và người phi bản ngữ tiếng Anh cũng đang trở thành một hiện tượng ngôn ngữ học xã hội phổ biến ở nhiều nước và Việt Nam không nằm ngoài xu thế đó. Quá trình hội nhập và phát triển tất yếu sẽ kéo theo sự tiếp xúc, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các nền văn hóa, trong đó có ngôn ngữ. Đây cũng là hiện tượng mang tính phổ biến mà Việt Nam chúng ta cũng không phải và không thể là trường hợp ngoại lệ. Mặt tích cực là đã góp phần làm phong phú thêm cho kho từ vựng của ngôn ngữ dân tộc, đặc biệt là những thuật ngữ mới trong các lĩnh vực khoa học và kỹ thuật; làm đa dạng hơn các hình thức giao tiếp, và về phương diện nào đó, nó giúp chúng ta có điều kiện tiếp cận nhanh với những nền văn hóa và văn minh phát triển hơn. Bên cạnh đó, về văn hóa nói chung, nó cũng có thể gây nên những tác động tiêu cực, đó là sự xô bồ, lai căng, thậm chí chủ nhân văn hóa còn quay lưng lại với văn hóa truyền thống nếu chủ thể tiếp nhận chưa có được sự chuẩn bị đầy đủ khả năng lựa chọn; về ngôn ngữ nói riêng, những biểu hiện trong cách nói, cách viết “khác lạ” đã làm mất đi bản sắc vốn có của tiếng Việt. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để những giá trị của văn hóa truyền thống, mà cụ thể là văn hóa ngôn ngữ không bị phủ định bởi sự phát triển của văn minh và ngược lại, nó không trở thành lực cản cho sự phát triển ấy; chúng phải trở thành điểm tựa và thúc đẩy lẫn nhau trên con đường phát triển của xã hội. 2. Lý do chọn đề tài Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu nhất của con người. Cùng với sự biến đổi của văn hóa xã hội và thời đại, ngôn ngữ không ngừng biến đổi theo để có thể thực hiện được sứ mệnh này. Quá trình vận động của ngôn ngữ đặt ra nhiệm vụ đối với người nghiên cứu là phải kịp thời nắm bắt và nghiên cứu những xu hướng phát triển mới, nhằm phục vụ công tác dự báo, định hướng, chuẩn hóa và giáo dục ngôn ngữ phù hợp với từng giai đoạn. Chuyển mã, trộn mã và từ mượn đều là hệ quả của việc tiếp xúc ngôn ngữ trong một xã hội đa ngữ. “Mã” là một khái niệm trong thông tin, mà ngôn ngữ học sử dụng nhằm chỉ một hệ thống tín hiệu để chuyển tải thông tin. Chọn mã là việc lựa chọn một ngôn ngữ ở thời điểm bắt đầu giao tiếp. Trong quá trình giao tiếp, người song ngữ sẽ chuyển từ mã ngôn ngữ này sang một mã ngôn ngữ khác, và có thể thao tác này sẽ được lặp lại nhiều lần, tạo nên sự luân phiên ngôn ngữ, gọi là chuyển mã. Trong một cuộc giao tiếp, người đa ngữ có thể dùng hai ngôn ngữ cùng một lúc, xen vào nhau tùy theo mục đích, dụng ý, hay thói quen ngôn ngữ. Đó là chuyển mã. Còn trộn mã là là hiện tượng một mã ngôn ngữ chính đang dùng có chêm xen, hòa trộn một số yếu tố của một mã ngôn ngữ khác. Các yếu tố chêm xen đó thường có số lượng ít và chỉ cung cấp thông tin bổ trợ, vì thế chúng đương nhiên chịu áp lực của ngôn ngữ chính đang dùng, không còn chuẩn xác hoặc nguyên dạng như vốn có của nó. Còn “vay mượn là hiện tượng yếu tố của ngôn ngữ này du nhập vào một ngôn ngữ khác, được sử dụng và được đồng hóa bởi ngôn ngữ đó.”. Như vậy, chuyển mã, trộn mã và vay mượn đều là kết quả của tiếp xúc ngôn ngữ nhưng khác nhau về mức độ và tính chất tiếp xúc. Trong đó, chỉ có vay mượn mới thực sự tạo ra được một lớp từ mới, tuy có gốc gác ngoại lai nhưng dần dần đã được Việt hóa một cách sâu sắc về ngữ âm, ngữ nghĩa và cách sử dụng, trở thành một tài sản của tiếng Việt, được người Việt sử dụng một cách phổ biến trong đời sống hằng ngày. 3. Tổng quan tài liệu Năm 1953, Weireich đã cho ra đời cuốn sách “Language in Contact”, có thể nói đây là công trình nghiên cứu quan trọng và nền tảng về hiện tượng chuyển mã trong ngôn ngữ học. Trong quá trình nghiên cứu, ngoài việc mô tả các hoạt động ngôn ngữ diễn ra trong nhiều cộng