1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CHỦ THỂ LUẬT DÂN SỰ DƯỚI GÓC NHÌN LUẬT SO SÁNH

181 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 181
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu này hết sức cần thiết phải đọc nha Đây là tài liệu tham khảo có giá trị nghiên cứu khoa học, với những luận điểm, phân tích đặc sắc chuyên biệt, thích hợp dành cho các bạn làm luận văn tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, mở rộng kiến thức và làm phong phú thêm danh mục tài liệu tham khảo

Trang 1

CÁ NHÂN – CHỦ THỂ LUẬT DÂN SỰ DƯỚI GÓC NHÌN SO SÁNH

Bùi Thị Thanh HằngKhoa Luật – ĐHQGHNThuật ngữ “chủ thể” có nguồn gốc từ Latin “persona”, thuật ngữ này có một lịch sửlâu dài và cuối cùng được sử dụng với ý nghĩa một chủ thể có khả năng duy trì các quyền

và nghĩa vụ Theo ý nghĩa pháp lý, “chủ thể” không chỉ là tự nhiên nhân (cá nhân) mà cònbao gồm cả các thực thể nhân tạo - thực thể hư cấu Pháp luật dân sự Việt Nam hiện hànhthừa nhận chủ thể nhân tạo gồm: pháp nhân, hộ gia đình và tổ hợp tác khi trao quyền và ápđặt nghĩa vụ cho các chủ thể đó nhằm cho phép thực thi dễ dàng hơn quyền và trách nhiệm

Trong các chủ thể của pháp luật dân sự Việt Nam, cá nhân là chủ thể ít gây bàn cãihơn cả Tuy nhiên, các qui định về cá nhân trong BLDS năm 2005 chưa thực sự hoàn thiện

và đầy đủ Điều này sẽ được đề cập đến trong các nội dung năng lực chủ thể của cá nhân:Năng lực pháp luật và năng lực hành vi

1 Năng lực pháp luật

1.1 Khái niệm năng lực pháp luật

BLDS của hầu hết các nước trên thế giới1 không đưa ra khái niệm năng lực phápluật Thay vào đó các bộ luật này đưa ra qui định khẳng định năng lực pháp luật bắt đầu từthời điểm cá nhân được sinh ra và các qui định mang tính nguyên tắc Khác với BLDS hầuhết các nước, BLDS Việt Nam năm 2005 đưa ra một khái niệm về năng lực pháp luật TheoĐiều 14.1 BLDS năm 2005: “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cánhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự.”

Như vậy so với pháp luật các nước, BLDS Việt Nam dường như khá cẩn thận khiđưa ra khái niệm này Tuy nhiên, điều đáng tiếc là khái niệm được nêu trong Điều 14.1BLDS năm 2005 cũng gây nên sự nhầm lẫn là bao gồm khả năng có cả “quyền dân sự” và

cả “nghĩa vụ dân sự” Điều này không phù hợp với cách hiểu chung về năng lực pháp luậtcủa các nước bởi theo pháp luật các nước năng lực pháp luật chỉ đồng nghĩa với khả nănghưởng quyền.2

1 BLDS Đức, Pháp, Hà Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Canana…

Trang 2

1.2 Thời điểm bắt đầu năng lực pháp luật

Về thời điểm bắt đầu năng lực pháp luật của cá nhân được ghi nhận trong BLDSnăm 2005 có thể nói là tương đồng với BLDS của các quốc gia đó là đều được xác địnhvào thời điểm cá nhân được sinh ra.3 Tuy nhiên khác với pháp luật Việt Nam, pháp luật một

số nước bên cạnh việc qui định năng lực này phát sinh từ thời điểm cá nhân được sinh racòn qui định một cách chính xác đó là thời điểm thai nhi hoàn toàn tách ra khỏi cơ thể củangười mẹ.4 Bộ luật dân sự một số quốc gia khác tuy không có qui định cụ thể chính xác đó

là thời điểm thai nhi hoàn toàn tách ra khỏi cơ thể người mẹ nhưng khoa học pháp lý cácquốc gia này đều xác định rõ thời điểm này được xác định là thời điểm thai nhi hoàn toàntách rời khỏi cơ thể người mẹ như pháp luật Nhật Bản, Cộng hòa Pháp Việc thiếu qui địnhchính xác thời điểm bắt đầu có năng lực pháp luật của cá nhân trong BLDS năm 2005 dẫnđến sự hiểu lầm của không ít người Những người này căn cứ vào qui định tại Điều31.2BLDS: “Trẻ sơ sinh, nếu chết sau khi sinh thì phải được khai sinh và khai tử; nếu chếttrước khi sinh hoặc sinh ra mà chết ngay thì không phải khai sinh và khai tử” và qui địnhtại Điều 23 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27 tháng 12 năm 2005 vềđăng ký và quản lý hộ tịch “Trẻ em sinh ra sống được từ 24 giờ trở lên rồi mới chết cũngphải đăng ký khai sinh và đăng ký khai tử Nếu cha, mẹ không đi khai sinh và khai tử, thìcán bộ Tư pháp hộ tịch tự xác định nội dung để ghi vào Sổ đăng ký khai sinh và Sổ đăng

ký khai tử Trong cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh và Sổ đăng ký khai tử phải ghi rõ

"Trẻ chết sơ sinh” để đưa ra kết luận một đứa trẻ sinh ra sống được 24 giờ trở lên thì mớiđược xem là "sinh ra và còn sống" và thời điểm sinh của cá nhân được xác định theo ngàykhai sinh do cơ quan hộ tịch thực hiện.5 Với cách lập luận này thậm chí còn có người chorằng bào thai chưa được xem là đối tượng điều chỉnh của Bộ luật Dân sự năm 2005.6 Kếtluận này theo chúng tôi là không hợp lý Điều 14 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP qui định

3 Xem Điều 14.3 BLDS 2005, Điều 1 BLDS Đức,

4 Xem Điều Điều 1 BLDS Đức, Điều 15 BLDS, Thương mại Thái Lan, Điều 41 BLDS Philippin

5 Xem http://diendankienthuc.net/diendan/luat-dan-su-ttds/46803-nang-luic-phaip-luait-dan-sui-cuia-cai-nhan.html

6 Xem An Quý Thai nhi bị dị tật: Bỏ hay giữ? http://www.phunuonline.com.vn/2011/Pages/thai-nhi-bi-di-tat-bo-hay-giu.aspx

Trang 3

trách nhiệm đi khai sinh cho trẻ em có thời hạn là 60 ngày7- một khoảng thời gian khá dài

và có thể phát sinh rất nhiều sự kiện pháp lý Do vậy, nếu những người có trách nhiệmchưa thực hiện nghĩa vụ đăng ký khai sinh thì rõ ràng năng lực pháp luật dân sự của cánhân chưa được xem là bắt đầu (thời điểm sinh) và hệ quả là quyền và lợi ích của trẻ sơsinh cũng như những người có quyền và nghĩa vụ liên quan không được bảo đảm

Khác với quan điểm nêu trên, theo chúng tôi cụm từ “sinh ra” được ghi nhận tạiĐiều 14.3 BLDS năm 2005cần phải được hiểu trong ngữ cảnh với các qui định của Điều

635 và Điều 685.1 BLDS Theo Điều 635 chúng ta nhận thấy BLDS chỉ đòi hỏi “Người

thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết.” Bên cạnh đó, Điều 633.1 BLDS lại qui định thời điểm mở thừa kế được xác định là “thời điểm người có tài sản chết” – một mốc thời gian mềm dẻo dễ thích ứng với mọi trường

hợp thay vì một mốc thời gian cứng không thích hợp với mọi tình huống trong cuộc sốngnhư ngày, giờ, phút hay giây Hơn thế Điều 685.1 còn qui định: “Khi phân chia di sản nếu

có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di

sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng, để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra, được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được

hưởng.” cho thấy BLDS chỉ xác định thời điểm cá nhân được sinh ra chứ không xác địnhmột khoảng thời gian sau khi sinh để được xem là có năng lực pháp luật

Mặt khác, tại các Điều 635, Điều 612.2.a và Điều 685.1 BLDS luôn nhắc đến cụm từ

“còn sống khi sinh ra” Điều này cho thấy bên cạnh điều kiện được sinh ra, để có được

năng lực pháp luật BLDS còn đòi hỏi cá nhân phải thỏa mãn điều kiện “còn sống” Tuynhiên, BLDS Việt Nam cũng không có qui định nào đề cập đến như thế nào được coi là cònsống như khi được sinh ra đứa trẻ đó còn thở hay đứa trẻ đó có đầy đủ các khả năng sinh lý

để tồn tại không? Về vấn đề này pháp luật một số nước có giải pháp khá rõ ràng Chănghạn như Cộng hòa Pháp cho rằng một đứa trẻ được sinh ra và còn sống là đứa trẻ có khảnăng sinh lý để tồn tại đồng thời cũng chỉ rõ khả năng sinh lý này chỉ có thể có nếu nhưđứa trẻ đó được sinh ra sau 20 tuần tuổi hoặc cân nặng từ 500 gram trở nên Hay như Điều

7 Điều 14 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP qui định: “Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh con, cha, mẹ có trách nhiệm đi

Trang 4

41 BLDS Philippin lại đòi hỏi đối với nếu thai nhi chưa đủ 7 tháng tuổi được sinh ra màchết trong vòng 24 giờ sau khi sinh thì không được coi là sinh ra.

Bên cạnh qui định mang tính nguyên tắc chung về thới điểm bắt đầu năng lực phápluật dân sự, giống như các nước8 BLDS Việt Nam9 cũng đưa ra các trường hợp ngoại lệ,theo đó năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có hiệu lực hồi tố Đó là, cá nhân được xem

là đã có năng lực pháp luật kể từ thời điểm thành thai nếu được sinh ra và còn sống.10 Đây

là nguyên tắc đã được ghi nhận trong luật La mã cổ theo đó, một đứa trẻ đã được thụ thaiđược xem như đã được sinh ra nếu có lợi cho nó.11 Tuy nhiên BLDS Việt Nam mới chỉdừng lại ở 2 qui định cụ thể chứ chưa có qui định mang tính nguyên tắc chung như BLDScác nước.12 Điều này dẫn đến sự thiếu hụt của BLDS trong việc bảo vệ quyền của thai nhicũng như thiếu tính bao quát của BLDS bởi lẽ trên thực tế hiện nay chúng ta vẫn thừa nhậnviệc ký kết các hợp đồng bảo hiểm mà đối tượng đưởng hưởng lợi là thai nhi

1.3 Thời điểm chấm dứt năng lực pháp luật

Theo Điều 14.3 BLDS năm 2005, năng lực pháp luật dân sự của cá nhân chấm dứtkhi người đó chết Qui định này của BLDS năm 2005 là tương đồng với BLDS các nước.Tuy nhiên chúng ta cũng cần lưu ý để tránh việc hiểu thiếu chính xác thời điểm chết (chấmdứt) và thời điểm sinh (bắt đầu) theo Nghị định số 158/2005/NĐ-CP như đã phân tích ởtrên

Cũng như BLDS các nước, BLDS Việt Nam không đưa ra khái niệm về cái chết.Trên thực tế không phải lúc nào người ta, thậm chí là một bác sĩ cũng có thể biết chính xáccái chết diễn ra Tuy nhiên, việc xác định cái chết của một người là rất quan trọng vì nó ảnhhưởng đến tư cách pháp lý dân sự cũng như đến sự phát sinh hay chấm dứt một quan hệpháp luật Điều này được thấy rõ trong quan hệ thừa kế và bảo hiểm Chẳng hạn như đốivới trường hợp những người được có quyền thừa kế di sản của nhau: nếu như có bằng

8 Điều 725, Điều 906 BLDS Pháp

9 Điều 612, Điều 635, Điều 685 BLDS

10 Xem Điều 635, Điều 685 BLDS 2005

11 Xem Vũ Văn Mẫu Luật học đại cương,Sài gòn 1972 Tr 340.

12 Xem Điều 1:2 BLDS Hà Lan, Điều 16 BLDS Pháp, Điều 40 BLDS Philippin

Trang 5

chứng chứng minh họ chết ở những thời điểm khác nhau thì việc thừa kế sẽ được giảiquyết khác nhưng nếu như không có bằng chứng chứng minh ai chết trước ai chết sau thìviệc thừa kế lại được giải quyết khác Khác với một số quốc gia,Việt Nam lựa chọn giảpháp suy đoán những người nay chết cùng thời điểm và không cho họ được thừa kế củanhau.

