1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động xuất nhập khẩu ở nghệ an trong hội nhập quốc tế

114 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 878,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thời gian qua, với sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, sự chỉ đạo, điều hành sâu sát của ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Công Thương Nghệ An, Cục Hải Quan Nghệ An, sự phối hợp tích cực giữa các ngành và n

Trang 1

HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU Ở NGHỆ AN

TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGHỆ AN - 2015

Trang 2

NGUYỄN VĂN QUỲNH

HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU Ở NGHỆ AN

TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Chuyên ngành: Kinh tế chính trị

Mã số: 60.31.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

TS NGÔ VĂN VŨ

NGHỆ AN - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong các công trình nghiên cứu nào khác

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

NGUYỄN VĂN QUỲNH

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc và biết ơn tới TS Ngô Văn Vũ, người hướng dẫn khoa học và định hướng nghiên cứu cho tôi Tôi cũng xin được bày tỏ tấm lòng biết ơn đến các thầy, cô giáo trong Khoa Kinh tế, Phòng Đào tạo Sau đại học, Trường Đại học Vinh đã có đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu, có những ý kiến đóng góp để tôi hoàn thành đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Sở Công Thương Nghệ An, Trung tâm xúc tiến thương mại Nghệ An, Cục thống kê Nghệ An đã giúp đỡ tôi trong thời gian thu thập thông tin, tài liệu, tư liệu phục vụ cho nghiên cứu này

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc gia đình, bạn bè đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

NGUYỄN VĂN QUỲNH

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG vi

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 5

7 Bố cục của luận văn 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ 7

1.1 Khái niệm, hình thức và vai trò hoạt động xuất, nhập khẩu 7

1.1.1 Khái niệm, hình thức hoạt động xuất, nhập khẩu 7

1.1.2 Vai trò hoạt động xuất, nhập khẩu 16

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu 22

1.2.1 Hội nhập kinh tế quốc tế 22

1.2.2 Năng lực cạnh tranh và trình độ phát triển kinh tế của địa phương 29

1.2.3 Thị trường trong nước và quốc tế 30

1.2.4 Quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Chính phủ, UBND tỉnh, sở ban ngành về xuất nhập khẩu 30

1.2.6 Các yếu tố văn hóa - xã hội 34

1.3 Kinh nghiệm hoạt động xuất nhập khẩu một số địa phương và bài học kinh nghiệm cho Nghệ An 35

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 39

Trang 6

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU Ở

NGHỆ AN TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ 40

2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu ở Nghệ An 40

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên của Nghệ An 40

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của Nghệ An 43

2.2 Hoạt động xuất nhập khẩu ở Nghệ An 44

2.2.1 Tổng quan về các doanh nghiệp với xuất nhập khẩu ở Nghệ An 44

2.2.2 Hoạt động xuất nhập khẩu ở Nghệ An 51

2.3 Đánh giá hoạt động xuất nhập khẩu ở Nghệ An 75

2.3.1 Thành tựu 75

2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 77

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 81

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU Ở NGHỆ AN TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ 82

3.1 Cơ hội và thách thức 82

3.1.1 Cơ hội 82

3.1.2 Thách thức 85

3.2 Quan điểm và phương hướng 86

3.2.1 Quan điểm 86

3.2.2 Phương hướng 88

3.3 Giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu ở Nghệ An 93

3.3.1 Về phía Nhà nước 93

3.3.2 Giải pháp về phía tỉnh Nghệ An 94

3.3.3 Giải pháp về phía doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu 101

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 103

KẾT LUẬN 104

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

TNHH 1TV Trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên

TPP Hiệp định đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Trang Bảng 2.1 Các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010-2014 45 Bảng 2.2 Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa phân theo thành phần kinh

tế trên địa bàn tỉnh Nghệ An từ năm 2008 đến năm 2014 52 Bảng 2.3 Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn tỉnh Nghệ An

phân theo doanh nghiệp năm 2011-2012 55 Bảng 2.4 Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn tỉnh Nghệ An

phân theo doanh nghiệp năm 2013 - 2014 56 Bảng 2.5 Kim ngạch xuất khẩu theo lĩnh vực xuất khẩu của tỉnh

Nghệ An năm 2011-2014 58 Bảng 2.6 Thị trường xuất khẩu hàng hóa chủ yếu của các doanh

nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An năm 2011, 2013, 2014 61 Bảng 2.7 Xuất khẩu hàng hóa của Nghệ An phân theo mặt hàng tại

thị trường Trung Quốc năm 2011 63 Bảng 2.8 Xuất khẩu hàng hóa của Nghệ An phân theo mặt hàng tại

thị trường Lào năm 2011 64 Bảng 2.9 Xuất khẩu hàng hóa của Nghệ An phân theo mặt hàng tại

thị trường Hàn Quốc năm 2011 65 Bảng 2.10 Xuất khẩu hàng hóa của Nghệ An phân theo mặt hàng năm

2013 - 2014 66 Bảng 2.11 Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tỉnh Nghệ An giai đoạn

2008 - 2014 67 Bảng 2.12 Tổng kinh ngạch nhập khẩu năm 2013 của doanh nghiệp

nhập khẩu ở Nghệ An 70 Bảng 2.13 Cơ cấu nhập khẩu năm 2011 của các doanh nghiệp trên địa

bàn tỉnh Nghệ An theo mặt hàng 72 Bảng 2.14 Cơ cấu nhập khẩu ở Nghệ An theo mặt hàng năm 2013 73

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Hoạt động xuất, nhập khẩu đã và đang trở thành nhân tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế, tác động đến hầu hết mọi lĩnh vực quan trọng của kinh tế như hoạt động sản xuất, tiêu dùng, đầu tư nước ngoài và sự hội nhập kinh tế quốc tế của tỉnh Nghệ An

Đặc biệt những năm gần đây, trong bối cảnh kinh tế thế giới, khu vực và trong nước có nhiều bất ổn, các hoạt động xuất, nhập khẩu của tỉnh Nghệ An ngày càng đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến hầu hết các ngành nghề khác Thời gian qua, với sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, sự chỉ đạo, điều hành sâu sát của ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Công Thương Nghệ An, Cục Hải Quan Nghệ An, sự phối hợp tích cực giữa các ngành và nỗ lực của các địa phương, cộng đồng doanh nghiệp trong việc triển khai thực hiện đồng bộ

và quyết liệt các nhiệm vụ của ngành; cùng với đó là nghị quyết

11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội; Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 10/5/2012 của Chính phủ với các giải pháp tháo

gỡ khó khăn cho doanh nghiệp đi vào cuộc sống và góp phần ổn định kinh

tế vĩ mô, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trên địa bàn ổn định sản xuất, kinh doanh

Tuy nhiên, cho đến nay hoạt động xuất, nhập khẩu của tỉnh Nghệ An vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại và để nhận biết được những tác động này đến sự phát triển kinh tế xã hội địa phương từ đó đưa ra những giải pháp nhằm phát huy những nhân tố tích cực và hạn chế những nhân tố tiêu cực, góp phần về mặt lý luận và thực tiễn

Trang 10

Xuất phát từ thực tiễn nói trên, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu:

“Hoạt động xuất nhập khẩu ở Nghệ An trong hội nhập quốc tế” làm đề tài

luận văn thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong những năm gần đây, thực tế đã có nhiều nghiên cứu về hoạt động xuất, nhập khẩu Tuy nhiên, các nghiên cứu thường đề cập đến hoạt động xuất, nhập khẩu gắn liền với doanh nghiệp vừa và nhỏ, hay các nhóm sản phẩm, sản phẩm cụ thể Thực tế cho thấy, ở tỉnh Nghệ An nói riêng và Việt Nam nói chung có rất ít công trình nghiên cứu khoa học đề cập đến các vấn

đề xuất, nhập khẩu nói chung của địa phương Trong các nghiên cứu liên quan

đến đề tài luận văn, nổi bật có một số công trình nghiên cứu sau:

- Đề tài “Phương hướng và biện pháp chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu

hàng hoá ở nước ta”, luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Văn Cốc, cao học Kinh

tế thương mại, Đại học Kinh Tế Quốc Dân năm 2000 Luận văn đã đề cập tới

lý luận và thực trạng cơ cấu xuất khẩu hàng hóa ở Việt Nam, từ đó đưa ra các biện pháp và phương hướng chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu hàng hóa

- Đề tài “Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam

sang thị trường Châu Phi”, luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Xuân Thanh,

cao học Kinh tế thương mại, Đại học Kinh Tế Quốc Dân năm 2005 Luận văn

đã đề cập tới lý luận và thực trạng xuất khẩu hàng hóa nông sản ở Việt Nam,

từ đó đưa ra các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa nông sản

- Đề tài “Đẩy mạnh xuất khẩu hàng rau quả Việt Nam sang Châu Âu”,

luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Ngọc Anh, cao học Kinh tế thương mại, Đại học Kinh Tế Quốc Dân, năm 2008 Luận văn đã đề cập tới lý luận và thực trạng xuất khẩu hàng rau quả ở Việt Nam sang thị trường Châu Âu, từ đó đưa

ra các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa mặt hàng rau quả sang thị trường lớn và khó khăn như thị trường Châu Âu.