đồng người song ngữ, tác gải còn dành sự quan tâm đến việc mô tả những ảnh hưởng của quá trình tiếp xúc ngôn ngữ lên các ngôn ngữ. Hans Vogt đã công bố một bài báo nghiên cứu về hiện tượng chuyển mã song ngữ năm 1954. Tác giả cho rằng, chuyển mã, bản thân nó có lẽ không phải là một hiện tượng ngôn ngữ học mà là hiện tượng tâm lý học, và nguyên nhân của hiện tượng này rõ ràng đến từ bên ngoài ngôn ngữ. Từ lập luận trên, tác giả nhận định chuyển mã không những là một hiện tượng ngôn ngữ tự nhiên mà còn là hiện tượng ngôn ngữ xã hội phổ biến (Code Switching in Sociocultural linguistics, 2006). Trong khi Myers – Scotton và các cộng sự nghiên cứu mô hình đánh dấu với mong muốn có thể lý giải hiện tượng chuyển mã một cách khái quát và có hệ thống thì các nghiên cứu thuộc lĩnh vực khác như ngôn ngữ học nhân học (linguistic anthropology), ngôn ngữ học xã hội (sociolinguistic) và các lĩnh vực nghiên cứu liên quan của ngôn ngữ học xã hội cũng cung cấp những kiến thức chung về hiện tượng chuyển mã trong những văn cảnh cụ thể. Nhà dân tộc học tiêu biểu là Monica Heller xem xét hiện tượng chuyển mã như một chiến lược giao tiếp chính trị. Tác giả lý giải rằng ngôn ngữ có xu hướng liên kết các tình huống của người nói, do đó họ sử dụng nhiều ngôn ngữ trong cùng một cuộc giao tiếp và điều này cho phép người nói sử dụng nhiều ngôn ngữ trong cùng một cuộc giao tiếp và đạt được nhiều mục đích giao tiếp hơn.(Nguyễn, 2017) Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra được một số nguyên nhân dẫn đến việc chêm tiếng Anh trong cuộc sống hàng ngày của giới trẻ nhưng chưa thấy được sự rõ ràng của ảnh hưởng lên các mối quan hệ xã hội của người sử dụng ngôn ngữ chêm xen tiếng Anh. 4. Mục đích nghiên cứu Đề tài của chúng tôi nhằm nghiên cứu những vấn đề sau: Mục đích nghiên cứu là ứng dụng một số phương pháp nghiên cứu để nghiên cứu tìm ra nguyên nhân sinh viên trường Đại học Khoa học và Xã hội Nhân văn sử dụng chêm xen tiếng anh vào trong giao tiếp hàng ngày. Đồng thời để điều tra những động cơ, những đặc điểm xã hội và thái độ ngôn ngữ có ảnh hưởng hưởng trực tiếp đến hành vị trộn mã của họ. 5. Nhiệm vụ nghiên cứu Thống kê, phân loại, mô tả những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng trộn mã của sinh viên Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn Hà Nội. Điều tra thái độ của sinh viên từ cả hai điểm nhìn: chủ thể trộn mã và đối tượng tiếp nhận hiện tượng trộn mã. 6. Khách thể và đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Các hội thoại tự nhiên của sinh viên có đan xen tiếng Anh Khách thể nghiên cứu: Sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội 7. Mẫu khảo sát Mẫu khảo sát: Chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng Chọn đối tượng khảo sát là sinh viên các trường Đại học Khoa học và Xã hội Nhân văn Hà Nội 8. Phạm vi nghiên cứu Không gian: Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội Nội dung nghiên cứu: Hiện tượng chêm xen tiếng Anh trong giao tiếp hàng ngày của sinh viên Nhân văn Hà Nội 9. Câu hỏi nghiên cứu Câu hỏi nghiên cứu chính: Hiện tượng chêm xen tiếng Anh trong giao tiếp của sinh viên trường đại học Nhân văn Hà Nội đang diễn ra như thế nào? Câu hỏi nghiên cứu phụ: Hoàn cảnh giao tiếp: Chêm tiếng anh vào trong giao tiếp diễn ra ở đâu (nhà trường, nơi làm việc, ở nhà) Chủ đề giao tiếp: Các từ ngữ tiếng Anh nào được sinh viên chêm vào trong giao tiếp? Tần số sử dụng những từ đó ra sao? Tại sao lại xảy ra hiện tượng chêm tiếng Anh trong giao tiếp của sinh viên? Người tham gia: Chêm tiếng Anh vào trong giao tiếp với ai?, cảm nhận của người tham gia như thế nào? 10. