Quản trị chuỗi cung ứng gắn liền với hầu hết tất cả cáchoạt động của doanh nghiệp sản xuất, từ hoạch định và quản lý quá trình tìm nguồn hàng,thu mua, sản xuất thành phẩm… đến việc phối
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KHÁCH SẠN - DU LỊCH Môn: Hệ thống thông tin quản lý
BÀI THẢO LUẬN
ĐỀ TÀI:
TÌM HIỂU HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ CHUỖI CUNG ỨNG VÀ VIẾT
ĐẶC TẢ VỀ MỘT QUY TRÌNH NGHIỆP VỤ TRONG TỔ CHỨC, DOANH NGHIỆP
Giảng viên hướng dẫn: Trần Thị Nhung Nhóm: 05
LHP: 2118ECIT0311
HÀ NỘI - 2021
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành bài thảo luận này, nhóm 5 xin chân thành cảm ơn giảng viên TrầnThị Nhung đã giảng dạy tận tình, chi tiết và giúp đỡ chúng em trong suốt quá trình thực hiệnbài nghiên cứu khoa học để chúng em có thể hoàn thành bài thảo luận
Do chưa có nhiều kinh nghiệm và còn hạn chế về kiến thức thực tế, vì vậy trong bài thảoluận của nhóm không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những nhận xét,đóng góp, phê bình từ phía cô để bài thảo luận của nhóm được hoàn thiện nhất
Lời cuối, một lần nữa chúng em xin cảm ơn cô về tất cả
Chúng em kính chúc cô luôn mạnh khỏe, thành công và hạnh phúc!
Trang 3BẢNG ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN
STT Họ và tên MSV Công việc
Điểmtựđánhgiá
Nhómtrưởngđánhgiá
Kýtên đánhGV
giá
1 Minh HồngHà Thị 19D250017
Tìm hiểu thuận lợi,khó khăn khi triểnkhai SCM
Vẽ biểu đồ mức đỉnhThuyết trình
2 Phạm ThịHồng 19D250156
Triển khai SCMtrong doanh nghiệp
Vẽ biểu đồ dướiđỉnh
Vẽ biểu đồ mức ngữ
cảnh
7 Cao HuyNguyễn 19D250158
Các phân hệ củaSCM
Vẽ biểu đồ chứcnăngThuyết trình
8 Cao Thanh
Huyền 19D250019
Phân công công việc
Mô tả bài toánChỉnh sửa, hoànthiện nội dung từng
phầnNhóm trưởng
Trang 4MỤC LỤC
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Năm 2006, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thếgiới WTO Điều này đã mở ra một cơ hội, một môi trường kinh doanh rộng mở và năngđộng hơn cho các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng và cả nền kinh tế Việt Nam nóichung Tuy nhiên nó cũng chứa không ít thách thức khi đa số các doanh nghiệp ở nước ta
là vừa và nhỏ Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt như hiện nay, để thực hiện các mục tiêu
về thị phần của mỗi doanh nghiệp, chuỗi cung ứng trở nên thực sự cần thiết Nó giúpngười tiêu dùng biết đến và đến với sản phẩm, dịch vụ mà mỗi doanh nghiệp cung cấpcho thị trường Nó giúp doanh nghiệp ngay lập tức có thể phản hồi lại với những thay đổinhanh chóng của nhu cầu khách hàng, đồng thời vẫn có thể bảo đảm chi phí sản xuất ởmức thấp nhất để tối đa lợi nhuận Quản trị chuỗi cung ứng gắn liền với hầu hết tất cả cáchoạt động của doanh nghiệp sản xuất, từ hoạch định và quản lý quá trình tìm nguồn hàng,thu mua, sản xuất thành phẩm… đến việc phối hợp với các đối tác, nhà cung ứng, cáckênh trung gian, nhà cung cấp dịch vụ và khách hàng Như vậy, quản trị một chuỗi cungứng linh hoạt, hiệu quả chính là con đường dẫn lối thành công của một doanh nghiệp Đặcbiệt, những thành tựu về công nghệ thông tin và ứng dụng của chúng trong các lĩnh vực
