Cũng trong năm 1991, Chính phủ ban hành Nghị định số 370/HĐBT, thay đổi cơ chế quản lý trong hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam, cụ thể là: chuyển hoạt động xuất khẩu lao động san
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THÙY LINH
Hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
cá nhân Các tư liệu được sử dụng trong luận án là trung
thực, có nguồn gốc rõ ràng Tôi xin chịu trách nhiệm
hoàn toàn về các kết quả nghiên cứu của luận án
Tác giả
Nguyễn Thùy Linh
Trang 3Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu 3
3 Nhiệm vụ 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của luận án 6
7 Bố cục 7
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 8
1.1 Tình hình nghiên cứu 8
1.1.1 Nghiên cứu bối cảnh quốc tế và hoạt động xuất khẩu lao động tại các quốc gia trên thế giới 8
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động, cách thức tổ chức, sử dụng lao động xuất khẩu 12
1.1.3 Nghiên cứu về hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam 14
1.1.4 Nghiên cứu về tác động của xuất khẩu lao động đối với Việt Nam 19
1.2 Đánh giá, nhận xét và những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết 23
1.2.1 Đánh giá, nhận xét về kết quả nghiên cứu đã có 23
1.2.2 Những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết 24
Chương 2: NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2016 25
2.1 Hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam trước năm 1991 25
2.2 Bối cảnh quốc tế 29
Trang 4xuất khẩu lao động từ năm 1991 đến năm 2016 48
Tiểu kết chương 2 57
Chương 3: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2016 59
3.1 Về hệ thống quản lý 59
3.2 Về hình thức xuất khẩu lao động 64
3.2.1 Doanh nghiệp và tổ chức sự nghiệp xuất khẩu lao động 64
3.2.2 Đấu thầu và đầu tư ra nước ngoài 67
3.2.3 Hợp đồng cá nhân 68
3.2.4 Tu nghiệp sinh và thực tập nâng cao tay nghề 68
3.3 Về số lượng lao động xuất khẩu tại các thị trường 70
3.4 Một số thị trường xuất khẩu lao động 77
3.4.1 Khu vực Đông Bắc Á 78
3.4.2 Khu vực Đông Nam Á 90
3.4.3 Thị trường Trung Đông và châu Phi 96
3.4.4 Thị trường châu Âu, châu Mỹ và châu Đại Dương 99
3.5 Về cơ cấu xuất khẩu lao động 100
3.5.1 Cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn và ngành nghề 100
3.5.2 Cơ cấu lao động theo giới tính 104
3.5.3 Cơ cấu lao động theo vùng miền, địa phương 105
Tiểu kết chương 3 110
Chương 4: TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG ĐẾN KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM 111
4.1 Tác động kinh tế 111
4.1.1 Xuất khẩu lao động góp phần tăng trưởng kinh tế đối ngoại 111
Trang 54.1.3 Xuất khẩu lao động góp phần tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước 119
4.1.4 Xuất khẩu lao động góp phần tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao 124
4.1.5 Xuất khẩu lao động đem lại nhiều nguồn lợi cho Nhà nước 126
4.1.6 Xuất khẩu lao động góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới 128
4.2 Tác động xã hội 131
4.2.1 Giải quyết vấn đề việc làm 131
4.2.2 Cải thiện đời sống, góp phần xóa đói giảm nghèo 133
4.2.3 Góp phần chuyển biến xã hội 140
4.3 Một số vấn đề còn tồn tại 141
Tiểu kết chương 4 146
KẾT LUẬN 147
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 151
PHỤ LỤC 1
Trang 6Từ viết tắt Tên đầy đủ Tên Tiếng Việt
WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới WHO World Health Organization Tổ chức Y tế thế giới
ASEAN Association of South East
Asian Nations
Hiệp hội các nước Đông Nam
Á NATO North Atlantic Treaty
Organization
Hiệp ước quân sự Bắc Đại Tây Dương
Ngân hàng phát triển châu Á
among
Hiệp định đối tác kinh tế
Index
Chỉ số phát triển con người
FDI Foreign direct investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 7Bảng 2.1 Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam tại các nước xã hội
chủ nghĩa, giai đoạn 1980 – 1990 26
Bảng 2.2 Thống kê dân số và lực lượng lao động Việt Nam 41
Bảng 2.3 Tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam (1998-2016) 43
Bảng 2.4 Tỉ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm của Việt Nam (2008-2016) 46
Bảng 3.1 Số đơn vị được cấp phép đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài 65
Bảng 3.2 Lao động Việt Nam tại một số thị trường chính 71
Bảng 3.3 Thống kê lao động Việt Nam tại Đông Bắc Á (1992-2016) 81
Bảng 3.4 Thống kê lao động Việt Nam làm việc tại ASEAN (2008-2016) 91
Bảng 3.5 Dân số một số nước Trung Đông 97
Bảng 3.6 Số lượng lao động xuất khẩu Việt Nam tại châu Âu, châu Mỹ và châu Đại Dương 99
Bảng 3.7 Cơ cấu lao động xuất khẩu theo trình độ chuyên môn 100
Bảng 3.8 Số lượng trường dạy nghề (2011-2016) 102
Bảng 3.9 Cơ cấu lao động xuất khẩu theo ngành nghề 103
Bảng 3.10 Thống kê lao động Việt Nam xuất khẩu theo địa phương 105
Bảng 3.11 Số đơn vị được cấp phép đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài phân theo vùng miền 108
Bảng 4.1 Thống kê GDP và một số lĩnh vực thuộc kinh tế đối ngoại (tỷ USD) 111
Bảng 4.2 Thống kê mức phí đặt cọc của lao động Việt Nam xuất khẩu (giai đoạn 2001-2016) 115
Bảng 4.3 Thống kê ước tính nguồn thu từ số người xuất khẩu lao động của ngành hàng không Việt Nam hàng năm (giai đoạn 2001-2016) 116
Trang 8Bảng 4.5 Số tiền lao động xuất khẩu tích lũy được (khảo sát tại xã Kì
Châu – huyện Kì Anh – tỉnh Hà Tĩnh) 118 Bảng 4.7 Thống kê tổng mức phí dịch vụ lao động xuất khẩu tại các
thị trường 127 Bảng 4.8 Lực lượng xuất khẩu lao động và lực lượng lao động được
giải quyết việc làm tại Việt Nam giai đoạn 1996 – 2016 132 Bảng 4.9 Thống kê thu nhập tại các thị trường xuất khẩu lao động 134 Bảng 4.11 Thống kê đồ dùng sinh hoạt tại các gia đình có người đi xuất
khẩu lao động tại xã Phú Nghĩa – huyện Chương Mỹ - TP
Hà Nội và xã Kì Châu – huyện Kì Anh – Tỉnh Hà Tĩnh 137 Bảng 4.12 Số liệu thống kê khảo sát thực tế chuyển biến lĩnh vực kinh tế
tại xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội (năm 2015) 140
Trang 9
Biểu đồ 2.1 Thu nhập GNI/người tại một số nước châu Á 32
Biểu đồ 2.2 GDP và tăng trưởng GDP giai đoạn 1991-2016 40
Biểu đồ 2.3 Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam (1990-2016) 44
Biểu đồ 3.1 Các hình thức xuất khẩu lao động các năm 2003, 2009, 2015 69
Biểu đồ 3.2 Số lao động xuất khẩu giai đoạn 1991-2016 70
Biểu đồ 3.3 Số lao động Việt Nam làm việc tại Đài Loan (1997-2016) 84
Biểu đồ 3.4 Số lao động xuất khẩu Việt Nam tại Nhật Bản (1993-2016) 86
Biểu đồ 3.5 Số lượng lao động xuất khẩu Việt Nam sang Hàn Quốc 89
Biểu đồ 3.6 Số lao động Việt Nam tại thị trường Malaysia (2002-2016) 92
Biểu đồ 3.7 Số lượng lao động xuất khẩu Việt Nam sang Lào (1992 – 2016) 95
Biểu đồ 3.8 Lao động Việt Nam tại Trung Đông và châu Phi 98
Biểu đồ 4.1 Lượng kiều hối (chung) và kiều hối từ xuất khẩu lao động của Việt Nam giai đoạn 1998 – 2015 119
Trang 10
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình phát triển kinh tế, bên cạnh nguồn vốn và công nghệ, lao động là một trong ba yếu tố quan trọng trong đầu vào của sản xuất hiện đại Để tối ưu hóa sản xuất trong điều kiện khoa học công nghệ phát triển và quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới, các dòng lao động được sắp xếp, phân công lại trên quy mô toàn cầu Sự phát triển và phân bố không đồng đều về tài nguyên, dân cư, kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ giữa các vùng, khu vực và giữa các quốc gia trong thời đại toàn cầu hóa, dẫn đến không quốc gia nào có đầy đủ các yếu tố cần thiết cho sản xuất và phát triển kinh tế Để giải quyết tình trạng trên, xuất khẩu lao động là hoạt động liên tục để cân bằng sức sản xuất Đây là một xu thế của thời đại mà khó có nước nào có thể đứng ngoài cuộc khi có điều kiện
Các nước có nhiều lao động xuất khẩu thường là các nước đang phát triển, vì có dân số đông, thu nhập thấp, không có việc làm hoặc việc làm bấp bênh, không ổn định, chất lượng cuộc sống thấp Những nguyên nhân trên thúc đẩy người lao động tìm đến môi trường làm việc ngoài nước nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống Các nước kinh tế phát triển thường xuất khẩu lao động trình độ cao, có trình độ chuyên môn, kĩ thuật – tay nghề cao, trong khi dân số trong nước già, tốc độ tăng dân số chậm, không