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp thu thập ngữ liệu: Đối tượng nghiên cứu được thu thập là các từ ngữ chêm xen tiếng Anh. Những bài phỏng vấn sâu và 100 bảng hỏi được phát ngẫu nhiên. Cách thức thống kê số liệu, thống kê bằng phương pháp thủ công, ghi lại bằng trình bày bằng bảng, tính toán và xây dựng số liệu thống kê. Phương pháp điều tra bảng hỏi: Sử dụng phương phấp điều tra ngôn ngữ học xã hội với bảng hỏi: Bảng hỏi về hiện tượng chêm xen – trộn mã tiếng Anh trong giao tiếp hàng ngày. Phương pháp điền dã và phỏng vấn sâu: Dự kiến phỏng vấn một số sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội về nguyên nhân chêm xen tiếng Anh trong đời sống hàng ngày. PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1.1 Tình hình nghiên cứu hiện tượng chêm xen ngôn ngữ trên thế giới Từ nửa sau thế kỉ XX, các nhà Xã hội học đã nghiên cứu và lí giải một cách có hệ thống những diễn biến, biến động ngôn ngữ dưới tác động của nhân tố xã hội. Khoa học Xã hội lấy ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày là đối tượng nghiên cứu cụ thể là các biến thể ngôn ngữ đa dạng nảy sinhm phát triển trong xã hội nhằm xử lí các vấn đề phát sinh và định hướng sử dụng ngôn ngữ. Có thể kể đến những công trình nghiên cứu Khoa học Xã hội có tính chất nền tảng như The Sociolinguistics of Society, Bản dịch Xã hội – Ngôn ngữ học của xã hội của Fasold xuất bản lần đầu năm 1984, “xem xét những mối quan hệ mật thiết giữa nghiên cứu xã hội – ngôn ngữ học với nghiên cứu ngôn ngữ và lý thuyết ngôn ngữ học, giới thiệu một cách đầy đủ, bằng một cách viết rõ ràng, toàn bộ lĩnh vực xã hội – ngôn ngữ học”1. Tác phẩm An Introduction to Sociolinguistics Dẫn luận ngôn ngữ xã hội học của Wardhaugh xuất bản lần đầu năm 1986, tái bản lần thứ năm năm 20062, đã nêu ra các vấn đề khái quát như dẫn luận về ngôn ngữ xã hội học. Các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm đến mối quan hệ và sự chi phối của các nhân tố xã hội đến việc lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ, như giai cấp, độ tuổi, giới tính, nguồn gốc, trình độ học vấn… với việc lựa chọn sử dụngngôn ngữ. Có thể kể đến những công trình tiêu biểu như The Study of Language in Its Social Context của Labov (1970), Language in Social groups của Gumperz (1971), Language and Women’s place (1975) của Lakoff, Age as a Sociolinguistic variable của Eckert (1998)… Các công trình nghiên cứu này đã khẳng định có mối quan hệ tác động giữa các nhân tố xã hội, đặc biệt là nhân tố tuổi tác đối với sự sử dụng ngôn ngữ. Các công trình nghiên cứu Khoa học Xã hội này đã đặt nền tảng cho các nghiên cứu về ngôn ngữ của giới trẻ sau này 1 Fasold Ralph (bản dịch 1995), Xã hội – Ngôn ngữ học của xã hội, Viện Ngôn ngữ học 2 Wardhaugh Ronal (the fifth edition) (2006), An introduction to Sociolinguistics, Blackwell 1.1.2. Tình hình nghiên cứu hiện tượng chêm xen ngôn ngữ trong nước Ở Việt Nam, công trình có ý nghĩa lý luận, đặt nền tảng cho nghiên cứu NNHXH có thể kể đến là Ngôn ngữ học xã hội của Nguyễn Văn Khang, xuất bản lần đầu năm 1999, tái bản 2012, cung cấp những vấn đề khái quát về lý thuyết cũng như thực tiễn của nghiên cứu ngôn ngữ xã hội học ở Việt Nam. Trong đó tác giả đã đề cập đến vấn đề thời sự của tiếng Việt hiện nay là ngôn ngữ xã hội học tương tác, ngôn ngữ mạng, sự lựa chọn ngôn ngữ trong giao tiếp… Cùng với Ngôn ngữ học xã hội, Nguyễn Văn Khang còn có những công trình khác liên quan đến nghiên cứu của chúng tôi, như Tiếng lóng Việt Nam năm 2001, khảo sát hệ thống tiếng lóng, là biệt ngữ xã hội xuất hiện dưới tác động và nhu cầu xã hội; Từ ngoại lai trong tiếng Việt năm 2007 khảo sát hoạt động của hệ thống từ có nguồn gốc nước ngoài trong từ vựng tiếng Việt từ góc độ của ngôn ngữ xã hội học. Ngoài những công trình có tính khái quát và lý luận như trên, Nguyễn