Trang 11

Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu cụ thể về xuất, nhập khẩu ở tỉnh Nghệ An Đây là khoảng trống đặt ra cần nghiên cứu Việc nghiên cứu, lý giải để làm rõ cơ sở lý luận một cách toàn diện và đầy đủ về hoạt động xuất, nhập khẩu và đề xuất giải pháp là đòi hỏi cấp bách cả về lý luận và thực tiễn, đặc biệt là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Được

sự đồng ý của Khoa Kinh tế, Phòng Đào tạo sau đại học và Trường Đại học

Vinh, tác giả thực hiện đề tài: "Hoạt động xuất nhập khẩu ở Nghệ An trong

hội nhập quốc tế" làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế chính trị

nhằm lấp khoảng trống nghiên cứu còn tồn tại

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu chung

Đánh giá thực trạng hoạt động xuất, nhập khẩu trên địa bàn tỉnh Nghệ

An trong hội nhập kinh tế quốc tế và đề xuất các giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất, nhập khẩu trong hội nhập kinh tế quốc tế ở Nghệ An

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Khái quát và hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về hoạt động xuất, nhập khẩu nói chung

- Vận dụng lý luận vào phân tích đánh giá thực tiễn để hiểu rõ những mặt được và chưa được về hoạt động xuất, nhập khẩu ở tỉnh Nghệ An trong hội nhập kinh tế quốc tế thời gian qua

- Đề xuất quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất, nhập khẩu ở tỉnh Nghệ An trong hội nhập kinh tế quốc tế đặc biệt trong thời gian đến năm 2020

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động xuất,

nhập khẩu hàng hóa trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn triển khai nghiên cứu trên địa bàn tỉnh

Nghệ An

Trang 12

- Giới hạn nghiên cứu: Luận văn chỉ nghiên cứu hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa ở tỉnh Nghệ An trong hội nhập kinh tế quốc tế Cụ thể luận văn

chỉ nghiên cứu hoạt động xuất, nhập khẩu ở tỉnh Nghệ An gắn với các nội dung: kim ngạch xuất khẩu, kim ngạch nhập khẩu, xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An, xuất nhập khẩu theo thị trường, cơ cấu mặt hàng xuất, nhập khẩu; luận văn không nghiên cứu sâu vào hoạt động xuất, nhập khẩu ở lĩnh vực xuất khẩu lao động, không đi sâu vào lĩnh vực thu ngoại tệ ví dụ như du lịch thu ngoại tệ hay vận tải biển

5 Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên các quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử luận văn

đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị, như tổng hợp, phân tích và các phương pháp pháp khác như: thu thập số liệu, xử lý số liệu, thống kê mô tả, thống kê so sánh , đánh giá thực trạng hoạt động xuất, nhập khẩu ở tỉnh Nghệ An

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, tác giả luận văn đã thực hiện phân

tích định tính, thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn thông tin khác nhau; cụ thể:

Nguồn thông tin thứ cấp: những vấn đề lý luận đã được đúc rút

trong sách giáo khoa chuyên ngành trong nước; các số liệu thông kê đã được xuất bản, các báo cáo tổng hợp từ các tổ chức, cơ quan quản lý có liên quan; kết quả các nghiên cứu trước đây được công bố trên các tạp chí

khoa học trong nước

Nguồn thông tin sơ cấp: Những tài liệu, số liệu chung thu thập từ báo

cáo tổng kết của các doanh nghiệp và sở ban ngành có liên quan trên địa bàn tỉnh Nghệ An Tác giả đã thiết kế bảng biểu dựa trên những kết quả, số liệu thu thập được Bảng biểu đã được xây dựng một cách khoa học và thuận tiện cho người đọc có thể đọc và đánh giá các kết quả, để hiểu rõ kết quả và bản chất của hoạt động hoạt động xuất, nhập khẩu trong quá trình hội nhập kinh

Trang 13

tế Thông tin thu thập đã được tổng hợp, phân tích kết hợp giữa lý luận và thực tiễn một cách khoa học

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

- Về lý luận:

Luận văn đã hệ thống hóa làm rõ một số vấn đề lý luận liên quan hoạt động xuất, nhập khẩu; đã nghiên cứu, tìm hiểu một số kinh nghiệm đẩy mạnh hoạt động xuất, nhập khẩu ở một số địa phương trong nước

- Về thực tiễn:

+ Luận văn đã xem xét và đánh giá tổng thể về hoạt động xuất, nhập khẩu trong những năm gần đây, những cơ hội và thách thức đặt ra đối với việc đẩy mạnh hoạt động xuất, nhập khẩu ở Nghệ An trong quá trình hội nhập kinh

tế quốc tế

+ Luận văn đã đánh giá được cụ thể các hoạt động xuất, nhập khẩu trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong hội nhập kinh tế quốc tế, làm rõ những thành công, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế; trên cơ sở đó đề xuất một

số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất, nhập khẩu trong hội nhập kinh

tế quốc tế những năm tới

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích cho các

cơ quan quản lý nhà nhà nước về xuất, nhập khẩu và chủ doanh nghiệp có tham gia hoạt động xuất, nhập khẩu, từ đó thực hiện các biện pháp quản lý nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất, nhập khẩu của địa phương cũng như trong doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu của luận văn cũng là gợi ý để các nhà quản

lý tham khảo trong việc xây dựng các chính sách nhằm hỗ trợ và định hướng xuất, nhập khẩu gắn với hội nhập Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng cung cấp thông tin để các tổ chức đào tạo, tư vấn thiết kế chương trình đào tạo, hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu của hoạt động xuất, nhập khẩu khi hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 14

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động xuất nhập khẩu trong

hội nhập quốc tế Chương 2: Thực trạng hoạt động xuất nhập khẩu ở Nghệ An trong hội

nhập quốc tế Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu ở Nghệ An

trong hội nhập quốc tế

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU

TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ

1.1 Khái niệm, hình thức và vai trò hoạt động xuất, nhập khẩu

1.1.1 Khái niệm, hình thức hoạt động xuất, nhập khẩu

1.1.1.1 Khái niệm, hình thức xuất khẩu

Trong điều kiện hội nhập của nền kinh tế quốc dân thì hoạt động xuất khẩu là hoạt động rất cần thiết, làm tăng cường quan hệ hợp tác buôn bán giữa các quốc gia với nhau nhiều hơn Sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ là một hình thức của mối quan hệ xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh

tế giữa những người sản xuất hàng hoá riêng biệt từ các quốc gia khác nhau trên thế giới Vậy xuất khẩu là việc bán hàng hoá (hàng hoá có thể là hữu hình hoặc vô hình) cho một nước khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm đồng tiền thanh toán Tiền tệ có thể là tiền của một trong hai nước hoặc là tiền của một nước thứ ba (đồng tiền dùng thanh toán quốc tế) [2]

Dựa trên cơ sở về lợi thế so sánh giữa các quốc gia mà tính chuyên môn hoá cao hơn, làm giảm chi phí sản xuất và các chi phí khác nên giá thành giảm Mục đích của các quốc gia khi tham gia xuất khẩu là thu được một lượng ngoại tệ lớn để có thể nhập khẩu các trang thiết bị máy móc, kĩ thuật công nghệ hiện đại… tạo ra công ăn việc làm, tăng thu nhập và nâng cao mức sống cho nhân dân, từ đó tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế phát triển và rút ngắn được khoảng cách chênh lệch quá lớn giữa các nước [7]

Thương mại quốc tế đã có từ lâu đời và có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế Mỗi quốc gia đều có nguồn lực và khả năng sản xuất giới hạn Trao đổi, buôn bán quốc tế cho phép các quốc gia mở rộng khả năng tiêu dùng vượt quá đường giới hạn khả năng sản xuất Vấn đề đặt ra

Trang 16

cho mỗi quốc gia là phải lựa chọn mặt hàng, phân bổ nguồn lực một cách hợp

lý để sử dụng một cách tốt nhất, tiết kiệm và có hiệu quả nhất các nguồn lực sẵn có Để giải quyết vấn đề này, các nhà kinh tế học đã đưa ra nhièu lý thuyết tiêu biểu như lý thuyết tuyệt đối của A Smith, lý thuyết về lợi thế so sánh của D Rcardo… các lý thuyết này đã vạch ra các cơ sở lý luận cơ bản cho đến nay vẫn được coi là nền tảng của thương mại quốc tế

- Lý thuyết lợi thế tuyệt đối: Trong mô hình kinh tế cổ điển, chúng ta đã

biết các nhà kinh tế cổ điển cho rằng đất đai là giới hạn của tăng trưởng Khi nhu cầu lương thực tăng lên, phải tiếp tục sản xuất trên những đất đai cằn cỗi, không đảm bảo được lợi nhuận cho các nhà tư bản thì họ sẽ không sản xuất nữa Các nhà kinh tế cổ điển gọi đây là bức tranh đen tối của tăng trưởng Trong điều kiện đó, A Smith cho rằng có thể giải quyết bằng cách nhập khẩu lương thực từ nước ngoài với giá rẻ hơn Việc nhập khẩu này sẽ mang lại lợi ích cho cả hai nước Lợi ích này được gọi là lợi thế tuyệt đối của hoạt động ngoại thương [2] Do đó, có thể nói lợi thế tuyệt đối là lợi thế có được trong điều kiện so sánh chi phí sản xuất để sản xuất ra cùng một loại sản phẩm, khi một nước sản xuất sản phẩm có chi phí cao hơn có thế nhập sản phẩm đó từ nước khác có chi phí sản xuất thấp hơn Lợi thế này được xem xét từ hai phía, đối với nước sản xuất sản phẩm có chi phí sản xuất thấp sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn khi bán trên thị trường quốc tế Còn đối với nước sản xuất sản phẩm với chi phí sản xuất cao sẽ có được sản phẩm mà trong nước không có khả năng sản xuất hoặc sản xuất không đem lại lợi nhuận Điều này gọi là bù đắp sự yêu kém về khả năng sản xuất trong nước

Như vậy, lý thuyết lợi thế tuyệt đối cho biết một quốc gia có thể thu được thặng dư từ thương mại và ủng hộ mạnh mẽ cho chính sách tự do kinh doanh Thương mại tự do có thể làm cho nguồn lực của thế giới được sử dụng một cách hữu hiệu nhất và có thể tối đa hóa phúc lợi toàn thế giới Dường như

Trang 17

có nghịch lý là ngày nay hầu hết các quốc gia sử dụng nhiều biện pháp hạn chế thương mại tự do Các biện pháp hạn chế thương mại được tỷ lệ hóa theo phúc lợi của quốc gia Trên thực tế, các biện pháp hạn chế thương mại được một số ngành công nghiệp và những công nhân của ngành đó bị tổn thất vì hàng nhập khẩu ủng hộ Như vậy, các biện pháp hạn chế thương mại tạo ra lợi ích cho thiểu số nhưng làm tổn thất tới đa số (những người phải trả giá cao hơn để cạnh tranh với hàng hoá trong nước)

- Lý thuyết về lợi thế so sánh: Lợi thế so sánh là lợi thế đạt được trong

trao đổi thương mại quốc tế, khi các quốc gia tập trung chuyên môn hoá sản xuất và trao đổi những mặt hàng có bất lợi nhỏ nhất hoặc những mặt hàng có

lợi lớn nhất thì tất cả các quốc gia đều cùng có lợi [2]