1.4 Bình đẳng về năng lực hưởng quyền của cá nhân

Năng lực pháp luật được xem là thuộc tính gắn liền cá nhân Thời điểm phát sinh vàchấm dứt của năng lực pháp luật cũng chính là thời điểm cá nhân được sinh ra hay chết.Theo Điều 14.2 BLDS năm 2005 “Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự nhưnhau” Tuy nhiên, qui định này cũng chưa hoàn toàn chính xác bởi thực chất năng lực phápluật của cá nhân là không hoàn toàn giống nhau Đặc biệt là khả năng để có các quyền gắnvới nhân thân và bản chất sinh lý của con người như các quyền kết hôn.13 Nếu xem xétĐiều 14.2 BLDS năm 2005 là qui định mang tính nguyên tắc về sự bình đẳng về năng lựchưởng quyền của cá nhân, thì Điều 16 BLDS với qui định: “Năng lực pháp luật dân sự của

cá nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp do pháp luật quy định.” Được xem là ngoại lệcủa Điều 14.2 Về vấn đề này có lẽ Điều 11 BLDS Thụy sĩ đưa ra giải pháp hợp lý hơn vớiqui định về năng lực pháp luật tại Điều 11 Theo đó:

“ 1 Mọi người đều có năng lực pháp luật

2 Theo đó, trong phạm vi pháp luật, mọi thể nhân đều có cùng năng lực để có cácquyền và nghĩa vụ.”

2 Năng lực hành vi của cá nhân

2.1 Khái niệm năng lực hành vi

Cũng giống như năng lực pháp luật, trong BLDS của hầu hết các nước không đưa rakhái niệm năng lực hành vi (năng lực hành xử) Tuy nhiên, thông qua các qui định củaBLDS các nước, năng lực hành vi được hiểu là năng lực thực hiện các quyền và nghĩa vụ.Khác với BLDS các nước, BLDS năm 2005 đưa ra khái niệm năng lực hành vi thông quaqui định: “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi củamình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.” Với qui định này ta có thể nhận thấynăng lực pháp luật chính là tiền đề, điều kiện để cá nhân có năng lực hành vi Như vậy có

Trang 6

thể nói năng lực hành vi dân sự thực chất là năng lực về ý chí, năng lực phán đoán, nănglực hành động và năng lực chịu trách nhiệm về các hành vi pháp lý của mình Xuất phát từquan niệm chung như vậy nên BLDS Việt Nam cũng như BLDS các nước đều qui định vềchế độ năng lực hành vi dựa trên cơ sở năng lực phán đoán và được xem xét dưới hai khíacạnh: năng lực xác lập giao dịch và năng lực gánh chịu trách nhiệm về hành vi của mình

Trên cơ sở đó, BLDS Việt Nam chia năng lực hành vi dân sự của cá nhân thành cácmức:

 Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ

 Người có năng lực hành vi dân sự không đầy đủ

 Người không có năng lực hành vi dân sự

 Người bị mất năng lực hành vi dân sự

 Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

So với BLDS các nước, ngoại trừ có sự khác biệt về độ tuổi thành niên có thể nóicác qui định về năng lực hành vi của Việt Nam là khá tương đồng với các qui định về nănglực hành vi của các nước Đó là đều qui định:

 Thừa nhận người thành niên và có năng lực ý chí là người có năng lực hành viđầy đủ

 Chế độ hỗ trợ về mặt pháp lý cho người có năng lực phán đoán thấp

 Hậu quả pháp lý đối với những giao dịch do người có năng lực phán đoánthấp xác lập mà không được sự đồng ý của người giám hộ

Bên cạnh những điểm tương đồng đó, các qui định về năng lực hành vi của BLDSViệt Nam cũng còn một số điểm cần được xem xét

2.2 Về độ tuổi thành niên

Như trên đã nêu trong hệ thống pháp luật dân sự các nước, qui định về độ tuổi thànhniên có sự khác biệt Điều này là hoàn toàn dễ hiểu và không phải là vấn đề mà chúng tôimuốn đề cập Điều mà chúng tôi muốn đề cập đến là sự thiếu tương thích giữa độ tuổithành niên và năng lực hành vi được qui định trong BLDS với các luật có liên quan Chẳnghạn, theo Điều18, Điều19 BLDS, người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trởlên, có năng lực phán đoán đầy đủ Đối với những người này họ được toàn quyền tham giamọi giao dịch dân sự Ngược lại những người chưa thành niên là người chưa đủ mười támtuổi Những người chưa thành niên là người từ đủ mười năm đến chưa đủ mười tám tuổi và

Trang 7

có khả năng phán đoán được xem là người có năng lực hành vi một phần và có thể trực tiếptham gia vào một số giao dịch nhất định nếu như có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa

vụ hoặc có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật Tuy nhiên, theo Luật hôn nhân vàgia đình trong trường hợp người kết hôn là nữ thì độ tuổi kết hôn là bước vào tuổi mườitám Vấn đề được đặt ra là: Họ có quyền xác lập những giao dịch được đề cập trong Điều20.2 BLDS hay không? Nếu không thì ai là người đại diện theo pháp luật của họ?

Trang 8

2.3 Về bảo vệ người chưa có năng lực phán đoán

Để hỗ trợ cho những người không có năng lực hành vi đầy đủ, không có năng lựchành vi hay mất năng lực hành vi, pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật các nước quiđịnh hình thức pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của những người này Về cơ bản cácqui định này là khá phù hợp và chi tiết, tuy nhiên pháp luật Việt Nam dường như chưa dựliệu các trường hợp liên quan đến người có khả năng phán đoán thấp Chẳng hạn nhưngười không có khả năng phán đoán không liên tục hay người không có khả năng phánđoán đối với những giao dịch có giá trị lớn Bên cạnh đó, BLDS Việt Nam cũng chỉ quiđịnh một hình thức pháp lý hỗ trợ duy nhất áp dụng chung cho mọi trường hợp Về vấn đềnày pháp luật Nhật Bản qui định khá chi tiết Một mặt, pháp luật Nhật Bản chia người chưa

có năng lực phán đoán đầy đủ thành nhiều loại: chưa thành niên; người thành niên nhưngliên tục không có khả năng không phán đoán; người thành niên nhưng có khả năng phánđoán không liên tục; người thành niên không có khả năng phán đoán đối với những giaodịch có giá trị lớn Tương ứng với những người nêu trên, pháp luật Nhật bản qui định 3 loạingười hỗ trợ về mặt pháp lý cho người có năng lực phán đoán thấp (người có năng lựchành vi hạn chế) Đó là: Người đại diện theo pháp luật dành cho người chưa thành niên(dưới 20 tuổi); Người giám hộ dành cho người thành niên nhưng liên tục không có khảnăng không phán đoán; Người bảo trợ dành cho người thành niên nhưng có khả năng phánđoán không liên tục; Người trợ giúp dành cho người thành niên không có khả năng phánđoán đối với những giao dịch có giá trị lớn

Tuy nhiên, sự khác biệt lớn hơn ở đây là pháp luật Nhật bản qui định cụ thể hơn sovới pháp luật Việt nam về phạm vi thẩm quyền đại diện của người đại diện theo pháp luậttương ứng với khả năng phán đoán của người có năng lực phán đoán thấp.14

14 Xem từ Điều 5 đến Điều 19 BLDS Nhật Bản

Trang 9

Ngoài ra, BLDS Nhật Bản không chỉ dừng lại ở qui định “Người chưa thành niênphải có sự đồng ý của những người đại diện hợp pháp khi thực hiện các hành vi pháp lý”như pháp luật Việt Nam15 mà còn chú trọng bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niênbằng cách đưa ra qui định “ Người chưa thành niên phải có sự đồng ý của những người đạidiện hợp pháp khi thực hiện bất kỳ một hành vi pháp lý nào, trừ những hành vi đơn thuầnchỉ nhằm mục đích hưởng quyền hoặc giảm nhẹ nghĩa vụ.”16 Như vậy, BLDS Việt Namchưa dự liệu hết các trường hợp bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên và qua đó gópphần nhằm bảo đảm sự an toàn và thúc đẩy sự phát triển của các giao dịch dân sự, kinh tế

2.4 Về bảo vệ quyền của người có năng lực phán đoán đầy đủ

Bên cạnh việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có năng lực phán đoánthấp, pháp luật các nước còn bảo vệ quyền và lợi ích của người có năng lực phán đoán đầy

đủ khi họ tiến hành giao dịch với người có năng lực phán đoán thấp nhằm tạo ra môitrường an toàn và thúc đẩy các giao lưu dân sự phát triển Chẳng hạn, Pháp luật Nhật bảncho phép người thành niên đã xác lập một giao dịch với người chưa thành niên được phép

ấn định một khoảng thời gian (ít nhất là 1 tháng) và yêu cầu người chưa thành niên hoặcngười đại diện theo pháp luật của người chưa thành niên trả lời “chấp nhận hay huỷ bỏ hợpđồng này” trong khoảng thời gian đó Nếu không có câu trả lời trong khoảng thời gian đó,thì giao dịch được coi là được chấp nhận (truy nhận) và sau này người được yêu cầu trả lờimất đi quyền huỷ bỏ hợp đồng đó.17 Hay như Tuyển tập lần thứ hai về Luật hợp đồng doViện Luật Hoa kỳ (Viện có chức năng thống nhất luật tư Hoa Kỳ) năm 1979 lại chỉ chophép người chưa thành niên đã xác lập giao dịch với người thành niên được được phép yêucầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu trước khi tròn mười tám tuổi Điều đó có nghĩa làmặc dù pháp luật qui định trước khi người giao kết hợp đồng đủ tuổi thành niên thì chỉ họmới có quyền yêu cầu tuyên bố hợp đồng đã xác lập là vô hiệu nhưng khi họ bước sang

15 Xem Điều 20.1 BLDS năm 2005.

16 Xem từ Điều 5.1 BLDS Nhật Bản

Trang 10

tuổi thành niên thì người này mất quyền yêu cầu tuyên bố hợp đồng này vô hiệu.18 Nhưvậy, pháp luật Hoa Kỳ tuy đặt ra vấn đề ưu tiên bảo vệ người chưa thành niên khi giao kếthợp đồng nhưng sự bảo vệ này không phải là sự bảo vệ tuyệt đối mà là sự bảo vệ có thờihạn Tuy nhiên, Hoa Kỳ cũng đưa ra giải thích bước sang tuổi thành niên (mười tám tuổi)một cách mềm dẻo đó là mười tám tuổi có tính đến khoảng thời gian hợp lý

Điều này cho thấy pháp luật Hoa Kỳ, Nhật bản đều chỉ bảo vệ quyền và lợi ích củangười chưa thành niên nếu như họ có không “ngủ quên” với chính quyền của mình

Hơn thế nữa pháp luật các nước còn dự liệu tình huống người có năng lực phán đoánthấp sử dụng các cách thức gian dối nhằm làm cho người có năng lực hành vi đầy đủ tinrằng họ là người có năng lực mà xác lập giao dịch thì giao dịch mà người này đã xác lậpkhông bị xem là vô hiệu.19 Như vậy so với pháp luật các nước, về vấn đề này pháp luật Việtnam hiện hành chưa có qui định nào tương tự Điều này cho thấy người xác lập giao dịchvới người chưa thành niên luôn ở trong một tình trạng hết sức bấp bênh bởi giao dịch màanh ta xác lập bất cứ lúc nào cũng có thể bị huỷ bỏ một cách đơn phương bởi người đạidiện theo pháp luật của người chưa thành niên (Điều 18 Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005)hoặc bởi chính người chưa thành niên khi người này đã thành niên (Điều 161 Bộ luật Dân

sự Việt Nam 2005) mặc dù không phải trong bất cứ trường hợp nào người thành niên cũngbiết hoặc buộc phải biết người tham gia giao dịch với mình là người chưa thành niên

Qua đó có thể nhận thấy, pháp luật Việt nam dường như quá chú trọng đến việc bảo

vệ lợi ích của người chưa có năng lực phán đoán đầy đủ chứ chưa có một cái nhìn toàndiện, bảo vệ quyền và lợi ích của các bên giao dịch trong trường hợp một bên của giao dịch

là người có năng lực phán đoán thấp

Trên đây là một vài điểm mà theo chúng tôi khi xây dựng BLDS mới cần được xemxét để BLDS trong tương lai được hoàn thiện hơn

PHÂN LOẠI PHÁP NHÂN VÀ TỔ CHỨC LẠI PHÁP NHÂN THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ

18 Xem § 14 RESTATEMENT (SECOND) OF CONTRACTS “§ 14 Infants: Unless a statute provides otherwise, a natural

person has the capacity to incur only voidable contractual duties until the beginning of the day before the person's eighteenth birthday.

19 Xem Điều 21 BLDS Nhật Bản

Trang 11

VÀ ĐỀ XUẤT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG

TS Hoàng Thị Quỳnh Chi Viện khoa học kiểm sát, VKSNDTC

Pháp nhân là một chủ thể khá phổ biến của quan hệ pháp luật dân sự20 Bộ luậtdân sự năm 2005 dành một chương riêng (Chương IV) trong Phần thứ nhất “Những quyđịnh chung”, gồm 22 điều (từ Điều 84 đến Điều 105) quy định về pháp nhân, trong đóquy định “Những vấn đề chung về pháp nhân” và “Các loại pháp nhân”

I Pháp nhân là gì ?

