1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của thanh tra tỉnh long an trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực đất đai hiện nay

116 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thiết nghĩ cần nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn để tìm ra những giải pháp hữu hiệu về vai trò của Thanh tra tỉnh trong việcgiải quyết các khiếu nại, tố cáo về đất đai là nhu cầu cấp t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

_

ĐỖ HỮU THUỲ DƯƠNG

VAI TRÒ CỦA THANH TRA TỈNH LONG AN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO

VỀ LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Long An, 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

_

ĐỖ HỮU THUỲ DƯƠNG

VAI TRÒ CỦA THANH TRA TỈNH LONG AN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO

VỀ LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI HIỆN NAY

Chuyênngành: CHÍNH TRỊ HỌC

Mãsố: 60.31.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Ngườihướngdẫnkhoahọc: PGS.TS.NGUYỄN LƯƠNG BẰNG

Long An, 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và làm luận văn tốt nghiệp tác giả đã được các thầy cô giáo và cán bộ, nhân viên của trường Đại học Vinh tạo điều kiện, giúp đỡ rất nhiệt tình Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới nhà trường, các thầy cô giáo và đặc biệt là PGS, TS.Nguyễn Lương Bằng, người hướng dẫn khoa học đã giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Với những kiến thức đã được học tại trường và theo mong muốn nghiên cứu, tác giả đã lựa chọn làm đề tài luận văn: “Vai trò của Thanh tra tỉnh Long An trong giải quyết khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực đất đai hiện nay” Do các giới hạn về kiến thức và thời gian nghiên cứu, chắc chắn luận văn còn có những thiếu sót và hạn chế Tác giả mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý, nhận xét của thầy cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp để tiếp tục hoàn thiện trong tương lai

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Xin chân thành cảm ơn!

Long An, tháng 6 năm 2015

Tác giả luận văn

Đỗ Hữu Thùy Dương

Trang 4

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU

B NỘI DUNG

Chương1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA CƠ QUAN

THANH TRA ĐỐI VỚI VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ

CÁO TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI

1.1 Cáckháiniệmliênquanđếnđềtài

1.2 Nội dung, quytrìnhgiảiquyếtkhiếunại, tốcáo

1.3 Mộtsốvấnđềliênquanđếnđấtđaivàgiảiquyếtkhiếunại,

tốcáotronglĩnhvựcđấtđai

Chương2 THỰC TRẠNG VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ

CÁO VỀ ĐẤT ĐAI CỦA THANH TRA TỈNH LONG AN

2.1 Điềukiệntựnhiên, kinhtếxãhộitỉnh Long An

CHƯƠNG III PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP VỀ VAI TRÒ

CỦA THANH TRA TỈNH LONG AN TRONG GIẢI QUYẾT

KHIẾU NẠI, TỐ CÁO THUỘC LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI

Trang 5

vụ

Đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; nhiều khu đô thị mới, khu cụm công nghiệp của tỉnh Long An đã từng bước hình thành và hoạt động có hiệu quả Tuy nhiên, cùng với những thành quả đã đạt được vẫn còn tồn tại không ít những vấn đề khó khăn nảy sinh cần có sự giải quyết đồng bộ nhưng chưa được thực hiện triệt để Trong đó vấn đề khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai chiếm số lượng lớn, khoảng 80% so với các khiếu nại, tố cáo về các vấn đề khác Đồng thời thực trạng người dân đòi lại đất cũ, đất đã đưa vào tập đoàn sản xuất sau ngày hòa bình, đã có xu hướng ngày càng tăng, dẫn đến nguy cơ phát sinh điểm nóng, gây mất an ninh trật tự xã hội tại địa phương và trung ương Tình trạng trên xuất phát từ thực tế là thời gian qua, các địa phương tiến hành xây dựng các khu công nghiệp thu hồi chủ yếu là đất sản xuất nông nghiệp Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng thời gian qua còn

có nhiều bất cập; Việc quy hoạch, thu hồi đất nông nghiệp để giao cho các

dự án đầu tư phát triển công nghiệp, dịch vụ, xây dựng cơ sở hạ tầng trong nhiều trường hợp không khả thi dẫn tới tình trạng thu hồi đất nhưng không

Trang 6

sử dụng hoặc sử dụng không có hiệu quả Trong khi đó, nông dân thiếu đất hoặc không còn đất sản xuất, thu nhập bấp bênh, việc chuyển đổi nghề nghiệp là rất khó khăn do trình độ hạn chế dẫn đến thất nghiệp, đời sống gặp nhiều khó khăn, nảy sinh các tệ nạn xã hội và phát sinh ra khiếu nại, tố cáo.Nhiều địa phương thiếu công khai, minh bạch; mặt khác chưa coi trọng công tác tuyên truyền, vận động nên xảy ra tình hình khiếu nại, tố cáorất phức tạp, đông người, kéo dài

Bên cạnh đó, trước thực trạng những hạn chế, tồn tại của cơ chế, quy trình, nhân lực giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay đồng thời các địa phương chưa phát huy được vai trò của các tổ chức quần chúng; chưa phát hiện giải quyết kịp thời những bức xúc của người dân, nhiều nơi có biểu hiện đùn đẩy trách nhiệm, thiếu thống nhất, tập trung; chỉ chú trọng vào vấn đề phát triển kinh tế của địa phương

Thiết nghĩ cần nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn để tìm ra những giải pháp hữu hiệu về vai trò của Thanh tra tỉnh trong việcgiải quyết các khiếu nại, tố cáo về đất đai là nhu cầu cấp thiết, bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước

Với ý nghĩa để giải quyết yêu cầu cấp bách đặt ra của thực tiễn,tác giảchọn

vấn đề: “Vai trò của Thanh tra tỉnh Long An trong giải quyết khiếu nại,

tố cáo trong lĩnh vực đất đai hiện nay”làm đề tài luận văn thạc sĩ khoa học

chính trị với mong muốn có thể ứng dụng hiệu quả đề tài vào thực tiễn xã hội

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Từ trước tới nay có nhiều học giả, nhà nghiên cứu trong nước và ngoài nước sưu tầm, biên soạn về những vấn đềkhiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai Những công trình nghiên cứu có thể tạm chia thành ba nhóm:

Nhóm thứ nhất: những nhà kinh điển, những vị lãnh tụ đã đề cập đến vấn đề nghiên cứu ở góc độ chính trị-xã hộiqua các tác phẩm

của C.Mác-Ph.Ăngghen (1979), Toàn tập, tập 1, Nhà xuất bản Sự thật, Hà

Trang 7

Nội C.Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, tập 6, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 4,Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Hồ Chí Minh(1995), Toàn tập, tập 5, Nhà xuất bản

Chính trị quốc gia, Hà Nội

Đỗ Mười (1993), “Bài phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ 4 Ban

chấp hành Trung ương (khóa VII)”, Tạp chí cộng sản, tr.7.Học viện chính trị quốc gia (1996), Đại hội VIII- Những tìm tòi và đổi mới, Trung tâm tư

liệu Học viện chính trị quốc gia, Hà Nội

V.I Lênin (2006), Toàn tập, Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội Lênin (1976), Toàn tập, tập 35, Nhà xuất bản Tiến bộ, Matxcova v.v

Nhóm thứ hai: Các công trình khoa học chuyên ngành

Trong những năm qua đã có nhiều tài liệu, bài viết và các công trình nghiên cứu cũng như các luận văn cao học đề cập đến mảng vấn đề này được công bố, tiêu biểu là các vấn đề sau:

- Đề tài khoa học cấp cơ sở “Xây dựng quy chế phối hợp giải quyết khiếu nại, tố cáo đông người vượt cấp lên Trung ương” do đồng chí