Văn Khang còn có nhiều bài viết bàn về những biến động của tiếng Việt trong bối cảnh mới như Biến động của tiếng Việt hiện nay qua giao tiếp trộn mã tiếng Anh và việc xử lí chúng với tư cách là đơn vị từ vựng trong từ điển tiếng Việt (2014), Giáo dục ngôn ngữ ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa (2015), Tiếng Việt trong bối cảnh thống nhất đất nước, hội nhập và phát triển (2015)… nhận diện một tiếng Việt phát triển, năng động, đầy sức sống trong bối cảnh xã hội mới. Trong đó, tác giả cũng đã đề cập đến “ngôn ngữ tuổi teen” của tiếng Việt thứ biến thể ngôn ngữ mà đang được cả xã hội quan tâm, gắn với cộng đồng tuổi mới lớn, ngôn ngữ mạng gắn với cộng đồng mạng, “đã có vài một yếu tố ngôn ngữ của các cộng đồng xã hội này đã “âm thầm” du nhập vào tiếng Việt chung” Ở Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu biến thể ngôn ngữ dưới tác động của các nhân tố xã hội như Ngôn từ, giới, nhóm xã hội từ thực tiễn tiếng Việt của Lương Văn Hy năm 2000, Một số vấn đề về phương ngữ xã hội của Trần Thị Ngọc Lang năm 2005, Mối quan hệ giữa thái độ ngôn ngữ và sự lựa chọn ngôn ngữ (nghiên cứu trường hợp cộng đồng phương ngữ Bắc tại thành phố Hồ Chí Minh (2012), Thái độ ngôn ngữ đối với những hiện tượng biến đổi trong tiếng Việt trên mạng Internet hiện nay (2014) của Trịnh Cẩm Lan… Các công trình này đã mở ra một hướng nghiên cứu mới về các biến thể ngôn ngữ đa dạng, phong phú nảy sinh trong tiếng Việt dưới sự chi phối của các nhân tố như giới tính, nhóm xã hội, cộng đồng giao tiếp, nguồn gốc, hoàn cảnh sống, trình độ học vấn, tuổi tác… Những công trình này có thể nói cho đến thời điểm hiện tại đã cung cấp một cái nhìn đa chiều, đa góc độc về hiện tượng biến đổi ngôn ngữ giới trẻ trong tiếng Việt 1.2. Cơ sở lí luận Mã và sự chuyển mã trong giao tiếp Trong phần này chúng tôi trình bày về (1) Khái niệm mã, (2) Sự lựa chọn ngôn ngữ trong giao tiếp, (3) Các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn ngôn ngữ. Một vài vấn đề tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Việt với tiếng Anh ở Việt Nam Với sự hội nhập mạnh mẽ của Xã hội, tiếng Anh đi sâu vào đời sống của mọi người, nên có thể thấy sự biến đổi, giao nhau giữa tiếng Anh và tiếng Việt trong đời sống như giải trí, văn hóa, đặc biệt là công nghệ thông tin. Với sự biển đổi của văn hóa, du nhập tiếng Anh là điều tất yếu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN
KHOA NHÂN HỌC -
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ MÔN NHẬP MÔN NĂNG LỰC THÔNG TIN
ĐỀ TÀI: HIỆN TƯỢNG CHÊM TIẾNG ANH TRONG GIAO TIẾP HÀNG NGÀY CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI
VÀ NHÂNVĂN HÀ NỘI
GIẢNG VIÊN: TS Trần Thị Thanh Vân
Ths Nguyễn Thị Kim Lân
HÀ NỘI (08/2021)
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Giới thiệu 3
2 Lý do chọn đề tài 4
3 Tổng quan tài liệu 4
4 Mục đích nghiên cứu 6
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
6 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 6
7 Mẫu khảo sát 6
8 Phạm vi nghiên cứu 6
9 Câu hỏi nghiên cứu 7
10 Phương pháp nghiên cứu 7
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 8
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận 8
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8
1.2 Cơ sở lí luận 10
Tiểu kết chương 1 10
Chương 2 Đặc điểm hiện tượng trộn mã tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt 11
2.1 Tổng quát sự thể hiện ngôn ngữ của sinh viên 11
2.2 Đặc điểm của hiện tượng chêm xen tiếng Anh 11
Tiểu kết chương 2 12
Chương 3 Đặc điểm ngôn ngữ trộn mã từ giao tiếp xã hội 12
3.1 Đặc điểm lựa chọn ngôn ngữ trong giao tiếp 12
3.2 Đặc điểm nhân vật giao tiếp 12
3.3 Đặc điểm hoàn cảnh giao tiếp 13
Tiểu kết chương 3 13