Qua đó, cho thấy chuyên môn hoá sản xuất sản phẩm có lợi thế tương đối cũng làm tăng lên lợi ích cho xã hội Lý thuyết trên được xây dựng với các giả thiết như chỉ có hai nước sản xuất hàng hoá, đầu vào chỉ là lao động di chuyển tự do trong nước nhưng không thể dịch chuyển giữa các nước, chi phí sản xuất không đổi, công nghệ không đổi, thương mại hoàn toàn tự do… để khắc phục hạn chế của lý thuyết là dựa vào lý luận giá trị lao động và cho lao động là yếu tố đầu vào sản xuất duy nhất, thì Eli Hecksher và B.Ohlin đã phát triển lý luận về lợi thế so sánh bằng việc đưa ra mô hình H-O để trình bày lý thuyết ưu đãi về các nguồn lực sản xuất vốn có Lý thuyết này đã giải thích hiện tượng thương mại quốc tế là do trong nền kinh tế mở, các yếu tố đầu vào của sản xuất là hàng hoá, mỗi nước đều hướng đến chuyên môn hoá các ngành sản xuất mà cho phép sử dụng nhiều yếu tố sản xuất thuận lợi nhất đối với đất nước đó Nguyên lý H-O được phát biểu: “Một quốc gia sẽ xuất khẩu loại hàng hoá mà việc sản xuất cần sử dụng nhiều yếu tố rẻ và tương đối sẵn

có và nhập khẩu những hàng hoá mà việc sản xuất ra cần nhiều yếu tố đắt và tương đối khan hiếm” [2] Nói cách khác theo nguyên lý H-O, một số nước có

Trang 18

lợi thế so sánh hơn trong việc sản xuất những loại hàng hoá đó đã sử dụng nhiều yếu tố sản xuất được ưu đãi hơn so với nước khác Chính sự ưu đãi tự nhiên của các yếu tố sản xuất này đã khiến một số nước có chi phí cơ hội thấp hơn khi sản xuất những sản phẩm hàng hoá đó

Lý thuyết này còn được các nhà kinh tế học khác như Wolfgang Stolper, Paul A.Samuelson, Jame William… tiếp tục nghiên cứu mở rộng và phát triển hơn để khẳng định những tư tưởng khoa học và có giá trị thực tiễn

to lớn của nó [3] Tuy nhiên còn nhiều hạn chế về lí luận trước thực tiễn phát triển phức tạp của hoạt động thương mại quốc tế ngày nay, song các lý thuyết

về lợi thế vẫn còn là quy luật chi phối động thái phát triển của thương mại quốc tế Với xu hướng thương mại hoá, quốc tế hoá các quốc gia đều mở rộng quan hệ buôn bán và trao đổi hàng hoá dịch vụ với nhau, nhằm phát huy lợi thế so sánh của mình về các nguồn lực sản xuất vốn có để thu được lợi ích thương mại cao nhất, trên cơ sở đó thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh

tế đất nước

- Hình thức xuất khẩu:

Với mục tiêu là đa dạng hóa các hình thức kinh doanh xuất khẩu nhằm phân tán và chia sẻ rủi ro, các doanh nghiệp ngoại thương có thể lựa chọn nhiều hình thức xuất khẩu khác nhau Một số hình thức xuất khẩu thường được các doanh nghiệp lựa chọn, bao gồm:

- Xuất khẩu trực tiếp là xuất khẩu các hàng hoá và dịch vụ do chính doanh nghiệp sản xuất ra hoặc mua từ các đơn vị sản xuất trong nước, sau đó xuất khẩu ra nước ngoài với danh nghĩa là hàng của mình [13] Hình thức này

có ưu điểm là lợi nhuận mà đơn vị kinh doanh xuất khẩu thường cao hơn các hình thức khác do không phải chia sẻ lợi nhuận qua khâu trung gian Với vai trò là người bán trực tiếp, doanh nghiệp ngoại thương có thể nâng cao uy tín của mình Tuy vậy, nó đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng trước một lượng vốn khá lớn để sản xuất hoặc thu mua hàng và có thể gặp nhiều rủi ro

Trang 19

- Xuất khẩu gián tiếp là việc cung ứng hàng hoá ra thị trường nước ngoài thông qua các trung gian xuất khẩu như đại lý hoặc tổ chức môi giới [13] Đó có thể là các cơ quan, văn phòng đại diện, các công ty ủy thác xuất, nhập khẩu Xuất khẩu gián tiếp sẽ hạn chế mối liên hệ với bạn hàng của nhà xuất khẩu, đồng thời khiến nhà xuất khẩu phải chia sẻ một phần lợi nhuận cho người trung gian Tuy nhiên, trên thực tế phương thức này được sử dụng rất nhiều, đặc biệt là ở các nước kém phát triển, vì các lý do: Người trung gian thường hiểu rõ thị trường kinh doanh, còn các nhà kinh doanh thường lại thiếu thông tin trên thị trường nên người trung gian tìm được nhiều cơ hội kinh doanh thuận lợi hơn Đồng thời, người trung gian có khả năng nhất định

về vốn, nhân lực cho nên nhà xuất khẩu có thể khai thác để tiết kiệm phần nào chi phí trong quá trình vận tải

Xuất khẩu ủy thác là các đơn vị nhận giao dịch, đàm phán, kí kết hợp đồng để xuất khẩu cho một đơn vị (bên ủy thác) [13] Trong hình thức xuất khẩu ủy thác, đơn vị ngoại thương đóng vai trò là người trung gian xuất khẩu làm thay cho đơn vị sản xuất Ưu điểm của hình thức này là độ rủi ro thấp, trách nhiệm ít, người đứng ra xuất khẩu không phải là người chịu trách nhiệm cuối cùng, đặc biệt là không cần đến vốn để mua hàng, phí ít nhưng nhận tiền nhanh, cần ít thủ tục

- Buôn bán đối lưu là hình thức giao dịch mà trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, hàng trao đổi

có giá trị tương đương nhau [7] Mục đích xuất khẩu không phải là nhằm thu

về một khoản ngoại tệ mà nhằm thu về một lượng hàng hoá có giá trị xấp xỉ giá trị lô hàng xuất khẩu Buôn bán đối lưu đã ra đời từ lâu trong lịch sử quan

hệ hàng hóa - tiền tệ, trong đó sớm nhất là “hàng đổi hàng”, rồi đến trao đổi

bù trừ Ngày nay ngoài hai hình thức truyền thống đó, đã có nhiều loại hình thức mới ra đời

Trang 20

- Xuất khẩu theo nghị định thư là hình thức xuất khẩu hàng hoá (thường là trả nợ) được ký theo nghị định thư giữa hai chính phủ[13] Xuất khẩu theo nghị định thư có nhiều ưu điểm như khả năng thanh toán chắc chắn (do nhà nước trả cho đơn vị xuất khẩu), giá cả hàng hóa tương đối cao, việc sản xuất thu mua có nhiều ưu tiên Trên thực tế, hình thức này ít được áp dụng, chủ yếu là ở các nước xã hội chủ nghĩa trước kia

- Xuất khẩu tại chỗ là hình thức mới và đang phổ biến rộng rãi Đặc điểm của hình thức này là hàng hoá không bắt buộc vượt qua biên giới quốc gia mới đến tay khách hàng [13] Do vậy, giảm được chi phí cũng như rủi ro trong quá trình vận chuyển và bảo quản hàng hoá Các thủ tục trong hình thức này cũng đơn giản hơn, trong nhiều trường hợp không nhất thiết phải có hợp đồng phụ trợ như: hợp đồng vận tải, bảo hiểm hàng hoá, thủ tục hải quan

- Gia công quốc tế là một hoạt động kinh doanh thương mại trong đó một bên (gọi là bên nhận gia công) nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác (gọi là bên đặt gia công) để chế biến ra thành phẩm

giao lại cho bên đặt gia công và nhận thù lao (gọi là phí gia công) [7] Như vậy,

trong gia công quốc tế hoạt động xuất, nhập khẩu gắn liền với hoạt động sản xuất Gia công quốc tế ngày nay khá phổ biến trong buôn bán ngoại thương của nhiều nước Đối với bên đặt gia công, phương thức này giúp họ tận dụng được giá rẻ về nguyên phụ liệu và nhân công của nước nhận gia công Đối với bên nhận gia công, phương thức này giúp họ giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân lao động trong nước hoặc nhận được thiết bị hay công nghệ mới về nước mình, nhằm xây dựng một nền công nghiệp quốc gia Nhiều nước đang phát triển đã nhờ vận dụng phương thức gia công quốc tế mà có được một nền công nghiệp hiện đại, chẳng hạn như Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore

- Tạm nhập tái xuất là xuất khẩu những hàng ngoại quốc từ kho hải quan, chưa qua chế biến ở nước mình [7] Anh, Mỹ và một số nước khác lại

Trang 21

coi đó là việc xuất khẩu những hàng hóa ngoại quốc chưa qua chế biến ở trong nước dù hàng đó đã qua lưu thông nội địa Như vậy, các nước đều thống nhất quan niệm tái xuất là xuất khẩu trở ra nước ngoài những hàng hóa trước đây đã nhập khẩu, chưa qua chế biến ở nước tái xuất Giao dịch tái xuất bao gồm nhập khẩu và xuất khẩu với mục đích thu về một số ngoại tệ lớn hơn vốn

bỏ ra ban đầu Giao dịch này luôn luôn thu hút được ba nước: nước xuất khẩu, nước tái xuất và nước nhập khẩu Vì vậy người ta gọi giao dịch tái xuất là giao dịch ba bên hay giao dịch tam giác (triangular transaction)

- Chuyển khẩu là hình thức mua hàng của nước này bán cho nước khác

mà không phải làm thủ tục xuất, nhập khẩu [7]

1.1.1.2 Khái niệm, hình thức nhập khẩu

Xu thế quốc tế hoá ngày nay đã thúc đẩy hoạt động kinh doanh quốc tế diễn ra mạnh mẽ Xuất khẩu và nhập khẩu là hai hoạt động quan trọng của thương mại quốc tế, nếu thương mại quốc tế là sự trao đổi mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ nhằm mục tiêu lợi nhuận giữa các thương nhân có trụ sở kinh doanh tại các quốc gia khác nhau và nói rằng xuất khẩu là một hình thức tất yếu của các công ty kinh doanh quốc tế khi xâm nhập thị trường quốc tế thì nhập khẩu cũng đóng vai trò không kém phần quan trọng bởi vì xuất khẩu của nước này sẽ là nhập khẩu của nước kia và ngược lại, nó là mặt không thể tách rời của nghiệp vụ ngoại thương Đã có không ít những cách hiểu khác nhau về nhập khẩu nhưng xét trên góc độ chung nhất, nhập khẩu được hiểu là

sự mua hàng hoá dịch vụ từ nước ngoài về phục vụ cho nhu cầu trong nước hoặc tái sản xuất nhằm mục đích thu lợi nhuận [7]

Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của thương mại quốc tế, nhập khẩu tác động một cách trực tiếp và quyết định đến sản xuất và đời sống Nhập khẩu là để tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật công nghệ tiên tiến, hiện đại cho sản xuất và các hàng hoá cho tiêu dùng mà sản xuất trong nước không

Trang 22

sản xuất được, hoặc sản xuất không đáp ứng nhu cầu Nhập khẩu còn để thay thế, nghĩa là nhập khẩu những thứ mà sản xuất trong nước sẽ không có lợi bằng xuất khẩu, làm được như vậy sẽ tác động tích cực đến sự phát triển cân đối và khai thác tiềm năng, thế mạnh của nền kinh tế quốc dân về sức lao động, vốn, cơ sở vật chất, tài nguyên và khoa học kĩ thuật

- Hình thức nhập khẩu:

Trong điều kiện nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, các công

ty kinh doanh quốc tế khi tham gia hoạt động nhập khẩu thường áp dụng hai hình thức kinh doanh nhập khẩu chính: là nhập khẩu trực tiếp (nhập khẩu tự doanh) và nhập khẩu gián tiếp (nhập khẩu ủy thác) Áp dụng hình thức nào, điều này phụ thuộc vào điều kiện kinh doanh, điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật và vào yêu cầu của khách hàng

- Nhập khẩu trực tiếp (nhập khẩu tự doanh)

Trong thương mại quốc tế, giao dịch trực tiếp ngày càng phát triển do các phương tiện thị trường rất phát triển, trình độ năng lực giao dịch của người tham gia thương mại quốc tế ngày càng cao do đó khi nhập khẩu hàng hoá, các đơn vị kinh doanh quốc tế có thể trực tiếp giao dịch với nhà xuất khẩu một cách thuận tiện và dễ dàng

Kinh doanh nhập khẩu theo hình thức trực tiếp được hiểu là việc đơn vị kinh doanh trực tiếp nhập khẩu hàng hoá từ nước ngoài vào quốc gia nhập khẩu với danh nghĩa và chi phí của mình rồi sau đó tiến hành kinh doanh, bán hàng hoá nhập khẩu cho khách hàng trong nước có nhu cầu [7]

Đơn vị kinh doanh theo hình thức nhập khẩu trực tiếp sẽ mang lại hiệu quả cao do giảm được chi phí trung gian, giảm bớt sai sót, lợi nhuận thu được

do bán hàng hoá nhập khẩu lớn hơn chi phí ủy thác nhập khẩu hàng hoá Ðồng thời theo hình thức này đơn vị kinh doanh có điều kiện trực tiếp tiếp cận thị trường để thích ứng với nhu cầu thị trường một cách tốt nhất, từ đó có thể chủ động được nguồn hàng và bạn hàng trong kinh doanh

Trang 23

Tuy nhiên, bên cạnh thuận lợi đó thì kinh doanh nhập khẩu trực tiếp cũng gặp không ít khó khăn, hình thức này cũng chứa đầy rủi ro và mạo hiểm

do doanh nghiệp phải có đủ tiềm lực về tài chính để đầu tư, cán bộ phải có nghiệp vụ giỏi, hình thức này nếu không tìm hiểu kỹ thị trường và đối tác thì rất dễ bị ép giá thậm chí sau khi nhập khẩu hàng hoá về có thể không bán được hoặc bán được với giá thấp hơn Hình thức này không thích hợp với công ty kinh doanh quốc tế khi lần đầu tham gia trên thị trường quốc tế hoặc kinh doanh mặt hàng mới trên thị trường mới

- Nhập khẩu gián tiếp (nhập khẩu ủy thác)

Trên thực tế hiện nay có nhiều đơn vị kinh doanh quốc tế không đủ điều kiện về nhân lực, cơ sở vật chất để tiến hành nhập khẩu trực tiếp do đó

họ sẽ cần đến trung gian làm cầu nối giữa công ty nhập khẩu và đối tác là công ty xuất khẩu

Kinh doanh nhập khẩu theo hình thức ủy thác là việc đơn vị ngoại thương (bên nhận ủy thác) đóng vai trò trung gian để thực hiện nghiệp vụ nhập khẩu hàng hoá từ nước ngoài vào nước nhập khẩu theo yêu cầu của bên

ủy thác với danh nghĩa của mình nhưng bằng chi phí của bên ủy thác [7]

Theo khái niệm về nhập khẩu ủy thác có thể thấy rằng khi đơn vị kinh doanh theo hình thức này thì đơn vị ngoại thương không phải bỏ vốn của mình ra đem đi nhập khẩu, vốn này do bên ủy thác cấp, tuy nhiên đợn vị kinh doanh vẫn phải chịu chi phí về nghiên cứu thị trường, đối tác, khi thực hiện hình thức nhập khẩu này hoàn toàn yên tâm về đầu ra do chỉ phải nhập khẩu hàng hoá theo yêu cầu của người ủy thác, điều này tạo ra một độ an toàn nhất định cho công ty kinh doanh quốc tế

Về phía bên ủy thác là những đơn vị kinh doanh có nhu cầu về hàng hoá nhập khẩu nhưng do điều kiện có thể không đủ trình độ nghiệp vụ để đứng ra nhập khẩu hàng hoá hoặc có thể họ có vốn nhập khẩu nhưng lại không có chức năng kinh doanh xuất, nhập khẩu

Trang 24

Mối liên hệ giữa bên ủy thác và bên nhận ủy thác thể hiện ở hoạt động

ký kết giữa hai bên và những tài liệu, giấy tờ liên quan mà bên ủy thác gửi cho đơn vị ngoại thương Và chính đây là cơ sở quan trọng để bên được ủy thác tiến hành đàm phán ký kết hợp đồng nhập khẩu với đối tác ở nước ngoài Sau khi công việc nhập khẩu hoàn tất, đơn vị được ủy thác bàn giao hàng hoá đúng như yêu cầu cho bên ủy thác gọi là chi phí ủy thác khoảng 1% giá trị hợp đồng, chi phí này có thể ít hơn hoặc nhiều hơn 1% phụ thuộc vào mối quan hệ giữa bên bán ủy thác và bên nhận ủy thác cũng như giá trị của hợp đồng

Trên thực tế kinh doanh theo hình thức này lợi nhuận thu được không cao vì chỉ là phí ủy thác nhưng lại đảm bảo tránh rủi ro, mạo hiểm đạt được mức độ an toàn, chắc chắn trong kinh doanh của đơn vị ngoại thương tiến hành nhập khẩu hàng hoá

1.1.2 Vai trò hoạt động xuất, nhập khẩu

1.1.2.1 Vai trò của hoạt động xuất khẩu

Xuất khẩu hàng hoá nằm trong khâu phân phối và lưu thông hàng hoá trong quá trình tái sản xuất mở rộng, nhằm mục đích liên kết giữa sản xuất và tiêu dùng giữa nước này với nước khác Xuất khẩu ngày nay đóng vai trò rất quan trọng, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển, được thể hiện qua các điểm sau:

- Xuất khẩu là phương tiện chính tạo nguồn vốn cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước[2] Để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì cần phải có đủ 4 nhân tố: nhân lực, tài nguyên, nguồn vốn và

kỹ thuật Nhưng hiện nay, không phải bất cứ quốc gia nào cũng có đủ các yếu

tố đó, đặc biệt là các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam

- Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển [2] Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp

Trang 25

hoá, hiện đại hóa phù hợp với xu hướng phát triển của kinh tế thế giới là tất yếu đối với Việt Nam Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Thứ nhất, xuất khẩu chỉ là tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất

vượt quá nhu cầu nội địa Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển như nước ta, sản xuất về cơ bản chưa đủ tiêu dùng và nếu chỉ thụ động chờ sự thừa ra của sản xuất thì xuất khẩu vẫn cứ nhỏ bé, không có cơ sở tồn tại và phát triển

Thứ hai, trên cơ sở lợi thế so sánh của đất nước mình, coi thị trường là

điểm xuất phát và đặc biệt thị trường thế giới là hướng quan trọng để tổ chức sản xuất, chỉ sản xuất cái gì thị trường cần Quan điểm này xuất phát từ nhu cầu thị trường thế giới kết hợp với tiềm năng, thực lực của đất nước để tổ chức sản xuất, hình thành các ngành kinh tế hướng về xuất khẩu Những ngành kinh tế đó phải có kỹ thuật và công nghệ tiên tiến để hàng hoá khi tham gia thị trường thế giới có đủ sức cạnh tranh và mạng lại lợi ích cho quốc gia Điều đó có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thúc đẩy sản xuất phát triển, đó là: xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận lợi, tạo khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước Thông qua xuất khẩu, hàng hoá của nước xuất khẩu sẽ tham gia cạnh tranh trên thị trường thế giới Các cuộc cạnh tranh này đòi hỏi chúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất thích nghi được với thị trường Như vậy, theo cách hiểu này, xuất khẩu được coi là giải pháp làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách mạnh mẽ theo chiều hướng có lợi hơn, hiệu quả kinh tế cao hơn

- Xuất khẩu tác động tích cực đến giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống nhân dân [13] Trước hết sản xuất hàng xuất khẩu là nơi thu

Trang 26

hút hàng triệu lao động vào làm việc với thu nhập khá và còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng ngày càng phong phú thêm nhu cầu người dân

- Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các hoạt động kinh tế đối ngoại của nước xuất khẩu [13] Quan hệ kinh tế đối ngoại là tổng thể các mối quan hệ về thương mại, kinh tế và khoa học kỹ thuật giữa một quốc gia này với một quốc gia khác Các hình thức của quan hệ kinh tế quốc tế là xuất, nhập khẩu hàng hoá hữu hình, đầu tư quốc tế, du lịch dịch vụ, xuất khẩu lao động, hợp tác khoa học kỹ thuật, hợp tác sản xuất, hợp tác tài chính Xuất khẩu là một hoạt động rất cơ bản của kinh tế đối ngoại, là phương tiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển Đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Hiện nay nhà nước đã và đang thực hiện các biện pháp thúc đẩy các ngành kinh tế hướng về xuất khẩu (tất nhiên không coi nhẹ sản xuất trong nước và thị trường trong nước), khuyến khích tư nhân mở rộng xuất khẩu để giải quyết công ăn việc làm và tăng thu ngoại tệ cho đất nước Hoạt động xuất khẩu với các công ty

có ý nghĩa rất quan trọng Thực chất nó là hoạt động bán hàng của các công ty xuất khẩu và thu lợi nhuận từ hoạt động này góp phần quyết định sự tồn tại và phát triển của công ty Lợi nhuận là nguồn bổ sung vào nguồn vốn kinh doanh, các quỹ của công ty Lợi nhuận cao cho phép công ty đẩy mạnh tái đầu

tư vào tài sản cố định, tăng nguồn vốn lưu động để thực hiện hoạt động xuất khẩu, giúp công ty ngày càng mở rộng và phát triển Xuất khẩu hàng hoá còn

có vai trò nâng cao uy tín của công ty trên trường quốc tế Nó cho phép công

ty thiết lập được các mối quan hệ với nhiều bạn hàng ở các nước khác nhau

và sẽ rất có lợi cho công ty nếu duy trì tốt mối quan hệ này Để có được điều này, công ty ngược lại phải đáp ứng tốt các yêu cầu của khách hàng về giá cả, chất lượng hàng hoá, phương thức giao dịch, thanh toán, Xuất khẩu ngày