Nguyễn Tiến Bình, Phó Chánh Văn phòng Thanh tra Chính phủ làm chủ nhiệm

-Đề tài khoa học cấp nhà nước “Khiếu nại, tố cáo hành chính - Cơ sở

lý luận, thực trạng và giải pháp” do TS.Lê Tiến Hào, Phó Tổng Thanh tra

Chính phủ làm chủ nhiệm

-Đề tài khoa họccấp bộ “Xử lý các hành vi vi phạm Luật Khiếu nại, tố cáo - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” do ThS Nguyễn Văn Kim, Phó

Vụ trưởng Vụ pháp chế, Thanh tra Chính phủ làm chủ nhiệm đề tài

-Đề tài khoa học cấp Bộ “Nâng cao hiệu lực, hiệu quả thanh tra trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo” do Đồng chí Bùi Nguyên Súy, Vụ trưởng Vụ 6 làm chủ nhiệm

Trang 8

-Đề tài khoa học cấp cơ sở “Cơ sở khoa học của việc hoàn thiện hệ thống các quy định nghiệp vụ về giải quyết khiếu nại, tố cáo” được nghiệm

thu vào ngày 27/12/2011 tại Viện Khoa học Thanh tra Đề tài do đồng chí Nguyễn Huy Hoàng, Phó HT Trường cán bộ Thanh tra - Thanh tra Chính phủ làm chủ nhiệm

Đề tài khoa học cấp Bộ “Đổi mới cơ chế giải quyết tố cáo hiện nay”

do TS.Đỗ Gia Thư, Vụ trưởng Pháp chế, Thanh tra Chính phủ chủ nhiệm

Những kết quả nghiên cứu được luận văn kế thừa:

Mô tả, phân tích, đánh giá đầy đủ, rõ ràng mức độ thành công, hạn

chế của các đề tài nêu trên cho thấy các đề tài được nghiên cứu công phu,

nội dung nghiên cứu có tính cấp thiết, đặc biệt trong bối cảnh tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay đang là vấn đề bức xúc trong xã hội và diễn biến ngày phức tạp Tuy nhiên, tất cả các công trình, đề tài trên do đáp ứng những mục đích, yêu cầu nghiên cứu khác nhau nên chỉ xem xét giới hạn ở những khía cạnh nhất định, chưa có công trình nghiên cứu một cách tập trung, toàn diện về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai hiện nay và nhất là trên địa bàn tỉnh Long An (là một trong những tỉnh có tình trạng khiếu kiện đông người, vượt cấp, kéo dài)

Qua nghiên cứu tổng quan về các công trình nghiên cứu, nhận thấy các công trình nghiên cứu này mặc dù đã giải quyết những vấn đề cơ bản trên cả phương diện lý luận và phương diện thực tiễn nhưng các công trình này mới chỉ giải quyết những nội dung cụ thể của khiếu nại tố cáo, pháp chế hoặc một số nội dung của cải cách hành chính nhà nước Chưa có nghiên cứu nào tập trung giải quyết một cách hệ thống những nội dung sau:

- Đánh giá toàn diện về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo ở tỉnh Long An từ năm 2008 đến nay, đặc biệt là phần đánh giá những hạn chế, tồn tại của cơ chế, quy trình, nhân lực giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay;

Trang 9

- Đưa ra yêu cầu, quan điểm, giải pháp về vai trò của Thanh tra tỉnh giải quyết khiếu nại, tố cáo nhằm nâng cao chất lượng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh Long An

Do vậy, cần thiết phải đặt vấn đề nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện về những vấn đề có liên quan, tác động đến hiệu quả, tiến độ của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, cũng như vai trò của Thanh tra tỉnh Long An trong giai đoạn hiện nay

Luận văn“Vai trò của Thanh tra tỉnh Long An trong giải quyết

khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai hiện nay” là đề tài có thể đáp ứng

giải quyết được yêu cầu toàn diện sâu sắc về công tác giải quyết khiếu nại,

tố cáo lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh hiện nay về lý luận cũng như thực tiễn Việc tham khảo tư liệu từ các đề tài trên là vô cùng bổ ích và quý giá,

là tài liệu, luận cứđể thực hiện luận văn này

3 Mục đích nghiên cứuLuận văn đề xuất phương hướng và một số

giải pháp về vai trò của Thanh tra tỉnh Long An trong giải quyết khiếu nại,

tố cáolĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn hiện nay

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ các khái niệm có liên quan đến khiếu nại, tố cáo đất đai và giải quyết khiếu nại, tố cáo lĩnh vực đất đai

- Phân tích thực trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn tỉnh thời gian qua

- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp cơ bản để nâng cao vai trò của Thanh tra tỉnh Long An trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo lĩnh vực đất đai hiện nay ở tỉnh Long An

5.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung đối tượng cụ thể đó là vai

trò của Thanh tra tỉnh Long An trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo lĩnh vực đất đai hiện nay

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 10

Luận văn tập trung nghiên cứu việc khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai từ năm 2008 đến nay và các năm tiếp theo, trên phạm vi địa bàn tỉnh Long An

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận là những luận điểm khoa học của học thuyết Mác - Lênin về đất đai,tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, các chủ trương chính sách pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về quản lý đất đai và giải quyết khiếu nại, tố cáo; đồng thời tác giả có tham khảo và kế thừa có chọn lọc một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học

6.2.Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp của Chủ nghĩa duy vật biện chứng, Chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời có sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu lý thuyết, phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp quan sát, phương pháp chọn mẫu,phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp kết hợp phân tích định lượng và phân tích định tính Phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh đánh giá số liệu.Phương pháp xử lý thông tin, phương pháp kiểm tra qua việc ứng dụng vào thực tiễn

7 Những đóng góp mới của đề tài

- Làm rõ được giải quyết khiếu nại, tố cáo lĩnh vực đất đai là một tất yếu khách quan để bảo đảm duy trì ổn định trật tự xã hội, tạo dựng niềm tin của xã hội, của công dân đối với chính quyền nhà nước

- Làm rõ vai trò của Thanh tra tỉnh Long An trong giải quyết khiếu nại, tố cáo lĩnh vực đất đai;

- Đánh giá toàn diện về cơ chế, quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn tỉnh tỉnh từ năm 2008 đến 2013, đặc biệt là phần đánh giá những hạn chế, tồn tại giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay và chỉ ra xu

Trang 11

hướng vận động để đưa ra giải pháp về vai trò của Thanh tra tỉnh Long An trong hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo lĩnh vực đất đaitrong giai đoạn tới;

- Đưa ra những quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao năng lực công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo lĩnh vực đất đai

8 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của đề tài được chia thành 3 chương, 8 tiết

Trang 12

B NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA CƠ QUAN THANH TRA ĐỐI

VỚI VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG

LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI 1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài

1.1.1 Khái niệm khiếu nại, khiếu nại hành chính, khiếu nại hành chính

về đất đai

Khiếu nại hành chính: Trong cuộc sống ngoài thuật ngữ khiếu nại

với nghĩa chung nhất còn có các thuật ngữ khiếu nại về các loại khác như: khiếu nại trong lĩnh vực tư pháp, khiếu nại đối với quyết định hoặc hành vi hành chính của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyến v.v Trong các loại khiếu nại đó, khiếu nại hành chính là phổ biến nhất và chiếm tỷ lệ lớn hơn cả, vì vậy chuyên đề này tập trung phân tích về khiếu nại hành chính Vậy thì khiếu nại hành chính là gì,theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì

“khiếu nại hành chính là việc cá nhân hay tổ chức đề nghị cơ quan hành chính nhà nước xem xét, sửa chữa một hành vi hay một quyết định hành chính mà họ cho là hành vi, quyết định đó không đúng pháp luật, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ [42, tr 506-507] Khái niệm này phản ánh khá đầy đủ bản chất của khiếu nại hành chính, đồng thời phân biệt được khiếu nại hành chính với các khiếu nại khác Đó là khiếu nại của

cá nhân hoặc tổ chức đối với "quyết định hành chính" hoặc "hành vi hành chính" của người có thẩm quyền trong các cơ quan nhà nước