Chương 4: Thái độ ngôn ngữ của xã hội đối với việc chêm xen tiếng anh của sinh viên 13
4.1 Đặt vấn đề 13
4.2 Thái độ ngôn ngữ đối với việc chêm xen tiếng anh của sinh viên 13
Tiểu kết chương 4 14
KẾT LUẬN 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Giới thiệu
Tiếng Anh đã và đang trở thành thứ ngôn ngữ toàn cầu, một phương tiệngiao tiếp chung của toàn nhân loại Vai trò và vị thế của tiếng Anh càng được chútrọng hơn từ sau khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới(WTO) vào ngày 11.01 2007 Hiện tượng dùng xen tiếng Anh trong khi đang sửdụng một ngôn ngữ khác giữa người bản ngữ và người phi bản ngữ tiếng Anhcũng đang trở thành một hiện tượng ngôn ngữ học xã hội phổ biến ở nhiều nước vàViệt Nam không nằm ngoài xu thế đó Quá trình hội nhập và phát triển tất yếu sẽkéo theo sự tiếp xúc, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các nền văn hóa, trong đó có ngônngữ Đây cũng là hiện tượng mang tính phổ biến mà Việt Nam chúng ta cũngkhông phải và không thể là trường hợp ngoại lệ Mặt tích cực là đã góp phần làmphong phú thêm cho kho từ vựng của ngôn ngữ dân tộc, đặc biệt là những thuậtngữ mới trong các lĩnh vực khoa học và kỹ thuật; làm đa dạng hơn các hình thứcgiao tiếp, và về phương diện nào đó, nó giúp chúng ta có điều kiện tiếp cận nhanhvới những nền văn hóa và văn minh phát triển hơn Bên cạnh đó, về văn hóa nóichung, nó cũng có thể gây nên những tác động tiêu cực, đó là sự xô bồ, lai căng,thậm chí chủ nhân văn hóa còn quay lưng lại với văn hóa truyền thống nếu chủ thểtiếp nhận chưa có được sự chuẩn bị đầy đủ khả năng lựa chọn; về ngôn ngữ nóiriêng, những biểu hiện trong cách nói, cách viết “khác lạ” đã làm mất đi bản sắcvốn có của tiếng Việt Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để những giá trị của văn hóatruyền thống, mà cụ thể là văn hóa ngôn ngữ không bị phủ định bởi sự phát triểncủa văn minh và ngược lại, nó không trở thành lực cản cho sự phát triển ấy; chúng
phải trở thành điểm tựa và thúc đẩy lẫn nhau trên con đường phát triển của xã hội.
Trang 42 Lý do chọn đề tài
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu nhất của con người Cùng với
sự biến đổi của văn hóa xã hội và thời đại, ngôn ngữ không ngừng biến đổi theo để
có thể thực hiện được sứ mệnh này Quá trình vận động của ngôn ngữ đặt ra nhiệm
vụ đối với người nghiên cứu là phải kịp thời nắm bắt và nghiên cứu những xuhướng phát triển mới, nhằm phục vụ công tác dự báo, định hướng, chuẩn hóa vàgiáo dục ngôn ngữ phù hợp với từng giai đoạn Chuyển mã, trộn mã và từ mượnđều là hệ quả của việc tiếp xúc ngôn ngữ trong một xã hội đa ngữ “Mã” là mộtkhái niệm trong thông tin, mà ngôn ngữ học sử dụng nhằm chỉ một hệ thống tínhiệu để chuyển tải thông tin Chọn mã là việc lựa chọn một ngôn ngữ ở thời điểmbắt đầu giao tiếp Trong quá trình giao tiếp, người song ngữ sẽ chuyển từ mã ngônngữ này sang một mã ngôn ngữ khác, và có thể thao tác này sẽ được lặp lại nhiềulần, tạo nên sự luân phiên ngôn ngữ, gọi là chuyển mã Trong một cuộc giao tiếp,người đa ngữ có thể dùng hai ngôn ngữ cùng một lúc, xen vào nhau tùy theo mụcđích, dụng ý, hay thói quen ngôn ngữ Đó là chuyển mã Còn trộn mã là là hiệntượng một mã ngôn ngữ chính đang dùng có chêm xen, hòa trộn một số yếu tố củamột mã ngôn ngữ khác Các yếu tố chêm xen đó thường có số lượng ít và chỉ cungcấp thông tin bổ trợ, vì thế chúng đương nhiên chịu áp lực của ngôn ngữ chínhđang dùng, không còn chuẩn xác hoặc nguyên dạng như vốn có của nó Còn “vaymượn là hiện tượng yếu tố của ngôn ngữ này du nhập vào một ngôn ngữ khác,được sử dụng và được đồng hóa bởi ngôn ngữ đó.” Như vậy, chuyển mã, trộn mã