đủ nhân lực để đáp ứng nhu cầu sản xuất, hoặc do công việc nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm, thu nhập thấp… nên không hấp dẫn lao động của chính nước họ, gây tình trạng thiếu lao động Để giải quyết khó khăn ấy, các nước này thuê lao động từ nước ngoài về làm việc
Xuất khẩu lao động động đem lại lợi ích kinh tế, cân bằng sản xuất,
ổn định xã hội cho các quốc gia, kể cả nước xuất khẩu lao động và nước nhận lao động
Trang 11Trong bối cảnh lịch sử mới từ sau năm 1991, Việt Nam có nhiều cơ hội để phát huy tiềm năng, thế mạnh của mình khi tham gia xuất khẩu lao động, hội nhập vào quá trình phân công lao động quốc tế Đối với Việt Nam, xuất khẩu lao động không chỉ trực tiếp góp phần làm tăng thêm nguồn thu ngoại tệ cho đất nước, đẩy lùi lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng GDP, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mà còn góp phần ổn định An sinh xã hội, giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, cải thiện chất lượng cuộc sống của người lao động, đồng thời tăng cường quan hệ giữa Viêt Nam với các nước trên thế giới Thực tế cho thấy, xuất khẩu lao động phản ánh công cuộc đổi mới đang diễn ra hay nói cách khác, hoạt động này là bức tranh thu nhỏ của công cuộc đổi mới: từ chính sách đối ngoại, kinh tế đối ngoại, hợp tác quốc tế, cơ chế quản lý, kinh
tế thị trường, nền kinh tế có nhiều thành phần, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội, cải thiện đời sống nhân dân, thực hiện công bằng xã hội Chính vì vậy tìm hiểu về hoạt động xuất khẩu lao động góp phần làm sáng rõ hơn, cụ thể hơn quá trình đổi mới của Việt Nam trong 30 năm qua
Mặc dù đạt được những kết quả đáng kể, tuy nhiên hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam vẫn tồn tại nhiều hạn chế như: chất lượng lao động Việt Nam còn thấp - đây là vấn đề sống còn trong xuất khẩu lao động của Việt Nam trong những năm tới vì sự cạnh tranh quyết liệt, cũng như thị trường lao động phổ thông tay nghề thấp của thế giới đang dần mất đi Hơn nữa xuất khẩu lao động chất lượng thấp không mang lại hiệu quả kinh tế cao
cả về trước mắt cũng như lâu dài Cơ chế và trình độ quản lý của Nhà nước và doanh nghiệp còn nhiều bất cập; tình trạng lao động bỏ trốn và vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động sau khi về nước,…
Tuy vậy, m i bài học dù thành công hay chưa thành công đều vô cùng quý giá cho những bước phát triển tiếp theo Thấy được những hạn chế là cơ
sở tiền đề để khắc phục nó, vì vậy, xuất khẩu lao động trong giai đoạn
Trang 121991-2016 là bước đi đầu tiên, đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển của hoạt động xuất khẩu lao động ở giai đoạn sau
Xuất phát từ những lí do trên, lựa chọn vấn đề " Hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2016" làm đề tài luận án có ý nghĩa
khoa học và thực tiễn
2 Mục tiêu
Mục tiêu của luận án là tập trung làm rõ những vấn đề cơ bản của xuất khẩu lao động Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2016, góp phần làm rõ hơn hoạt động kinh tế đối ngoại trong thời kỳ đổi mới; do đó giúp có cái nhìn toàn diện hơn về công cuộc đổi mới ở Việt Nam do Đảng Cộng Sản Việt Nam khởi xướng từ năm 1986
Nghiên cứu tình hình xuất khẩu lao động trong 25 năm (từ năm 1991 đến năm 2016), bao gồm: thị trường, trình độ lao động, hình thức xuất khẩu lao động, cơ chế quản lý, về tổ chức của hoạt động xuất khẩu lao động dưới tác động của các yếu tố quốc tế và trong nước Khái quát thực trạng của hoạt động xuất khẩu lao động, những thành tựu nổi bật nhất, những hạn chế còn đang tồn tại trong sự phát triển
Tìm hiểu những đóng góp của xuất khẩu lao động Việt Nam đối với sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước và sự hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI
So sánh những điểm khác biệt của hoạt động xuất khẩu lao động giai đoạn 1991 – 2016 với giai đoạn 1980-1990
Trang 134 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là lĩnh vực xuất khẩu lao động trong hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2016 Đề tài chỉ nghiên cứu xuất khẩu lao động chính thức (được Nhà nước cấp phép), lao động xuất khẩu theo hợp đồng, có thời hạn; không nghiên cứu xuất khẩu lao động chui (tiểu ngạch), di cư tự do
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Luận án nghiên cứu hoạt động xuất khẩu lao động của
Việt Nam trong khoảng thời gian từ những năm 1991 đến năm 2016
Năm 1991, sự tan rã của Liên Xô và sụp đổ hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, cùng với khủng hoảng vùng Vịnh khiến cho lao động xuất khẩu Việt Nam mất đi những thị trường quan trọng Sau đó, Nhà nước phải chuyển hướng thị trường sang khu vực Đông Bắc Á Cũng trong năm 1991, Chính phủ ban hành Nghị định số 370/HĐBT, thay đổi cơ chế quản lý trong hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam, cụ thể là: chuyển hoạt động xuất khẩu lao động sang cơ chế thị trường, hợp tác quốc tế trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, vì lợi ích quốc gia, nhằm giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho người lao động và tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước; góp phần tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế - văn hoá khoa học kỹ thuật giữa Việt Nam với những nước đã sử dụng lao động
Năm 2016, là dấu mốc 30 năm Việt Nam đổi mới toàn diện đất nước, cũng là vừa tròn 25 năm hoạt động xuất khẩu lao động kể từ Nghị định số 370/HĐBT
Về không gian: Luận án tập trung vào quá trình xuất khẩu lao động
giữa Việt Nam và các nước tiếp nhận lao động Việt Nam
Về nội dung: Luận án nghiên cứu về hoạt động xuất khẩu lao động của
Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2016 Cụ thể, đối với các nhân tố tác động
Trang 14tới hoạt động xuất khẩu lao động, luận án tập trung phân tích những chuyển biến của tình hình thế giới và Việt Nam từ thập niên 90 của thế kỉ XX đến năm 2016, tiếp đó khái quát những chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước đối với hoạt động kinh tế này; đối với thực trạng của hoạt động xuất khẩu lao động, luận án khái quát những vấn đề như hình thức, số lượng, thị trường, cơ cấu lao động xuất khẩu; đối với tác động của hoạt động xuất khẩu lao động, luận án tập trung phân tích tác động kinh tế và xã hội, vì đó là những tác động nổi bật nhất của xuất khẩu lao động đến sự phát triển chung của Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Để thực hiện nghiên cứu, luận án đã khai thác nguồn tài liệu tiếng Việt
và tiếng Anh, trong đó bao gồm:
Văn kiện của Đảng và Nhà nước gồm: Các nghị quyết, nghị định, văn bản luật
Tài liệu lưu trữ: các báo cáo kinh tế - xã hội hàng năm của Việt Nam, các thống kê của Tổng cục thống kê, Cục quản lý lao động ngoài nước – Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội, Ngân hàng thế giới
Tài liệu tham khảo là các công trình khoa học, chuyên khảo, các bài viết tạp chí, các bài báo trên các website đã được công bố có liên quan đến luận án
Bên cạnh đó, đề tài của Luận án sử dụng Tư liệu điền dã, điều tra xã hội học tại các địa phương: xã Kì Châu (huyện Kì Anh, tỉnh Hà Tĩnh), xã Hương Ngải (huyện Thạch Thất, TP Hà Nội) và xã Phú Nghĩa (huyện
Chương Mĩ, TP Hà Nội)
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án là một đề tài nghiên cứu thuộc chuyên ngành lịch sử Việt Nam, được tiến hành dựa trên cơ sở phương pháp luận Mác-xít trong nghiên cứu lịch sử
Trang 15Luận án sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic là phương pháp nghiên cứu chủ đạo Trong đó, phương pháp lịch sử được sử dụng trong việc thu thập, khảo cứu tài liệu từ các nguồn khác nhau để khái quát hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam trong 25 năm (1991-2016) Phương pháp logic được sử dụng sau khi khái quát sự chuyển biến của hoạt động xuất khẩu lao động, rút ra cái nhìn tổng quan về bức tranh xuất khẩu lao động thời đổi mới, các nhân tố thúc đẩy sự chuyển biến, tác động và ảnh hưởng của sự chuyển biến đó đến kinh tế - xã hội Việt Nam Bên cạnh đó, luận án còn sử dụng các phương pháp phân tích, thống kê, so sánh,…