đa dạng khác nhau của doanh nghiệp đã khiến cho doanh nghiệp ngày càng chú ý nhiềuhơn tới việc áp dụng những thành tựu của công nghệ thông tin nhằm gia tăng ưu thế cạnhtranh và tạo cơ hội cho mình Hiện nay, trào lưu ứng dụng thành tựu công nghệ thông tinkhông chỉ giới hạn ở các doanh nghiệp lớn tàm cỡ đa quốc gia mà đang lan rộng trong tất
cả các dạng doanh nghiệp kể cả các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các nước đang phát triển
Và việc xây dựng và triển khai hệ thống thông tin quản lý chuỗi cung ứng là một lợi thếgiúp việc quản trị chuỗi cung ứng trở nên dễ dàng, nhanh nhạy hơn bao giờ hết
Trang 6HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ CHUỖI CUNG ỨNG
1 Khái niệm
1.1 Chuỗi cung ứng -Chuỗi cung ứng (Supply chain)
Được định nghĩa là một hệ thống các tổ chức, con người, thông tin, hoạt động và cácnguồn lực liên quan tới công tác chuyển sản phẩm/dịch vụ từ nhà cung cấp tới kháchhàng
Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất, cung cấp mà còn bao gồm cả cáccông ty vận tải, nhà kho, nhà bán lẻ và khách hàng của họ
Hoạt động chuỗi cung ứng liên quan đến việc chuyển đổi các nguyên liệu, tài nguyênthiên nhiên và các thành phần khác thành một sản phẩm dịch vụ hoàn chỉnh đưa tới KHcuối cùng
1.2 Quản lý chuỗi cung ứng - Cụm từ Quản lý chuỗi cung ứng (Supply Chain
Management – SCM)
Được phát triển nhằm diễn tả vai trò và sự cần thiết của hoạt động liên kết các quátrình kinh doanh chính, từ người sử dụng cuối cùng đến các nhà cung cấp đầu tiên Cácdoanh nghiệp gắn kết với nhau trong một chuỗi cung ứng thông qua việc trao đổi cácthông tin về các biến động của thị trường cũng như năng lực sản xuất Thông qua việcchia sẻ các thông tin liên quan, các công ty có thể tối ưu chuỗi cung ứng, từ đó đưa ra một
kế hoạch tổng quát và hiệu quả hơn về hoạt động sản xuất, phân phối; cắt giảm các chiphí đồng thời đưa ra các sản phẩm cuối cùng hấp dẫn hơn
Hoạt động tối ưu hóa chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị còn bao gồm cân bằng chi phínguyên liệu, tối ưu hóa dòng sản xuất, công việc hậu cần, phân bổ vị trí, phân tích tuyểnphương tiện… Tóm lại, quản trị chuỗi cung ứng có thể được hiểu là tập hợp tất cả nhữngphương thức sử dụng 1 cách tích hợp, hiệu quả nhà cung ứng, người sản xuất, kho bãicũng như các cửa hàng để phân phối sản phẩm, hàng hóa được sản xuất tới đúng địa điểm,kịp thời, đảm bảo yêu cầu chất lượng giúp giảm thiểu tối đa chi phí toàn hệ thống nhưngvẫn đáp ứng được những yêu cầu về mức độ phục vụ