và vay mượn đều là kết quả của tiếp xúc ngôn ngữ nhưng khác nhau về mức độ vàtính chất tiếp xúc Trong đó, chỉ có vay mượn mới thực sự tạo ra được một lớp từmới, tuy có gốc gác ngoại lai nhưng dần dần đã được Việt hóa một cách sâu sắc vềngữ âm, ngữ nghĩa và cách sử dụng, trở thành một tài sản của tiếng Việt, đượcngười Việt sử dụng một cách phổ biến trong đời sống hằng ngày
3 Tổng quan tài liệu
Năm 1953, Weireich đã cho ra đời cuốn sách “Language in Contact”, có thểnói đây là công trình nghiên cứu quan trọng và nền tảng về hiện tượng chuyển mã
Trang 5trong ngôn ngữ học Trong quá trình nghiên cứu, ngoài việc mô tả các hoạt độngngôn ngữ diễn ra trong nhiều cộng đồng người song ngữ, tác gải còn dành sự quantâm đến việc mô tả những ảnh hưởng của quá trình tiếp xúc ngôn ngữ lên các ngônngữ Hans Vogt đã công bố một bài báo nghiên cứu về hiện tượng chuyển mã songngữ năm 1954 Tác giả cho rằng, chuyển mã, bản thân nó có lẽ không phải là mộthiện tượng ngôn ngữ học mà là hiện tượng tâm lý học, và nguyên nhân của hiệntượng này rõ ràng đến từ bên ngoài ngôn ngữ Từ lập luận trên, tác giả nhận địnhchuyển mã không những là một hiện tượng ngôn ngữ tự nhiên mà còn là hiệntượng ngôn ngữ - xã hội phổ biến ("Code Switching" in Sociocultural linguistics,2006).
Trong khi Myers – Scotton và các cộng sự nghiên cứu mô hình đánh dấuvới mong muốn có thể lý giải hiện tượng chuyển mã một cách khái quát và có hệthống thì các nghiên cứu thuộc lĩnh vực khác như ngôn ngữ học nhân học(linguistic anthropology), ngôn ngữ học xã hội (sociolinguistic) và các lĩnh vựcnghiên cứu liên quan của ngôn ngữ học xã hội cũng cung cấp những kiến thứcchung về hiện tượng chuyển mã trong những văn cảnh cụ thể Nhà dân tộc học tiêubiểu là Monica Heller xem xét hiện tượng chuyển mã như một chiến lược giao tiếpchính trị Tác giả lý giải rằng ngôn ngữ có xu hướng liên kết các tình huống củangười nói, do đó họ sử dụng nhiều ngôn ngữ trong cùng một cuộc giao tiếp và điềunày cho phép người nói sử dụng nhiều ngôn ngữ trong cùng một cuộc giao tiếp vàđạt được nhiều mục đích giao tiếp hơn.(Nguyễn, 2017)
Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra được một số nguyên nhân dẫn đến việcchêm tiếng Anh trong cuộc sống hàng ngày của giới trẻ nhưng chưa thấy được sự
rõ ràng của ảnh hưởng lên các mối quan hệ xã hội của người sử dụng ngôn ngữchêm xen tiếng Anh
Trang 64 Mục đích nghiên cứu
Đề tài của chúng tôi nhằm nghiên cứu những vấn đề sau:
Mục đích nghiên cứu là ứng dụng một số phương pháp nghiên cứu đểnghiên cứu tìm ra nguyên nhân sinh viên trường Đại học Khoa học và Xã hội Nhânvăn sử dụng chêm xen tiếng anh vào trong giao tiếp hàng ngày Đồng thời để điềutra những động cơ, những đặc điểm xã hội và thái độ ngôn ngữ có ảnh hưởnghưởng trực tiếp đến hành vị trộn mã của họ
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thống kê, phân loại, mô tả những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng trộn mãcủa sinh viên Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn Hà Nội
Điều tra thái độ của sinh viên từ cả hai điểm nhìn: chủ thể trộn mã và đốitượng tiếp nhận hiện tượng trộn mã
6 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các hội thoại tự nhiên của sinh viên có đan xen tiếngAnh
Khách thể nghiên cứu: Sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhânvăn Hà Nội
7 Mẫu khảo sát
Mẫu khảo sát: Chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng
Chọn đối tượng khảo sát là sinh viên các trường Đại học Khoa học và Xã hội Nhân văn Hà Nội
8 Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội
Nội dung nghiên cứu: Hiện tượng chêm xen tiếng Anh trong giao tiếp hàng ngày của sinh viên Nhân văn Hà Nội
Trang 79 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu chính: Hiện tượng chêm xen tiếng Anh trong giao tiếp
của sinh viên trường đại học Nhân văn Hà Nội đang diễn ra như thế nào?