Luận án cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành, kết hợp phương pháp nghiên cứu lịch sử với phương pháp điền dã, nghiên cứu xã hội học, kinh tế học khi nghiên cứu về hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam trong giai đoạn 1991-2016 Các phương pháp này giúp cho việc thu thập, phân tích số liệu định tính và định lượng để đưa đến các kết quả nghiên cứu
Luận án bước đầu rút ra những nét khác biệt của xuất khẩu lao động ở giai đoạn 1991-2016 so với giai đoạn trước năm 1991 và một số tác động của hoạt động xuất khẩu lao động đối với sự phát triển kinh tế và xã hội của Việt Nam qua đó góp phần đánh giá vị trí, vai trò của xuất khẩu lao động Việt Nam trong tiến trình phát triển của đất nước cũng như hội nhập quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra ngày càng sâu và rộng
Luận án cung cấp một cơ sở thực tiễn cho các nhà hoạch định chính
Trang 16sách, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ xuất khẩu lao động có những quyết sách hiệu quả hơn cho hoạt động xuất khẩu lao động trong giai đoạn tiếp theo
Bên cạnh đó, luận án cung cấp nguồn tư liệu tương đối đầy đủ và hệ thống cho những ai quan tâm đến hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam trong những năm đổi mới và luận án có thể xây dựng thành một chuyên đề giảng dạy về lịch sử Việt Nam hiện đại nhất là lịch sử Việt Nam thời kỳ đổi mới trong các trường đại học, cao đẳng và các trường phổ thông
7 Bố cục
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục Nội dung của luận án được chia làm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Chương 2: Những yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2016
Chương 3: Tình hình hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam từ năm
1991 đến năm 2016
Chương 4: Tác động của hoạt động xuất khẩu lao động đến kinh tế - xã hội Việt Nam
Trang 17Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1 Tình hình nghiên cứu
1.1.1 Nghiên cứu bối cảnh quốc tế và hoạt động xuất khẩu lao động tại các quốc gia trên thế giới
1.1.1.1.Nghiên cứu bối cảnh quốc tế
Cuốn “Hội nhập kinh tế khu vực của một số nước ASEAN” (2002) của
tác giả Nguyễn Thị Hiền đã phân tích bối cảnh của khu vực Đông Nam Á trong xu thế mới, đó là xu thế hội nhập Từ những năm 90 của thế kỉ XX, những bất đồng về chính trị giữa các nước ASEAN đã được giải tỏa, cả khối
có nhiều mối quan hệ song phương và đa phương bền vững Việc hội nhập vào nền kinh tế chung của khu vực là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế giữa các nước ASEAN và tạo thuận lợi cho xuất khẩu lao động của Việt Nam trong nội khối
Tác giả Võ Văn Đức với bài viết “Tác động của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đối với thị trường lao động Việt Nam” (2004) trên tạp
chí Kinh tế và phát triển đã phân tích bối cảnh mới của thế giới là xu thế toàn cầu hóa, đó là xu thế tất yếu không thể đảo ngược, lôi cuốn nhiều quốc gia Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế là thời cơ để lao động Việt Nam tìm kiếm việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống
Tác giả Nguyễn Lương Trào với bài viết “Tác động của toàn cầu hóa đến thị trường lao động ngoài nước” (2009) trên Tạp chí lao động đã phân
tích bối cảnh toàn cầu hóa với những thuận lợi và khó khăn đối với các nước
có nhu cầu tiếp nhận lao động, qua đó khẳng định di cư lao động là tất yếu, các cuộc khủng hoảng và sự phát triển kinh tế trong bối cảnh hội nhập có ảnh hưởng lớn đến nguồn lao động từ các nước đang phát triển
Tác giả Nguyễn Quang Hồng với bài viết “Xuất khẩu lao động trong bối
Trang 18cảnh khủng hoảng kinh tế và một số giải pháp” (2009) trên Tạp chí lao động
xã hội và “Nâng cao năng lực cạnh tranh trong xuất khẩu lao động Việt Nam thời kì hội nhập” (2012) trên Tạp chí nghiên cứu kinh tế đã phân tích bối
cảnh hội nhập kinh tế của Việt Nam, trong đó phân tích sâu về cuộc khủng hoảng 2008 tới nhiều nền kinh tế - trong đó có những thị trường tiếp nhận lao động Việt Nam, đồng thời chỉ ra những thuận lợi và khó khăn của lao động Việt Nam trong quá trình hội nhập, từ đó đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của lao động Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Cuộc khủng hoảng về thị trường lao động Đông Nam Á được tác giả
John Walsh (2010) viết trong bài “Impacts of the current economic crisis on Southeast Asian labour market” (tạm dịch là: Tác động của cuộc khủng hoảng
kinh tế hiện nay đối với thị trường lao động Đông Nam Á) đăng trên Business and Economic Horizons đã nêu được tình trạng chung của các nước Đông Nam Á trên con đường phát triển kinh tế, đó là sự đa dạng quốc gia và sự tồn tại của chủ nghĩa thực dân trước đây Sau đó các nước đã điều chỉnh chiến lược phát triển kinh tế của đất nước mình bằng khẩu hiệu “công nghiệp hóa hướng ra xuất khẩu” Một trong những vấn đề quan trọng là xuất khẩu nguồn lao động ra nước ngoài
1.1.1.2 Công trình nghiên cứu về hoạt động xuất khẩu lao động của các quốc gia trên thế giới
Tác giả Chinglung Tsay (2002) và bài viết Labor migration and regional changes in East Asia: outflows of Thai workers to Taiwan (tạm dịch
là: di cư lao động và thay đổi ở khu vực Đông Á: dòng người lao động Thái Lan đến Đài Loan) đăng trên Southeast Asian Studiens đã khái quát nền kinh
tế Thái Lan tăng trưởng mạnh mẽ trong vài thập kỉ qua, đặc biệt trong khoảng
từ năm 1985-1995, trong khoảng thời gian này, Thái Lan không chỉ tiếp nhận lao động đến mà còn đẩy mạnh xuất khẩu lao động ra nước ngoài Người lao
Trang 19động Thái bắt đầu di chuyển ra nước ngoài từ những năm 1970, đến vùng Vịnh, sau đó dịch chuyển sang Đông Á, đặc biệt là Nhật Bản (từ những năm 1980), Đài Loan (những năm 1990) Bài viết cũng đã đề cập tới thu nhập, điều kiện sống và làm việc, phân tích những tác động của sự liên kết Thái Lan
Bài viết “Di cư lao động Việt Nam: các vấn đề chính sách và thực tiễn” (Labour migration from Vietnam: Issues of Policy and Practice) của Dang
Nguyen Anh đăng trên Regional Office for Asia and the Pacific (2008) đã nêu
ra tầm quan trọng của di cư lao động quốc tế trong sự phát triển của Đông Á
từ những năm 80 của thế kỉ XX Sự khác biệt về mức lương, cơ hội việc làm dẫn tới sự dịch chuyển lao động từ các nước có thu nhập thấp sang các nước
có thu nhập cao Bài viết cũng dự đoán, trong tương lai, di cư lao động quốc
tế có khả năng tăng, trở thành hiện tượng toàn cầu Xuất khẩu lao động đem lại sự linh hoạt, việc làm, thu ngoại tệ tối đa, vì những lẽ này nhiều quốc gia
đã tích cực khuyến khích xuất khẩu lao động, và chính phủ có vai trò tuyển dụng, triển khai, giám sát hoặc thành lập các cơ sở quản lí lao động
Bài viết của tác giả Amarjit Kaur với bài viết “Labor crossingsin southeast Asia linking historical and contemporary labor migration” (tạm
dịch là: Lao động qua Đông Nam Á kết nối di cư lao động lịch sử và đương đại) trên New Zealand Jounnal of Asian Studies (2009) đã tiếp cận vấn đề lao động di cư từ góc độ lịch sử, nhận xét về các hệ thống kết nối lực lượng lao
Trang 20động ở châu Á và việc kiểm soát biên giới của các nước (thuộc địa) trước năm
1940 Khái quát sự đa dạng về kinh tế, xã hội và thể chế giữa các nước Đông Nam Á từ những năm 80s của thế kỉ XX, chứng minh bằng các dòng lao động
và chính sách của nhà nước về di cư lao động Cuối bài viết, tác giả tập trung vào trường hợp Malaysia như một ví dụ để phác họa mối liên hệ giữa các vấn
đề lao động di cư trong giai đoạn hiện nay
Bài viết “Di chuyển lao động chuyên môn cao quốc tế: xu hướng và tác động” (2010) của tác giả Phạm Thị Thanh Bình đã phân tích xu hướng chung