1 Các quan niệm về pháp nhân

Pháp luật của các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam đều công nhận sự tồntại của pháp nhân với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự Tuy nhiên, hầunhư không có một định nghĩa chung về pháp nhân Pháp luật ở các nước chỉ quy địnhcác điều kiện của pháp nhân, theo đó một tổ chức có tư cách pháp nhân khi có đủ cácđiều kiện sau đây:

- Được thành lập hợp pháp, tồn tại một cách độc lập: sự tồn tại của pháp nhân

không phụ thuộc vào sự thay đổi của các thành viên thuộc pháp nhân đó Vì vậy, phápnhân được xem là một thực thể riêng biệt, độc lập với các thực thể pháp lý khác và độclập với chính các thành viên - chủ sở hữu của pháp nhân Sự độc lập của pháp nhân cònthể hiện ở chỗ: pháp nhân có ý chí riêng và hành động theo ý chí của mình Khi tham giavào các quan hệ với các chủ thể khác, pháp nhân không bị chi phối bởi các chủ thể kháckhi quyết định các vấn đề liên quan đến chức năng, nhiệm vụ được quy định quyết địnhthành lập, điều lệ hoạt động và các quy định của pháp luật đối với pháp nhân

- Có tài sản riêng và chịu trách nhiệm độc lập bằng tài sản đó: tài sản của pháp

nhân hoàn toàn độc lập với tài sản thuộc sở hữu của các thành viên của nó Sau khithành viên đã góp tài sản để thành lập pháp nhân thì phải thực hiện thủ tục chuyểnquyền sở hữu đối với tài sản đã góp đó cho pháp nhân Pháp nhân có toàn quyền chiếm

20 Bên cạnh pháp nhân, chủ thể phổ biến nhất của quan hệ pháp luật dân sự là cá nhân (còn gọi là “thể nhân” hay “tự nhiên

Trang 12

hữu, sử dụng, định đoạt tài sản Thành viên có quyền của chủ sở hữu đối với pháp nhânnhưng không có quyền định đoạt đối với tài sản của pháp nhân đó.

- Nhân danh mình thực hiện những hành vi pháp lý: các hành vi pháp lý của pháp

nhân được thực hiện thông qua người đại diện hợp pháp của pháp nhân Tuy nhiên, khithực hiện hành vi đó, người đại diện của pháp nhân phải nhân danh pháp nhân chứkhông phải nhân danh cá nhân bản thân người đó

2 Quy định của Bộ luật dân sự năm 2005

Ở Việt Nam, trước khi có Bộ luật dân sự, khái niệm pháp nhân đã được ghi nhậntrong một số văn bản quy phạm pháp luật Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 vàNghị định số 17 - HĐBT ngày 16/01/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ)hướng dẫn thi hành Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 quy định các điều kiện đốivới tổ chức có tư cách pháp nhân, bao gồm21: (1) Được thành lập một cách hợp pháp; (2

Có tài sản riêng và chịu trách nhiệm độc lập bằng tài sản đó; (3) Có quyền quyết địnhmột cách độc lập về hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình; (4) Có quyền tự mìnhtham gia các quan hệ pháp luật Tiếp đó, Pháp lệnh hợp đồng dân sự ngày 29/4/1991 đãghi nhân các dấu hiệu cơ bản của pháp nhân, bao gồm: (1) Có tài sản riêng, tự chịutrách nhiệm bằng tài sản của mình; (2) Tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập,

có thể là nguyên đơn hoặc bị đơn trước Toà án: (3) Được thành lập hợp pháp và được phápluật công nhận là một tổ chức độc lập

Bộ luật dân sự năm 1995 chính thức thừa nhận pháp nhân như là một chủ thể củaquan hệ pháp luật và quy định một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điềukiện sau đây22: (1) Được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập,đăng ký hoặc công nhận; (2) Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; (3) Có tài sản độc lập với cánhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; (4) Nhân danh mình tham giavào các quan hệ pháp luật một cách độc lập Trên cơ sở các điều kiện đó, Bộ luật dân sự

21 Khoản 1 Điều 1 Nghị định 17 - HĐBT ngày 16/01/1990 của Hội đồng Bộ trưởng hướng dẫn thi hành Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989

22 Điều 94 Bộ luật dân sự năm 1995.

Trang 13

năm 1995 thừa nhận tư cách pháp nhân của những tổ chức sau đây23: cơ quan nhà nước,đơn vị vũ trang; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội; tổ chức kinh tế; tổ chức xã hội,

tổ chức xã hội- nghề nghiệp; quỹ xã hội, quỹ từ thiện; các tổ chức khác có đủ các điều kiệnquy định tại Điều 94 Bộ luật dân sự

Kế thừa quy định của Bộ luật dân sự năm 1995, Điều 84 Bộ luật dân sự năm 2005tiếp tục quy định một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sauđây:

(1) Được thành lập hợp pháp

Một tổ chức được coi là “thành lập hợp pháp” nếu có mục đích hoạt động, chứcnăng, nhiệm vụ rõ ràng, được thành lập theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Tổchức hợp pháp có thể được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập hoặcđược cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập, đăng ký hoặc công nhận Mỗipháp nhân có thể được thành lập theo trình tự, thủ tục riêng, tùy thuộc vào mục đích hoạtđộng, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của pháp nhân đó

(2) Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ

Pháp nhân phải được tổ chức theo một hình thái cơ cấu tổ chức nhất định, phù hợpvới chức năng, nhiệm vụ và lĩnh vực hoạt động của pháp nhân đó Cơ cấu tổ chức của phápnhân được quy định trong văn bản pháp luật, quyết định thành lập hoặc điều lệ tổ chức vàhoạt động của pháp nhân

(3) Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó

Pháp nhân phải có tài sản riêng của mình Cơ cấu tài sản và nguồn hình thành tài sảncủa pháp nhân tùy thuộc vào từng loại pháp nhân Tài sản của pháp nhân độc lập với tài sảncủa thành viên - chủ sở hữu của pháp nhân và độc lập với các cá nhân, tổ chức khác Phápnhân có quyền chiếm hữu, sửng dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình, đồng thờiphải chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng của mình Các thành viên của pháp nhân chỉ phảichịu trách nhiệm đối với các nghĩa vụ tài sản của pháp nhân trong phạm vi phần vốn đã

Trang 14

góp, không phải dùng tài sản riêng của mình để thực hiện các nghĩa vụ tài sản của phápnhân.

(4) Nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập

Pháp nhân tham gia vào các quan hệ pháp luật với tư cách là một thực thể pháp lýđộc lập, có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật và phù hợp với điều lệ tổchức và hoạt động của pháp nhân đó

Như vậy, theo quy định của Bộ luật dân sự thì pháp nhân trước hết phải là một tổchức Tuy nhiên, không phải tổ chức nào cũng được công nhận là pháp nhân Một tổchức muốn được công nhận là pháp nhân phải có đủ cả bốn điều kiện nêu trên Trongbốn điều kiện đó, có 03 điều kiện là bắt buộc đối với mọi tổ chức, chỉ có điều kiện thứ

ba “Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó”

là dấu hiệu để phân biệt giữa một tổ chức là pháp nhân với tổ chức không phải là pháp

nhân Như vậy, việc quy định cả 4 điều kiện đối với pháp nhân theo Điều 84 Bộ luật dân sựnăm 2005 là chưa hợp lý Chúng tôi cho rằng, Bộ luật dân sự cần quy định rõ những điềukiện bắt buộc đối với một tổ chức được công nhận là pháp nhân, đó là: (1) tổ chức đó phảiđăng ký tư cách pháp nhân với cơ quan nước có thẩm quyền; (2) tổ chức đó phải có tài sảnđộc lập với thành viên của mình và độc lập với cá nhân, tổ chức khác; (3) tổ chức đó phảichịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình, các thành viên không phải dùng tài sảnriêng để thực hiện các nghĩa vụ tài sản của tổ chức đó

II Phân loại pháp nhân

Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về phân loại pháp nhân theo tính chất sở hữuvốn điều lệ của pháp nhân Theo Điều 100 Bộ luật dân sự năm 2005, có các loại phápnhân sau đây:

1 Pháp nhân là cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân

Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân là những pháp nhân nắm giữ quyềnlực công cộng, được Nhà nước giao tài sản để thực hiện chức năng, nhiệm vụ do Nhànước giao cho (do đó, còn được gọi là các pháp nhân công pháp) Các pháp nhân nàyhoạt động bằng nguồn kinh phí do ngân sách nhà nước cấp và chịu trách nhiệm dân sựtrong phạm vi kinh phí được cấp từ ngân sách nhà nước Trong trường hợp các pháp

Trang 15

nhân này thực hiện các hoạt động có nguồn thu theo quy định của pháp luật thì sẽ phảichịu trách nhiệm dân sự liên quan đến hoạt động có thu bằng tài sản thu được từ hoạtđộng này.

2 Pháp nhân là tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội

Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội được thành lập và hoạt động để phục

vụ lợi ích chung của xã hội theo quy định tại điều lệ của tổ chức đó Đối với các tổ chứcchính trị, tổ chức chính trị - xã hội được thành lập từ trước khi có Nhà nước dân chủnhân dân và đã được ghi nhận trong Hiến pháp thì tư cách pháp nhân của các tổ chứcnày được công nhận một cách đương nhiên (ví dụ: Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam, Công đoàn, Đoàn thanh niên…) Đối với các tổ chức do cơ quan nhànước có thẩm quyền quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập, thì tư cách phápnhân của tổ chức đó được xác định theo văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Khi tham gia vào các quan hệ dân sự, các pháp nhân là tổ chức chính trị, tổ chứcchính trị - xã hội phải tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình, trừ trường hợp phápluật quy định một số loại tài sản không được sử dụng để thực hiện các nghĩa vụ dân sựcủa pháp nhân như trụ sở của các cơ quan Đảng, Mặt trận Tổ quốc, Công đoàn… Tàisản của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội không thể phân chia cho các thànhviên

3 Pháp nhân là tổ chức kinh tế

Các tổ chức kinh tế được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luậtnhằm thực hiện mục đích kinh doanh Các tổ chức này có thể tồn tại và hoạt động dướihình thức doanh nghiệp (công ty nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổphần, công ty hợp danh) hoặc hợp tác xã Tư cách pháp nhân của các tổ chức kinh tếđược xác định theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, hợp tác xã và theo điều lệ

tổ chức và hoạt động của tổ chức kinh tế đó

Tài sản của các pháp nhân là tổ chức kinh tế được hình thành từ vốn góp của cácthành viên - chủ sở hữu pháp nhân Đối với pháp nhân là công ty nhà nước thì tài sảncủa pháp nhân là do Nhà nước đầu tư Tuy nhiên, sau khi chủ đầu tư đã góp vốn đểthành lập pháp nhân thì phần vốn góp đó thuộc sở hữu của pháp nhân, trở thành tài sản

Trang 16

riêng của pháp nhân hoàn toàn độc lập với tài sản của thành viên (người góp vốn) Khitham gia vào các quan hệ dân sự, pháp nhân phải chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng đó.

4 Pháp nhân là tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức

xã hội nghề nghiệp

Tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp

là những pháp nhân được thành lập trên cơ sở tự nguyện của các thành viên Mỗi tổchức có chức năng, nhiệm vụ riêng được quy định trong điều lệ của tổ chức đó Tài sảncủa tổ chức này do các hội viên đóng góp trên cơ sở tự nguyện và từ các nguồn kháctheo quy định của pháp luật và điều lệ của tổ chức đó Các tổ chức này chịu trách nhiệmbằng tài sản riêng của mình Hội viên chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốngóp của họ Trong trường hợp pháp nhân chấm dứt hoạt động thì tài sản của pháp nhânkhông được phân chia cho các hội viên mà phải được giải quyết theo quy định của phápluật

5 Pháp nhân là quỹ xã hội, quỹ từ thiện

Quỹ xã hội, quỹ từ thiện được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập,công nhận điều lệ, hoạt động vì mục đích khuyến khích phát triển văn hoá, khoa học, từthiện và các mục đích xã hội, nhân đạo khác không nhằm mục đích thu lợi nhuận Khitham gia quan hệ dân sự, quỹ xã hội, quỹ từ thiện được công nhận là pháp nhân

Tài sản của quỹ xã hội, quỹ từ thiện được quản lý, sử dụng và định đoạt theo quy địnhcủa pháp luật và phù hợp với mục đích hoạt động của quỹ do điều lệ quy định Quỹ xã hội,quỹ từ thiện chỉ được phép tiến hành các hoạt động quy định trong điều lệ được cơ quannhà nước có thẩm quyền công nhận, trong phạm vi tài sản của quỹ và phải chịu tráchnhiệm dân sự bằng tài sản đó

Người sáng lập quỹ xã hội, quỹ từ thiện không phải chịu trách nhiệm dân sự bằng tàisản thuộc sở hữu của mình về các hoạt động của quỹ và không được phân chia tài sản củaquỹ trong quá trình quỹ hoạt động Trong trường hợp quỹ xã hội, quỹ từ thiện chấm dứt hoạtđộng thì tài sản của quỹ không được phân chia cho các sáng lập viên mà phải được giảiquyết theo quy định của pháp luật

Trang 17

Ngoài 5 loại pháp nhân kể trên, khoản 6 Điều 100 Bộ luật dân sự năm 2005 cònquy định: tổ chức khác có đủ các điều kiện quy định tại Điều 84 của Bộ luật dân sựcũng được công nhận là pháp nhân.