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011 thì:

“Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng

Trang 13

quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình”[30, tr.35]

Từ quan niệm này có thể nhận diện khiếu nại hành chính ở những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, khiếu nại hành chính là quyền của công dân khi tham gia

vào quản lý hành chính nhà nước

Thứ hai, khiếu nại hành chính là việc cá nhân, tổ chức yêu cầu cơ

quan có thẩm quyền xem xét lại quyết định hoặc hành vi hành chính mà quyết định hoặc hành vi đó có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ

Thứ ba, chủ thể khiếu nại hành chính là cá nhân, cơ quan, tổ chức có

quyền và lợi ích hợp pháp liên quan trực tiếp đến quyết định hành chính, hành vi hành chính

Thứ tư, đối tượng của khiếu nại hành chính là quyết định hành chính,

hành vi hành chính

Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước

hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành để quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể

Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, của

người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật

Từ phân tích và khái niệm Khiếu nại hành chínhthì Khiếu nại hành

chính về đất đai là: Việc công dân, tổ chức, cơ quan đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai xem xét lại các quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình trong quá trình quản lý và sử dụng đất

Chủ thể của hành vi khiếu nại hành chính về đất đai có thể là công dân, tổ chức có quyền lợi bị xâm hại bởi một quyết định hành chính, hành vi hành chính của cấp có thẩm quyền

Trang 14

Khách thể của khiếu nại về đất đai là sự bảo đảm của Nhà nước đối với quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức

Đối tượng của khiếu nại hành chính về đất đai là quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền

bị cho là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể khiếu nại

1.1.2.Khái niệm tố cáo

Khái niệm tố cáo được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau “Tố cáo”

là một từ Hán - Việt, thông thường, tố cáo là báo cho người khác biết về hành vi vi phạm của người nào đó Theo Từ điển Từ và ngữ Việt Nam của Nhà Xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh (tái bản năm 2006, tác giả: Giáo sư Nguyễn Lân) thì “tố” là vạch tội, “cáo” là báo cho người khác biết, tố cáo là vạch tội của người nào cho mọi người biết.Dưới góc

độ pháp lý, tố cáo được hiểu là việc công dân theo thủ tục pháp luật quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức

Như vậy, theo nghĩa chung nhất, tố cáo là vạch rõ tội của một người trước dư luận, cộng đồng xã hội hoặc trước cơ quan quản lý nhà nước Đối tượng của tố cáo là người thực hiện hành vi trái đạo đức, phong tục tập quán, quy ước của cộng đồng xã hội, vi phạm pháp luật của nhà nước, gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể, công dân Mục đích của tố cáo là nhằm ngăn chặn hành vi vi phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể, công dân

Pháp luật về tố cáo là những quy định thủ tục, cách thức mà người tố cáo đưa vụ việc vi phạm pháp luật ra trước cơ quan Nhà nước yêu cầu giải quyết Tố cáo xuất hiện từ các quyền khác của công dân được nhà nước, xã

Trang 15

hội ghi nhận, như các quyền về kinh tế, chính trị, nhân thân… khi các quyền này bị xâm phạm thì người phát hiện hành vi xâm phạm đó có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết để bảo vệ quyền và lợi ích của bản thân hoặc của tổ chức, cá nhân khác Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo phải tiếp nhận và giải quyết tố cáo, xác định hành vi của người bị tố cáo có vi phạm pháp luật không, biện pháp xử lý đối với người

bị tố cáo nếu người đó vi phạm pháp luật

Quyền tố cáo của công dân là quyền hiến định được ghi nhận trong các bản Hiến pháp của nước ta và được cụ thể hóa trong nhiều văn bản pháp luật, như Luật Khiếu nại, tố cáo; Luật Phòng, chống tham nhũng; Bộ Luật tố tụng hình sự; Bộ luật hình sự…

Theo quy định khoản 1 Điều 2 Luật tố cáo của Luật Tố cáo, thì “Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ

cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức”

1.1.3 Khái niệm đất đai

Trong nền sản xuất, đất đai giữ vị trí đặc biệt quan trọng Đất đai là điều kiện vật chất không thể thiếu trong mọi hoạt động sản xuất và sinh hoạt của đời sống xã hội Đất đai là khởi điểm tiếp xúc và sử dụng tự nhiên ngay sau khi nhân loại xuất hiện Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, sự hình thành và phát triển của mọi nền văn minh vật chất và văn minh tinh thần, tất cả các kỹ thuật vật chất và văn hoá khoa học đều được xây dựng trên nền tảng cơ bản là sử dụng đất đai

Trang 16

Luật đất đai năm 1987 đã khẳng định “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng”

Như vậy, đất đai là điều kiện chung nhất đối với mọi quá trình sản xuất

và hoạt động của con người Nói cách khác, không có đất sẽ không có sản xuất cũng như không có sự tồn tại của chính con người Do vậy, sử dụng đúng, hợp lý và có hiệu quả toàn bộ quỹ đất là vô cùng cần thiết

1.1.4 Khái niệm giải quyết khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực đất đai

1.1.4.1 Khái niệm giải quyết khiếu nại về lĩnh vực đất đai

Giải quyết khiếu nại là quá trình cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét,xác minh lại tính hợp pháp, hợp lý của quyết định hành chính, hành vi hành chính theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức bị xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp, từ đó đưa ra những quyết định nhân danh quyền lực nhà nước

Luật Khiếu nại 2011 quy định Giải quyết khiếu nại là việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại [30, tr.37]

Hoạt động giải quyết khiếu nại về đất đai là hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, là một hoạt động của quyền hành chính Trong hoạt động đó đòi hỏi các cơ quan phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật khiếu nại và các luật khác có liên quan

Giải quyết khiếu nại về đất đai bao gồm các công việc: xác minh để làm rõ các tình tiết sự việc, kết luận về nội dung khiếu nại, trong đó xác định rõ khiếu nại của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đúng, đúng một phần hay sai toàn bộ; Căn cứ vào quy định của pháp luật để xử lý từng vấn đề cụ thể trong nội dung khiếu nại, từ đó quyết định giữ nguyên, sửa đổi hoặc hủy bỏ một phần hay toàn bộ quyết định hành chính về đất đai bị khiếu nại, bồi thường thiệt hại cho người khiếu nại (nếu có)

1.1.4.2 Khái niệm giải quyết tố cáo về lĩnh vực đất đai

Trang 17

Giải quyết tố cáovề lĩnh vực đất đai: Là việc xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và việc quyết định xử lý của người giải quyết tố cáo (liên quan đến đất đai)

1.2 Nội dung, quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo

1.2.1 Nội dung, quy trình giải quyết khiếu nại

Giai đoạn 1 Thụ lý, chuẩn bị giải quyết khiếu nại

Bước 1 Thụ lý khiếu nại

Bước 2 Kiểm tra lại quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại

Bước 3 Quyết định việc xác minh khiếu nại

Bước 4 Kế hoạch xác minh khiếu nại

Giai đoạn 2 Tiến hành xác minh nội dung khiếu nại

Bước 1.Công bố quyết định xác minh nội dung khiếu nại

Bước 2 Xác minh thông tin về nhân thân và yêu cầu người khiếu nại, người đại diện, người được ủy quyền, luật sư, trợ giúp viên pháp lý của người khiếu nại cung cấp thông tin, tài liệu

Bước 3 Yêu cầu người bị khiếu nại cung cấp thông tin, tài liệu

Bước 4 Yêu cầu cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến nội dung khiếu nại