của thế giới trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế là di chuyển lao động giữa các nước có sự chênh lệch trong phát triển kinh tế, mà ở bài viết này tác giả tập trung phân tích bộ phận lao động có trình độ chuyên môn, kĩ thuật cao
Sự di chuyển này trong giai đoạn những năm 90 thường từ các nước đang phát triển sang Mỹ, Canada, Úc, Anh nhằm học hỏi khoa học công nghệ Từ những năm 2000, do toàn cầu hóa nên quá trình di chuyển lao động chuyên môn cao tăng lên về số lượng, tốc độ và theo hai chiều: từ các nước đang phát triển đến các nước phát triển và ngược lại Đồng thời, bài viết cũng phân tích nguyên nhân của hiện tượng trên, đề xuất giải pháp hạn chế di chuyển lao động chuyên môn cao nhằm giảm bớt hiện tượng “chảy máu chất xám” tại nhiều quốc gia
Tác giả Gloria O Pasadilla (2011) với bài viết “Social security and labor migration in ASEAN” (tạm dịch là: an sinh xã hội và di cư lao động ở ASEAN) đăng trên ADB Institute Research Policy Brief 34 đã trình bày vai
trò của lao động nhập cư của các nước trong khu vực ASEAN, trong đó vấn
đề an sinh xã hội và quyền lợi của người lao động được chú trọng Người lao động với trình độ và nguồn đầu tư sẽ giảm bớt gánh nặng cho các dịch vụ xã hội của quốc gia mình Đặc biệt, đối với khu vực có sự hội nhập sâu như ASEAN thì vấn đề an sinh xã hội đối với người lao động xuất khẩu tạo điều kiện thuận lợi cho sự trao đổi lao động trong khu vực
Trang 21Tác giả Aysun Uyar Makibayashi (2014) với cuốn sách “ASEAN regional integration and regional migration policies in Southeast Asia” (tạm
dịch là: Hội nhập khu vực ASEAN và chính sách di cư khu vực ở Đông Nam Á) đăng trên Afrasian Research Centre, Ryukoku University Phase 2, đã chứng minh rằng ASEAN là một trường hợp duy nhất có sự hợp tác trong một khối ở khu vực châu Á Trong khi đề cập tới vấn đề di cư toàn cầu thì bài viết
đã tập trung tới khu vực ASEAN với cam kết trở thành “một cộng đồng” đã
có những chính sách liên quan đến di cư và tiếp nhận lao động giữa các nước trong nội khối
Bài viết “Kinh nghiệm xuất khẩu lao động chất lượng cao của một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” (2017) của tác giả Vũ Hoàng
Mạnh Trung trên Tạp chí nghiên cứu Ấn Độ và châu Á đã phân tích những kinh nghiệm về việc xuất khẩu lao động chất lượng cao (đây vốn là điểm yếu trong hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam) ở nhiều nước (đặc biệt là những nước phát triển), qua đó để lại những bài học cho Việt Nam trong quá trình đưa lao động ra nước ngoài làm việc
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động, cách thức tổ chức, sử dụng lao động xuất khẩu
Đề tài “Tổ chức sử dụng có hiệu quả nguồn lao động xã hội của Việt Nam trong lĩnh vực đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài” năm
1989 của tác giả Phạm Kiên Cường đã trình bày nội dung về sự phân công lao động và hợp tác lao động giữa các nước, phân tích tình hình đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, đồng thời đưa ra những đề xuất nhằm tổ chức sử dụng có hiệu quả nguồn lao động xã hội của Việt Nam trong lĩnh vực đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài
Tác giả Trần Văn Hằng với luận án chính trị học “Các giải pháp nhằm đổi mới quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động ở Việt Nam giai đoạn 1995-2010”
Trang 22năm 1996 đã tổng hợp và hệ thống các cơ sở lí luận và thực tiễn của quản lí nhà nước về xuất khẩu lao động, khẳng định xuất khẩu lao động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chũ nghĩa là một tất yếu khách quan, phải đổi mới, chấp nhận cạnh tranh với thị trường lao động thế giới Phân tích thực trạng của quản lí nhà nước về xuất khẩu lao động, xây dựng quan điểm và chiến lược về xuất khẩu lao động đến năm 2010, đồng thời đề xuất các giải pháp quản lí của nhà nước về xuất khẩu lao động trên cơ sở lí luận và thực tiễn
Tác giả Hoàng Kim Ngọc với cuốn sách “Tổng quan về những chính sách có liên quan đến Xuất khẩu lao động trong thời gian qua” (2009) của
nhà xuất bản Đại học quốc gia đã trình bày những chính sách của Đảng và Nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động từ những năm 80 của thế kỉ
XX khi Việt Nam đưa lao động sang làm việc tại Liên Xô, các nước Đông Âu
và Trung Đông Bên cạnh đó, cuốn sách đề cập đến những chính sách khuyến khích lao động xuất khẩu cho đến thập niên đầu thế kỉ XXI
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài “Quản lí nhà nước đối với xuất khẩu lao động của Việt Nam giai đoạn hiện nay” (2011) của tác giả Phạm Thị Hoàn đã
phân tích vai trò của Nhà nước trong việc ban hành các chủ trương, chính sách, nghị quyết, nghị định trong hoạt động xuất khẩu lao động, bao gồm cả chính sách quản lí đối với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động và quản lí đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài (chế tài về tuyển dụng- tuyển chọn, đào tạo lao động, chính sách đãi ngộ, quản lí xuất-nhập cảnh,…)
Các bài viết của tác giả Nguyen An Ha (2014) với bài viết Vietnam labor market in the conyext of international integration (tạm dịch là: Thị
trường lao động Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế) Wies I rolnictwo, NR4 (165) và nhóm tác giả Nguyen Ngoc Anh, Nguyen Than Thuong,
Nguyen The Ha, Trinh Thi Thu Nga 2015) với bài viết Labour market transitions of young women and men in Vietnam (tạm dịch là: Chuyển đổi thị
trường lao động trẻ ở Việt Nam) trên Employment Policy Department tiếp tục
Trang 23khái quát những nét cơ bản trong bối cảnh Việt Nam chuyển từ nền kinh tế tập trung sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu lao động, phân tích những nét khái quát đặc điểm lao động Việt Nam
Nhóm tác giả Achim D.Schmillen và Truman G.Packard (2016) với bài
viết Vietnam’s Labor Market Institutions, Regulations, and Interventions (tạm
dịch là: Các tổ chức, quy định và can thiệp thị trường lao động Việt Nam) trên Social Protection and Labor Global Practice Group đã nêu những chính sách của Đảng và Nhà nước đối với lao động Việt Nam trong bối cảnh chuyển từ nền kinh
tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Quá trình này bắt đầu từ những năm 80, trải qua 30 năm đã có nhiều chuyển biến đáng kể, trong đó xuất khẩu lao động đạt nhiều kết quả khả quan
1.1.3 Nghiên cứu về hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam
1.1.3.1 Công trình nghiên cứu về hoạt động kinh tế đối ngoại Việt Nam
Cuốn sách "Quản lí kinh tế đối ngoại của Việt Nam" (2001) của tác giả Thế
Đạt, Nxb Hà Nội đã trình bày rõ những quan điểm của Đảng cộng sản và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với lĩnh vực kinh tế đối ngoại, cũng như những khả năng và điều kiện của Việt Nam trong sự phát triển kinh tế đối ngoại có hiệu quả Đồng thời, cuốn sách còn trình bày một số lĩnh vực kinh
tế đối ngoại tiêu biểu, trong đó có hoạt động xuất khẩu lao động
Cuốn sách "Kinh tế đối ngoại trong bối cảnh toàn cầu hóa" (2002) của
tác giả Lê Thanh Bình, Nxb Chính trị quốc gia đã phân tích nguyên nhân tại sao cần phải phát triển kinh tế đối ngoại trong bối cảnh toàn cầu hóa, thực trạng kinh tế - xã hội Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, những vấn đề đặt ra đối với kinh tế đối ngoại Việt Nam trong thời kì này Nghiên cứu của tác giả dừng lại ở thập niên cuối thế kỉ XX
Tác giả Nguyễn Hoàng Giáp với bài viết "Phát triển quan hệ với các nước lớn trong chính sách đối ngoại đổi mới của Đảng và Nhà nước ta" trên
tạp chí Cộng sản (Tháng 6/2005) đã nêu ra những thuận lợi mới của Việt Nam
Trang 24khi thực hiện chính sách ngoại giao tích cực, thân thiện, "muốn làm bạn với tất cả các nước" Đây là cơ sở để Việt Nam có thể nâng cao vị thế quốc tế, đồng thời thúc đẩy kinh tế đối ngoại phát triển
Cuốn sách "Kinh tế đối ngoại Việt Nam" (2007) của tác giả Nguyễn Văn
Trình (cb), Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh đã khái quát những vấn đề cơ bản về kinh tế đối ngoại của Việt Nam và thế giới, hệ thống tài chính tiền tệ quốc tế và các lĩnh vực tiêu biểu nhất của kinh tế đối ngoại Việt Nam: ngoại thương, kiều hối, xuất khẩu lao động,