Trang 27

nay luôn gắn liền với cạnh tranh, do vậy, đòi hỏi các công ty phải luôn đổi mới và hoàn thiện công tác quản lý sản xuất, kinh doanh, sao cho phù hợp với tình hình thực tế để hoạt động đạt hiệu quả cao Kết quả của hoạt động xuất khẩu sẽ cho phép công ty tự đánh giá được về đường lối chính sách, cách thức thực hiện của mình để có những điều chỉnh phù hợp giúp công ty phát triển đi lên

- Phát huy lợi thế so sánh những mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam [13] Xuất khẩu hàng đã phần nào đáp ứng được mục tiêu phát huy lợi thế so sánh của nước ta trên trường quốc tế Xuất khẩu chẳng những góp phần đáng

kể vào tích luỹ vốn cho công nghiệp hoá, hiện đại hóa mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc tiêu thụ sản phẩm hàng hoá trong nước Với những lợi thế so sánh của Việt Nam như giá nhân công rẻ, lực lượng lao động đông và dồi dào, trẻ, thông minh, sáng tạo, ham học hỏi, và với điều kiện về tự nhiên, địa lý thuận lợi, đặc biệt đối với một số mặt hàng nông sản của việt nam

1.1.2.2 Vai trò của hoạt động nhập khẩu

Bất kì quốc gia nào cũng không thể tự sản xuất để đáp ứng một cách đầy đủ mọi nhu cầu trong nước, đặc biệt trong xu thế ngày nay, đời sống nhân dân ngày càng nâng cao, nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, thoát khỏi nền kinh tế tự cung tự cấp, lạc hậu Mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân dựa rất nhiều về lợi thế so sánh, ở đó mỗi quốc gia sẽ đẩy mạnh sản xuất

có lợi thế để phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu đi các quốc gia khác Trong thực tế không có quốc gia nào là có lợi thế về tất cả các mặt hàng, các lĩnh vực, sự bổ sung hàng hoá giữa các quốc gia đã đẩy mạnh hoạt động xuất, nhập khẩu Những quốc gia phát triển thường xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu rất nhiều và ngược lại những nước kém phát triển thì kim nghạch nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu

Với Việt Nam, một quốc gia đã chuyển sang nền kinh tế thị trường được gần 30 năm, lại chịu nhiều hậu quả từ sự tàn phá chiến tranh Do đó,

Trang 28

hoạt dộng nhập khẩu đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình khôi phục nền kinh tế và tiến tới quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Cụ thể, những vai trò những vai trò được thể hiện rõ nét như sau:

- Nhập khẩu thúc đẩy nhanh quá trình sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước [2]

- Bổ sung kịp thời những mặt mất cân đối của nền kinh tế, đảm bảo sự phát triển cân đối ổn định Khai thác đến mức tối đa tiềm năng và khả năng của nền kinh tế vào vòng quay kinh tế [2]

- Nhập khẩu đảm bảo đầu vào cho sản xuất tạo việc làm ổn định cho người lao động góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân [2]

- Nhập khẩu có vai trò tích cực thúc đẩy xuất khẩu, góp phần nâng cao chất lượng sản xuất hàng xuất khẩu, tạo môi trường thuận lợi cho xuất khẩu hàng hoá ra thị trường quốc tế đặc biệt là nước nhập khẩu [2] Có thể thấy rằng vai trò của nhập khẩu là hết sức quan trọng đặc biệt là đối với các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) trong việc cải thiện đời sống kinh tế, thay đổi một số lĩnh vực, nhờ có nhập khẩu mà tiếp thu được những kinh nghiệm quản lí, công nghệ hiện đại… thúc đẩy nền kinh

tế phát triển nhanh chóng Tuy nhiên, nhập khẩu phải vừa đảm bảo phù hợp với lợi ích của xã hội vừa tạo ra lợi nhuận các doanh nghiệp, chung

và riêng phải hoà với nhau Để đạt được điều đó thì nhập khẩu phải đạt được yêu cầu sau:

- Tiết kiệm và hiệu quả cao trong việc sử dụng vốn nhập khẩu : trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường việc kinh doanh mua bán giữa các nước đều tính theo thời giá quốc tế và thanh toán với nhau bằng ngoại tệ tự do Do vậy, tất cả các hợp đồng nhập khẩu phải dựa trên vấn đề lợi ích và hiệu quả là vấn đề rất cơ bản của mỗi quốc gia, mỗi

Trang 29

doanh nghiệp Điều này đòi hỏi các cơ quan quản lý cũng như mỗi doanh nghiệp phải:

+ Xác định mặt hàng nhập khẩu phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế

xã hội, khoa học kĩ thuật của đất nước và nhu cầu tiêu dùng của nhân dân

+ Dành ngoại tệ cho nhập khẩu vật tư để phục vụ sản xuất trong nước nếu xét thấy có lợi hơn nhập khẩu

+ Nghiên cứu thị trường để nhập khẩu được hàng hoá thích hợp, với giá

cả có lợi phục vụ cho sản xuất và nâng cao đời sống nhân dân

- Nhập khẩu thiết bị kĩ thuật tiên tiến hiện đại: Việc nhập khẩu thiết bị máy móc và nhận chuyển giao công nghệ, kể cả thiết bị theo con đường đầu tư hay viện trợ đều phải nắm vững phương châm đón đầu, đi thẳng vào tiếp thu công nghệ hiện đại Nhập khẩu phải chọn lọc, tránh nhập những công nghệ lạc hậu các nước đang tìm cách thải ra Nhất thiết không vì mục tiêu “tiết kiệm” mà nhập các thiết bị cũ, chưa dùng được bao lâu, chưa đủ để sinh lợi đã phải thay thế Kinh nghiệm của hầu hết các nước đang phát triển là đừng biến nước mình thành “bãi rác” của các nước phát triển

- Bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trong nước, tăng nhanh xuất khẩu:

Nền sản xuất hiện đại của nhiều nước trên thế giới đầy ắp những kho tồn trữ hàng hoá dư thừa và những nguyên nhiên vật liệu Trong hoàn cảnh

đó, việc nhập khẩu dễ hơn là tự sản xuất trong nước Trong điều kiện ngành công nghiệp còn non kém của các nước đang phát triển, giá hàng nhập khẩu thường rẻ hơn, phẩm chất tốt hơn Nhưng nếu chỉ nhập khẩu không chú ý tới sản xuất sẽ “bóp chết” sản xuất trong nước Vì vậy, cần tính toán và tranh thủ các lợi thế của nước ta trong từng thời kì để bảo hộ và mở mang sản xuất trong nước, vừa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa, vừa tạo ra được nguồn hàng xuất khẩu mở rộng thị trường ngoài nước

Trang 30

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu

1.2.1 Hội nhập kinh tế quốc tế

Việc Việt Nam đã ký kết các hiệp định song phương và đa phương về

mở cửa, tự do hóa thương mại và đầu tư cũng như việc gia nhập các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới như ASEAN, APEC, WTO và đặc biệt hiện nay là AEC (Cộng đồng Kinh tế ASEAN), TPP (Hiệp định đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương) tạo điều kiện rất lớn cho việc thúc đẩy các hoạt động xuất, nhập khẩu ở từng địa phương Các doanh nghiệp sẽ có cơ hội mở rộng thị trường sang các nước thành viên

Việt Nam tích cực tham gia vào các hoạt động của ASEAN, trong đó đặc biệt là khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và hiệp định về chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT) trong khuôn khổ AFTA Đến năm 2015, thuế quan đối với phần lớn các hàng hóa nhập khẩu (trừ hàng hóa thuộc danh mục loại trừ hoàn toàn GEL) sẽ cắt giảm xuống 0% Như vậy, đến năm 2015 - 2018, hoạt động xuất, nhập khẩu trong khu vực AFTA về cơ bản tự do hoàn toàn và miễn thuế nhập khẩu đối với hầu hết các hàng hóa Các hàng rào phi thuế quan như hạn chế định lượng, giấy phép, hạn chế ngoại hối liên quan đến thanh toán, phụ thu hải quan cũng được gỡ bỏ Việt Nam cũng tích cực tham gia vào hoạt động của APEC, Việt Nam thực hiện các cam kết về thuế quan, trong đó giảm các mức thuế suất xuống dưới 15% từ năm

1999, tiến tới tự do hóa thương mại vào năm 2020, thuế hóa và tiến tới loại bỏ các biện pháp phi thuế vào năm 2020 [10]

Việt Nam cũng tuân thủ toàn bộ các hiệp định quan trọng của WTO như: Hiệp định về xác định giá trị tính thuế xuất khẩu (CVA); Hiệp định về thủ tục cấp phép nhập khẩu (IL); Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS); Hiệp định các biện pháp đầu tư liên quan thương mại (TRIMS); Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại

Trang 31

(TBT); Hiệp định về kiểm dịch và vệ sinh (SPS) Việt Nam tuân thủ theo nguyên tắc không phân biệt đối xử của WTO trên hai mặt: không phân biệt đối xử giữa hàng hóa các nước thành viên khác nhau (nguyên tắc tối huệ quốc MFN); không phân biệt đối xử giữa hàng hóa, dịch vụ và doanh nghiệp trong nước với hàng hóa, dịch vụ và doanh nghiệp nước ngoài là thành viên của WTO (nguyên tắc đối xử quốc gia NT) [9] Đồng thời, Việt Nam cũng phải bãi bỏ các biện pháp hạn chế số lượng hàng nhập khẩu (hạn ngạch), bãi bỏ trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp cho việc nội địa hóa sản phẩm