Có thể nhận thấy, việc phân chia pháp nhân thành 06 loại như quy định của Bộluật dân sự năm 2005 chưa làm rõ được sự khác biệt về quyền đối với tài sản và cơ chếchịu trách nhiệm dân sự đối với từng loại pháp nhân và về cơ bản không cho thấy mụcđích, ý nghĩa của việc phân chia pháp nhân thành nhiều loại như vậy để làm gì

Xét về thực tiễn, chỉ có sự khác nhau về quyền tài sản và cơ chế chịu trách nhiệmdân sự đối với 02 loại pháp nhân là pháp nhân công pháp và pháp nhân tư pháp Trong

đó, pháp nhân công pháp bao hàm các tổ chức được Nhà nước giao thực hiện quyền lựccông cộng, thực hiện một trong các chức năng của Nhà nước hoặc đảm nhiệm một vaitrò trong hệ thống chính trị Các pháp nhân công pháp chịu trách nhiệm liên quan đếnviệc thực hiện chức năng, nhiệm vụ bằng tài sản/kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp.Còn pháp nhân tư pháp là những tổ chức có tài sản riêng, chịu trách nhiệm dân sự bằngtài sản của mình Chúng tôi cho rằng, có thể nghiên cứu sửa đổi cách phân loại phápnhân trong Bộ luật dân sự theo tiêu chí này

III Tổ chức lại pháp nhân

Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005, có các hình thức tổ chức lại phápnhân sau đây:

Hợp nhất pháp nhân

Hợp nhất pháp nhân là trường hợp hai hoặc nhiều pháp nhân cùng loại liên kết vớinhau thành lập một pháp nhân hoàn toàn mới theo quy định của điều lệ, theo thoả thuậngiữa các pháp nhân hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Sau khihợp nhất, các pháp nhân cũ chấm dứt sự tồn tại, nhưng các quyền, nghĩa vụ dân sự của cácpháp nhân cũ được chuyển giao cho pháp nhân mới

Sáp nhập pháp nhân

Sáp nhập pháp nhân là trường hợp một pháp nhân (gọi là pháp nhân được sáp nhập)được sáp nhập vào một pháp nhân khác cùng loại (gọi là pháp nhân sáp nhập) theo quyđịnh của điều lệ, theo thoả thuận giữa các pháp nhân hoặc theo quyết định của cơ quan nhà

Trang 18

nước có thẩm quyền Sau khi sáp nhập, pháp nhân được sáp nhập chấm dứt, nhưng cácquyền và nghĩa vụ dân sự của pháp nhân được sáp nhập được chuyển giao cho pháp nhânsáp nhập.

Chia pháp nhân

Chia pháp nhân là trường hợp một pháp nhân được chia thành hai hay nhiều phápnhân theo quy định của điều lệ hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.Sau khi chia, pháp nhân bị chia chấm dứt, nhưng quyền và nghĩa vụ dân sự của pháp nhân

bị chia được chuyển giao cho các pháp nhân mới

Tách pháp nhân

Tách pháp nhân là trường hợp một pháp nhân được tách thành hai hoặc nhiều phápnhân theo quy định của điều lệ hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.Sau khi tách, pháp nhân bị tách và pháp nhân được tách thực hiện quyền, nghĩa vụ củamình phù hợp với mục đích hoạt động của các pháp nhân đó

Quy định trên của Bộ luật dân sự có một số điểm hạn chế, vướng mắc sau đây :

- Chưa quy định rõ thẩm quyền, điều kiện, trình tự thủ tục đối với từng hình thức tổchức lại pháp nhân, kể cả chỉ là những quy định mang tính nguyên tắc

- Chưa làm rõ sự khác biệt giữa chia pháp nhân và tách pháp nhân

- Trên thực tế, còn có trường hợp chuyển đổi pháp nhân, nhưng chưa được quy địnhtrong Bộ Luật dân sự Trong khi Luật Doanh nghiêp năm 2005 (đã được sửa đổi, bổ sungnăm 2011) đã có quy định về chuyển đổi công ty (Điều 154) và chuyển đổi công ty tráchnhiệm hữu hạn một thành viên Do đó, cần bổ sung quy định vào Bộ luật dân sự

BỘ TƯ PHÁP

Trang 19

VIỆN KHOA HỌC PHÁP LÝ

CHUYÊN ĐỀ

NHỮNG BẤT CẬP TRONG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ VỀ

HỘ GIA ĐÌNH QUA KHẢO SÁT THỰC TIỄN THI HÀNH

TS Nguyễn Văn Cương – Phó Viện trưởng Viện Khoa học pháp lý

ThS Lê Thị Hoàng Thanh – Nghiên cứu viên – Ban NCPL Dân sự Kinh tế

- Viện Khoa học pháp lý.

Hà Nội, tháng 5 năm 2012

NHỮNG BẤT CẬP TRONG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ VỀ HỘ GIA

ĐÌNH QUA KHẢO SÁT THỰC TIỄN THI HÀNH

Trang 20

Điều 106 Hộ gia đình

Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng

đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này.

trong các quy định về hộ gia đình của Bộ luật dân sự qua thực tiễn áp dụng Báo cáo này xin cung cấp thông tin về vấn đề này qua khảo sát tại 4 tỉnh là Lạng Sơn, Thái Bình, Phú Yên và Long An 24

1 Đánh giá quy định của Bộ luật dân sự về hộ gia đình

Hộ gia đình là chủ thể của nhiều quan hệ khác nhau, chẳng hạn như: chủ thể quan hệ pháp luật dân sự (Điều 106 đến Điều 110 Bộ luật Dân sự năm 2005); chủ thể quan hệ pháp luật cư trú,

hộ tịch (Điều 24, 25 Luật cư trú năm 2006); chủ thể quan hệ pháp luật về đăng ký kinh doanh, kinh doanh (Nghị định số 88/2006 NĐ-CP); 25 chủ thể quan hệ pháp luật về đất đai (quan hệ giao đất, cho thuê đất, nhận khoán đất sản xuất, chuyển nhượng, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất)… Ngoài ra hộ gia đình còn là chủ thể trong việc đóng góp xây dựng kết cấu hạ tầng nông

thôn, các chương trình vận động, đóng góp tình nguyện…Hộ gia đình với tư cách là chủ thể của

quan hệ pháp luật dân sự là vấn đề có nguồn gốc từ lịch sử và mang tính đặc thù của Việt Nam

1.1 Về khái niệm hộ gia đình

giải thích chính thức khái niệm “hộ gia đình” Thay vào đó, BLDS khẳng định hộ gia đình khi đáp ứng một số điều kiện nhất định sẽ là chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự (Điều 106 BLDS) Cụ thể, theo Điều 106 BLDS, không phải cứ hộ gia đình thì đương nhiên trở thành chủ thể của quan

hệ pháp luật dân sự, mà chỉ các HGĐ hội tụ đủ yếu tố “các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông lâm ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác” Nói cách khác, Điều 106 BLDS chỉ thừa nhận tư cách chủ

thể của hộ gia đình khi giữa các thành viên có sự liên kết về mặt kinh tế và cũng chỉ thừa nhận

tư cách chủ thể trong các quan hệ kinh tế chứ không điều chỉnh tư cách chủ thể của hộ gia đình

khi tham gia các giao dịch tiêu dùng Như vậy, hộ gia đình là chủ thể hạn chế của quan hệ

24 Hoạt động khảo sát sẽ được tiếp tục trong năm 2012 tại 4 tỉnh/thành phố là Hà Nội, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh và Đăk Lawk.

25 “Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được

kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh” (Điều 36, khoản 1)

26 Viện Khoa học pháp lý, Từ điển Luật học (Hà Nội: NXB Từ điển Bách Khoa-NXB Tư pháp, 2006) tr 373.

Trang 21

pháp luật dân sự Mặc dù vậy, có thể thấy rằng, các yếu tố để xác định tư cách chủ thể quan hệ

pháp luật dân sự của HGĐ quy định trong Điều 106 BLDS khá mơ hồ, khó áp dụng chính xác trong thực tiễn

Thực tế khảo sát cho thấy, người dân, cán bộ UBND cấp xã/phường thường không xác định biết khi nào thì một hộ gia đình là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự như quy định tại Điều 106

mà thường đồng nhất khái niệm này với hộ gia đình theo hộ khẩu27 Chỉ một số ít người được khảo sát như các luật sư, thẩm phán, công chứng viên 28 không nhầm lẫn về khái niệm hộ gia đình trong các quan hệ pháp luật dân sự khác nhau Một số thẩm phán cho rằng việc không tách bạch được hộ gia đình trong các quan hệ pháp luật khác nhau là căn nguyên của nhiều vấn đề phức tạp trong thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan đến hộ gia đình

1.2 Về xác định thành viên hộ gia đình

BLDS không quy định về tiêu chí xác định thành viên của hộ gia đình trong quan hệ pháp

luật dân sự, chưa quy định rõ căn cứ vào giấy tờ gì để xác định chính xác thành viên của hộ gia

đình, đặc biệt là thành viên trong quan hệ sử dụng đất của hộ gia đình 29 Trên thực tế việc xác định thành viên của hộ gia đình trong từng quan hệ pháp luật cụ thể thường do UBND cấp xã/phường,

cơ quan công an, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất 30 , … thực hiện.

Bên cạnh đó, sự biến động về thành viên trong hộ gia đình cũng chưa được BLDS dự liệu Dường như trong hình dung của tác giả các quy định về HGĐ của BLDS hiện hành (mà kỳ thực

đã được kế thừa từ BLDS năm 1995), HGĐ như một thực thể tĩnh tại, luôn xác định được chính xác “thành viên”, “chủ hộ”, “tài sản chung/riêng” của HGĐ Trên thực tế, HGĐ không phải luôn

là một chủ thể bất biến mà ngược lại, HGĐ là chủ thể chứa đựng nhiều yếu tố biến động từ các sự kiện sinh, ly, tử, biệt, tách, nhập…, đó là chưa kể sự biến động không ngừng của tài sản chung/riêng giữa các thành viên trong HGĐ 31

27 Chính quyền cấp xã/phương tại Long An, Thái Bình, Phú Yên, Lạng Sơn

28 Tại Thái Bình, trong quá trình công chứng, các công chứng viên thường căn cứ vào sổ hộ khẩu của gia đình đồng thời xác minh công sức đóng góp của cha mẹ, con cái vào tài sản được mang ra giao dịch.

29 Báo cáo Đoàn khảo sát tỉnh Phú Yên

30 Theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường (Quyết định số 08/2006/QĐ-BTNMT ngày 21/7/2006 của Bộ trưởng Bộ TN&MT), để biết thông tin xác định các thành viên hộ gia đình, người có yêu cầu có thể đề nghị Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cung cấp thông tin về các thành viên trong hộ gia đình được Nhà nước giao đất Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất đều có thể xác định được

31 chẳng hạn trường hợp trong hộ khẩu của hộ gia đình có thành viên mới (con dâu/con rể, cháu, chắt …) thì thành viên mới đó

có được tính là thành viên của hộ gia đình trong quan hệ PL dân sự không? nếu những người này cùng tham gia hoạt động sản

Trang 22

Khoản 1 Điều 110 BLDS “…1 Hộ gia đình phải

chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện của hộ gia đình xác lập, thực hiện nhân danh hộ gia đình”

Khoản 1 Điều 107 BLDS: “Chủ hộ là đại

diện của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ Cha, mẹ hoặc một thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ.”

Khoản 2 Điều 107 BLDS: “Giao dịch dân sự

do người đại diện của hộ gia đình xác lập, thực hiện vì lợi ích chung của hộ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả hộ gia đình”,

Theo đánh giá của các thẩm phán, việc xác định thành viên của hộ gia đình rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định ai có quyền với tài sản chung của hộ Trong nhiều vụ việc, Tòa án rất lúng túng trong việc xác định thành viên của hộ vì không rõ tiêu chí xác định là theo hộ khẩu hay theo quan hệ hôn nhân hay theo quan hệ huyết thống Bên cạnh đó, ở mỗi thời điểm khác nhau như thời điểm hình thành tài sản, thời điểm được cấp giấy chứng nhận, thời điểm tòa thụ lý, thành viên của hộ cũng có những biến động làm ảnh hưởng đến việc xác định thành viên của hộ.