Tác giả Nguyễn Thường Lạng với bài viết "Phát triển lĩnh vực kinh tế đối ngoại Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế" trên tạp chí
Kinh tế và phát triển (Tháng 3/2007) đã trình bày quan niệm về lĩnh vực kinh
tế đối ngoại đối với sự phát triển của đất nước, đồng thời phân tích tình hình phát triển kinh tế đối ngoại Việt Nam, trong đó bao gồm: hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư nước ngoài và chuyển giao công nghệ, xuất khẩu lao động
1.1.3.2 Công trình nghiên cứu thực trạng hoạt động xuất khẩu lao động
Tác giả Nguyễn Quang Hồng với bài viết "Xuất khẩu lao động trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế và một số giải pháp" trên Tạp chí Lao động và
xã hội (Tháng 6/2009) chỉ ra những khó khăn của thị trường xuất khẩu lao động Việt Nam, đồng thời chỉ ra những giải pháp để tháo g những khó khăn này, thúc đẩy thị trường lao động ngày càng phát triển
Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Tiến Dũng “Phát triển xuất khẩu lao động Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế” năm 2010 Tác giả
tập trung nghiên cứu tình hình xuất khẩu lao động ở một số nước và thực trạng xuất khẩu lao động của Việt Nam từ 1991 đến 2010 đồng thời nêu lên những hiệu quả kinh tế - xã hội mà hoạt động xuất khẩu lao động mang lại Tuy nhiên, phần lớn các đánh giá và phân tích khai thác góc độ kinh tế của hoạt động xuất khẩu lao động và chỉ dừng nghiên cứu đến năm 2010
Tác giả Lưu Văn Hưng với luận án tiến sĩ kinh tế“Xuất khẩu hàng hóa
Trang 25sức lao động của Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế” năm 2010 đã làm
rõ những nhận thức về hoạt động xuất khẩu lao động trên cơ sở phân biệt sự khác nhau giữa hoạt động xuất khẩu lao động với sự di chuyển lao động trên phạm vi quốc tế hiện nay (như di cư lao động quốc tế, di chuyển con người để cung cấp dịch vụ,…) Luận án cũng đã phân tích sự cần thiết đẩy mạnh xuất khẩu lao động trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, đánh giá những thành tựu, hạn chế và lí giải nguyên nhân dẫn tới thực trạng trên Bên cạnh đó, tác giả đã đánh giá tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đến hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam, đưa ra dự báo về những xu hướng chính của quan hệ cung – cầu hàng hóa sức lao động, sự cạnh tranh của thị trường lao động trên thế giới đối với Việt Nam
Tác giả Lưu Văn Hưng với cuốn sách “ Xuất khẩu lao động Việt Nam thời đổi mới và hội nhập” (2011), Nxb Từ điển Bách khoa đã làm rõ các vấn
đề lí luận về xuất khẩu lao động trong hội nhập kinh tế quốc tế, nêu lên được tình hình xuất khẩu lao động của Việt Nam qua những thống kê về số lượng người lao động, ngành nghề, thị trường, thu nhập, đồng thời phân tích những khó khăn thuận lợi của xuất khẩu lao động Việt Nam, qua đó khẳng định xuất khẩu lao động là một trong những chiến lược giải quyết việc làm, số lượng lao động tham gia xuất khẩu lao động Đồng thời đề ra các quan điểm và giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động khi Việt Nam hội nhập quốc tế toàn diện trong thời gian trước năm 2011
Cuốn sách "Lao động Việt Nam ở nước ngoài - thực trạng và giải pháp đến 2020" (2011) của tác giả Đoàn Minh Duệ, Nxb Từ điển Bách khoa đã
khái quát được thực trạng người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài trong ba thập niên (từ giữa những năm 70 của thế kỉ XX đến năm 2009), bao gồm số lượng lao động và nguồn thu từ xuất khẩu lao động Đồng thời cũng nêu ra một số giải pháp để nâng cao hơn nữa chất lượng người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài đến năm 2020 Nghiên cứu của tác giả dừng ở thập niên đầu thế kỉ XXI
Trang 26Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Bùi Sỹ Tuấn năm 2011 với đề tài
“Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu xuất khẩu lao động của Việt Nam đến năm 2020” đã hệ thống các vấn đề liên quan tới xuất
khẩu lao động như khái niệm, nội dung, các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực xuất khẩu Phân tích tình hình thực trạng chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xuất khẩu lao động của Việt Nam, đồng thời kiến nghị một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam phục vụ xuất khẩu lao động đến năm 2020
Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Thị Hoàng Lan “Xuất khẩu lao động của Việt Nam trước và sau khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008” (2013)
đã phân tích cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 tác động tới các nước, bao gồm cả các nước tiếp nhận và xuất khẩu lao động, trong đó có nhiều nước đã giảm chỉ tiêu tiếp nhận lao động, dẫn tới số lượng lao động xuất khẩu của nhiều nước, trong đó có Việt Nam bị suy giảm Từ đó tác giả đưa ra những nhận xét trong sự chuyển biến về hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam
Tác giả Futaba Ishizuka (2013) với bài viết International Labor Migration in Vietnam and the Impact of Receiving Countries’ Policies (tạm
dịch là: Di cư lao động quốc tế tại Việt Nam và tác động của các chính sách của nhà nước tiếp nhận) trên Institute of Developing Economies đã nhấn mạnh xuất khẩu lao động là một chiến lược phát triển kinh tế trong thời đại đổi mới Những năm gần đây, Việt Nam đã gửi khoảng 80.000 lao động ra nước ngoài m i năm Việt Nam trở thành quốc gia có nguồn lao động lớn, nhưng trình độ tay nghề không cao đáp ứng nhu cầu tiếp nhận lao động của các nước trong khu vực Đông Nam Á Tuy vậy, người lao động Việt Nam tự động bỏ việc chiếm tỷ lệ khá cao so với lao động các nước khác, thực tế được chứng minh qua số lượng người lao động bỏ trốn ở Nhật Bản và Hàn Quốc
Nhà nghiên cứu Phung Quang Huy (2008) với bài viết “Exported labour – practice and policy issues Vietnamese case” (tạm dịch là: Lao động
Trang 27xuất khẩu – vấn đề thực tiễn và chính sách) tại PECC-ABAC conference on
“Demographic Change and International Labor Mobility in the Asia Pacific Region: Implications for Business and Cooperation”, in Seoul, Korea đã nêu lên thực trạng của xuất khẩu lao động Việt Nam đến năm 2007 Từ khi sụp đổ
hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, những năm 1990, Việt Nam đã tìm cách tiếp cận các thị trường mới trong khi vẫn duy trì các thị trường lao động trước đây Chính phủ xem xét vấn đề xuất khẩu lao động là
ưu tiên cho sự phát triển kinh tế, là cơ hội để giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho người lao động và đáp ứng các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế, xã hội Các thị trường chính mà Việt Nam tiếp cận bao gồm Malaysia, Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản Cuối cùng, tác giả đề xuất các biện pháp để vượt qua những khó khăn, hạn chế của hoạt động xuất khẩu lao động, đó là: nâng cao chất lượng người lao động, tìm kiếm các thị trường lao động mới, điều chỉnh Luật quản lí, liên kết với ngân hàng (cho vay và ưu đãi đối với người lao động), xây dựng chiến lược quốc gia về xuất khẩu lao động,…
1.1.3.3 Các công trình nghiên cứu về xuất khẩu lao động Việt Nam sang các thị trường trên thế giới và khu vực
Bài viết “Xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan” (2007) của tác giả Phan Cao Nhật Anh trên tạp chí nghiên cứu Đông Bắc Á và bài viết “Vài nét đặc trưng của thị trường lao động Đài Loan” (2007) của tác giả Đ Ánh
trên tạp chí kinh tế châu Á – Thái Bình Dương đã phân tích những nét đặc trưng riêng của thị trường quen thuộc và quan trọng của lao động Việt Nam là thị trường Đài Loan, đồng thời khái quát quá trình đưa lao động Việt Nam sang thị trường này trước năm 2007
Tác giả Trần Thị Ái Đức với luận án tiến sĩ kinh tế“Xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Trung Đông” năm 2011 đã hệ thống hóa một số
vấn đề lí luận về xuất khẩu lao động và xây dựng các khái niệm về xuất khẩu
lao động, khẳng định: “xuất khẩu lao động là một hình thức kinh tế đối ngoại,