Việt Nam cũng tham gia vào AEC (Cộng đồng Kinh tế ASEAN), với

hiệp định Khung ASEAN về hội nhập các ngành ưu tiên, các ngành ưu tiên

hội nhập bao gồm: bảy ngành sản xuất hàng hóa là nông sản, thủy sản, sản phẩm cao su, sản phẩm gỗ, dệt may, điện tử, ô tô; hai ngành dịch vụ là hàng không và e-ASEAN (hay thương mại điện tử); hai ngành vừa hàng hóa vừa dịch vụ là y tế, công nghệ thông tin và ngành hậu cần Tham gia AEC sẽ giúp Việt Nam tăng thêm khối lượng trao đổi thương mại với các nước trong khu vực Một trong những trụ cột trong Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC đó

là hình thành thị trường chung và cơ sở sản xuất thống nhất, bao gồm năm yếu tố cơ bản: (i) tự do lưu chuyển hàng hóa; (ii) tự do lưu chuyển dịch vụ; (iii) tự do lưu chuyển đầu tư; (iv) tự do lưu chuyển vốn; và (v) tự do lưu chuyển lao động có kỹ năng Năm yếu tố nêu trên sẽ là những động lực chính thúc đẩy sự tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam với các nước ASEAN cũng như với các đối tác của ASEAN Tham gia AEC sẽ tác động tới việc thay đổi cơ cấu sản phẩm xuất khẩu của từng địa phương theo chiều hướng tích cực ASEAN là một thị trường chung có quy mô lớn với hơn 600 triệu dân và tổng GDP hàng năm vào khoảng 2.000 tỷ USD Tham gia AEC sẽ gia tăng năng lực cạnh tranh cho hàng xuất khẩu Việt Nam cũng như các địa phương [12]

Trang 32

Việc Việt Nam tham gia vào TPP (Hiệp định đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương) gồm 12 quốc gia: Úc, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Mỹ, và Việt Nam Tham gia vào TPP tác động rất lớn đến phát triển kinh tế và có thể làm thay đổi hoàn toàn diện mạo hoạt động xuất, nhập khẩu của Việt Nam Ngày 4/10/2015, Hiệp định TPP được ký kết có những tiêu chuẩn cao, tham vọng, toàn diện và cân bằng với mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, hỗ trợ tạo ra

và duy trì việc làm; tăng cường đổi mới, năng suất, và sức cạnh tranh; nâng cao mức sống; giảm đói nghèo ở các nước ký kết; đồng thời thúc đẩy quản lý hiệu quả, minh bạch, bảo vệ người lao động, và bảo vệ môi trường TPP bao gồm 30 chương về thương mại và các vấn đề liên quan đến thương mại, từ thương mại hàng hóa đến hải quan và trợ giúp thương mại; biện pháp vệ sinh dịch tế; rào cản kỹ thuật đối với thương mại; biện pháp phòng vệ thương mại; đầu tư; dịch vụ; thương mại điện tử; mua sắm công; sở hữu trí tuệ; lao động; môi trường; các chương “ngang” nhằm mục đích đảm bảo TPP tận dụng được các tiềm năng về phát triển, năng lực cạnh tranh, và sự toàn diện; giải quyết tranh chấp, các điều khoản ngoại lệ, và điều khoản thi hành Có năm đặc điểm chính đã làm TPP trở thành một Hiệp định quan trọng của thế kỷ 21, ảnh hưởng rất lớn đến xuất, nhập khẩu của Việt Nam, đó là đặt ra các tiêu chuẩn mới cho thương mại toàn cầu, đồng thời tiếp tục giải quyết các vấn đề của thời đại mới Những đặc điểm đó bao gồm:

- Tiếp cận thị trường toàn diện: TPP đã xóa bỏ hoặc giảm thuế quan và

các rào cản phi thuế quan một cách đáng kể đối với mua bán hàng hóa và dịch

vụ, bao trùm một mảng lớn về thương mại, bao gồm hàng hóa, dịch vụ, và đầu tư nhằm tạo ra các cơ hội mới và lợi ích cho doanh nghiệp, công nhân, và người tiêu dùng của các nước ký kết [29]

- Cách tiếp cận các cam kết khu vực: TPP hỗ trợ sự phát triển sản xuất,

chuỗi cung ứng, và thương mại liền mạch, tăng cường hiệu quả, tạo và hỗ trợ

Trang 33

việc làm, nâng cao mức sống, tăng cường các nỗ lực bảo tồn, hỗ trợ hội nhập xuyên biên giới, cũng như mở cửa thị trường trong nước [29]

- Giải quyết các thách thức thương mại mới: TPP thúc đẩy sự đổi mới,

năng suất, và tính cạnh tranh nhờ vào việc xem xét giải quyết các vấn đề mới, trong đó có phát triển kinh tế kỹ thuật số và vai trò của các doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế toàn cầu [29]

các nền kinh tế ở các mức độ phát triển khác nhau và các doanh nghiệp có quy mô khác nhau đều có thể đạt được lợi ích từ thương mại [29] Hiệp định bao gồm cam kết giúp đỡ các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiểu được Hiệp định, nắm bắt các cơ hội, và buộc chính quyền các nước tham gia TPP phải chú ý đến những thách thức đặc thù của mình Hiệp định cũng bao gồm những cam kết cụ thể về phát triển và xây dựng năng lực thương mại để đảm bảo rằng tất

cả các bên có thể tuân thủ cam kết trong Hiệp định và tận dụng được những lợi ích

Thứ nhất, hội nhập kinh tế quốc tế có tác động tới phát triển mạnh và

xã hội hóa sâu sắc lực lượng sản xuất, đặc biệt ở các doanh nghiệp có định

Trang 34

hướng xuất khẩu Trên cơ sở nâng cao năng lực toàn diện bên trong, tự do hóa thương mại, dịch vụ và đầu tư, thu hút nguồn lực từ bên ngoài, hội nhập

có tác động rất lớn tới phát triển lực lượng sản xuất của các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển hoặc các tỉnh đang còn chậm phát triển như Nghệ An Hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam và các địa phương cho thấy, việc thu hút nguồn lực từ bên ngoài mà đặc biệt là đầu tư nước ngoài tăng lên đáng kể [21]

Thứ hai, tác động của hội nhập kinh tế quốc tế tới toàn bộ nền kinh

tế còn thể hiện ở việc thúc đẩy quá trình tham gia ngày càng sâu vào phân công lao động và hợp tác kinh tế quốc tế Trong quá trình hội nhập kinh tế, các địa phương đều tìm cho mình những ngành, lĩnh vực, công đoạn sản xuất, sản phẩm, có lợi thế so sánh và tập trung rất lớn nguồn lực cho phát triển các ngành, lĩnh vực, công đoạn và sản phẩm đó Quá trình này làm cho việc chuyên môn hóa sâu sắc hơn và mỗi địa phương có thể trở thành một mắt xích trong chuỗi sản xuất của các công ty xuyên quốc gia Quá trình này tác động mạnh tới thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các địa phương theo hướng phát triển những ngành, lĩnh vực, sản phẩm có năng suất cao, giá trị gia tăng lớn; phát triển những ngành, lĩnh vực, sản phẩm có lợi thế so sánh trên thị trường thế giới, đặc biệt phát triển hoạt động xuất, nhập khẩu Biểu hiện cụ thể là kim ngạch xuất, nhập khẩu cả nước và các địa phương có xu hướng tăng lên, một số địa phương có kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân luôn cao ở mức hai con số

Thứ ba, hội nhập kinh tế quốc tế còn tạo tiền đề và động lực thúc đẩy

nền kinh tế hoạt động năng động và hiệu quả hơn Quá trình hội nhập càng sâu thì cạnh tranh càng trở nên quyết liệt hơn do có nhiều chủ thể kinh doanh trong nước và quốc tế, do luồng hàng hóa xuất, nhập khẩu tăng lên Trong

Trang 35

cuộc đua tranh đó, phần thắng thuộc về các chủ thể kinh doanh hiệu quả hơn, năng động, sử dụng nguồn lực tốt hơn Điều này tạo ra động lực mạnh thúc đẩy các chủ thể kinh doanh sử dụng hợp lý đầu vào, đổi mới tổ chức quản lý, giảm những chi phí không hợp lý Đồng thời, hội nhập kinh tế quốc tế còn làm giảm đáng kể mức độ bảo hộ

Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, những cơ hội phát triển nền kinh tế thì hội nhập kinh tế quốc tế cũng có những tác động tiêu cực, những nguy cơ đối với nền kinh tế và hoạt động xuất, nhập khẩu của Việt Nam và các địa phương, cụ thể có thể là:

Thứ nhất, tác động và lợi ích của hội nhập đối với kinh tế địa phương,

đặc biệt hoạt động xuất, nhập khẩu là không đáng kể Nguyên nhân có thể kể đến như là do việc kiểm soát sự phát triển công nghiệp rơi vào tay các tập đoàn đa quốc gia, sự liên kết yếu ớt giữa đầu tư nước ngoài với đầu tư trong nước của địa phương Hội nhập kinh tế cũng làm tăng nguy cơ địa phương phụ thuộc quá nhiều vào bên ngoài gồm: thị trường bên ngoài (vốn dĩ có nhiều biến động), đầu tư bên ngoài, công ty bên ngoài, hàng hóa ngoại nhập, vật tư và công nghệ bên ngoài

Thứ hai, hội nhập kinh tế tạo ra áp lực rất lớn trong hoạt động xuất,

nhập khẩu của các doanh nghiệp đó là phải đối mặt với cạnh tranh quốc tế Áp lực này đặc biệt lớn đối với các địa phương còn yếu, trình độ còn thấp, năng lực còn hạn chế, cần có thời gian để thích ứng với cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý mới Phải đối mặt với các hàng hóa chất lượng cao của các công ty quá lớn ở bên ngoài

Thứ ba, hội nhập kinh tế có nguy cơ làm giảm mạnh tính tự chủ trong

hoạch định chính sách và quản lý điều hành nền kinh tế của địa phương, đặc biệt trong hoạt động xuất, nhập khẩu do những ràng buộc trong các cam kết hoặc do sức ép từ bên ngoài

Trang 36

Thứ tư, hội nhập kinh tế có nguy cơ làm cho một bộ phận xã hội của địa

phương bị thiệt thòi, đặc biệt là một bộ phận lớn trong nông nghiệp, nông thôn

và nông dân, hoặc ở các ngành bắt buộc phải điều chỉnh và kéo theo chi phí xã hội của sự điều chỉnh đó Điều này dẫn tới sự phân hóa xã hội sâu sắc hơn