Câu hỏi nghiên cứu phụ:
Hoàn cảnh giao tiếp: Chêm tiếng anh vào trong giao tiếp diễn ra ở đâu (nhàtrường, nơi làm việc, ở nhà)
Chủ đề giao tiếp: Các từ ngữ tiếng Anh nào được sinh viên chêm vào
trong giao tiếp? Tần số sử dụng những từ đó ra sao? Tại sao lại xảy ra hiện tượngchêm tiếng Anh trong giao tiếp của sinh viên?
Người tham gia: Chêm tiếng Anh vào trong giao tiếp với ai?, cảm
nhận của người tham gia như thế nào?
10 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập ngữ liệu: Đối tượng nghiên cứu được thu thập là các
từ ngữ chêm xen tiếng Anh Những bài phỏng vấn sâu và 100 bảng hỏi được phátngẫu nhiên
Cách thức thống kê số liệu, thống kê bằng phương pháp thủ công, ghi lạibằng trình bày bằng bảng, tính toán và xây dựng số liệu thống kê
Phương pháp điều tra bảng hỏi: Sử dụng phương phấp điều tra ngôn ngữ
học xã hội với bảng hỏi: Bảng hỏi về hiện tượng chêm xen – trộn mã tiếng Anhtrong giao tiếp hàng ngày
Phương pháp điền dã và phỏng vấn sâu: Dự kiến phỏng vấn một số sinh
viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội về nguyên nhân chêmxen tiếng Anh trong đời sống hàng ngày
Trang 8PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨUChương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu hiện tượng chêm xen ngôn ngữ trên thế giới
Từ nửa sau thế kỉ XX, các nhà Xã hội học đã nghiên cứu và lí giải một cách
có hệ thống những diễn biến, biến động ngôn ngữ dưới tác động của nhân tố xãhội Khoa học Xã hội lấy ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày là đối tượng nghiên cứu cụthể là các biến thể ngôn ngữ đa dạng nảy sinhm phát triển trong xã hội nhằm xử lícác vấn đề phát sinh và định hướng sử dụng ngôn ngữ Có thể kể đến những công
trình nghiên cứu Khoa học Xã hội có tính chất nền tảng như The Sociolinguistics
of Society, Bản dịch Xã hội – Ngôn ngữ học của xã hội của Fasold xuất bản lần đầu
năm 1984, “xem xét những mối quan hệ mật thiết giữa nghiên cứu xã hội – ngônngữ học với nghiên cứu ngôn ngữ và lý thuyết ngôn ngữ học, giới thiệu một cáchđầy đủ, bằng một cách viết rõ ràng, toàn bộ lĩnh vực xã hội – ngôn ngữ học”1 Tác
phẩm An Introduction to Sociolinguistics - Dẫn luận ngôn ngữ xã hội học của
Wardhaugh xuất bản lần đầu năm 1986, tái bản lần thứ năm năm 20062, đã nêu racác vấn đề khái quát như dẫn luận về ngôn ngữ xã hội học Các nhà nghiên cứu đặcbiệt quan tâm đến mối quan hệ và sự chi phối của các nhân tố xã hội đến việc lựachọn và sử dụng ngôn ngữ, như giai cấp, độ tuổi, giới tính, nguồn gốc, trình độ họcvấn… với việc lựa chọn sử dụngngôn ngữ Có thể kể đến những công trình tiêu
biểu như The Study of Language in Its Social Context của Labov (1970), Language
in Social groups của Gumperz (1971), Language and Women’s place (1975) của Lakoff, Age as a Sociolinguistic variable của Eckert (1998)… Các công trình
nghiên cứu này đã khẳng định có mối quan hệ tác động giữa các nhân tố xã hội,đặc biệt là nhân tố tuổi tác đối với sự sử dụng ngôn ngữ Các công trình nghiên cứuKhoa học Xã hội này đã đặt nền tảng cho các nghiên cứu về ngôn ngữ của giới trẻsau này
Trang 9Fasold Ralph (bản dịch 1995), Xã hội – Ngôn ngữ học của xã hội, Viện Ngôn ngữ học
2 Wardhaugh Ronal (the fifth edition) (2006), An introduction to Sociolinguistics, Blackwell
Trang 101.1.2 Tình hình nghiên cứu hiện tượng chêm xen ngôn ngữ trong nước