Trang 28trong đó các tổ chức kinh tế của một nước đưa lao động trong nước đi làm việc ở nước ngoài thông qua các hợp đồng kinh tế với đối tác nước ngoài có nhu cầu nhập khẩu lao động, theo quy định của các nhà nước có liên quan trên cơ sở đảm bảo lợi ích kinh tế của các bên và người lao động” Luận án
làm rõ các đặc điểm của thị trường lao động Trung Đông, nhất là các nước vùng Vịnh, trên cơ sở phân tích cung – cầu lao động và các quy định về lao động của khu vực này Đồng thời, luận án cũng rút ra được nguyên nhân của việc nhập khẩu lao động của Trung Đông và đưa ra những yêu cầu đối với thị trường lao động vào khu vực này Trên cơ sở đó phân tích, đánh giá thực trạng xuất khẩu lao động của Việt Nam tới thị trường Trung Đông, đưa ra những vấn đề cần giải quyết cho xuất khẩu lao động Việt Nam sang Trung Đông trong thời gian tới
Tác giả Nguyễn Thị Kim Chi với bài viết “Xuất khẩu lao động Việt Nam sang Malaysia: những bất cập và hướng giải quyết” (2014) trên Tạp chí khoa học xã hội Việt Nam và cuốn sách “Hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Malaysia trong bối cảnh hội nhập ASEAN”’ (2015)
đã phân tích những đặc điểm của thị trường Malaysia, khái quát quá trình đưa lao động Việt Nam sang làm việc từ năm 2002 đến năm 2013, phân tích những bất cập và đưa ra các hướng giải quyết để tháo g khó khăn cho lao động Việt Nam ở thị trường này
1.1.4 Nghiên cứu về tác động của xuất khẩu lao động đối với Việt Nam
1.1.4.1 Công trình nghiên cứu tác động kinh tế
Tác giả Nguyễn Hồng Thu với bài viết “Tác động và hệ quả kinh tế của xuất khẩu lao động ở các nước đang phát triển châu Á” (2010) trên Tạp chí
Thông tin khoa học xã hội khái quát những tác động kinh tế của hoạt động xuất khẩu lao động, mà chủ yếu là nguồn tiền của người lao động gửi về đối với các nước đang phát triển ở châu Á, trong đó có Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Loan với bài viết “Tác động của kiều hối đến
Trang 29phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển và Việt Nam” (2013)
trên Tạp chí nghiên cứu châu Phi và Trung Đông đã đánh giá tác động của nguồn kiều hối nói chung (kiều hối của người Việt Nam ở nước ngoài, lao động di cư và cả lao động bất hợp pháp), đây là nguồn tiền quan trọng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (nhất là các nước đang phát triển), thúc đẩy ngân hàng và các dịch vụ chuyển tiền phát triển, đồng thời, dòng kiều hối này cũng là nguồn lực để nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân
Tác giả Nguyễn Đức Thành, Hoàng Thị Chinh Thon với bài viết “Vai trò giảm nghèo của kiều hối trong khủng hoảng kinh tế: trường hợp Việt Nam” (2012) trên Tạp chí nghiên cứu kinh tế và tác giả Nguyễn Kim Anh với bài viết “Vai trò của chính sách xuất khẩu lao động trong việc thu hút kiều hối chuyển về Việt Nam” (2017) đã trình bày lợi ích kinh tế của hoạt động
xuất khẩu lao động, mà cụ thể là thu hút nguồn kiều hối hàng năm đổ về Việt Nam, đây là nguồn thu quan trọng góp phẩn thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế
và nâng cao đời sống cho gia đình người lao động ở nước ngoài
Tác giả Nguyen Minh Thao với bài viết: Migration, remittances, and economic development: Case of Vietnam (tạm dịch là: di cư, kiều hối và phát triển kinh tế: Trường hợp Việt Nam) đã đề cập tới vấn đề di cư, kiều hối và sự
phát triển kinh tế, trong đó, di cư trở thành hoạt động không thể thiếu trong thời đại toàn cầu hóa, đặc biệt đối với các nước đang phát triển Tại Việt Nam nói riêng và Đông Nam Á nói chung, từ những năm 1980 đã có sự chuyển biến Việt Nam với quy mô dân số đông đã được chính phủ chỉ đạo và quản lý hoạt động xuất khẩu lao động (được cập nhật qua các tài liệu và các báo cáo chính thức
1.1.4.2 Công trình nghiên cứu tác động xã hội
Tác giả Hoàng Minh Hà với bài viết “Xuất khẩu lao động của Việt Nam – thành công và những điều đáng lo ngại” (2006) trên Tạp chí khoa học xã
hội đã nêu lên những kết quả đã đạt được trong hoạt động xuất khẩu lao động
Trang 30của Việt Nam: số lượng lao động tăng, giải quyết vấn đề việc làm, cải thiện
và nâng cao đời sống người lao động Tuy nhiên cạnh đó còn có nhiều vấn đề đáng lo ngại, nhất là việc lao động bỏ trốn, trình độ ngoại ngữ và tay nghề của
lao động Việt Nam còn thấp hơn so với các nước khác,…
Bài viết “Rủi ro của lao động di cư và một số kiến nghị” (2009) của tác
giả Nguyễn Huyền Lê trên Tạp chí Lao động và xã hội đã phân tích thực trạng đời sống của người lao động ở nước ngoài, những tai nạn rủi ro, những quyền lợi không được đảm bảo, đây là góc khuất đối với người lao động, qua đó đưa ra một số kiến nghị trong công tác quản lí của Nhà nước nhằm giải quyết thực trạng trên, bảo vệ quyền lợi của người lao động, đồng thời cũng nêu ra trách nhiệm và nghĩa vụ của bản thân người lao động trong quá trình làm việc ở nước ngoài
Bài viết “Đời sống của lao động xuất khẩu về nước” (2011) của tác giả
Nguyễn Vĩnh Giang trên tạp chí Kinh tế và phát triển đã phác họa những nét nổi bật nhất trong đời sống của người lao động làm việc ở nước ngoài sau khi kết thúc hợp đồng trở về nước với những thuận lợi và khó khăn trong quá trình hội nhập với xã hội, xóm làng và gia đình
Cuốn sách Review of Vietnamese migration abroad (tạm dịch là: Đánh giá
về người Việt Nam di cư ra nước ngoài) (2012) với 8 chương đã trình bày khái
quát những nét cơ bản liên quan đến thực trạng xuất khẩu lao động của Việt Nam như: nguồn lao động và việc làm, hôn nhân – di cư gia đình, buôn bán người (đặc biệt là phụ nữ và trẻ em), chính sách quản lí và bảo vệ người Việt Nam ở nước ngoài, tình hình và vai trò của người Việt ở nước ngoài đối với quê hương, vấn đề kiều hối (vai trò, sử dụng kiều hối như thế nào?, …) Bài viết
“Mặt trái xuất khẩu lao động ai lo” của tác giả Việt Hùng và “Ngoại tệ kiếm được đi đâu” của tác giả Nguyễn Trường đăng trên Tienphong.vn (29/9/2012) đã
phân tích những mặt trái của hoạt động xuất khẩu lao động với những hệ lụy văn hóa đạo đức xuống cấp, giáo dục sa sút, tệ nạn gia tăng Thực trạng đáng buồn
này xảy ra tại huyện Yên Dũng, Bắc Giang
Trang 31Tác giả Nguyễn Thanh Hòa với bài viết “Đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài góp phần tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo và an sinh xã hội” (2014) trên Tạp chí Cộng sản đã phân tích tác động xã hội của hoạt động
xuất khẩu lao động, mà cụ thể là giảm bớt áp lực về vấn đề việc làm cho lao động Việt Nam, góp phần xóa đói giảm nghèo ở những vùng thôn và miền núi khó khăn, nâng cao mức sống và điều kiện sống cho người lao động
Tác giả Nguyen Chi Hong với bài viết “Development and brain drain:
a review of Vietnamese labor export and skilled migration” (tạm dịch là: Phát
triển và chảy máu chất xám: đánh giá về xuất khẩu lao động Việt Nam và di
cư ) đăng trên Migration and Development (2014), đã trình bày tác động của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước từ năm 1986 đã làm chuyển biến thực trạng di cư lao động của Việt Nam đến các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được Chính phủ quản lí các hoạt động liên quan đến di cư lao động, đặc biệt là lao động có tay nghề Trong bài viết, tác giả đã phân chia việc di cư lao động Việt Nam thành hai chủ đề chính: di cư (xuất khẩu lao động) là chiến lược chính của Chính phủ khi tham gia hội nhập nền thương mại toàn cầu, cải thiện điều kiện kinh
tế trong nước và di cư chuyên nghiệp tự khởi xướng để cải thiện chất lượng vốn nhân lực Cụ thể bài viết này đã trình bày các chính sách khác nhau về di
cư lao động ở Việt Nam, khái quát lại quá trình những người lao động có kĩ năng, tay nghề thấp sau năm 1986 đi làm việc ở nước ngoài Tiếp tục trình bày những thay đổi kinh tế, chính trị, xã hội ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu lao động sau đổi mới
Hai tác giả Nguyễn Hữu Minh, Nguyễn Thị Thanh Tâm với bài viết
“Phụ nữ nông thôn đi lao động ở nước ngoài phân tích từ góc độ giới” (2014)
trên Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam đã phân tích khía cạnh xã hội của vấn
đề phụ nữ đi xuất khẩu lao động, trong đó tập trung trình bày vai trò của phụ