1.3 Hệ thống quản lý chuỗi cung ứng
Hệ thống quản lý chuỗi cung ứng liên kết các nhà cung cấp, các nhà sản xuất, trungtâm phân phối, cửa hàng bán lẻ và khách hàng để cung cấp hàng hóa và dịch vụ từ cácnguồn thông qua quá trình tiêu thụ, các nguyên vật liệu, thông tin và các khoản thanh toánlưu chuyển qua các chuỗi cung ứng ở cả hai hướng đi vào và đi ra trong hệ thống
Là hệ thống cho phép kết nối kinh doanh vào sản xuất, giúp tối ưu hóa việc chế tạo,sản xuất, lưu chuyển sản phẩm như quản lý các yếu tố đầu ra, đầu vào của quá trình sảnxuất trong tổ chức
Trang 72 Các phân hệ chính của SCM
2.1 Cấu trúc của SCM
Một dây chuyền cung ứng sản xuất bao gồm tối thiểu ba yếu tố: nhà cung cấp, bảnthân đơn vị sản xuất và khách hàng
Nhà cung cấp: là các công ty bán sản phẩm, dịch vụ là nguyên liệu đầu vào cần
thiết cho quá trình sản xuất, kinh doanh Thông thường, nhà cung cấp được hiểu làđơn vị cung cấp nguyên liệu trực tiếp như vật liệu thô, các chi tiết của sản phẩm,bán thành phẩm Các công ty cung cấp dịch vụ cho sản xuất, kinh doanh được gọi
là nhà cung cấp dịch vụ
Đơn vị sản xuất: là nơi sử dụng nguyên liệu, dịch vụ đầu vào và áp dụng các quá
trình sản xuất để tạo ra sản phẩm cuối cùng Các nghiệp vụ về quản lý sản xuấtđược sử dụng tối đa tại đây nhằm tăng hiệu quả, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạonên sự thông suốt của dây chuyền cung ứng
Khách hàng: là người sử dụng sản phẩm của đơn vị sản xuất.
2.2 Cấu trúc của SCM trên thực tế
Dây chuyền cung ứng của các tổ chức, doanh nghiệp nằm trong bất cứ một chuỗicung ứng nào cũng có thể có 5 thành phần Các thành phần này là các nhóm chức năngkhác nhau và cùng nằm trong dây chuyền cung ứng:
Sản xuất (Làm gì, như thế nào, khi nào)
Vận chuyển (Khi nào, vận chuyển như thế nào)
Tồn kho (Chi phí sản xuất và lưu trữ)
Định vị (Nơi nào tốt nhất để làm cái gì)
Thông tin (Cơ sở để ra quyết định)
2.2.1. Sản xuất
Sản xuất là khả năng của dây chuyền cung ứng tạo ra và lưu trữ sản phẩm Phânxưởng, nhà kho là cơ sở vật chất, trang thiết bị chủ yếu của thành phần này Trong quátrình sản xuất, các nhà quản trị thường phải đối mặt với vấn đề cân bằng giữa khả năngđáp ứng nhu cầu của khách hàng và hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp
2.2.2. Vận chuyển
Đây là bộ phận đảm nhiệm công việc vận chuyển nguyên vật liệu, cũng như sảnphẩm giữa các nơi trong dây chuyền cung ứng Ở đây, sự cân bằng giữa khả năng đáp ứngnhu cầu và hiệu quả công việc được biểu thị trong việc lựa chọn phương thức vận chuyển.Thông thường có 6 phương thức vận chuyển cơ bản:
Trang 8 Đường biển: giá thành rẻ, thời gian vận chuyển dài và bị giới hạn về địa điểm giaonhận.