Bước 5 Xác minh thực tế

Bước 6 Đối thoại

Bước 7 Báo cáo kết quả xác minh nội dung khiếu nại

Bước 8 Tham khảo ý kiến, tư vấn về việc giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính

Giai đoạn 3.Ban hành, gửi, công khai quyết định giải quyết khiếu nại

Bước 1 Ban hành quyết định giải quyết khiếu nại

Bước 2 Gửi quyết định giải quyết khiếu nại

Bước 3 Công khai quyết định giải quyết khiếu nại lần hai đối với khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính

Trang 18

Bước 4.Lập, quản lý hồ sơ giải quyết khiếu nại

1.2.2 Nội dung, quy trình giải quyết tố cáo

Giai đoạn 1 Tiếp nhận, chuẩn bị xác minh tố cáo

Bước 1 Tiếp nhận tố cáo, kiểm tra điều kiện thụ lý tố cáo

Bước 2 Ban hành quyết định thụ lý giải quyết tố cáo

Bước 3 Thông báo việc thụ lý tố cáo

Bước 4 Kế hoạch xác minh tố cáo

Giai đoạn 2 Tiến hành xác minh nội dung tố cáo

Bước 1 Giao quyết định thụ lý, quyết định thành lập Đoàn xác minh cho người bị tố cáo

Bước 2 Làm việc trực tiếp với người tố cáo

Bước 3 Làm việc trực tiếp với người bị tố cáo

Bước 4 Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan cung cấp thông tin, tài liệu, bằng chứng liên quan đến nội dung tố cáo

Bước 5 Thu thập, xử lý thông tin, tài liệu, bằng chứng liên quan đến

vụ việc tố cáo

Bước 6.Xác minh thực tế

Bước 7.Báo cáo kết quả xác minh tố cáo

Bước 8.Tham khảo ý kiến tư vấn để kết luận tố cáo

Giai đoạn 3.Kết luận, xử lý, công khai kết quả xử lý tố cáo

Bước 1 Thông báo dự thảo kết luận nội dung tố cáo

Bước 2 Kết luận nội dung tố cáo

Bước 3 Xử lý tố cáo

Bước 4 Công khai kết luận và kết quả xử lý tố cáo

1.3 Một số vấn đề liên quan đến sở hữu đất đai và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai

1.3.1.Quan điểm về sở hữu đất đai và giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai

Trang 19

1.3.1.1.Quan điểm về sở hữu đất đai: Đất đai ở nước ta thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu

Lý luận của C.Mác và Ph.Ăngghenvề vấn đề sở hữu ruộng đất

Dưới góc nhìn của phương pháp luận duy vật lịch sử, C.Mác cho rằng trong thờikỳ phong kiến, đối tượng sở hữu chủ yếu của nhà nước là đất đai Việc xác lậpquyền tư hữu đất đai đã làm xuất hiện địa tô, đây là hình thức bóc lột chủ yếutrongxã hội phong kiến Đó là vấn đề mâu thuẫn căn bản của xã hội phong kiến

Cuộccách mạng tư sản và tiêu chí của giai cấp tư sản là xóa bỏ cách quản lý đất đaiphong kiến và thực hiện độc quyền sở hữu đất đai cũng không giải quyết đượcmong muốn của nông dân Chẳng qua là thay đổi cách bóc lột địa tô từ kiểu nàysang kiểu khác

Trước thực trạng bất công của xã hội tư bản đương thời do dựa trên chế độ tưhữu, trong đó thể hiện rõ nét là tư hữu ruộng đất C.Mác và Ph.Ăngghen kịch liệt đả pháchế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và xem là nguyên nhân của mâu thuẫn xã hội.Các tác phẩm của C.Mác và Ph.Ăngghen có liên quanđến vấn đề nông dân và ruộng đất, đưa ra luận điểm: Quốc hữuhóa ruộng đất ngày càng trở thành một tất yếu xã hội, để ruộng đất phải về tay nôngdân lao động và địa tô được bỏ vào quỹ chi tiêu của Nhà nước

Quan điểm của V.I Lênin về vấn đề sở hữu ruộng đất

Trên cơ sở những nghiên cứu về lý luận địa tô của C Mác, Ph ghen, V.I.Lê-nin đã đưa ra cơ sở lý luận của việc quốc hữu hóa ruộng đất Trong tác phẩm “Cương lĩnh ruộng đất của Đảng xã hội dân chủ trong cuộc cách mạng đầu tiên ở Nga năm 1905 - 1907”, V.I.Lê-nin đã làm sáng tỏ bản chất của khái niệm quốc hữu hóa ruộng đất và chỉ rõ mối liên hệ của địa tô chênh lệch và địa tô tuyệt đối với hai hình thức độc quyền trong nông nghiệp Ông viết: “Địa tô chênh lệch không tránh khỏi hình thành trong chế

Trang 20

Ăng-độ nông nghiệp tư bản chủ nghĩa, ngay cả khi chế Ăng-độ tư hữu về ruộng đất bị xóa bỏ hoàn toàn”[19, tr.346]

V.I.Lê-nin viết: “Như vậy là vấn đề quốc hữu hóa ruộng đất trong xã hội tư bản chủ nghĩa chia thành hai phần khác nhau về bản chất: vấn đề địa

tô chênh lệch và vấn đề địa tô tuyệt đối Quốc hữu hóa thay đổi người hưởng địa tô chênh lệch và xóa bỏ ngay cả sự tồn tại của địa tô tuyệt đối Vậy quốc hữu hóa một mặt là một cải cách bộ phận trong khuôn khổ của chủ nghĩa tư bản (thay đổi người làm chủ một bộ phận giá trị thặng dư), và mặt khác, là sự xóa bỏ các độc quyền gây trở ngại cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản nói chung”[19, tr.349] Thiếu sự phân biệt hai mặt này sẽ không thể hiểu được ý nghĩa kinh tế của việc quốc hữu hóa ruộng đất - vấn

đề quyết định ý nghĩa của các cơ sở lý luận về ruộng đất

Kế thừa và thực hiện sáng tạo chủ nghĩa C.Mác, khi bàn về sở hữu đất đaiV.I.Lê-nin cho rằng: ruộng đất phải là sở hữu toàn dân, và một chính quyền có tính chất toànquốc phải qui định điều đó

Quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin về tính tất yếu của việc quốc hữu hóa đất đai

Chủ nghĩa Mác - Lê-nin cho rằng mục tiêu của chủ nghĩa cộng sản là xóa bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, trong đó có chế độ tư hữu về đất đai Việt Nam xây dựng chủ nghĩa xã hội dựa trên nền tảng học thuyết của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vì vậy việc xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất và chế độ sở hữu toàn dân về đất đai là phù hợp về phương diện lý luận Đồng thời, việc xây dựng chủ nghĩa xã hội và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, tất yếu đòi hỏi phải dựa trên nền tảng của chế độ công hữu về tư liệu

sản xuất và chế độ sở hữu toàn dân về đất đai

V.I.Lênin thậm chí còn cương quyết hơn trong vấn đề quốc hữu hóa đất đai V.I.Lênin luôn cho rằng, đất đai là cơ sở cực kỳ quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, là tài sản quý giá của toàn dân Sau khi Cách mạng

Trang 21

Tháng Mười Nga thành công, Lênin đã ban hành Sắc lệnh ruộng đất ngày 26-10-1917, trong đó khẳng định: “Vĩnh viễn xóa bỏ tư hữu ruộng đất…, tất cả ruộng đất của nhà nước, của thái ấp …đều bị tịch thu mà không có bồi thường, đều trở thành tài sản của toàn dân và giao cho tất cả những người cày cấy ruộng đất sử dụng” [20, tr.27] Trong điều kiện chuyên chính

vô sản, quốc hữu hóa đất đai tạo điều kiện xóa bỏ giai cấp tư sản địa chủ, giải phóng cho người nông dân khỏi sự gắn bó nô lệ vào những mảnh đất nhỏ bé, đó là điều kiện quan trọng để xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại

Học thuyết Mác-Lê nin cho rằng nhân loại cần phải thay thế hình thức sở hữu tư nhân về đất đai bằng cách “xã hội hóa” đất đai thông qua việc thực hiện quốc hữu hóa đất đai Quốc hữu hóa đất đai là một việc làm mang tính tất yếu khách quan và phù hợp với tiến trình phát triển của xã hội loài người

Như vậy, chủ nghĩa Mác-Lê nin đã là một trong những cơ sở để hình thành nên chế độ sở hữu về đất đai như ngày nay ở nước ta Theo khẳng định của

Lê nin thì bất cứ quốc gia nào làm cách mạng vô sản thì quốc hữu hóa đất đai cũng là một quy luật tất yếu và Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó

Cơ sở thực tiễn trong việc xây dựng chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai ở Việt Nam

Việt Nam đã kế thừa những tư tưởng đó và vận dụng rất thành công quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tế điều kiện của đất nước Việc quốc hữu hóa đất đai ở nước ta được tiến hành từng bước từ thấp đến cao qua các thời kỳ lịch sử Và đó là những tiền đề cho việc thực hiện chế

độ sở hữu toàn dân về đất đai hiện nay của nước ta

Vận dụng sáng tạo những nguyên lý khoa học của học thuyết Mác-Lê nin

về quốc hữu hóa đất đai vào thực tiễn cách mạng Việt Nam quá trình quốc hữu hóa ở nước ta đã trải qua các thời kỳ lịch sử Đặc biệt nhất là hình thức

Trang 22

sở hữu toàn dân đã được khẳng định rõ ràng qua các bản Hiến pháp 1980,

1992, 2013.Khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân của các bản Hiến pháp trên dựa trên những cơ sở thực tiễn chủ yếu như sau:

Thứ nhất, về mặt chính trị, ở nước ta, vốn đất đai quý báu do công sức, mồ hôi, xương máu của các thế hệ người Việt Nam tạo lập nên, vì vậy nó phải thuộc về toàn thể nhân dân

Thứ hai, về phương diện lịch sử, ở nước ta hình thức sở hữu nhà nước về đất đai đã xuất hiện từ rất sớm và tồn tại trong suốt chiều dài lịch sử phát triển của dân tộc

Thứ ba, về mặt thực tế, nước ta còn gần một nửa diện tích đất tự nhiên chưa

sử dụng Việc xác lập đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Nhà nước trong việc xây dựng, quy hoạch sử dụng đất đai theo kế hoạch phát triển chung nhằm quản lý chặt chẽ và từng bước đưa diện tích đất hoang vào khai thác, sử dụng Đồng thời trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước thì quốc hữu hóa đất đai cũng sẽ tạo điều kiện cho nhà nước trong việc sử dụng đất cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích chung của toàn xã hội Thứ tư, việc duy trì và củng cố hình thức sở hữu toàn dân về đất đai trong giai đoạn hiện nay còn căn cứ vào lý do thực tiễn Các quan hệ về quản lý đất đai ở nước ta mang tính ổn định trong thời gian khá dài, nếu thay đổi hình thức sở hữu sẽ dẫn đến sự xáo trộn trong lĩnh vực đất đai, tăng tính phức tạp của quan hệ đất đai

Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề sở hữu đất đai

Việc lựa chọn thể chế về đất đai là vấn đề hệ trọng, quyết định tới đường lối và chế độ chính trị của một quốc gia Đảng ta đã khẳng định lấy Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi hành động, do đó những quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề sở hữu đất đai đã được Đảng và Nhà nước ta tiếp thu và vận dụng trong quá trình xây dựng đất nước

Trang 23

Quan điểm của Đảng về vấn đề sở hữu đất đai trong thời kỳ đổi mới hiện nay có những điểm nổi bật thể hiện qua các văn kiện sau:

Một là, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về “tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” (Nghị quyết Trung ương 7 khoá IX)

Hai là, Kết luận của Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI

Ba là, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XI

Có thể nói, trong các văn kiện của mình, Đảng đều khẳng định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” Quyền sử dụng đất là một loại tài sản và hàng hoá đặc biệt,

nhưng không phải là quyền sở hữu, được xác định cụ thể phù hợp với từng loại đất, từng đối tượng và hình thức giao đất, cho thuê đất Nhà nước thực hiện quyền của chủ sở hữu thông qua việc quyết định quy hoạch, kế hoạch

sử dụng đất; cho phép chuyển mục đích sử dụng và quy định thời hạn sử dụng đất; quyết định giá đất; quyết định chính sách điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất không phải do người sử dụng đất tạo ra; trao quyền sử dụng đất và thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và các dự án phát triển kinh tế,

xã hội theo quy định của pháp luật.Đây chính là những cơ sở chính trị quan trọng định hướng cho việc sửa đổi Hiến pháp và Luật đất đai của Nhà nước hiện nay

Các chính sách pháp luật về đất đai trong lịch sử

Hiến pháp 1959 nêu rõ:“ Các hầm mỏ, sông ngòi và những rừng cây, đất hoang mà luật quy định là của Nhà nước đều thuộc sở hữu toàn dân“ là

một bước tiến quan trọng trong việc thiết lập quyền làm chủ của nhân dân

đối với đất đai, nhưng mặt khác Hiến pháp 1959 cũng khẳng định :“ Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền sở hữu ruộng đất của nông dân“

Trang 24

Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai bắt đầu được xác lập chính thức ở nước

ta từ năm 1980 và được thể chế hóa lần đầu tiên trong Hiến pháp 1980 (tại điều 19-20), sau đó được kế thừa, bổ sung trong Hiến pháp 1992 (tại điều 17-18) và tiếp tục phát triển trong Hiến pháp 2013 (tại điều 53-54)

Trên cơ sở Hiến pháp, ngày 29-11-2013, Quốc hội đã thông qua Luật

Đất đai Điều 4, Luật Đất đai quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do

Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền

sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của luật này”

Việc thể chế hóa chế độ sở hữu toàn dân về đất đai trong Hiếp pháp

và Luật Đất đai đã nhận được sự đồng tình, nhất trí cao trong nhân dân

Tóm lại, việc lựa chọn chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam

là một quá trình tiếp thu có chọn lọc quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin, trên cơ sở thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước Việc quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý là một quy luật tất yếu của quá trình phát triển, dựa trên cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn của quá trình đổi mới của đất nước ta

1.3.1.2.Quan điểm về giải quyết khiếu nại, tố cáo

Quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen

Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, đảng và chính quyền của giai cấp vô sản cần phải gần dân, gắn bó với dân vì:

- Quần chúng nhân dân có khả năng và lực lượng to lớn, mà cách mạng vô sản muốn bảo đảm thắng lợi lâu dài cần phải tranh thủ

- Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhưng chính bản thân quần chúng cũng có những nhận thức, cần phải được tuyên truyền, giáo dục để hiểu rõ mục đích, lý tưởng và trách nhiệm của mình

- Quần chúng đông đảo là những người hăng hái nhiệt tình cách mạng, nhưng cách mạng là một quá trình lâu dài, gian khổ, khó khăn và có những lúc tạm thời thất bại, khiến quần chúng nhiều hoài nghi, thất vọng Vì vậy,

Trang 25

cần phải thường xuyên tiến hành công tác vận động quần chúng vì lợi ích thực sự của quần chúng