nữ khi giữ làm trụ cột kinh tế trong gia đình, những rủi ro gặp phải (cư ng
Trang 32bức, lao động quá sức, lương thấp, buôn bán phụ nữ và trẻ em,…) và hệ lụy đối với con cái trong các gia đình có mẹ đi xuất khẩu lao động
Luận án tiến sĩ xã hội học “Tình hình chăm sóc trẻ em trong các hộ gia đình có bố mẹ đi xuất khẩu lao động : hiện trạng và giải pháp” (2016) của
tác giả Nghiêm Thị Thủy đã phân tích được tác động xã hội của hoạt động xuất khẩu lao động, trong đó nhấn mạnh tới thực trạng rất phổ biến là chăm sóc trẻ em trong những gia đình có bố mẹ đi làm việc ở nước ngoài, những gia đình đó có thuận lợi là nâng cao được thu nhập nhưng lại có nhiều khó khăn trong đời sống tinh thần, khi mà những em bé trong gia đình phải sống
là những thực tế xảy ra tại nhiều địa phương có người đi xuất khẩu lao động
1.2 Đánh giá, nhận xét và những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết
1.2.1 Đánh giá, nhận xét về kết quả nghiên cứu đã có
Mặc dù các công trình trên không trực tiếp chọn vấn đề xuất khẩu lao động Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2016 làm đối tượng cũng như phạm vi khảo sát nhưng có ý nghĩa định hướng và gợi mở cho chúng tôi rất nhiều, không chỉ ở bình diện phương pháp tiếp cận và nghiên cứu đối tượng mà cả những vấn đề nóng bỏng, cấp thiết mà lĩnh vực xuất khẩu lao động đóng góp trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đó là:
Thứ nhất, các tác giả đi trước đã giải quyết được những vấn đề về xuất khẩu lao động như nêu bối cảnh tác động đến quá trình chuyển biến nền xuất khẩu lao động, những chủ trương và đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về việc đưa lao động ra nước ngoài làm việc
Trang 33Thứ hai, các tác giả đã phác họa những nét khái quát nhất về thực trạng xuất khẩu lao động, nhưng tác giả các công trình đó mới chỉ tập trung nghiên cứu, tìm hiểu về những khía cạnh độc lập riêng biệt hay toàn cảnh xuất khẩu lao động ở góc độ kinh tế ngành, nếu tiếp cận theo góc độ lịch sử thì phần lớn tiếp cận những giai đoạn nhất định, chưa có sự phân tích, đánh giá tác động của hoạt đông xuất khẩu lao động tới kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam và thời gian tiếp cận dừng ở thập niên đầu của thế kỉ XXI
Thứ ba, nhiều bài báo trên các tạp chí, website đã viết về hiện trạng đời sống của người lao động ở nước ngoài với những mảng màu sáng – tối, tuy nhiên bức tranh toàn cảnh về đời sống người lao động ở nước ngoài, đặc biệt
là sau khi người lao động về nước vẫn là khoảng trống chưa được bù đắp, cần
có sự dụng công đầu tư nghiên cứu cụ thể hơn
1.2.2 Những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết
Từ những nhận định về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước nêu
trên, luận án “Hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2016” tập trung giải quyết những vấn đề sau:
- Những yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam giai đoạn 1991-2016, trong đó bao gồm bối cảnh thế giới và khu vực, tình hình kinh tế - chính trị - xã hội Việt Nam tác động đến chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước đối với hoạt động đưa lao động ra nước ngoài làm việc
- Phục dựng một cách toàn diện bức tranh xuất khẩu lao động Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2016
- Phân tích những tác động của xuất khẩu lao động tới kinh tế, xã hội Việt Nam
Trang 34Chương 2 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2016
2.1 Hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam trước năm 1991
Cuối những năm 70 đầu những năm 80 của thế kỉ XX, kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn: kinh tế đình trệ do cơ chế tập trung bao cấp, dẫn tới sản xuất cầm chừng, thu nhập người lao động thấp Đất nước đang phải khắc phục những hậu quả của cuộc chiến tranh (1954-1975) để lại thì sau đó liên tiếp diễn ra hai cuộc chiến tranh ở biên giới Tây Nam (1978) và chiến tranh biên giới phía Bắc (1979)
Trong giai đoạn này, nhiều nước đặt vấn đề hợp tác sử dụng lao động đối với Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương, chính sách nhằm đưa vấn đề người Việt Nam làm việc tại nước ngoài hoạt động có hiệu quả Năm
1980, Việt Nam tiến hành đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo các hiệp định hợp tác quốc tế về lao động của Chính phủ với các nước Xã hội Chủ nghĩa, đặt dấu mốc đầu tiên cho hoạt động xuất khẩu lao động
Với mục tiêu xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề, cán bộ kỹ thuật, nghiệp vụ quản lý giỏi, phù hợp với nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế
đất nước, hội đồng Chính phủ ban hành quyết định số 46-CP ngày 11/2/1980
nhằm đưa một số bộ phận công nhân, cán bộ đang công tác ở các xí nghiệp,
cơ quan Nhà nước sang các nước xã hội chủ nghĩa với mục đích bồi dư ng nâng cao tay nghề, trình độ kĩ thuật nghiệp vụ, quản lý, đồng thời làm việc trong các cơ sở kinh tế của nước đó (nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo lao động của Việt Nam, vừa giúp các nước xã hội chủ nghĩa anh em khắc phục những khó khăn về lao động trên tinh thần hợp tác xã hội chủ nghĩa giữa các thành viên trong Hội đồng kinh tế)[231]
Việt Nam tham gia thị trường lao động quốc tế thông qua các hiệp định
Trang 35song phương, trong đó có quy định chi tiết về điều kiện lương, ăn ở, đi lại, bảo
vệ người lao động ở nước ngoài Có nghĩa là, về cơ bản Nhà nước vừa thực hiện quản lý Nhà nước về hợp tác lao động, vừa quản lý sự nghiệp hợp tác lao động với nước ngoài, Nhà nước làm thay cho các tổ chức kinh tế cụ thể
Thời kì này người lao động làm việc trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, xây dựng cơ bản, giao thông vận tải, lưu thông phân phối và các loại dịch vụ cần thiết
Bộ Lao động chủ trì cùng bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và các ban ngành khác thực hiện việc bồi dư ng, đào tạo và đưa lao động ra nước ngoài làm việc Với sự phối hợp chặt chẽ, hoạt động xuất khẩu lao động đạt được một kết quả đáng kể (xem bảng 2.1)
Bảng 2.1 Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam tại các nước xã hội
chủ nghĩa, giai đoạn 1980 – 1990 [53; Tr.125]
Trang 36Bảng số liệu trên cho thấy, giai đoạn nửa đầu thập niên 80, số lượng lao động Việt Nam sang làm việc tại các nước xã hội chủ nghĩa là không đều, không có sự tăng hay giảm đều mà biến động liên tục Từ năm 1980 đến
1986, Việt Nam đưa 66.279 lao động đi xuất khẩu (trong đó có 26.622 lao động nữ - chiếm 40,2%, lao động nam là 39.657 người chiếm 59,8%), cao nhất là các năm 1981 (20.230 người chiếm 30,5% tổng số lao động xuất khẩu giai đoạn 1980-1986), năm 1982 (25.970 người, chiếm 39,2%) và năm 1983 (12.402 người, chiếm 18,7%) Năm 1980, số lao động xuất khẩu mới hơn một nghìn người, nhưng năm sau đó đã tăng gấp gần 13 lần (lên tới hơn 20 nghìn người) Những năm 1984-1986, hàng năm có khoảng 5000 lao động đi làm việc ở nước ngoài Trong tổng số 66.279 lao động, có 38.299 lao động có nghề (chiếm 57,67%) Mặc dù mục tiêu chính là đưa lao động đi bồi dư ng, nâng cao tay nghề, tuy nhiên số lao động xuất khẩu đã mang về một lượng kiều hối đáng kể, cụ thể trong vòng 5 năm là 577 triệu đồng, từ năm 1981 đến
1986 tăng từ gần 1 triệu lên 433 triệu (nghĩa là tăng hơn 400 lần)
Giai đoạn này, lao động Việt Nam chủ yếu làm việc tại thị trường các nước xã hội chủ nghĩa (Liên Xô và các nước Đông Âu: Cộng hòa dân chủ Đức, Bungari, Tiệp Khắc), nguyên nhân xuất phát từ đường lối mở rộng quan
hệ đối ngoại với nhiều nước, tranh thủ nguồn vốn, viện trợ từ nước ngoài để khôi phục và phát triển kinh tế, trong đó thắt chặt tình đoàn kết với Liên Xô (coi Liên Xô là “hòn đá tảng” trong chính sách đối ngoại của mình) và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu là vấn đề cần thiết và quan trọng, đồng thời Việt Nam đã bỏ l cơ hội bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ và cơ hội tháo