Ở Việt Nam, công trình có ý nghĩa lý luận, đặt nền tảng cho nghiêncứu NNHXH có thể kể đến là Ngôn ngữ học xã hội của Nguyễn Văn Khang, xuấtbản lần đầu năm 1999, tái bản 2012, cung cấp những vấn đề khái quát về lý thuyếtcũng như thực tiễn của nghiên cứu ngôn ngữ xã hội học ở Việt Nam Trong đó tácgiả đã đề cập đến vấn đề thời sự của tiếng Việt hiện nay là ngôn ngữ xã hội họctương tác, ngôn ngữ mạng, sự lựa chọn ngôn ngữ trong giao tiếp… Cùng với Ngônngữ học xã hội, Nguyễn Văn Khang còn có những công trình khác liên quan đếnnghiên cứu của chúng tôi, như Tiếng lóng Việt Nam năm 2001, khảo sát hệ thốngtiếng lóng, là biệt ngữ xã hội xuất hiện dưới tác động và nhu cầu xã hội; Từ ngoạilai trong tiếng Việt năm 2007 khảo sát hoạt động của hệ thống từ có nguồn gốcnước ngoài trong từ vựng tiếng Việt từ góc độ của ngôn ngữ xã hội học Ngoàinhững công trình có tính khái quát và lý luận như trên, Nguyễn Văn Khang còn cónhiều bài viết bàn về những biến động của tiếng Việt trong bối cảnh mới như Biếnđộng của tiếng Việt hiện nay qua giao tiếp trộn mã tiếng Anh và việc xử lí chúngvới tư cách là đơn vị từ vựng trong từ điển tiếng Việt (2014), Giáo dục ngôn ngữ ởViệt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa (2015), Tiếng Việt trong bối cảnh thốngnhất đất nước, hội nhập và phát triển (2015)… nhận diện một tiếng Việt phát triển,năng động, đầy sức sống trong bối cảnh xã hội mới Trong đó, tác giả cũng đã đềcập đến “ngôn ngữ tuổi teen” của tiếng Việt - thứ biến thể ngôn ngữ mà đang được
cả xã hội quan tâm, gắn với cộng đồng tuổi mới lớn, ngôn ngữ mạng gắn với cộngđồng mạng, “đã có vài một yếu tố ngôn ngữ của các cộng đồng xã hội này đã “âmthầm” du nhập vào tiếng Việt chung” Ở Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiêncứu biến thể ngôn ngữ dưới tác động của các nhân tố xã hội như Ngôn từ, giới,nhóm xã hội từ thực tiễn tiếng Việt" của Lương Văn Hy năm 2000, Một số vấn đề
về phương ngữ xã hội của Trần Thị Ngọc Lang năm 2005, Mối quan hệ giữa thái
độ ngôn ngữ và sự lựa chọn ngôn ngữ (nghiên cứu trường hợp cộng đồng phươngngữ Bắc tại thành phố Hồ Chí Minh (2012), Thái độ ngôn ngữ đối với những hiệntượng biến đổi trong tiếng Việt trên mạng Internet hiện nay (2014) của Trịnh Cẩm
Trang 11Lan… Các công trình này đã mở ra một hướng nghiên cứu mới về các biến thểngôn ngữ đa dạng, phong
Trang 12phú nảy sinh trong tiếng Việt dưới sự chi phối của các nhân tố như giới tính, nhóm
xã hội, cộng đồng giao tiếp, nguồn gốc, hoàn cảnh sống, trình độ học vấn, tuổitác… Những công trình này có thể nói cho đến thời điểm hiện tại đã cung cấp mộtcái nhìn đa chiều, đa góc độc về hiện tượng biến đổi ngôn ngữ giới trẻ trong tiếngViệt
1.2 Cơ sở lí luận
Mã và sự chuyển mã trong giao tiếp
Trong phần này chúng tôi trình bày về (1) Khái niệm mã, (2) Sự lựa chọnngôn ngữ trong giao tiếp, (3) Các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn ngôn ngữ
Một vài vấn đề tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Việt với tiếng Anh ở Việt Nam
Với sự hội nhập mạnh mẽ của Xã hội, tiếng Anh đi sâu vào đời sống củamọi người, nên có thể thấy sự biến đổi, giao nhau giữa tiếng Anh và tiếng Việttrong đời sống như giải trí, văn hóa, đặc biệt là công nghệ thông tin Với sự biểnđổi của văn hóa, du nhập tiếng Anh là điều tất yế
Tiểu kết chương 1
Qua phần tổng quan trên, ta có thể thấy vấn đề chêm ngôn ngữ ngoại lại vàongôn ngữ mẹ đẻ là vấn đề quen thuộc đối với mỗi quốc gia Tại nước ngoài, nhữngvấn đề nghiên cứu đã có thành tựu đáng kể Ở Việt Nam tuy đã có nhiều công trìnhnghiên cứu nhưng chưa thực sự đi sâu vào tìm hiểu vấn đề, còn nói chung chung,khái quát