1.3.Về đại diện hộ gia đình

cho hộ trong giao dịch dân sự32 Như vậy, chủ hộ của hộ gia đình trong BLDS có thể khác với chủ

hộ ghi trong sổ hộ khẩu được quy định tại Luật Cư trú Chủ hộ của hộ gia đình có thể đồng thời hoặc không đồng thời là chủ hộ trong sổ hộ khẩu Nói cách khác, chủ hộ trong sổ hộ khẩu có thể không đương nhiên có tư cách chủ hộ của hộ gia đình để thực hiện các giao dịch dân sự cho cả hộ (trừ trường hợp được cả hộ ủy quyền) Nhiều ý kiến cho rằng Khoản 1 Điều 107 chưa đưa ra tiêu chí để xác định thành viên nào là chủ hộ của hộ gia đình, quy định một cách đơn giản, dễ dàng về chủ hộ gia đình trong giao dịch dân sự dẫn đến khó khăn khi xác định một thành viên của hộ gia đình xác lập giao dịch dân sự với tư cách cá nhân hay tư cách chủ hộ gia đình, từ đó khó xác định trách nhiệm/nghĩa vụ phát sinh sẽ thuộc về cá nhân hay cả hộ gia đình

thể làm phát sinh nghĩa vụ cho những thành viên khác trong hộ gia đình theo Khoản 1 Điều 110 BLDS Mặt khác, vấn đề chưa rõ ở đây là, các thành viên hộ gia đình phải chịu trách nhiệm thực

32 Chủ hộ gia đình trong quan hệ pháp luật dân sự có thể là chủ hộ theo hộ khẩu (bố hoặc mẹ) có thể là theo cách khác nhu người cao tuổi nhất, người đóng góp công sức tiền của nhiều nhất hoặc theo sự thỏa thuận của tất cả các thành viên trong hộ

Trang 23

Khoản 2 Điều 109 BLDS “Việc định đoạt tài

sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ

đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành

hiện nghĩa vụ theo quy định này là những thành viên đã đủ 15 tuổi có năng lực hành vi dân sự? hay bao gồm cả những thành viên chưa đủ 15 tuổi, thành viên đã đủ 15 tuổi nhưng không có khả năng nhận thức hành vi, có tài sản chung với cả gia đình vẫn phải chịu trách nhiệm liên đới với cả

hộ gia đình? Trường hợp, nếu tài sản chung của hộ gia đình không đủ để thực hiện nghĩa vụ thì thành viên dưới 15 tuổi, thành viên bị mất năng lực hành vi dân sự có tài sản riêng, có phải chịu trách nhiệm liên đới trả nợ hay không.

1.4 Về tài sản của hộ gia đình

Tài sản chung của HGĐ được hiểu theo quy định tại Điều 108 BLDS Tài sản chung chính

là khối tài sản do các thành viên của cả hộ tạo lập nên trong quá trình tiến hành các hoạt động kinh tế chung và các tài sản mặc dù thuộc sở hữu cá nhân nhưng có thỏa thuận góp vào khối tài sản chung, hoặc các tài sản được sử dụng vào mục đích hoạt động kinh tế chung Trong thực tế, tài sản chung này thường bao gồm: quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất (gồm cả đất ở và đất canh tác), rừng, rừng trồng của hộ khi được nhà nước giao đất canh tác, trồng rừng cho hộ và các tài sản chung được tạo thành theo các căn cứ được quy định tại Điều 170 BLDS.

Theo quy định pháp luật hiện hành, trong hộ gia đình có thể tồn tại một hoặc một số hình thức sở hữu khác nhau gồm sở hữu tư nhân (sở hữu riêng của thành viên), sở hữu chung (sở hữu chung vợ chồng (hợp nhất), sở hữu chung theo phần); bên cạnh đó, một tài sản trong gia đình có thể thuộc về nhiều hình thức sở hữu khác nhau (mang tính chất hỗn hợp) Trên thực tế, việc xác định dạng sở hữu, chủ sở hữu dễ bị nhẫm lẫn hoặc khó xác định, chẳng hạn tài sản chung của hộ gia đình nhưng bố mẹ cho rằng đó là tài sản chung hợp nhất của bố mẹ, các con không có quyền đòi hỏi, bố mẹ mua bán cũng không cần tham khảo ý kiến các con

Tại các tỉnh/thành phố đã khảo sát, tài sản chung quan trọng nhất của hộ gia đình phần lớn

là quyền sử dụng đất ở hoặc quyền sử dụng đất nông nghiệp Về bản chất pháp lý có thể được coi

là “sở hữu” chung theo phần do ở đó mỗi người đều có phần cụ thể và được ghi nhận trong văn bản của chính quyền

1.5 Về định đoạt tài sản chung của hộ gia đình

Trang 24

Thứ nhất, xác định thế nào là “tài sản chung có giá trị lớn” của hộ gia đình? Đối với hộ

gia đình này, xe máy là một tài sản lớn, nhưng đối với hộ gia đình khác, ôtô mới là tài sản lớn v.v

Thứ hai, sự đồng ý của các thành viên trong hộ gia đình khi định đoạt tài sản:

- Đối với các “tài sản chung có giá trị lớn”: việc đồng ý của tất cả các thành viên từ đủ 15

tuổi trở lên ở đây không được định rõ là đồng ý bằng hình thức nào (phải thể hiện bằng văn bản, hay chỉ cần đồng ý bằng lời nói).

- Đối với “các loại tài sản chung khác ”: ngoài những tài sản chung có giá trị lớn, “đối với các loại tài sản chung khác, việc định đoạt phải được đa số thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên

đồng ý Điều này có nghĩa rằng, rất nhiều giao dịch định đoạt tài sản chung của hộ gia đình có giá trị không lớn, đều phải có sự đồng ý của các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên Điều này nhiều khi dẫn tới sự phức tạp không cần thiết liên quan đến các giao dịch về tài sản chung của hộ gia đình (giao dịch nhỏ, lẻ như: đem 1 con gà, 1kg thóc, 1 mớ rau của gia đình ra chợ bán )

Thứ ba, giá trị pháp lý của giao dịch định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có

giá trị lớn của hộ gia đình mà không có sự đồng ý của các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên hoặc giao dịch đối với các loại tài sản chung khác mà không có sự đồng ý của đa số thành viên từ

đủ mười lăm tuổi trở lên là không rõ ràng vì BLDS không quy định rõ những hợp đồng này là vô hiệu hay có hiệu lực?

Thứ tư, có sự đan xen trong việc áp dụng quy định của Khoản 2 Điều 109 và Khoản 2

Điều 107 BLDS Khoản 2 Điều 107 quy định: “Giao dịch dân sự do người đại diện của hộ gia đình xác lập, thực hiện vì lợi ích chung của hộ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả hộ gia đình” Trong khi đó, Khoản 2 Điều 109 lại quy định: “Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý.”

Trên thực tế có những giao dịch ban đầu không mang tính chất định đoạt tài sản chung của

hộ gia đình (áp dụng khoản 2 Điều 107, chỉ cần chủ hộ thực hiện), nhưng sau đó quan hệ pháp luật lại chuyển biến thành có tính chất định đoạt (giao dịch phải áp dụng khoản 2 Điều 109, phải

có sự đồng ý của các thành viên), vậy giao dịch đó có hiệu lực hay không? Chẳng hạn, chủ hộ ký kết hợp đồng cầm cố tài sản của gia đình (oto, xe máy) để vay tiền (giao dịch không định đoạt, không chuyển quyền sở hữu tài sản), sau đó, không trả được nợ dẫn đến việc tài sản bị xử lý (quan

Trang 25

hệ cầm cố vay tiền đã trở thành việc gia đình mất quyền sở hữu với tài sản), vậy việc chỉ mình chủ

hộ ký kết hợp đồng cầm cố ban đầu có hợp lý hay không?

2 Thực tế tham gia quan hệ pháp luật dân sự của chủ thể hộ gia đình

Như đã đề cập ở trên, HGĐ tham gia rất nhiều quan hệ pháp luật khác nhau và tham gia nhiều dạng giao dịch dân sự khác nhau Qua hoạt động nghiên cứu khảo sát, Nhóm nghiên cứu nhận thấy có một số dạng giao dịch dân sự mà hộ gia đình tham gia với tư cách chủ thể chủ yếu như vay vốn ngân hàng, mua bán tài sản phục vụ nhu cầu sinh hoạt gia đình hoặc sản xuất kinh doanh, các giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất Nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng từ quy định hiện hành của pháp luật dân sự với nhiều điểm bất cập, thiếu rõ ràng đến thực tiễn cuộc sống vốn phong phú, đa dạng là khoảng cách khá xa, thậm chí là khác biệt Thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật dân sự còn chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khác nhau như quy định có tính đặc thù của pháp luật chuyên ngành, phong tục tập quán của xã hội, trình độ hiểu biết của người dân,… Các nhận định trên sẽ được minh chứng bằng những phân tích sau đây.

 Giao dịch vay vốn ngân hàng

Thực tế khảo sát cho thấy, trong giao dịch thế chấp tài sản chung để vay vốn ngân hàng, ngân hàng thường yêu cầu cả hộ ký- kể cả trong trường hợp đất của cá nhân hoặc đất của vợ chồng Như vậy, việc ngân hàng yêu cầu các thành viên trong gia đình đều phải ký vào hợp đồng thế chấp tài sản là rộng hơn so với chủ thể thực tế sở hữu tài sản/chủ sử dụng đất.

 Giao dịch mua bán tài sản

Trên thực tế, các giao dịch mua bán thông thường trong đời sống xã hội gắn liền với cá nhân đứng ra thực hiện giao dịch, ai mua, bán tài sản nào thì người đó chịu trách nhiệm, như vậy, thành viên trong hộ gia đình tham gia giao dịch với tư cách là cá nhân chứ không có chuyện đặt ra

tư cách đại diện cho hộ gia đình 33 Ví dụ khi A bán cho B thức ăn nuôi gia súc, A không thể biết và không thể phân biệt B đóng vai trò là đại diện của hộ gia đình mua để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh của gia đình hay B là cá nhân mua để phục vụ cho việc chăn nuôi của riêng mình, bởi vậy, nếu B mua nợ A thì A đòi B tiền, chứ A không đòi gia đình của B trả tiền Thực tế này khác biệt với quy định pháp luật hiện hành (Khoản 2 Điều 107, khoản 1 Điều 110) khi xác định hộ gia đình cũng có khả năng chịu trách nhiệm dân sự đối với giao dịch do thành viên của hộ thực hiện.

Tài sản trong các hộ gia đình trên thực tế thường được coi là tài sản của cha mẹ, kinh tế hộ gia đình cũng chủ yếu là quan hệ kinh tế chung của hai vợ chồng, con cái ở chung với cha mẹ có

Trang 26

thể có đóng góp nhưng không có vai trò trong việc ra quyết định mua hay bán 34 Bởi vậy, quy định

về sự đồng ý của thành viên trên 15 tuổi khi chủ hộ thực hiện các giao dịch mang tính định đoạt hầu như không được thi hành.

Thực tế khảo sát các tranh chấp liên quan đến hộ gia đình tại tòa án cho thấy, Tòa án không hoặc ít khi giải quyết vụ việc nào liên quan đến đến giao dịch của hộ gia đình trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tranh chấp phát sinh từ các tài sản mà hộ gia đình làm ra, tranh chấp liên quan đến giao dịch do chủ hộ thực hiện mà không có sự đồng ý của các thành viên khác.

 Giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất

Có thể nói rằng, quyền sử dụng đất của hộ gia đình và các giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất của hộ gia đình là vấn đề phức tạp lớn nhất, nảy sinh nhiều tranh chấp nhất trong thực tiễn tham gia quan hệ pháp luật dân sự của hộ gia đình.