Quan điểm của VI.LêNin

Để đảm bảo cho sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi hoàn toàn, Đảng và Chính quyền cách mạng không được xa rời quần chúng mà thường xuyên phải:"Một trong những nguy hiểm lớn nhất và đáng sợ nhất" đối với Đảng là "tự cắt đứt mối liên hệ với quần chúng" và Đảng "sống trong lòng quần chúng Biết tâm trạng của quần chúng.Biết tất cả.Hiểu quần chúng.Biết đến với quần chúng, giành được lòng tin tuyệt đối của quần chúng"[18, tr.608] thì sẽ thành công

Khiếu nại, tố cáo của công dân được ghi nhận ở Hiến pháp và pháp luật, và được đảm bảo thực hiện trong thực tế Điều này thực chất là nhằm tôn trọng, bảo vệ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, là sự thừa nhận tính tối cao của quyền con người, quyền công dân trong xã hội Lê nin từng nói: "Chỉ có khi nào tin tưởng vào nhân dân, dấn mình vào nguồn sáng tạo, sinh động của nhân dân mới là người chiến thắng, mới giữ được chính quyền" [20, tr 68-69]

Quyền khiếu nại tố cáo của công dân trong các triều đại phong kiến Việt Nam:

Nghiên cứu lịch sử Việt Nam cho thấy trong những thời kỳ hưng thịnh của nhà nước phong kiến, các triều đại phong kiến Việt Nam luôn biết “dựa vào dân” và thực hiện nhiều chính sách để “an dân” Với thuật cai trị lấy dân làm gốc, ông cha chúng ta đã tính kế, tạo điều kiện cho mọi người dân đều có thể trình bày các nguyện vọng, nỗi oan ức của mình đến nhà vua thông qua việc thỉnh cầu và cáo giác các hành vi bạo ngược của quan lại, cường hào

Sử cũ còn ghi, vua Lý Công Uẩn khi lên ngôi đã ra lệnh xây cung Long Đức làm nơi xử kiện Vua xuống chiếu: “Từ nay ai có việc tranh

Trang 26

kiện, cho đến triều tâu bày, vua thân xét quyết” [21,tr.179] Vua Lý Thái Tông (1029-1054) thường tổ chức các chuyến kinh lý về các vùng thôn dã

để xem xét việc dân, việc quan Hay để biết việc dân “đời vua Lý Anh Tông (1138-1175) vào năm Mậu Dần(1158) vua cho đặt một bàn gỗ ở giữa sân rồng để nhận đơn khiếu kiện của dân” [5, tr.344] Dưới triều vua Trần Nhân Tông (1271-1293) cho phép dân thường được tâu bày những điều oan

ức trực tiếp với nhà vua khi nhà vua xa giá kinh lý…

Sau này, năm 1747, chúa Trịnh Doanh cũng cho “đặt chuông mõ ở cửa phủ đường để người tài tiến cử và người bị ức hiếp đến khiếu nại” [4, tr.23], và năm 1751, chúa Trịnh Doanh còn cho dân được viết thư dán kín, ghi rõ họ, tên, địa chỉ và nỗi oan khuất của mình gửi thẳng lên phủ chúa Đời chúa Nguyễn Ánh cũng áp dụng biện pháp này vào năm 1788

Năm 1803, vua Gia Long cho đặt một số trạm ở các trấn lỵ để các quan đại thần đi kinh lý đến nhận đơn kêu oan của dân Từ thời vua Minh Mệnh (1820-1840) trở đi, nhà Nguyễn đặt ra Ty Tam Pháp gồm Bộ hình, Đại lý tự và Viện Đô sát để xét những vụ án quan trọng, thụ lý các hồ sơ vụ kiện về oan ức của dân Tại cửa Ty Tam Pháp có đặt một chiếc trống đăng văn để vào các ngày 6, 16, 26 (âm lịch) ai có điều gì oan ức cần đệ đơn, được đến đánh trống để nhân viên ra nhận đơn và chuyển cho quan nghị xét Ngoài ra, “những khi địa phương nào có nhiều đơn kêu oan của dân, triều đình cử các phái đoàn thanh tra đặc biệt (gọi là kinh lược đại sứ) gồm các đại thần có uy tín đến giải quyết” [32, tr.12-13]

Ở triều đại nhà Lê Sơ (1428-1527], việc giải quyết khiếu tố của dân

có quy định chặt chẽ hơn Vua ban hành “Quốc triều khám tụng điều lệ”, quy định về trình tự khiếu kiện; trong đó đã có quy định cấm việc khiếu nại vượt cấp: “Các vụ kiện tụng chưa kinh qua lần khám nào đã dẫn dắt khiếu nại vượt cấp thì các nha môn đều không được nhận khám”, tuy nhiên “mọi trường hợp bị người quyền quý ức hiếp thiệt hại nặng, cùng các trường hợp oan ức, không biết khám lệ ở nha môn nào, không còn đường nào để yêu

Trang 27

cầu, cùng các trường hợp đã qua công luận, phúc đình nhưng chưa giải tỏa được lý, mới cho khua chông, gióng mõ mà kêu lên” [45, tr.113] Sở dĩ có quy định như vậy là vì trong “Quốc triều hình luật” có quy định từng loại việc kiện được giải quyết ở từng cấp hành chính, ai làm trái sẽ bị xử bằng đánh trượng và biếm chức

Thời Lê- Trịnh, năm 1683, chúa Trịnh Căn cũng ban lệnh việc khiếu

tố phải theo đúng cấp quy định

Về thời hiệu khiếu tố, từ thời Lý đã có quy định từng loại việc có thời hiệu khác nhau.Chẳng hạn, đối với việc tranh chấp ruộng đất bỏ hoang

bị người khác cày cấy trồng trọt trong vòng một năm thì còn được quyền nhận lại, quá hạn ấy thì không được kêu kiện nữa Nhưng có những việc thì pháp luật nhà Lý không giới hạn thời gian khiếu kiện, như việc tố cáo bộ máy quan lại tham nhũng, thu sai thuế, ăn chặn thuế [21, tr.173]

Về thời hạn giải quyết khiếu tố, thời nhà Lê sơ có quy định: “phân việc kiện tụng về ruộng đất, trộm cướp đều hạn 3 tháng; kiện tụng về mưu giết 4 tháng; kiện tụng về hộ khẩu, hôn thú là 2 tháng, đều lấy ngày bắt được bị cáo làm ngày đầu tiên …” [45, tr.13]

Về tổ chức cơ quan làm nhiệm vụ giải quyết khiếu tố của dân, trên

cơ sở phân loại việc khiếu tố, pháp luật quy định trách nhiệm cho từng cấp giải quyết.Như đã nêu ở phần trên, hầu như các xã quan, lộ quan, huyện quan đều trực tiếp xét xử khiếu kiện của dân; còn ở các kinh hay trấn do quan thừa ty, trấn ty, trấn thủ giải quyết “Nếu còn chưa phục tình thì mới phúc thẩm ở Ngự sử đài, nếu có tình lý thiệt hại, chưa được giải bày rõ rang mới cho làm đầy đủ tờ khai, cung kết phúc kêu ở chánh đường…” [45, tr.270-274]

Nhìn chung, để thực hiện tốt quyền khiếu nại, tố cáo của công dân, một số triều đại phong kiến Việt Nam đã ban hành nhiều loại văn bản luật quy định việc gửi đơn thư và trách nhiệm của quan lại trong việc xem xét giải quyết tố cáo của nhân dân Đáng kể nhất là Bộ luật Hình thư đời Lý

Trang 28

(1042), Bộ Quốc triều hình thư và Quốc triều hình luật (1341) đời Trần; Bộ Luật Hồng Đức (1483) và Khám tụng điều lệ (1777) thời Lê; Bộ Luật Gia Long thời Nguyễn (1815)… trong đó có nhiều điều khoản quy định về các quyền và trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân

Thực tế lịch sử đã chứng minh rằng, triều đại nào mà nhà cầm quyền biết thông cảm với nỗi khổ của dân, biết lắng nghe và hỏi ý kiến của dân, biết tôn trọng và giải quyết những nguyện vọng, khiếu nại của dân, thì thời

đó đất nước thanh bình, thịnh vượng, “vua tôi đồng lòng, cả nước hợp sức” tạo nên một sức mạnh vô địch vượt mọi khó khăn, chiến thắng mọi kẻ thù

Quan điểm của Hồ Chí Minh về giải quyết khiếu nại, tố cáo và vai trò của các cơ quan thanh tra thể hiện qua Hiến pháp, pháp luật Việt Nam

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bảng tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, một nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Châu Á; theo đó một hệ thống chính quyền nhân dân được thành lập từ Trung ương đến địa phương, cơ sở, bản, làng Việt Nam Trong quá trình xây dựng và quản lý đất nước, với sự nhạy bén về chính trị, Chủ tịch Hồ Chí minh đã sớm nhận rõ sự cần thiết của công tác kiểm tra giám sát các hoạt động của

bộ máy chính quyền, kế thừa truyền thống quý báu của ông cha về lĩnh vực này, kết hợp với lý luận và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chú trọng ngay tới biện pháp tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước bằng việc thành lập “Ban thanh tra đặc biệt” có chức năng giúp Chính phủ và nhận những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể, trong đó, nhiệm vụ quyền hạn đầu tiên là: “nhận các đơn khiếu nại của nhân dân, điều tra hội chứng, xem xét các giấy tờ tài liệu của Ủy ban nhân dân hoặc các cơ quan của Chính phủ cần thiết cho việc giám sát” [32,tr.13-16] Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 64/SL thành lập “Ban thanh tra đặc biệt”, đây là văn bản “có ý nghĩa Hiến pháp đã xây dựng quyền khiếu nại,

Trang 29

tố cáo của công dân và trách nhiệm của cơ quan thanh tra trong thực hiện quyền này” [46, tr.61]

Quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quyền khiếu nại,tố cáo của công dân luôn nhấn mạnh một khía cạnh trách nhiệm và nghĩa vụ của nhà nước trong mối quan hệ với nhân dân Người viết: “Chúng ta phải hiểu rằng cơ quan của Chính phủ từ Trung ương đến đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân chứ không phải đè đầu như trong thời kỳ thống trị của Pháp, Nhật” [46, tr.56]

Không những như vậy, người còn nêu ra các nguyên nhân của những khuyết điểm của các cấp chính quyền, của cán bộ, dẫn đến khiếu nại, tố cáo của nhân dân: một phần do kinh nghiệm của chúng ta còn ít, tài năng chúng

ta còn kém mà công việc thì nhiều; song một nguyên nhân quan trọng là do thiếu kiểm tra giám sát kịp thời “Có thể nói rằng, chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta vì thiếu kiểm tra” [11, tr.56]

Quan niệm của Hồ Chí Minh về việc nâng cao hiệu lực giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân không chỉ là trách nhiệm của nhà nước mà còn là trách nhiệm của công dân.Người luôn luôn đòi hỏi mọi tổ chức Đảng, chính quyền… không một ai đứng trên hay đứng ngoài pháp luật Người nói: “Dù sao Chính phủ đã hết sức làm gương và nếu làm gương không xong thì sẽ dùng pháp luật mà trị những kẻ ăn hối lộ- đã trị, đương trị và sẽ trị cho kỳ hết” [14, tr.158]

Đối với nhân dân người nhắc nhở: “ Nhà nước bảo đảm quyền tự do dân chủ cho công dân, nhưng nghiêm cấm lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm đến lợi ích của nhà nước, của nhân dân” [15, tr.593] Thực tế cho thấy sự yếu kém của tổ chức bộ máy, chất lượng đội ngũ cán

bộ, công chức, những vấn đề bất cập trong chính sách, pháp luật được phát hiện, kiến nghị với lãnh đạo các cấp, các ngành đa phần được phát hiện từ thực tiễn công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo.Tính chất giám sát của nhân dân đối với Nhà nước trong giải quyết khiếu nại, tố cáo được thể

Trang 30

hiện ở chỗ khi khiếu nại, tố cáo nhân dân đã chuyển đến cho cơ quan nhà nước những thông tin, phát hiện về những việc làm vi phạm pháp luật, xâm hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, trên

cơ sở đó Nhà nước kiểm tra lại hoạt động, hành vi của các cơ quan và các cán bộ của mình, kịp thời chấn chỉnh, xử lý sai phạm, thậm chí loại trừ ra khỏi bộ máy nhà nước những người không xứng đáng, làm cho bộ máy nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc xây dựng, củng cố mối quan hệ chặt chẽ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước Người nói: “Giữ chặt mối liên hệ với dân chúng và luôn lắng tai nghe ý kiến của dân chúng,

đó là nền tảng lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng thắng lợi”[12, tr.286] Người đã nhiều lần chỉ ra ý nghĩa chính trị sâu sắc của công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân

Trong bài nói chuyện với cán bộ thanh tra tại Hội nghị Thanh tra toàn miền Bắc ngày 5/3/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Về công tác xét khiếu nại, tố giác, nhiệm vụ các ban thanh tra là phải làm cho nghiêm chỉnh, cho kịp thời, sớm chừng nào hay chừng ấy, Đồng bào có oan ức mới khiếu nại, tố cáo, hoặc vì chưa hiểu rõ chính sách của Đảng và Chính phủ

mà khiếu nại, tố cáo Ta phải giải quyết nhanh, tốt thì đồng bào thấy rõ Đảng và Chính phủ quan tâm lo lắng đến quyền lợi của họ, do đó mối quan

hệ giữa nhân dân với Đảng và Chính phủ càng được củng cố tốt hơn”.[13, tr.726-727] Theo quan điểm của Người, giải quyết khiếu nại, tố cáo của dân chính là một biện pháp quan trọng và thiết thực để củng cố mối quan

hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước, củng cố lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước Trong trường hợp các khiếu nại, tố cáo được các

cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, giải quyết kịp thời và thỏa đáng thì những người dân đi khiếu nại, tố cáo và thậm chí cả những người sống chung quanh họ sẽ cảm thấy Nhà nước đã tôn trọng, lắng nghe ý kiến của

họ, quan tâm, lo lắng đến quyền lợi của họ và cũng tự nhiên họ thấy Nhà

Trang 31

nước gần gũi, gắn bó với họ và đã thực sự là Nhà nước của dân, do dân và

vì dân Nhưng ngược lại nếu các khiếu nại, tố cáo, các kiến nghị của dân được các cơ quan, cán bộ Nhà nước đón nhận bằng một thái độ thờ ơ, thiếu trách nhiệm thì cũng chính những người dân đó sẽ hình thành tâm trạng thiếu tin tưởng và có xu hướng xa lánh các cơ quan quản lý Vì vậy, việc giải quyết nhanh chóng, đúng pháp luật các khiếu nại, tố cáo của công dân, gắn liền với nó là việc khôi phục kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xử lý nghiêm minh những người sai phạm tất yếu sẽ góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, làm cho mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước ngày càng gắn bó bền chặt hơn

Các cơ quan thanh tra có vai trò quan trọng trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo

Mặc dù, pháp luật về khiếu nại, tố cáo đều nhất quán xác định trách nhiệm, thẩm quyền của thủ trưởng các cơ quan quản lý nhà nước trong tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo Song dù trong điều kiện nào, giai đoạn nào Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đều thống nhất một luận điểm cơ bản là đề cao vai trò, vị trí của các cơ quan thanh tra trong tiếp dân, và giải quyết khiếu kiện của dân Điều này vừa phản ánh một sự tin cậy cao độ của Đảng, Chính phủ và Bác Hồ với ngành thanh tra.Đồng thời phản ánh một thực tiễn của đời sống xã hội, thực tiễn của quản lý nhà nước đối với các cơ quan thanh tra nhà nước.Hồ Chủ tịch luôn xác định thanh tra

các cấp, các ngành có nhiệm vụ “thanh tra sự khiếu nại của nhân dân”