Việc gia nhập các tổ chức kinh tế quốc tế sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam được đối xử bình đẳng theo các nguyên tắc tại các nươc thành viên, cụ thể trong hoạt động thương mại quốc tế và giải quyết các tranh chấp phát sinh [10] Ngoài ra, các doanh nghiệp còn nhận được những

ưu đãi thương mại cho nước đang phát triển ở trình độ thấp, mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ Các doanh nghiệp có điều kiện đa dạng hóa thị trường tiêu thụ sản phẩm Hội nhập kinh tế quốc tế đem lại cơ hội to lớn cho doanh nghiệp khi xem xét tính đa dạng của các mặt hàng xuất khẩu của doanh nghiệp Các mặt hàng xuất khẩu chính của các doanh nghiệp ở các địa phương chủ yếu nằm trong các nhóm hàng thực phẩm, hàng sản xuất phi kim loại, và các hàng sản xuất khác (đồ gia dụng, quần áo, giày dép, ) Hoạt động xuất, nhập khẩu gắn với doanh nghiệp có thể không có lợi thế về vốn nhưng nếu biết cách khai thác các thông tin thị trường và marketing hiệu quả thì vẫn có thể xuất khẩu thành công Hội nhập kinh tế quốc tế giúp các doanh nghiệp trong nước có nhiều cơ hội đầu tư và kinh doanh cả trong và ngoài nước dưới nhiều hình thức: liên doanh, liên kết, hợp tác kinh doanh, thầu phụ, huy động vốn từ bên ngoài, mở rộng hoạt động thương mại Việc mở cửa nền kinh tế, thuận lợi hóa thương mại và đầu tư sẽ tạo ra điều kiện thu hút các nhà đầu tư từ bên ngoài Chẳng hạn, với việc cải thiện môi trường đầu tư trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, số dự án đầu tư nước ngoài tăng cao Sự gia tăng các dự án đầu tư nước ngoài tạo cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước Quá trình này tạo ra tác động kép, thúc đẩy các hoạt động xuất, nhập khẩu cho từng địa phương và cả nước nói chung

Trang 37

1.2.2 Năng lực cạnh tranh và trình độ phát triển kinh tế của địa phương

Năng lực cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu là khả năng đáp ứng được nhu cầu của thị trường, ưu thế cạnh tranh của sản phẩm có thể là về chất lượng, mẫu mã, giá cả,… Muốn phát triển thị trường xuất khẩu thì sản phẩm

phải có được những ưu thế cạnh tranh đó so với đối thủ của mình [8]

Năng lực cạnh tranh của sản phẩm chính là tổng hợp các yếu tố kể trên, bao gồm: công nghệ, trình độ chuyên môn và nghiệp vụ của các cán bộ công nhân viên, trình độ quản lý, năng suất lao động, chất lượng và giá thành sản phẩm Như vậy, để phát triển và mở rộng thị trường xuất khẩu doanh nghiệp phải phối hợp nhuần nhuyễn các yếu tố này trong hoạt động kinh doanh của mình Đối với sản phẩm xuất khẩu thì chất lượng là một trong những yếu tố quyết định tới khả năng cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố: giống, kỹ thuật canh tác, công nghệ chế biến, bảo quản… thực hiện đồng bộ những yêu cầu từ khâu sản xuất đến lưu thông tốt sẽ cho ra sản phẩm xuất khẩu có chất lượng xuất khẩu cao

Hàng hóa sản xuất ra với mục đích xuất khẩu, việc sản xuất ra hàng hóa đó nếu được bố trí gần nơi cung cấp các yếu tố đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc gần trục giao thông quan trọng như nhà ga, cảng biển các doanh nghiệp sẽ giảm được chi phí vận chuyển, đây là cơ sở để doanh nghiệp giảm giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường Đặc biệt, với ưu thế về khoảng cách địa lý với nhà cung cấp các yếu tố đầu vào, doanh nghiệp có thể thường xuyên xuống cơ sở sản xuất tạo lập mối quan hệ nhằm xây dựng chân hàng vững chắc phục vụ hoạt động xuất, nhập khẩu Như vậy, để hoạt động xuất, nhập khẩu có hiệu quả doanh nghiệp cần lựa chọn vị trí tối ưu, phù hợp với điều kiện của mình Trình độ phát triển kinh tế của địa phương cũng tác động rất lớn đến hoạt động xuất, nhập khẩu, nhất là kết cấu hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu và thu nhập của người dân

Trang 38

1.2.3 Thị trường trong nước và quốc tế

Thị trường vừa là mục tiêu của nhà sản xuất kinh doanh vừa là môi trường hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá [8] Sự biến động của thị trường sẽ ảnh hưởng rất lớn đến khả năng xuất, nhập khẩu Dung lượng và giá

cả hàng hóa trên thị trường thế giới sẽ ảnh hưởng tới khả năng xuất khẩu cũng như nhập khẩu Dung lượng của mặt hàng xuất, nhập khẩu phụ thuộc vào cung, cầu tức là khối lượng hàng hóa được giao dịch trên một phạm vi thị trường nhất định và trong một thời gian cụ thể Giá cả trên thị trường cũng ảnh hưởng rất lớn tới khả năng xuất, nhập khẩu, nó chịu chi phối của nhiều yếu tố như: cung - cầu, cạnh tranh… những yếu tố đó biến động sẽ làm cho giá thay đổi theo

Nền kinh tế thế giới đang có những bước chuyển mình, đó là nền kinh

tế tri thức, khoa học công nghệ đã và đang làm cho cuộc sống phát triển, thay đổi từng giờ Vì vậy, sản xuất, chế biến và tiêu thụ là ba quá trình phải gắn kết vào nhau, phụ thuộc lẫn nhau Sản xuất, chế biến dựa trên cơ sở có thị trường tiêu thụ (điều kiện tiên quyết của nền kinh tế thị trường) Sản xuất phải có cơ

sở chế biến thu mua, chế biến phải có thị trường tiêu thụ từ đó mới có hàng hóa xuất và nhập khẩu

1.2.4 Quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Chính phủ, UBND tỉnh, sở ban ngành về xuất nhập khẩu

Môi trường chính trị và hành lang pháp lý của một quốc gia nói chung và địa phương nói riêng có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động thương mại quốc tế nói riêng [11] Ở nước

ta, sau đại hội Đảng lần thứ X thì Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện chủ trương khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia xuất, nhập khẩu, và

đã chủ chương thành lập quỹ hỗ trợ xuất, nhập khẩu Những điều này tạo rất nhiều điều kiện cho các ngành các doanh nghiệp khi tham gia vào việc

Trang 39

xuất, nhập khẩu Nhưng phải nhìn nhận một cách khách quan rằng những chủ chương của Đảng và Nhà nước, cơ quan ban ngành địa phương vẫn chưa được thực hiện một cách có hiệu quả Nhiều mặt hàng không cần phải xuất khẩu qua đầu mối những vẫn phải sử dụng hình thức này, vừa không phát huy được thế mạnh của các doanh nghiệp vừa không phù hợp với cam kết quốc tế mà nước ta đã ký trong tời gian qua Nhiều mặt hàng cũng không đáng phải nhập khẩu nhưng vẫn phải nhập Nhiều doanh nghiệp chưa thực sự làm chủ khi xuất khẩu Hiện nay, các chính sách của nhà nước ta đưa ra về xuất khẩu như thuế quan, hạn ngạch xuất khẩu, giấy phép xuất khẩu…

- Chính sách thuế quan: Công cụ chủ yếu của chính sách này là thuế xuất khẩu, nó được dùng làm công cụ để điều tiết và quản lý các hoạt động xuất khẩu [2] Thuế này được đánh vào hàng hóa xuất khẩu nhằm hạn chế hay khuyến khích xuất khẩu Những mặt hàng của Việt Nam khi xâm nhập vào một thị trường nước ngoài phải chịu một mức thuế nhập khẩu nhất định của nước sở tại Nhưng hiện nay nhà nước đã quy định một số mặt hàng khi xuất khẩu không phải chịu thuế trong đó có mặt hàng là thế mạnh của địa phương

và điều này tạo điều kiện rất lớn cho các ngành, doanh nghiệp khi tham gia vào việc xuất khẩu

- Chính sách hạn ngạch xuất khẩu: Công cụ này được hiểu là quy định của nhà nước về hạn chế xuất khẩu về số lượng hoặc giá trị một mặt hàng nào

đó hoặc một thị trường nào đó trong một thời gian nhất định (thường là một năm) [2] Như vậy, rõ ràng nếu doanh nghiệp xuất khẩu một hay nhiều sản phẩm nằm trong chế độ quản lý hạn ngạch thì tất yếu hạn ngạch được cấp nhiều hay ít sẽ kéo theo quy mô kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp tăng hay giảm Và nếu chúng ta nhìn vào các ngành xuất khẩu thì việc hạn ngạch này hầu như không áp dụng đối với một số mặt hàng xuất khẩu

Trang 40

- Giấy phép xuất khẩu: Một số mặt hàng nhà nước quy định trước khi xuất khẩu thì phải xin giấy phép xuất khẩu, việc này chỉ áp dụng đối với những mặt hàng mà nhà nước quy định, và những mặt hàng này nhà nước không khuyến khích xuất khẩu, hay liên quan đến việc an ninh quốc phòng của một đất nước [2] Còn đối với việc xuất khẩu một số sản phẩm thì chúng

ta không phải xin giấy phép xuất khẩu, một số mặt hàng nằm trong những mặt hàng được nhà nước khuyến khích xuất khẩu Việc này tạo điều kiện rất lớn cho thúc đẩy xuất khẩu của một số ngành và hiện nay ở Nghệ An việc xuất khẩu thường do các doanh nghiệp đảm nhận

- Chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài: Đối với nhiều nước đang phát triển thu hút vốn đầu tư nước ngoài là một phần quan trọng trong chiến lược tăng trưởng kinh tế [2] Chính sách thu hút, sử dụng vốn đầu tư nước ngoài sẽ có tác dụng tích cực đối với phát triển thị trường xuất khẩu hàng hóa nếu có những biện pháp khuyến khích về tài chính (miễn giảm thuế, thưởng xuất khẩu,…) Những ưu đãi về thủ tục đối với doanh nghiệp sẽ có đóng góp tích cực vào xuất khẩu

- Chính sách tài chính, tiền tệ: Chính sách này mà thông thoáng thì việc vay tiền hỗ trợ sản xuất sẽ trở nên dễ dàng và ngược lại nếu hệ thống tài chính quá phức tạp thì việc vay vốn của các công ty rất khó khăn, ảnh hưởng đến việc sản xuất và xuất, nhập khẩu hàng hóa [6] Nếu người dân, doanh nghiệp được ngân hàng cho vay vốn để đầu tư phát triển nông nghiệp và sản xuất thì