- Về thực trạng giấy tờ về quyền sử dụng đất ghi nhận hộ gia đình là chủ thể sử dụng:

Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, nguồn gốc quyền sử dụng đất của hộ gia đình tương đối phức tạp, bao gồm đất đai của cha ông để lại, đất đai được phân chia sau khi hệ thống các hợp tác xã nông nghiệp tan rã, đất đai nhận chuyển nhượng, được nhà nước giao đất, cho thuê đất… Điều đáng lưu ý là hầu hết giấy tờ liên quan đều ghi nhận quyền sử dụng đất là của hộ gia đình ông A, ông B mà không có ghi nhận những thành viên của hộ cùng có quyền sử dụng đối với mảnh đất đó là ai Một số chính quyền cấp xã 35 có lưu giữ hồ sơ trước bạ, địa chính trong đó xác định họ tên những chủ thể sử dụng đất trong mảnh đất cấp cho hộ nhưng ngược lại, không ít địa phương không có sổ sách theo dõi chủ thể sử dụng của từng mảnh đất

Hơn thế nữa, giai đoạn thực thi Luật đất đai năm 1993, thực hiện hướng dẫn của Tổng cục địa chính theo mẫu giấy tờ cấp đất, phần lớn giấy tờ giao đất của cá nhân, của vợ chồng khi nhà nước cấp giấy chứng nhận đã ghi nhận thành đất của hộ gia đình Tại một số tỉnh thành, chẳng hạn như tại Long An 36 , chỉ một thời gian ngắn sau đó, chính quyền đã tiến hành rà soát từng trường

34 Điều này đúng cả với trường hợp con thành niên và chưa thành niên: việc có được tham gia quyết định hay không phụ thuộc vào việc có được cha mẹ cho tham gia ý kiến hay không.

35 Chẳng hạn tại Thái Bình, chính quyền giao đất cho hộ gia đình theo định suất cho các thành viên có tên trong sổ hộ khẩu gia đình tại thời điểm giao đất và lưu giữ sổ sách về các thành viên trong sổ địa chính.

36 Tại tỉnh Long An, hầu hết giấy tờ đất đai đều ghi nhân chủ thể sử dụng đất là cá nhân, vợ chồng, không có hoặc rất ít giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi “hộ gia đình” Đặc điểm này xuất phát từ thực tế trước năm 1975, Long An là địa bàn thuộc miền Nam cộng hòa với chế độ tư hữu ruộng đất, đặc điểm này đã ảnh hưởng không nhỏ đến cách thức xử lý của chính quyền

về đất đai, tạo ra sự khác biệt so với một số tỉnh miền Bắc

Từ thời kỳ đổi mới cho đến nay, chính quyền cá thể hóa việc cấp đất (chỉnh sửa giấy tờ đã cấp hoặc giấy tờ cấp mới ghi nhận đất cấp cho cá nhân, vợ chồng); chỉ một số trường hợp dân phía nam về Đông Tháp Mười khai hoang thì có cấp theo hộ, tính mỗi hộ được 1.3 ha Trên thực tế có trường hợp người đứng tên chủ hộ trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không phải là chủ hộ gia đình trong sổ hộ khẩu gia đình Tại các xã An Vĩnh Ngãi, xã Long Trì – Huyện Châu Thanh tại thời điểm Nhóm nghiên cứu tiến hành hoạt động khảo sát (tháng 12/2011) chính quyền xã cho biết hiện tại không còn quỹ đất để cấp mới,

Trang 27

hợp cụ thể và điều chỉnh các hồ sơ giao đất, cho thuê đất cho hộ gia đình thành các trường hợp giao đất, cho thuê đất cho cá nhân, vợ chồng, hộ gia đình đúng với chủ thể sử dụng đất trên thực

tế Tuy nhiên, tại phần lớn các tỉnh, thành trong cả nước cơ quan địa chính đã không thực hiện công việc này hoặc thực hiện nhưng không triệt để.

Đến năm 2000, sau khi Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 được ban hành, Luật đất đai năm

1993 được sửa đổi, bổ sung, nhà nước có chủ trương cấp lại giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất, một lần nữa, theo hướng dẫn và mẫu sổ đỏ của Tổng cục địa chính, nhiều giấy tờ đứng tên cá nhân, vợ chồng được chuyển thành giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình.

Thực trạng trên cho thấy, việc xác định chủ thể thực sự của quyền sử dụng đất của hộ gia đình trở thành “mê cung” mà ở đó các nhà nghiên cứu, xây dựng pháp luật chính sách lẫn những người thực thi như cán bộ chính quyền cơ sở, thẩm phán, công chứng viên… không dễ dàng gỡ rối, tách bạch rõ ràng.

- Từ những bất cập trong việc xác định thành viên có quyền đối với tài sản của hộ gia đình, đặc biệt là nhà và đất, đã nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp:

+ Một số đối tượng trong giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhà ở lợi dụng biến

động giá cả của thị trường và lợi dụng chi tiết việc mua bán tài sản không có đủ sự đồng ý của các thành viên để yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu, gây phức tạp trong quan hệ xã hội

+ Nhiều trường hợp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ ghi chung chung như: Cấp cho

hộ gia đình Ông A hay cấp cho tộc họ Nguyễn…nhưng thực tế thửa đất lại thuộc quyền sử dụng của cả vợ và chồng hoặc của các thành viên khác trong gia đình nên khi có tranh chấp Tòa án phải mất nhiều thời gian thẩm tra, xác minh để làm rõ những người có quyền sử dụng đất cụ thể là những ai trong hộ gia đình, trong tộc họ Các đương sự thường cho rằng cho rằng việc xét xử của Tòa án là thiếu tính thuyết phục nên thường có đơn kêu oan gửi nhiều cơ quan Nhà nước, gây ra tâm lý thiếu tin cậy vào cơ quan Tòa án của người dân

+ Nhiều trường việc xác định thành viên hộ gia đình giữa các tòa là không thống nhất Có Tòa dựa vào tiêu chí cư trú để quan niệm rằng người đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp, thành viên của hộ gia đình nếu đã tách khẩu, chuyển đi nơi khác sinh sống thì không còn quyền đối với việc sử dụng đất nữa, có Tòa lại cho rằng giấy tờ ghi nhận quyền sử dụng đất là văn bản quan trọng để xác định những thành viên có quyền đối với việc sử dụng đất chứ không nên căn cứ vào việc họ có còn cư trú ở địa phương nữa hay không Có Tòa cho rằng

vì vậy người dân, vợ chồng hoặc hộ gia đình có đất thường do cha mẹ để lại hoặc nhận chuyển nhượng UBND tỉnh cũng có

Trang 28

việc xác định thành viên trong gia đình theo sổ hộ khẩu là căn cứ quan trọng để xác định chủ thể

có quyền sử dụng đất, có Tòa lại cho rằng phải căn cứ vào thành viên thực tế của gia đình tại thời điểm cấp đất để xác định chủ thể có quyền sử dụng đất.

3 Quan điểm về việc có nên duy trì chế định chủ thể hộ gia đình trong bộ luật dân sự nữa hay không

Nhóm nghiên cứu đã nêu hai phương án về việc hoàn thiện quy định của Bộ luật Dân sự và lấy ý kiến của người dân, cán bộ chính quyền cơ sở, chuyên gia pháp luật, luật sư, thẩm phán.

Phương án 1: không đề cập đến hộ gia đình là chủ thể quan hệ pháp luật dân sự37, các vấn

đề về tài sản, quyền và trách nhiệm đều có thể quy về tài sản chung, hoặc tài sản vợ chồng

Cán bộ UBND xã An Vĩnh Ngãi- TP Tân An, xã Long Trì- Huyện Châu Thành, Long An; chuyên gia pháp luật và nhiều thẩm phán TAND tỉnh Long An ủng hộ phương án này.

Phương án 2: giữ các quy định về hộ gia đình và có sửa đổi hợp lý, trong hoàn cảnh cụ thể

của VN, hộ gia đình vẫn là chủ thể được nhà nước giao đất, giao rừng, các quy định về hộ kinh doanh vẫn được xác lập dựa trên hộ gia đình, việc bỏ chế định hộ gia đình sẽ dẫn đến những xáo trộn lớn trong đời sống xã hội, vì vậy, chừng nào hộ gia đình còn là chủ thể sử dụng đất thì pháp luật vẫn nên quy định hộ gia đình là chủ thể quan hệ pháp luật dân sự.

Phần lớn người dân, cán bộ chính quyền cơ sở, chuyên gia pháp luật, luật sư, thẩm phán tại Thái Bình, Phú Yên, Lạng sơn và một số thẩm phán TAND huyện Bến Lức-tỉnh Long An ủng hộ phương án này

Nhóm nghiên cứu cho rằng, trước khi lựa chọn một trong hai phương án trên các khía cạnh sau cần được cân nhắc kỹ lưỡng:

Thứ nhất, xét về mặt thực tế hiện nay, hộ gia đình được công nhận là chủ thể phổ biến

trong quan hệ pháp luật liên quan tới hộ tịch, hộ khẩu, quan hệ pháp luật đất đai và giao dịch liên quan tới đất đai nhưng thường không được xã hội công nhận là chủ thể phổ biến trong các giao dịch mua bán, vay mượn, thuê mướn thông thường (mà không liên quan tới quyền sử dụng đất).

Mặt khác, như đã phân tích, quy định về hộ gia đình trong BLDS vừa có nhiều bất cập vừa không

được áp dụng nhiều trong đời sống dân sự (trừ các giao dịch liên quan tới quyền sử dụng đất) 38 Bởi vậy, việc không ghi nhận tư cách chủ thể hộ gia đình trong các giao dịch không liên quan tới quyền sử dụng đất sẽ không gây xáo trộn nhiều đến đời sống xã hội.

37 Cần khẳng định rằng việc quy định về chủ hộ gia đình trong BLDS không có nghĩa là xóa bỏ chủ thể hộ gia đình trong các quan hệ pháp luật khác

38 Báo cáo Đoàn khảo sát tại tỉnh Thái Bình (tháng 12/2011)

Trang 29

Thứ hai, thực tiễn thi hành các quy định của BLDS 1995 và BLDS 2005 về hộ gia đình

cho thấy, từ sự thiếu tường minh trong các quy định pháp luật đã dẫn đến nhiều vấn đề phức tạp trong thực tiễn thi hành pháp luật về hộ gia đình, quản lý nhà nước và giải quyết tranh chấp phát sinh.

Thứ ba, nhóm nghiên cứu cho rằng khó có thể coi là một giải pháp tốt khi pháp luật quy

định tư cách “chủ thể” cho một đối tượng mà sự biến động về tư cách chủ thể và tình trạng tài sản không được xác định một cách rõ ràng như hộ gia đình.

Thứ tư, như đã phân tích ở trên, sự thay đổi chính sách đất đai qua nhiều thời kỳ dẫn đến

việc không dễ dàng và không thể một sớm một chiều có thể xác định được thành viên có quyền đối với quyền sử dụng đất của hộ gia đình Tình trạng quyền sử dụng đất có nguồn gốc của cá nhân, vợ chồng nhưng giấy tờ ghi nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình tương đối phổ biến, bên cạnh đó là tình trạng giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đất ghi nhận của hộ gia đình nhưng không khẳng định được những thành viên cùng có quyền với đất Đây chính là một trong những vấn đề mấu chốt cần được cân nhắc trước khi lựa chọn phương án duy trì hay không duy trì chủ thể hộ gia đình trong pháp luật dân sự

Từ các phân tích nói trên, nhóm nghiên cứu ủng hộ quan điểm, về lâu dài, không nên coi hộ gia đình là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự Tuy nhiên, bối cảnh hiện nay, nên lược bỏ các quy định từ Điều 106 đến Điều 110 BLDS về hộ gia đình theo hướng chỉ công nhận tư cách chủ thể của hộ gia đình trong các giao dịch liên quan tới quyền sử dụng đất của

hộ gia đình Sau khi chính sách về đất đai được rà soát lại, Luật Đất đai năm 2003 được xem xét

sửa đổi, bổ sung toàn diện, cơ quan có thẩm quyền rà soát, xác định lại từng mảnh đất ghi nhận quyền sử dụng của hộ gia đình thuộc về thành viên cụ thể trong gia đình Những giấy chứng nhận

đã cấp cho hộ gia đình cần được chỉnh sửa theo hướng ghi rõ các cá nhân là thành viên, nghĩa là ghi đủ tên các thành viên của hộ hoặc ghi một hay một số cá nhân là chủ sử dụng đất thực sự khi

có đủ căn cứ chứng minh nguồn gốc đất đó do cá nhân được chuyển nhượng, chia tách hoặc do thừa kế, tặng cho riêng Với những giấy chứng nhận đang trong quá trình xét, cấp thì chỉ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình khi các thành viên trong hộ sử dụng đất cùng làm đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ, có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã

và ghi nhận đầy đủ tên của các thành viên có quyền Trường hợp đất đã cấp cho hộ gia đình mà một trong các thành viên trong hộ muốn tách ra một thửa riêng bằng văn bản thỏa thuận phân chia quyền sử dụng đất thì diện tích đất còn lại phải xác định rõ thuộc quyền sử dụng của những cá

Trang 30

nhân nào trong các thành viên còn lại trong hộ Trường hợp, những vấn đề trên đã được giải quyết, lúc đó, việc không coi hộ gia đình là một chủ thể của quan hệ pháp luật sẽ là phương án phù hợp.

-NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NHẬT BẢN

PHẦN I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

CHƯƠNG I NHỮNG NGUYÊN TẮC CHUNG

Điều 1 Những nguyên tắc cơ bản

1 Các quyền cá nhân phải phù hợp với lợi ích công cộng

2 Quyền và nghĩa vụ phải được thực hiện một cách thiện chí

3 Không được lạm dụng các quyền hạn cho phép

Điều 2 Tiêu chuẩn cơ bản trong việc áp dụng Bộ luật

Bộ luật này phải được giải thích dựa trên sự tôn trọng nhân phẩm của cá nhân và sự bình đẳng của cả hai giới

CHƯƠNG II QUYỀN CÁ NHÂN

Mục I Năng lực hưởng quyền

Điều 3

1 Việc hưởng các quyền cá nhân sẽ được bắt đầu từ lúc mới sinh

2 Người nước ngoài vẫn được hưởng quyền cá nhân, trừ trường hợp bị cấm theo quy định của pháp luật hoặc điều ước quốc tế

Mục II Khả năng thực hiện quyền

Điều 4 Tuổi trưởng thành

Một người được xem là trưởng thành khi người đó đủ 20 tuổi trở lên

Điều 5 Hành vi pháp lý của người vị thành niên

1 Trẻ vị thành niên phải được sự đồng ý của người đại diện theo luật pháp của mình để thực hiện bất kỳ hành vi pháp lý nào Tuy nhiên, điều này không được áp dụng đối với hành động chỉ đơn thuần nhằm mục đích đạt được quyền lợi nào đó hoặc để được miễn trách nhiệm

2 Hành vi pháp lý trái với quy định của khoản trên có thể bị huỷ bỏ

Trang 31

3 Bất kể đã có các quy định tại khoản 1, trong trường hợp người đại diện theo pháp luật của trẻ vị thành niên cho phép định đoạt tài sản theo mục đích đã được xác định, thì trẻ vị thành niên có thể tự do định đoạt theo đúng mục đích đã được xác định Quy định này cũngđược áp dụng trong trường hợp người đại diện theo pháp luật chấp nhận việc định đoạt tài sản mà không chỉ định bất kỳ mục đích nào.

Điều 6 Cho phép trẻ vị thành niên tham gia kinh doanh

1 Trẻ vị thành niên được phép thực hiện một hoặc nhiều hoạt động kinh doanh sẽ có khả năng thực hiện quyền như một người thành niên tham gia kinh doanh trong cùng lĩnh vực

2 Trong trường hợp trẻ vị thành niên hoạt động kinh doanh như quy định tại khoản trên, nếu trẻ vị thành niên không thể tiếp tục thực hiện các hoạt động kinh doanh có liên quan vì bất kỳ lý do nào thì người đại diện theo pháp luật có thể thu hồi hoặc hạn chế sự cho phép theo quy định của Phần IV (quan hệ họ hàng)

Điều 7 Nguyên tắc thực hiện quyền giám hộ

Đối với bất kỳ người nào thường hay thiếu khả năng phân biệt đúng sai do khiếm

khuyết về tinh thần, tòa án gia đình có thể giao quyền giám hộ theo yêu cầu của đương sự, người vợ/chồng hoặc bất cứ người có quan hệ họ hàng trong phạm vi bốn đời, người giám

hộ trẻ vị thành niên, người giám sát của người giám hộ trẻ vị thành niên, người quản lý, người giám sát của người quản lý, người trợ giúp, người giám sát của người trợ giúp, hoặc công tố viên

Điều 8 Người được giám hộ thành niên và người giám hộ người thành niên

Người được nhận từ quyền giám hộ sẽ được gọi là người được giám hộ thành niên và sẽ

có người giám hộ người thành niên đi kèm

Điều 9 Hành vi pháp lý của người được giám hộ thành niên

Hành vi pháp lý của người được giám hộ thành niên có thể được huỷ bỏ Tuy nhiên, điều này không được áp dụng cho các hành vi liên quan đến sinh hoạt hàng ngày, chẳng hạn như mua vật dụng sử dụng hàng ngày trong gia đình

Điều 10 Hủy bỏ quyền giám hộ

Trang 32

Khi nguyên nhân được quy định tại Điều 7 không còn tồn tại, tòa án gia đình phải hủy

bỏ quyền giám hộ theo yêu cầu của đương sự, người vợ/chồng hoặc bất cứ người có quan

hệ họ hàng trong phạm vi bốn đời, người giám hộ (người giám hộ cho cả trẻ vị thành niên

và người thành niên Tương tự cho nội dung bên dưới.), người giám sát của người giám hộ (người giám sát cho cả người giám hộ trẻ vị thành niên và người giám hộ người thành niên.Tương tự cho nội dung bên dưới.), hoặc công tố viên

Điều 11 Nguyên tắc thực hiện quyền quản lý

Đối với bất kỳ người nào thường hay thiếu khả năng phân biệt đúng sai do khiếm

khuyết về tinh thần, tòa án gia đình có thể giao quyền quản lý theo yêu cầu của đương sự, người vợ/chồng hoặc bất cứ người có quan hệ họ hàng trong phạm vi bốn đời, người giám

hộ, người giám sát của người giám hộ, trợ giúp, người giám sát trợ giúp, hoặc công tố viên.Tuy nhiên, quy định tại điều này sẽ không áp dụng cho bất kỳ người nào thuộc trường hợp được quy định tại Điều 7

Điều 12 Người được trông nom và người quản lý

Người được nhận từ quyền quản lý sẽ được gọi là người được trông nom và sẽ có ngườiquản lý đi kèm

Điều 13 Hành vi phải được sự chấp thuận của người quản lý

1 Người được trông nom phải được sự đồng ý của người quản lý của mình nếu người này

dự định thực hiện bất kỳ hành vi nào sau đây Tuy nhiên, quy định tại điều này không áp dụng đối với các hành vi được quy định tại Điều 9:

(i) Nhận hoặc sử dụng khoản tiền vốn;

Thuật ngữ "quỹ" trong phần này đề cập đến bất kỳ quỹ chính mà có thể mang lại kết quả, chẳng hạn như lãi suất

(ii) Vay hoặc bảo lãnh

(iii) Thực hiện hành vi với mục đích có được hoặc từ bỏ bất kỳ quyền nào liên quan đến bất động sản hoặc tài sản có giá khác

(iv) Thực hiện hành vi tố tụng

(v) Tặng quà, thanh toán, hoặc làm trọng tài (tham khảo thỏa thuận trọng tài theo quy định tại khoản 1, Điều 2 của Luật Trọng tài (Luật số 138 năm 2003))

Trang 33

(vi) Chấp nhận hoặc từ bỏ bất kỳ quyền thừa kế nào, hoặc phân chia bất kỳ bất động sản nào;

(vii) Từ chối đề nghị tặng quà, từ bỏ quyền thừa kế, chấp nhận lời đề nghị tặng có điều kiện, hoặc chấp nhận quyền thừa kế có điều kiện

"thừa kế" có thể được hiểu là đề cập đến tài sản cá nhân

(viii) Thực hiện việc xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, sửa chữa lớn

(ix) Thuê ngắn hạn vượt quá thời hạn quy định tại Điều 602

2 Theo yêu cầu của người được quy định tại khoản chính của Điều 11, hoặc người quản lý hoặc người giám sát của người quản lý, mà tòa án gia đình có thể đưa ra quyết định rằng những người được trông nom phải có sự đồng ý của người quản lý ngay cả trong trường hợp người đó dự định thực hiện bất kỳ hành động nào không thuộc các trường hợp trong từng hạng mục được nêu ra ở khoản trước Tuy nhiên, quy định tại khoản điều này không

áp dụng đối với các hành vi quy định tại các điều kiện của Điều 9

3 Đối với các hành vi bắt buộc phải có sự đồng ý của người quản lý, nếu người quản lý không đồng ý bất chấp việc không đồng ý này có thể làm thiệt hại đến lợi ích của người được trông nom, thì toà án gia đình có thể ra quyết định cho phép thực hiện theo yêu cầu của người được trông nom mà không cần có sự đồng ý của người quản lý

4 Hành vi bắt buộc phải có sự đồng ý của người quản lý có thể bị huỷ bỏ nếu không có sự đồng ý của người quản lý hoặc chấp thuận của toà án cho phép không cần thiết có sự đồng

ý của người quản lý

Điều 14 Hủy bỏ quyền quản lý

1 Khi nguyên nhân được quy định tại khoản chính của Điều 11 không còn tồn tại, tòa án gia đình phải hủy bỏ quyền quản lý theo yêu cầu của đương sự, người vợ/chồng hoặc bất

cứ người có quan hệ họ hàng trong phạm vi bốn đời, người giám hộ trẻ vị thành niên, người giám sát của người giám hộ trẻ vị thành niên, người quản lý, người giám sát của người quản lý, hoặc công tố viên

2 Theo yêu cầu của những người quy định tại điều khoản nêu trên, tòa án gia đình có thể huỷ bỏ toàn bộ hoặc một phần quyền hạn theo quy định tại khoản 2 của Điều trên

Điều 15 Nguyên tắc thực hiện quyền trợ giúp

Trang 34

1 Đối với bất kỳ người nào thường hay thiếu khả năng phân biệt đúng sai do khiếm khuyết

về tinh thần, tòa án gia đình có thể giao quyền trợ giúp theo yêu cầu của đương sự, người vợ/chồng hoặc bất cứ người có quan hệ họ hàng trong phạm vi bốn đời, người giám hộ, người giám sát của người giám hộ, quản lý, người giám sát quản lý, hoặc công tố viên Tuynhiên, quy định tại điều này sẽ không áp dụng cho bất kỳ người nào thuộc trường hợp đượcquy định tại Điều 7 hoặc khoản chính của Điều 11

2 Việc thực hiện quyền trợ giúp theo yêu cầu của bất kỳ người nào không phải là đương sựthì phải có sự đồng ý của đương sự

3 Việc thực hiện quyền trợ giúp phải được thực hiện đồng thời với quyết định theo khoản

1 Điều 17 hoặc quyết định theo khoản 1 Điều 876.9

Điều 16 Người được trợ giúp và người trợ giúp

Người được nhận từ quyền trợ giúp sẽ được gọi là người được trợ giúp và sẽ có người trợ giúp đi kèm

Điều 17 Hành vi phải được sự chấp thuận của người trợ giúp

1 Theo yêu cầu của người được quy định tại khoản chính của khoản 1 Điều 15, hoặc bất

kỳ người trợ giúp hoặc người giám sát của người trợ giúp, mà tòa án gia đình có thể đưa ra quyết định rằng những người được trợ giúp phải được sự đồng ý của người trợ giúp nếu có

dự định thực hiện bất kỳ hành vi pháp lý cụ thể Tuy nhiên, quy định về các hành vi phải

có sự đồng ý của người trợ giúp theo điều này sẽ được giới hạn theo hành vi quy định tại khoản 1 Điều 13

2 Việc thực hiện quyền như quy định tại điều khoản trên theo yêu cầu của bất kỳ người nào không phải là đương sự thì phải có sự đồng ý của đương sự

3 Đối với các hành vi bắt buộc phải có sự đồng ý của người trợ giúp, nếu người trợ giúp không đồng ý bất chấp việc không đồng ý này có thể làm thiệt hại đến lợi ích của người được người được trợ giúp, thì tòa án gia đình có thể ra quyết định cho phép thực hiện theo yêu cầu của người được trợ giúp mà không cần có sự đồng ý của người trợ giúp

4 Hành vi bắt buộc phải có sự đồng ý của người trợ giúp có thể bị huỷ bỏ nếu không có sự đồng ý của người trợ giúp hoặc chấp thuận của toà án cho phép không cần thiết có sự đồng

ý của người trợ giúp

Trang 35

Điều 18 Hủy bỏ quyền trợ giúp

1 Khi nguyên nhân được quy định tại khoản chính của khoản 1 Điều 15 không còn tồn tại, tòa án gia đình phải hủy bỏ quyền trợ giúp theo yêu cầu của đương sự, người vợ/chồng hoặc bất cứ người có quan hệ họ hàng trong phạm vi bốn đời, người giám hộ trẻ vị thành niên, người giám sát của người giám hộ trẻ vị thành niên, người trợ giúp, người giám sát của người trợ giúp, hoặc công tố viên

2 Theo yêu cầu của những người quy định tại khoản nêu trên, tòa án gia đình có thể huỷ

bỏ toàn bộ hoặc một phần quyền hạn theo quy định tại khoản 1 của Điều trên

3 Trong trường hợp quyền hạn theo quy định tại khoản 1 của Điều này và theo quy định tại khoản 1 của Điều 876.9 bị huỷ bỏ toàn bộ, tòa án gia đình phải hủy bỏ quyền trợ giúp