Đường sắt: giá thành rẻ, thời gian trung bình, bị giới hạn về địa điểm giao nhận
Đường bộ: nhanh, thuận tiện
Đường hàng không: nhanh, giá thành cao
Dạng điện tử: giá thành rẻ, nhanh, bị giới hạn về loại hàng hoá vận chuyển (chỉdành cho dữ liệu, âm thanh, hình ảnh…)
Đường ống: tương đối hiệu quả nhưng bị giới hạn loại hàng hoá (khi hàng hóa làchất lỏng, chất khí…)
2.2.3. Tồn kho
Tồn kho là việc hàng hoá được sản xuất ra tiêu thụ như thế nào Chính yếu tố tồnkho sẽ quyết định doanh thu và lợi nhuận của công ty bạn Nếu tồn kho ít tức là sản phẩmcủa bạn được sản xuất ra bao nhiêu sẽ tiêu thụ hết bấy nhiêu, từ đó chứng tỏ hiệu quả sảnxuất của công ty bạn ở mức cao và lợi nhuận đạt mức tối đa
2.2.4. Định vị
Bạn tìm kiếm các nguồn nguyên vật liệu sản xuất ở đâu? Nơi nào là địa điểm tiêuthụ tốt nhất? Đây chính là những yếu tố quyết định sự thành công của dây chuyền cungứng Định vị tốt sẽ giúp quy trình sản xuất được tiến hành một cách nhanh chóng và hiệuquả hơn
2.2.5. Thông tin
Thông tin chính là “nguồn dinh dưỡng” cho hệ thống SCM của bạn Nếu thông tinchuẩn xác, hệ thống SCM sẽ đem lại những kết quả chuẩn xác Ngược lại, nếu thông tinkhông đúng, hệ thống SCM sẽ không thể phát huy tác dụng Bạn cần khai thác thông tin
từ nhiều nguồn khác nhau và cố gắng thu thập nhiều nhất lượng thông tin cần thiết
3 Vai trò của SCM đối với tổ chức, doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp, SCM có vai trò rất to lớn, bởi SCM giải quyết cả đầu vàocủa tổ chức, doanh nghiệp một cách hiệu quả, nhờ có thể thay đổi nguồn nguyên vật liệuđầu vào hoặc tối ưu hóa quá trình luân chuyển nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ màSCM có thể giúp tiết kiệm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp
Có không ít tổ chức doanh nghiệp đã gặt hái thành công lớn nhờ biết đề ra chiếnlược và giải pháp thích hợp cho SCM, ngược lại, có nhiều tổ chức doanh nghiệp gặp khókhăn thất bại do đưa ra các quyết định sai lầm như chọn sai nguồn cung cấp nguyên vậtliệu, chọn sai vị trí kho bãi, tính toán lượng dự trữ không phù hợp, tổ chức vận chuyển rắcrối, chồng chéo… Ngoài ra, SCM còn hỗ trợ đắc lực cho hoạt động tiếp thị, đặc biệt làtiếp thị hỗn hợp (4P: Product, Price, Promotion, Place) Chính SCM đóng vai trò then
Trang 9chốt trong việc đưa sản phẩm đến đúng nơi cần đến và vào đúng thời điểm thích hợp, mụctiêu lớn nhất của SCM là cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng với tổng chi phínhỏ nhất.
Điểm đáng lưu ý là các chuyên gia kinh tế đã nhìn nhận rằng hệ thống SCM hứa hẹntừng bước nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất của tổ chức doanh nghiệp và tạo điềukiện cho chiến lược thương mại điện tử phát triển, đây chính là chìa khóa thành công choB2B Tuy nhiên không ít các nhà phân tích kinh doanh đã cảnh báo, chiếc chìa khóa nàychỉ thực sự phục vụ cho việc nhận biết các chiến lược dựa trên hệ thống sản xuất, khichúng tạo ra một trong những mối liên kết trọng yếu nhất một trong dây chuyền cungứng
Trong một tổ chức doanh nghiệp sản xuất luôn tồn tại ba yếu tố chính của dâychuyền cung ứng:
• Thứ nhất là các bước khởi đầu và chuẩn bị cho quá trình sản xuất, hướng tới nhữngthông tin tập trung vào khách hàng và yêu cầu của họ
• Thứ hai là bản thân chức năng sản xuất, tập trung vào những phương tiện, thiết bị,nhân lực, nguyên vật liệu và chính quá trình sản xuất
• Thứ ba là tập trung vào sản phẩm cuối cùng, phân phối và một lần nữa hướng tớinhững thông tin tập trung vào khách hàng và yêu cầu của họ
Trong dây chuyền cung ứng ba nhân tố này, SCM sẽ điều phối khả năng sản xuất cógiới hạn và thực hiện việc lên kế hoạch sản xuất - những công việc đòi hỏi tính dữ liệuchính xác về hoạt động tại các nhà máy, nhằm làm cho kế hoạch sản xuất đạt hiệu quả caonhất Các nhà máy sản xuất trong tổ chức, doanh nghiệp cần phải là một môi trường năngđộng, trong đó các nguyên vật liệu được chuyển hóa liên tục, đồng thời thông tin cầnđược cập nhật một và phổ biến tới tất cả các cấp quản lý của tổ chức, doanh để cùng đưa
ra quyết định nhanh chóng và chính xác SCM cung cấp khả năng trực quan hóa đối vớicác dữ liệu liên quan đến sản xuất và khép kín dây chuyền cung cấp, tạo điều kiện choviệc tối ưu hóa sản xuất đúng lúc bằng các hệ thống sắp xếp và lên kế hoạch, nó cũngmang lại hiệu quả tối đa trong việc dự trù số lượng nguyên vật liệu, quản lý nguồn tàinguyên, lập kế hoạch đầu tư và sắp xếp hoạt động sản xuất của doanh nghiệp
Một tác dụng khác của việc ứng dụng giải pháp SCM là phân tích dữ liệu thu thậpđược và lưu trữ hồ sơ với chi phí thấp, hoạt động này nhằm phục vụ cho những mục đíchliên quan đến hoạt động sản xuất (như dữ liệu về thông tin sản phẩm, dữ liệu về nhu cầuthị trường…) để đáp ứng đòi hỏi của khách hàng
4 Những công việc cơ bản khi triển khai SCM
Cần tuân thủ 5 bước đi cơ bản sau đây:
4.1 Lập kế hoạch
Để bắt đầu bất cứ một hoạt động gì các doanh nghiệp và tổ chức đều cần phải có một
kế hoạch rõ ràng Một hoạt động được lên kế hoạch từ trước sẽ giúp doanh nhiệp tránh
Trang 10được những rủi ro không đáng có cho doanh nghiệp của mình Vì vậy công việc đầu tiên
để triển khai một chuỗi cung ứng (SCM) là lập kế hoạch
Đây là công việc của bộ phận chiến lược của SCM Để triển khai một SCM phải cần
có một chiến lược chung để quản lý tất cả các nguồn lực nhằm giúp sản phẩm phẩm, dịch
vụ của doanh nghiệp đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng Phần quan trọng của việclập kế hoạch là xây dựng một bộ các phương pháp, cách thức giám sát dây chuyền cungứng để đảm bảo cho dây chuyền hoạt động hiệu quả, tiết kiệm chi phí và tạo ra sản phẩm
có chất lượng cao để đưa tới khách hàng
Công việc ở giai đoạn này gồm: Hoạch định nhu cầu, dự báo nhu cầu khách hàng,bán hàng, lên kế hoạch vật tư nguyên liệu cần có và kế hoạch sản xuất Thiết lập và điềuchỉnh quy trình, kế hoạch cung ứng và đánh giá các xu hướng và nhu cầu sản xuất…Từ
đó tổng hợp thành một kế hoạch hoàn chỉnh để đưa vào thực hiện
4.2 Tìm nguồn cung cấp
Sau khi đã xác định được loại hàng hóa và chất liệu Doanh nghiệp cần phải có đượcnguồn cung ứng nguyên nhiên vật liệu cho doanh nghiệp của mình Cần phải lựa chọnnhững nhà cung cấp thích hợp để đáp ứng các chủng loại hàng hoá, dịch vụ đầu vào màdoanh nghiệp, tổ chức cần có để làm ra sản phẩm, dịch vụ