g nút thắt trong quan hệ đối ngoại với Trung Quốc, dẫn tới bị Mĩ cấm vận, các nước Tây Âu không thiết lập quan hệ, ASEAN dè chừng trong quan hệ hợp tác với Việt Nam, Trung Quốc chưa bình thường hóa quan hệ kể từ sau chiến tranh biên giới phía Bắc (1979) nên các quan hệ ngoại giao, kinh tế Việt Nam trong giai đoạn này còn tương đối kín Chỉ có các nước XHCN Đông Âu
Trang 37và Liên Xô do có quan hệ ngoại giao bền chặt và nhu cầu lao động lớn nên đã
mở cửa cho lao động Việt Nam làm việc
Trong vòng 4 năm tiếp theo, từ 1987-1990, có 161 nghìn lao động xuất khẩu (trong đó có 96 nghìn lao động nam, chiếm 59,6%, hơn 65 nghìn lao động nữ, chiếm 41,6%), số lao động có nghề là hơn 59 nghìn người, chiếm 36,56%, còn lại là lao động phổ thông, không có nghề Từ năm 1986 đến
1987, số người xuất khẩu lao động tăng khoảng 37 nghìn người (tức khoảng gần 5 lần Năm 1988 số người lao động xuất khẩu lên tới hơn 71 nghìn người (chiếm 44,4%), nhưng tới năm 1989, số người lao động đã giảm đi 30 nghìn người , còn 3/4 so với năm 1988 và giảm mạnh còn 3.069 người năm 1990 Nguyên nhân do hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam chịu ảnh hưởng
từ hai cuộc khủng hoảng:
Cuộc khủng hoảng cuối thập kỉ 80 đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XX ở Đông
Âu và Liên Xô được coi là “thảm họa địa chính trị lớn nhất” trong thế kỉ XX
Nó gây ra một cú sốc trên quy mô toàn cầu Cuộc khủng hoảng này không chỉ
là tổn thất đối với phong trào cách mạng thế giới, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế mất đi ch dựa vững chắc, các nước xã hội chủ nghĩa (trong đó có Việt Nam) đứng trước những thử thách về đổi mới, về xây dựng chủ nghĩa xã hội trước bối cảnh hội nhập, cũng chính sự sụp đổ này còn khiến cho lao động Việt Nam mất đi thị trường lao động chính
Trong những năm 1990-1991, khủng hoảng vùng Vịnh, với những chiến dịch tấn công quy mô lớn giữa một bên là Iraq và bên kia là lực lượng liên quân gần 30 quốc gia Ở thời điểm đó, hơn chục ngàn lao động Việt Nam
ở khu vực này rơi vào hoàn cảnh nguy hiểm đến tính mạng Khi đó, mặc dù Việt Nam còn khó khăn nhưng đã tiến hành một chiến dịch sơ tán cho hơn 17.000 lao động Việt Nam tại Iraq về nước
Cùng với đó, nhiều nước ở châu Phi có lao động Việt Nam làm việc cũng gặp khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội, vì thế các nước này không
Trang 38còn nhu cầu tiếp nhận lao động nước ngoài, thậm chí còn tiếp nhận đứt quãng
và số lượng không đáng kể Trước những biến động đó, Hội động Bộ trưởng
đã ra chỉ thị số 108/CT - HĐBT ngày 30/6/1988 về việc mở rộng hợp tác lao động là một nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa chiến lược lâu dài và khẳng định mục tiêu của việc đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài nhằm duy trì xuất khẩu lao động, phát huy mọi tiềm năng lao động và chất xám, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và nguồn thu ngoại tệ cho đất nước
2.2 Bối cảnh quốc tế
Từ đầu những năm 90 của thế kỉ XX, tình hình thế giới có nhiều biến chuyển mạnh mẽ, tác động tới tất cả các quốc gia trên thế giới, trong đó gồm:
Thứ nhất, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ
Đặc điểm nổi bật của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ là khoa học, công nghệ và sản xuất không tách rời mà gắn liền với nhau: phát minh khoa học chuyển hóa thành công nghệ và đưa vào sản xuất đại trà Chính cuộc cách mạng khoa học và công nghệ này đã làm cho nền kinh tế thế giới ngày càng được quốc tế hóa cao và có nhiều biến đổi, cụ thể là biến đổi cơ cấu kinh
tế và xu thế toàn cầu hóa
Về biến đổi cơ cấu kinh tế:
Khoa học công nghệ tác động mạnh mẽ góp phần làm thay đổi cơ cấu GDP: các ngành nông, lâm, ngư nghiệp có xu hướng giảm lao động và tỉ trọng trong GDP; trong khi đó các ngành công nghiệp có xu hướng tăng nhanh Đặc biệt, sự phát triển của các ngành dịch vụ là quan trọng nhất: có nhiều ngành nghề có hàm lượng khoa học kĩ thuật cao, ảnh hưởng đến sự phát
triển kinh tế
Khoa học công nghệ làm trình độ của lực lượng sản xuất ngày một nâng cao (chuyên môn hóa, tự động hóa) làm thay đổi liên tục công nghệ sản xuất dẫn đến làm thay đổi cơ cấu ngành nghề: nhiều ngành nghề truyền thống mất
đi, ngành nghề mới xuất hiện
Trang 39Về xu thế toàn cầu hóa:
Theo Thomas L.Friedman, toàn cầu hóa "là một sự hội nhập không thể đảo ngược giữa những thị trường, quốc gia và công nghệ, tới mức chưa từng
có - theo phương cách tạo điều kiện cho các cá nhân, tập đoàn công ti và nhà nước vươn quan hệ đến nhiều nơi trên thế giới xa hơn, sâu hơn với chi phí
Theo như định nghĩa trên toàn cầu hóa là quá trình mà thị trường và sản xuất ở nhiều nước khác nhau trở nên tác động và phụ thuộc lẫn nhau, thúc đẩy sự lưu chuyển các dòng vốn, công nghệ đồng thời đẩy nhanh quá trình di cư lao động giữa các quốc gia Đó là điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu lao
động Đó là xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia
Đồng thời, toàn cầu hóa là quá trình mà thông qua đó thị trường và sản xuất ở nhiều nước khác nhau trở nên tác động và phụ thuộc lẫn nhau, thúc đẩy luân chuyển các yếu tố đầu vào và sản xuất đem đến lợi thế so sánh, bao gồm: vốn, công nghệ và lao động
Toàn cầu hóa góp phần hình thành các khối liên kết kinh tế khu vực, đồng thời thúc đẩy di chuyển lao động giữa các quốc gia:
Các hoạt động di chuyển lao động nội khối được đẩy mạnh bởi sự hợp tác và quyết tâm xây dựng thị trường chung khu vực của tất cả các nước trong khu vực nhằm giải quyết các vấn đề hạn chế và thúc đẩy phát triển kinh tế -
xã hội của khối Di chuyển lao động nội khối xuất phát từ ý chí muốn xây dựng những thị trường rộng lớn để cho việc sử dụng nguồn lực của cả khối kinh tế được hiệu quả hơn Cụ thể là giúp cho việc điều tiết cung – cầu trên thị trường lao động của các quốc gia trở nên hiệu quả hơn Đặc biệt, di chuyển lao động nội khối hướng tới sự phát triển của thị trường lao động toàn khu vực với việc nâng cao chất lượng lao động, giải quyết công ăn việc làm cho lao động dư thừa và bù đắp những thiếu hụt lao động ở mọi ngành nghề, lĩnh vực Bên cạnh đó, tham gia vào di chuyển lao động nội khối dẫn tới sự
Trang 40hợp tác và thịnh vượng chung của cả khối kinh tế Giúp đẩy mạnh chuyên môn hóa sản xuất của cả khu vực, tăng thu nhập và giải quyết việc làm cho những người lao động tham gia Hay nói cách khác, mục tiêu tham gia vào di chuyển lao động nội khối là các bên cùng có lợi
Mặt khác di chuyển lao động nội khối còn giúp khối và các quốc gia thành viên đối đầu với các quốc gia, các khối kinh tế bên ngoài trong cạnh tranh trên trường quốc tế
Di chuyển lao động nội khối ngày càng phát triển mạnh ở các nước trên thế giới trong các khu vực kinh tế khác nhau do nhận thức về lợi ích của di chuyển lao động nội khối của các nước ngày càng sâu sắc, trong dó, di chuyển lao động nội khối EU và di chuyển lao động nội khối ASEAN là những khối kinh tế có mức độ liên kết chặt chẽ
Cách mạng khoa học và công nghệ làm gia tăng khoảng cách, trình độ
giữa các nước phát triển và đang phát triển Biểu đồ 2.1 dưới đây biểu thị thu
nhập bình quân theo đầu người (GNI/người) tại một số quốc gia châu Á sự chênh lệch rất lớn: Giai đoạn từ năm 1991 đến 2000, nhóm các nước Việt Nam, Lào, Philipines, Trung Quốc có thu nhập GNI/người khoảng 1000 USD, trong khi đó nhóm các quốc gia phát triển như Hồng Kông, Nhật Bản, Singapore có thu nhập từ trên 10000 USD đến hơn 40000 USD, trong đó năm
1991, Nhật Bản với GNI/người là 28590 USD gấp hơn 259 lần Việt Nam, 136 lần Lào và 81 lần Trung Quốc Năm 1995 Nhật Bản với thu nhập GNI/người
là 42110 USD, gấp 2 lần Hồng Kông, Singapore, 4 lần Hàn Quốc, và 168 lần Việt Nam, 120 lần Lào và 77 lần Trung Quốc Năm 2010, Nhật Bản, Singapore, Hồng Kông với GNI/người từ 30000-40000 USD, gấp 30-40 lần Việt Nam, Lào, 20 lần Philipines và 10 lần Trung Quốc Tới năm 2016, Singapore với thu nhập GNI/người 52520 USD gấp 25 lần Việt Nam, Lào, 15 lần Philipines và 6 lần Trung Quốc Như vậy, giữa các nước trong khu vực châu Á có sự chênh lệch lớn về thu nhập, có thể thấy, động lực thúc đẩy xuất