Điều 19 Mối quan hệ giữa các quyền hạn

1 Trong trường hợp quyết định thực hiện giám hộ, và người yêu cầu là người được trông nom hoặc người được trợ giúp, tòa án gia đình phải hủy bỏ phán quyết thực hiện quyền hỗ trợ hoặc quyền quản lý liên quan đến đương sự

2 Các quy định của khoản trên sẽ được áp dụng khi đương sự là người được giám hộ thànhniên hay người được trợ giúp trong trường hợp thực hiện quyền quản lý hoặc khi đương sự

là người được giám hộ thành niên hay người được trông nom trong trường hợp thực hiện quyền trợ giúp

Điều 20 Quyền thông báo của người có liên quan đến người bị hạn chế năng lực hành

vi dân sự

1 Người có liên quan đến người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (là trẻ vị thành niên, người được giám hộ thành niên, người được trông nom, và người được trợ giúp thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 17 Tương tự cho nội dung bên dưới.) có thể định ra một khoảng thời gian nhất định từ một tháng trở lên sau khi những người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự nêu trên trở thành người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ (là người có đầy

đủ năng lực hành vi dân sự để tự do thực hiện các hoạt động Tương tự cho nội dung bên dưới.), và có thể thông báo về các nội dung cần trả lời xác nhận xem có thừa nhận các hành

vi có thể được hủy bỏ cho người này trong khoảng thời gian đó hay không Trong trường

Trang 36

hợp này, nếu người đó không gửi bất kỳ câu trả lời xác nhận nào trong khoảng thời gian

đó, thì được coi là đã thừa nhận hành vi

2 Trường hợp khi những người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chưa trở thành người

có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, và người có liên quan đến người đó thông báo cho người đại diện theo pháp luật, người quản lý, hoặc người trợ giúp của người đó các quy định tại khoản trên đối với bất kỳ hành vi nào thuộc thẩm quyền của người có thẩm quyền,

và người đại diện theo pháp luật, người phụ trách hoặc người trợ giúp không phát sinh bất

kỳ câu trả lời xác nhận nào trong thời gian như quy định tại khoản trên thì cũng sẽ áp dụng tương tự như câu thứ hai của đoạn trước

3 Đối với bất kỳ hành vi nào đòi hỏi phải thực hiện các thủ tục đặc biệt, nếu không có thông báo để chứng minh các thủ tục đó đã được hoàn thành và được đưa ra trong thời hạn quy định tại hai khoản 1 và 2 thì hành vi đó được xem như là đã được hủy bỏ

4 Người có liên quan đến người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự có thể thông báo nội dung cần có câu trả lời xác nhận của người quản lý hoặc người trợ giúp trong khoảng thời gian quy định trong khoản 1 nêu trên đối với người được trông nom, hoặc người được trợ giúp thuộc đối tượng thực hiện các thủ tục quy định tại khoản 1 của Điều 17 Trong trường hợp này, nếu người được trông nom hoặc người được trợ giúp không phát sinh thông báo chứng minh rằng sự thừa nhận đã được xác nhận trong thời gian đó, thì hành vi này được xem như là đã được hủy bỏ

Điều 21 Hành vi gian lận của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

Nếu một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự có bất kỳ hành vi gian lận nào làm cho người khác tin rằng người này có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, thì hành vi đó khôngthể được huỷ bỏ

Mục III Nơi thường trú

Điều 22 Nơi thường trú

Nơi thường trú là nơi mà người nào đó thường xuyên sinh sống

Điều 23 Cư trú

1 Nếu không thể xác định nơi thường trú, thì nơi cư trú sẽ được xem là nơi thường trú

Trang 37

2 Nếu một người không có nơi thường trú ở Nhật Bản, thì nơi cư trú sẽ được xem là nơi

cư trú của người đó, bất kể người đó là người Nhật Bản hoặc người nước ngoài Tuy nhiên,quy định tại điều này không được áp dụng trong trường hợp pháp luật quản lý nơi cư trú cóquy định khác

Điều 24 Nơi tạm trú

Nếu bất kỳ nơi tạm trú được xác định nhằm mục đích thực hiện hành vi nào đó thì nơi tạm trú đó sẽ được xem là nơi thường trú trong suốt thời gian thực hiện hành vi tương ứng

Mục IV Quản lý tài sản vắng chủ và tuyên bố mất tích

Điều 25 Quản lý tài sản vắng chủ

1 Trong trường hợp bất kỳ người nào vắng mặt khỏi nơi thường trú hoặc nơi cư trú (sau đây gọi chung là "người vắng mặt".) mà không chỉ định một người khác để quản lý tài sản của mình (sau đây trong mục này được gọi là "Người quản lý"), tòa án gia đình có thể ra lệnh yêu cầu thực hiện các xử lý cần thiết cho việc quản lý các tài sản đó theo yêu cầu của bất kỳ người nào có quyền lợi liên quan hoặc công tố viên Điều này cũng được áp dụng tương tự trong trường hợp thẩm quyền của người quản lý không còn tồn tại trong suốt thời gian vắng mặt của người vắng mặt

2 Nếu sau khi ban hành quyết định theo quy định tại điều khoản trên, người vắng mặt chỉ định một người quản lý, thì tòa án gia đình phải huỷ bỏ quyết định đó theo yêu cầu của người quản lý, hoặc bất kỳ người nào có quyền lợi liên quan, hoặc công tố viên

Điều 26 Thay thế người quản lý

Trong trường hợp người vắng mặt chỉ định người quản lý, nhưng lại không xác định được là người vắng mặt đã chết hay còn sống, thì tòa án gia đình có thể thay thế người quản lý đó bằng một người khác theo yêu cầu của bất kỳ người nào có quyền lợi liên quan hoặc công tố viên

Điều 27 Nhiệm vụ của người quản lý

1 Một người quản lý được chỉ định bởi tòa án gia đình theo quy định của hai Điều nêu trênphải chuẩn bị một danh sách các tài sản mà mình được giao quản lý Trong trường hợp này,

Trang 38

2 Nếu có yêu cầu của bất kỳ người nào có quyền lợi liên quan hoặc công tố viên trong trường hợp không thể xác định được là người vắng mặt đã chết hay còn sống, tòa án gia đình có thể ra lệnh yêu cầu người quản lý được chỉ định bởi người vắng mặt chuẩn bị danh sách các tài sản như quy định tại khoản 1 ở trên.

3 Ngoài quy định của hai khoản nêu trên, tòa án gia đình có thể ra lệnh cho người quản lý thực hiện bất kỳ hành động nào mà tòa án xét thấy là cần thiết cho việc bảo quản tài sản của người vắng mặt

Điều 28 Thẩm quyền của người quản lý

Nếu người quản lý cần phải thực hiện bất kỳ hành động ngoài thẩm quyền được quy định tại Điều 103, thì có thể thực hiện hành vi đó bằng cách xin sự chấp thuận của tòa án gia đình Quy định này cũng được áp dụng tương tự nếu người quản lý cần thực hiện bất kỳhành động nào vượt quá thẩm quyền mà người vắng mặt đã chỉ định trong trường hợp không thể xác định là người vắng mặt đã chết hay còn sống

Điều 29 Quy định về việc bảo vệ và thù lao cho người quản lý

1 Tòa án gia đình có thể yêu cầu người quản lý cung cấp các biện pháp bảo vệ một cách hợp lý đối với quản lý và trả lại tài sản

2 Tòa án gia đình có thể chi trả tiền thù lao hợp lý được trích từ tài sản của người vắng mặt theo tình hình liên quan đến mối quan hệ giữa người quản lý với người vắng mặt và các trường hợp khác

Điều 30 Tuyên bố mất tích

1 Nếu không thể xác định được người vắng mặt là đã chết hay còn sống trong thời gian bảy năm, thì tòa án gia đình có thể tuyên bố là mất tích theo yêu cầu của bất kỳ người nào

có quyền lợi liên quan

2 Thủ tục theo quy định tại khoản 1 nêu trên sẽ được áp dụng tương tự đối với bất kỳ người nào tham gia vào khu vực chiến tranh, trên bất kỳ con tàu nào mà đã bị chìm, hoặc bất kỳ trường hợp nào khác rơi vào tình trạng nguy hiểm có thể là nguyên nhân gây ra cái chết, nếu như không thể xác định người đó là đã chết hay còn sống trong một năm sau khi chiến tranh kết thúc, sau vụ chìm tàu, hoặc sau khi kết thúc tình trạng nguy hiểm

Trang 39

Điều 31 Hiệu lực của việc tuyên bố mất tích

Bất kỳ người nào thuộc đối tượng tuyên bố mất tích theo quy định tại đoạn 1 của Điều trên được xem là đã chết sau khi kết thúc thời hạn quy định tại đoạn 1 điều trên, và thuộc đối tượng tuyên bố mất tích theo quy định của đoạn 2 của cùng Điều này được xem là đã chết sau khi chấm dứt các mối nguy hiểm

Điều 32 Huỷ bỏ tuyên bố mất tích

1 Nếu có bất kỳ bằng chứng nào cho thấy người mất tích còn sống, hoặc đã chết trong thờigian không trùng với thời hạn quy định tại Điều trên đây, thì tòa án gia đình phải huỷ bỏ quyết định tuyên bố mất tích theo yêu cầu của đương sự hoặc bất kỳ người nào có lợi ích liên quan Trong trường hợp này, việc huỷ bỏ không ảnh hưởng đến tính hiệu lực của bất

kỳ hành vi nào được thực hiện sau khi toà án tuyên bố mất tích nhưng lại trước khi tòa án thực hiện hủy bỏ tuyên bố mất tích này

2 Bất kỳ người nào nhận được tài sản theo tuyên bố mất tích thì sẽ mất quyền lợi đối với tài sản đó khi việc huỷ bỏ được thực hiện Tuy nhiên, người đó chỉ có nghĩa vụ hoàn trả tài sản trong phạm vi được hưởng

Mục V Giả định chết đồng thời

Điều 32.2

Trong trường hợp có nhiều hơn một người chết, nếu không thể xác định là một trong những người đó vẫn còn sống trong thời điểm những người khác đã chết, thì được xem là tất cả họ đều chết cùng một thời điểm

CHƯƠNG III PHÁP NHÂN

Trang 40

Điều 34 Năng lực pháp nhân

Một pháp nhân có quyền và nghĩa vụ trong phạm vi được xác định bởi điều lệ công ty hoặc pháp luật theo các quy định của pháp luật và các quy định có liên quan

Điều 35 Pháp nhân nước ngoài

1 Ngoại trừ nhà nước, bộ phận hành chính của nhà nước, và công ty thương mại nước ngoài, thì các tổ chức pháp nhân nước ngoài khác đều không được phép thành lập Tuy nhiên, điều này không áp dụng đối với bất kỳ pháp nhân nước ngoài được phê duyệt theo quy định của pháp luật hoặc điều ước quốc tế

2 Một pháp nhân nước ngoài được phê duyệt theo quy định của khoản trên sẽ có quyền sở hữu các tài sản riêng tương tự như các pháp nhân cùng loại được thành lập tại Nhật Tuy nhiên, quy định này sẽ không được áp dụng cho bất kỳ quyền lợi nào mà có thể không được nước ngoài đó cho phép hoặc là một quyền đặc biệt được quy định trong luật hoặc điều ước quốc tế

Điều 36 Đăng ký

Pháp nhân trong nước và các pháp nhân nước ngoài đều buộc phải thực hiện đăng ký theo quy định của Bộ luật này hoặc các quy định khác của pháp luật

Điều 37 Đăng ký pháp nhân nước ngoài

1 Pháp nhân nước ngoài khi thành lập văn phòng kinh doanh tại Nhật Bản (Hạn chế với các pháp nhân nước ngoài quy định trong khoản 1 Điều 35 Phụ lục Tương tự cho nội dungbên dưới.) phải đăng ký các nội dung như sau tại nơi có văn phòng kinh doanh của pháp nhân trong vòng ba tuần

(i) Luật áp dụng thành lập pháp nhân nước ngoài

(ii) Mục đích thành lập

(iii)Tên gọi

(iv)Địa chỉ sở tại của văn phòng

(v) Thời hạn hoạt động, nếu thời hạn như được quy định

(vi)Họ tên và địa chỉ của người đại diện (giám đốc)

2 Nếu có bất kỳ sự thay đổi trong các vấn đề nào được liệt kê như trên, việc đăng ký thay đổi phải được nộp trong vòng ba tuần Mỗi trường hợp trên, sự thay đổi có thể không bị phản đối bởi một bên thứ ba trước khi đăng ký

3 Bắt buộc thực hiện đăng ký nếu có bất kỳ phán quyết tạm thời đình chỉ thực hiện các nhiệm vụ của giám đốc, hoặc chỉ định bất kỳ người nào thực hiện các nhiệm vụ như vậy ở

vị trí của một giám đốc, hoặc nếu có bất kỳ quy định nào làm thay đổi hoặc huỷ bỏ bố

Ngày đăng: 10/09/2021, 10:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w