Doanh nghiệp cần tìm và mua nguyên vật liệu, hàng hóa với giá cả cạnh tranh thôngqua xây dựng quan hệ đối tác lâu dài với các nhà cung cấp để đảm bảo khả năng cạnhtranh về giá cả, đồng thời có thể đáp ứng nhu cầu thị trường (thích giá rẻ) Các doanhnghiệp nên xây dựng một bộ các quy trình định giá, giao nhận và thanh toán với nhà phânphối, cũng như thiết lập các phương pháp giám sát và cải thiện mối quan hệ giữa doanhnghiệp với nhà cung cấp Sau đó, tiến hành song song các quy trình này nhằm quản lýnguồn hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp nhận được từ các nhà cung cấp, từ việc nhậnhàng, kiểm tra hàng, chuyển chúng tới các cơ sở sản xuất đến việc thanh toán tiền hàng
4.3 Hỗ trợ đảm bảo hoạt động sản xuất
Sau khi đã lập một kế hoạch hoàn hảo và lựa chọn được nhà cung cấp phù hợp, bướctiếp theo chính là sản xuất hàng hóa Doanh nghiệp cần lên lịch trình cụ thể về các hoạtđộng sản xuất, kiểm tra, đóng gói và chuẩn bị giao nhận Đây là một trong những yếu tốquan trọng nhất của dây chuyền cung ứng, vì thế cần phải giám sát, đánh giá chặt chẽ cáctiêu chuẩn chất lượng của thành phẩm, cũng như hiệu suất làm việc của nhân viên Cầnđảm bảo cho các sản phẩm có chất lượng tốt nhất với khả năng cạnh tranh cao Đảm bảođược công tác an toàn, các điều kiện an toàn trong sản xuất, giảm thiểu tác động đến môitrường
4.4 Giao nhận
Giao nhận là yếu tố còn được gọi là “hậu cần” Trong công đoạn này cần xem xéttừng khía cạnh cụ thể bao gồm các đơn đặt hàng, xây dựng mạng lưới cửa hàng phân
Trang 11phối, lựa chọn đơn vị vận tải để đưa sản phẩm của tổ chức, doanh nghiệp tới khách hàng.Đảm bảo tính sẵn sàng của hàng hóa.
Các đơn đặt hàng cần phải được xác định rõ ràng, xác định ai, tổ chức hoặc doanhnhiệp nào đặt hàng Cần số lượng hàng hóa là bao nhiêu và ngày giao nhận hàng hóa Tất
cả những thông tin này đều cần phải được xác định rõ ràng thì mới có thể xác nhân đơnhàng Xây dựng mạng lưới cung ứng của doanh nghiệp rất tiện cho việc giao đơn đặthàng Các mạng lưới cửa hàng phân phối càng phủ khắp thì việc giao nhận cành trở nên
dễ dàng, thuận tiện Bên cạnh đó doanh nghiệp cũng cần phải lựa chọn các đơn vị vậnchuyển cũng như phương tiện vận chuyển phù hợp với đặc trưng hàng hóa và đặc trưngkhách hàng để hợp tác Các loại phương tiện vận chuyển phổ biến hiện nay được nhiềudoanh nghiệp lựa chọn là đường bộ, và đường hàng không
Đồng thời doanh nghiệp cũng phải thiết lập một hệ thống hoá đơn thanh toán hợp lý
để thuận tiện cho việc thanh toán
4.5 Hoàn lại
Đây là công việc chỉ xuất hiện trong trường hợp dây chuyền cung ứng có vấn đề.Nhưng để đề phòng những đơn hàng gặp phải sự cố doanh nghiện cũng cần phải xây dựngmột chính sách đón nhận những sản phẩm khiếm khuyết bị khách hàng trả về và trợ giúpkhách hàng trong trường hợp có vấn đề rắc rối đối với sản phẩm đã được bàn giao Côngviệc này cũng tương tự như giao nhận, cần phải có đơn vị vận chuyển ngược lại các đơnhàng bị khiếm khuyết về lại doanh nghiệp hoặt khu sản xuất để xử lý