đó là một điều đáng mừng vì hầu hết các người dân chỉ trông chờ vào sự hỡ trợ của nhà nước Nhưng thực tế hiện nay khâu nay vẫn có nhiều vấn đề nảy sinh và chưa đáp ứng được những nhu cầu của nhân dân, doanh nghiệp vì thủ tục vay vốn quá rườm rà và phức tạp Trên thực tế chúng ta đã thành lập quỹ

hỗ trợ xuất khẩu, nhập khẩu nhưng tác dụng của quỹ này chưa cao đặc biệt là đối với các doanh nghiệp tư nhân

Ngày đăng: 09/09/2021, 21:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đinh Văn Ân (2011), Nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ Việt Nam, Hội thảo nâng cao năng lực cạnh tranh hàng hóa Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ Việt Nam
Tác giả: Đinh Văn Ân
Năm: 2011
2. Đỗ Đức Bình, Nguyễn Thường Lạng (2008), Giáo trình Kinh tế quốc tế, NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế quốc tế
Tác giả: Đỗ Đức Bình, Nguyễn Thường Lạng
Nhà XB: NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Năm: 2008
3. Nguyễn Đăng Bằng, Nguyễn Thị Trâm, Nguyễn Thị Hải Yến, Nguyễn Văn Quỳnh (2015), Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế, NXB Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế
Tác giả: Nguyễn Đăng Bằng, Nguyễn Thị Trâm, Nguyễn Thị Hải Yến, Nguyễn Văn Quỳnh
Nhà XB: NXB Đại học Vinh
Năm: 2015
4. Mai Ngọc Cường, Trần Việt Tiến, Bùi Văn Dũng (2014), Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế, NXB Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế
Tác giả: Mai Ngọc Cường, Trần Việt Tiến, Bùi Văn Dũng
Nhà XB: NXB Đại học Vinh
Năm: 2014
5. Bùi Văn Dũng, Nguyễn Hoài Nam, Hoàng Thị Thúy Vân (2014), Giáo trình Phát triển bền vững, NXB Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Phát triển bền vững
Tác giả: Bùi Văn Dũng, Nguyễn Hoài Nam, Hoàng Thị Thúy Vân
Nhà XB: NXB Đại học Vinh
Năm: 2014
6. Vũ Kim Dung (2007), Giáo trình Nguyên lý kinh tế vĩ mô, NXB Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Nguyên lý kinh tế vĩ mô
Tác giả: Vũ Kim Dung
Nhà XB: NXB Lao Động
Năm: 2007
7. Đặng Đình Đào, Hoàng Đức Thân (2012), Giáo trình Kinh tế thương mại, NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế thương mại
Tác giả: Đặng Đình Đào, Hoàng Đức Thân
Nhà XB: NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Năm: 2012
8. Nguyễn Phúc Khanh (2011), Hội nhập kinh tế, thương mại của Việt Nam vào khu vực và thế giới, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nhập kinh tế, thương mại của Việt Nam vào khu vực và thế giới
Tác giả: Nguyễn Phúc Khanh
Năm: 2011
9. Nguyễn Đình Hoà (2004), Việt Nam gia nhập WTO-Cơ hội và thách thức, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 87 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam gia nhập WTO-Cơ hội và thách thức
Tác giả: Nguyễn Đình Hoà
Năm: 2004
10. Trần Kim Hào, Nguyễn Hữu Thắng (2006), Doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Trần Kim Hào, Nguyễn Hữu Thắng
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
11. Vũ Trọng Lâm (2006), Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Nhà xuất bản chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Vũ Trọng Lâm
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2006
12. Nguyễn Thu Mỹ (2013), Cộng đồng ASEAN trong nhận thức và quan điêm của Việt Nam, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, VASS Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cộng đồng ASEAN trong nhận thức và quan điêm của Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thu Mỹ
Năm: 2013
13. Trường Đại học Ngoại Thương (2006), Giáo trình kinh tế ngoại thương, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế ngoại thương
Tác giả: Trường Đại học Ngoại Thương
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội
Năm: 2006
14. Khổng Văn Thắng, Trịnh Bích Toàn (2013), “Giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu ở tỉnh Bắc Ninh”, Tạp chí phát triển và hội nhập, Số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu ở tỉnh Bắc Ninh”
Tác giả: Khổng Văn Thắng, Trịnh Bích Toàn
Năm: 2013
15. Nguyễn Thị Thanh (2012), Phát triển kinh tế hàng hải ở Hải Phòng, Luận văn thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế hàng hải ở Hải Phòng
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh
Năm: 2012
16. Báo cáo Các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập siêu năm 2013 của Bộ Thương Mại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập siêu năm 2013
22. Nguyễn Đình Phan (2005), Nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến thương mại ở địa phương, Báo Doanh nghiệp Thương mại, số 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến thương mại ở địa phương
Tác giả: Nguyễn Đình Phan
Năm: 2005
20. Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Nghệ An, Sở Công thương Nghệ An, Báo cáo xuất nhập khẩu năm 2008, 2009, 2010, 2011, 2012, 2013, 2014 Khác
21. Bộ Kế hoạch đầu tư, Báo cáo đánh giá tác động của Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, cục đầu tư nước ngoài Khác
23. Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, http: www.nghean.gov.vn 24. Trung tâm xúc tiến thương mại, Sở Công thương Nghệ An,www.xuctienthuongmainghean.com Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010-2014  - Hoạt động xuất nhập khẩu ở nghệ an trong hội nhập quốc tế
Bảng 2.1. Các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010-2014 (Trang 53)
động bất lợi đến sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân. Tình hình trên đã  làm  khó  khăn  thêm  cho  các  hoạt  động  của  doanh  nghiệp  tham  gia  xuất  khẩu, gây áp lực cho hoạt động xuất khẩu ở Nghệ An - Hoạt động xuất nhập khẩu ở nghệ an trong hội nhập quốc tế
ng bất lợi đến sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân. Tình hình trên đã làm khó khăn thêm cho các hoạt động của doanh nghiệp tham gia xuất khẩu, gây áp lực cho hoạt động xuất khẩu ở Nghệ An (Trang 60)
Bảng 2.3. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn tỉnh Nghệ An phân theo doanh nghiệp năm 2011-2012  - Hoạt động xuất nhập khẩu ở nghệ an trong hội nhập quốc tế
Bảng 2.3. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn tỉnh Nghệ An phân theo doanh nghiệp năm 2011-2012 (Trang 63)
Bảng 2.4. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn tỉnh Nghệ An phân theo doanh nghiệp năm 2013 - 2014  - Hoạt động xuất nhập khẩu ở nghệ an trong hội nhập quốc tế
Bảng 2.4. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn tỉnh Nghệ An phân theo doanh nghiệp năm 2013 - 2014 (Trang 64)
Bảng 2.5. Kim ngạch xuất khẩu theo lĩnh vực xuất khẩu của tỉnh Nghệ An năm 2011-2014  - Hoạt động xuất nhập khẩu ở nghệ an trong hội nhập quốc tế
Bảng 2.5. Kim ngạch xuất khẩu theo lĩnh vực xuất khẩu của tỉnh Nghệ An năm 2011-2014 (Trang 66)
Bảng 2.6. Thị trƣờng xuất khẩu hàng hóa chủ yếu của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An năm 2011, 2013, 2014  - Hoạt động xuất nhập khẩu ở nghệ an trong hội nhập quốc tế
Bảng 2.6. Thị trƣờng xuất khẩu hàng hóa chủ yếu của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An năm 2011, 2013, 2014 (Trang 69)
Bảng 2.7. Xuất khẩu hàng hóa của Nghệ An phân theo mặt hàng tại thị trƣờng Trung Quốc năm 2011  - Hoạt động xuất nhập khẩu ở nghệ an trong hội nhập quốc tế
Bảng 2.7. Xuất khẩu hàng hóa của Nghệ An phân theo mặt hàng tại thị trƣờng Trung Quốc năm 2011 (Trang 71)
Bảng 2.8. Xuất khẩu hàng hóa của Nghệ An phân theo mặt hàng tại thị trƣờng Lào năm 2011  - Hoạt động xuất nhập khẩu ở nghệ an trong hội nhập quốc tế
Bảng 2.8. Xuất khẩu hàng hóa của Nghệ An phân theo mặt hàng tại thị trƣờng Lào năm 2011 (Trang 72)
Bảng 2.9. Xuất khẩu hàng hóa của Nghệ An phân theo mặt hàng tại thị trƣờng Hàn Quốc năm 2011  - Hoạt động xuất nhập khẩu ở nghệ an trong hội nhập quốc tế
Bảng 2.9. Xuất khẩu hàng hóa của Nghệ An phân theo mặt hàng tại thị trƣờng Hàn Quốc năm 2011 (Trang 73)
Bảng 2.10. Xuất khẩu hàng hóa của Nghệ An phân theo mặt hàng năm 2013 - 2014  - Hoạt động xuất nhập khẩu ở nghệ an trong hội nhập quốc tế
Bảng 2.10. Xuất khẩu hàng hóa của Nghệ An phân theo mặt hàng năm 2013 - 2014 (Trang 74)
Bảng 2.11. Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tỉnh Nghệ An giai đoạn 2008 - 2014  - Hoạt động xuất nhập khẩu ở nghệ an trong hội nhập quốc tế
Bảng 2.11. Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tỉnh Nghệ An giai đoạn 2008 - 2014 (Trang 75)
Bảng 2.12. Tổng kinh ngạch nhập khẩu năm 2013 của doanh nghiệp nhập khẩu ở Nghệ An  - Hoạt động xuất nhập khẩu ở nghệ an trong hội nhập quốc tế
Bảng 2.12. Tổng kinh ngạch nhập khẩu năm 2013 của doanh nghiệp nhập khẩu ở Nghệ An (Trang 78)
Bảng 2.13. Cơ cấu nhập khẩu năm 2011 của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An theo mặt hàng  - Hoạt động xuất nhập khẩu ở nghệ an trong hội nhập quốc tế
Bảng 2.13. Cơ cấu nhập khẩu năm 2011 của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An theo mặt hàng (Trang 80)
Bảng 2.14. Cơ cấu nhập khẩu ở Nghệ An theo mặt hàng năm 2013 - Hoạt động xuất nhập khẩu ở nghệ an trong hội nhập quốc tế
Bảng 2.14. Cơ cấu nhập khẩu ở Nghệ An theo mặt hàng năm 2013 (Trang 81)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w