5 Thuận lợi và khó khăn khi triển khai HTTT đó ở Doanh nghiệp nói riêng và ở Việt Nam nói chung.
5.1 Thuận lợi
SCM hiện nay được áp dụng khá phổ biến tại nhiều quốc gia trên thế giới bởi cácdoanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu do những lợi ích đáng nói mà hệ thống này đem lạicho doanh nghiệp như:
• Tăng hiệu suất của các dòng sản phẩm thông qua kết hợp giữa các nhà cung cấpvới nhau
• Nâng cao dịch vụ khách hàng và giảm thiểu lượng hàng hóa tồn kho
• Giảm thiểu chi phí lưu kho
• Giảm chi phí giá thành mỗi sản phẩm, nâng cao lợi nhuận tối đa nhất
• Giảm thiểu một số chi phí ngoài không cần thiết
• Nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty, tạo thương hiệu uy tín trên thị trườngtrong tâm trí người tiêu dùng
Trang 12• Thiết lập chuỗi cung ứng giữa các đối tượng giữa các đối tác truyền thống với nhau
• Chuyển hướng sản phẩm nhanh trong trước sự thay đổi của thị trường
5.2 Khó khăn
Doanh nghiệp chưa có thói quen ứng dụng CNTT vào quản trị doanh nghiệp
Thực tế hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ, thậm chí kể cả các doanhnghiệp đã trải qua quãng thời gian hình thành và phát triển rất dài, hầu như chưa tận dụngđược những tiến bộ trong CNTT vào quản trị doanh nghiệp, hầu như các công đoạn đềuđược thực hiện thủ công
Toàn bộ hoạt động kinh doanh có thể bị phá hủy nếu hệ thống SCM được lựa chọnkhông tương thích với công cụ quản lý ban đầu của công ty như hệ thống quản lý sổ sách,phần mềm hỗ trợ kinh doanh, và quan trọng là nhân lực vận hành không có chuyên môn.Chính vì thế, khi quyết định sử dụng phần mềm quản trị doanh nghiệp, nhiều doanhnghiệp tự đặt mình vào tình huống khó khăn khi phải đào tạo lại toàn bộ quá trình sử dụngCNTT của các nhân viên các bộ phận trong công ty
Quá trình phân tích hoạt động kinh doanh chưa được tiến hành bài bản
HTTT là một trong những phần mềm hiệu quả nếu được sử dụng hợp lý Tuy nhiên,nếu doanh nghiệp chủ quan trong quá trình phân tích hoạt động kinh doanh để lựa chọn ranhững giải pháp phù hợp thì không những doanh nghiệp không thể tận dụng tốt những ưuđiểm mà thậm chí có thể gặp nhiều khó khăn hơn so với khai việc không triển HTTT
Vì hoạt động nghệ thuật của hệ thống SCM có tác động trực tiếp tới toàn bộ quátrình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp do đó nếu lựa chọn sai hệ thống sẽ gây thiệthại rất lớn cho công ty
Khi lựa chọn một hệ thống SCM nhưng nếu sai thì từ nguyên liệu sản xuất đến hệthống phân phối có thể ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động kinh doanh của công ty, từ khâunguyên liệu sản xuất đến khâu hệ thống phân phối
Doanh nghiệp chưa thực sự biết mình cần gì?
Nhiều doanh nghiệp lựa chọn theo trào lưu mà không có quá trình tìm hiểu kỹ lưỡng
về lợi ích và sự phù hợp của chúng, làm thế nào để tận dụng tối đa được những lợi ích từCNTT Một số doanh nghiệp chưa hình dung được đầy đủ các khó khăn trong quá trìnhtriển khai hệ thống SCM Vì vậy, khi thực sự đưa vào hoạt động, dự án có thể dễ dàng bịngừng lại giữa chừng mà không tiếp tục đi đến cuối cùng để hưởng trái ngọt từ những lợiích mà SCM đem lại
Chính vì thế, doanh nghiệp chưa hiểu, cũng bị động trong quá trình tìm hiểu về nhucầu của chính bản thân mình, dẫn tới có thể lãng phí chi phí, thời gian, nguồn lực màkhông đem lại kết quả gì