Điều 4 Sắc lệnh 138b ngày 18/12/1949 quy định

Những tư tưởng, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đang đặt ra đòi hỏi các cơ quan thanh tra cần tiếp tục nghiên cứu đổi mới về tổ chức cũng như phương thức, cách thức hoạt động, trên cơ sở đổi mới thể chế về thanh tra, thể chế về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo Mặt khác, nó cũng đòi hỏi quan tâm sâu sắc của các ngành, các cấp, từ Trung ương đến

Trang 32

địa phương đối với công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và

vì dân

Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về giải quyết khiếu nại, tố cáo

Đảng và Nhà nước ta trong quá trình hoạt động của mình đã không ngừng mở rộng dân chủ, nhất là dân chủ trực tiếp để tạo điều kiện cho nhân dân tham gia vào công việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội.Nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ 8 (Khóa VIII) nhấn mạnh: “Đẩy mạnh việc giải quyết các khiếu kiện của công dân Soát xét bổ sung và thể chế hóa các chính sách, trước hết đối với chính sách lĩnh vực mà dân khiếu kiện nhiều như những tranh chấp về nhà đất” [8, tr.30] Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII của Đảng một lần nữa khẳng định: “Cùng với việc đảm bảo thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của công dân cần nghiên cứu hướng dẫn để mọi công dân có điều kiện phát hiện, đề xuất, kiến nghị giúp cho hoạt động giám sát có hiệu quả” [7,tr.130-131]

Cụ thể hóa quan điểm này, Nghị quyết hội nghị Trung ương 3 (Khóa VIII) chỉ rõ: cần “xác định rõ trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân, xử lý nghiêm minh các hành

vi trì hoãn, làm chậm trễ, sai lệch, can thiệp trái pháp luật hoặc lẫn tránh trách nhiệm đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo Cần có quy chế tạo thuận lợi để người dân trình bày ý nguyện, thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của mình” [9,tr.45]

Ở nước ta, Đảng cộng sản Việt Nam là “lực lượng lãnh đạo nhà nước

và xã hội” [15, tr.14].Nhà nước ta đã thể chế hóa đường lối, quan điểm của Đảng về khiếu nại, tố cáo của công dân thành Hiến pháp và pháp luật, đồng thời ban hành nhiều nghị quyết, nghị định, chỉ thị,, nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo Đặc biệt là sự ra đời của Luật Khiếu nại, tố cáo, nay được tách thành 2 Luật riêng là Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo, đã đánh dấu một bước tiến quan trọng nhằm góp phần phát huy quyền làm chủ

Trang 33

của nhân dân trong việc xây dựng và quản lý đất nước, là cơ sở pháp lý quan trọng để công dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của Nhà nước và của tập thể Đồng thời là phương tiện để công dân thực hiện quyền làm chủ và giám sát các hoạt động của các cơ quan nhà nước, góp phần làm trong sạch bộ máy nhà nước, loại trừ những biểu hiện tiêu cực của cán bộ công chức nhà nước như quan liêu, hách dịch, sách nhiễu, cửa quyền, những hành vi vi phạm pháp luật, tham nhũng, thoái hóa, biến chất…Đúng như Mac nói: “Đạo luật trở thành kinh thánh tự do của nhân dân” [1, tr.85], pháp luật là cơ sở, là căn cứ để công dân đánh giá, kiểm tra, đối chiếu các hành vi từ phía nhà nước và các thành phần khác trong xã hội, đấu tranh bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Về phía nhà nước, mọi cơ quan, cán bộ công chức nào cũng cần quán triệt, tôn trọng, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo đúng pháp luật; mặt khác nghiêm cấm mọi hành vi cản trở việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, đe dọa và trả thù người khiếu nại, tố cáo; cố tình không giải quyết hoặc giải quyết khiếu nại,

tố cáo trái pháp luật Đồng thời cũng nghiêm trị những ai cố tình khiếu nại,

tố cáo sai sự thật, lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để xuyên tạc vu khống,

vu cáo làm hại người khác, không tôn trọng pháp luật và làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, “chăm lo cho mọi người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người” [6, tr.134], coi việc “chăm lo hạnh phúc của con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta” [16, tr.7]

Có thể khái quát những nội dung cơ bản trong Quan điểm của Đảng

và Nhà nước ta về giải quyết khiếu nại, tố cáo như sau:

Một là: Giải quyết khiếu nại, tố cáophải quán triệt sâu sắc tinh thần vì dân và vì Đảng, Nhà nước

Hai là: Giải quyết khiếu nại, tố cáophải phục vụ cho phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng

Trang 34

Ba là: Giải quyết khiếu nại, tố cáolà nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị

Bốn là: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất

quản lý Nhà nước có các chính sách pháp luật về đất đai phù hợp theo từng thời kỳ

Năm là: Giải quyết khiếu nại, tố cáophải dựa trên quan điểm lấy dân làm gốc

Sáu là: Nhà nước khuyến khích hoà giải các khiếu nại trong dân, đặc

biệt là cấp cơ sở Phát huy tinh thần đoàn kết, tương trợ trong cộng đồng dân cư

Bảy là: Giải quyết khiếu nại, tố cáophải nhằm mục đích phát triển sản xuất, ổn định xã hội và từng bước cải thiện đời sống nhân dân

Tám là: Giải quyết khiếu nại, tố cáophải tuân thủ pháp luật nhưng cũng phải linh động trong từng tình huống cụ thể Kết hợp hài hoà giữa căn

cứ pháp lý và thực tiễn, giữa chính sách về đất đai và các chính sách liên quan khác

Chín là: Mọi cá nhân, tổ chức sử dụng đất đều bình đẳng trước pháp luật

1.3.2 Nguyên tắc giải quyết khiếu nại, tố cáo

Một là: Giải quyết khiếu nại, tố cáophải khách quan, thận trọng, trung thực và tuân theo pháp luật

Hai là: Kết hợp giải quyết khiếu nại, tố cáovới việc giáo dục thuyết phục, tuyên truyền phổ biến pháp luật đất đai, làm cho mọi người hiểu và nghiêm chỉnh chấp hành quyết định của cơ quan đã giải quyết

Ba là:Giải quyết khiếu nại, tố cáophải kịp thời, nhanh chóng ngăn chặn và loại bỏ các hành vi vi phạm pháp luật đất đai

1.3.3 Cơ sở lý luận về vai trò của cơ quan thanh tra trong giải quyết khiếu nại, tố cáo

1.3.3.1 Khái quát về cơ quan thanh tra:

Thanh tra là một khâu trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước.Hoạt động thanh tra nhằm kiểm soát hữu hiệu việc thực thi quyền lực

Trang 35

nhà nước trong lĩnh vực hành pháp.Từ yêu cầu phải có hoạt động thanh tra dẫn đến hình thành các tổ chức thanh tra là một nhu cầu tất yếu của quá trình quản lý nhà nước Ngay sau khi thành lập nước Việt Nam, Chủ tịch

Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh 64/SL ngày 23/11/1945 thiết lập Ban thanh tra đặc biệt, đây là cơ sở đầu tiên đặt nền móng cho việc hình thành

hệ thống tổ chức thanh tra Trải qua các thời kỳ lịch sử cùng với sự chuyển đổi cơ chế quản lý, hoạt động thanh tra cũng được thay đổi theo, năm 1990 Pháp lệnh thanh tra được Hội đồng nhà nước thông qua ngày 29/3/1990; sự

ra đời của Tòa hành chính năm 1996 và Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2004 và 2005); Luật Thanh tra năm 2004; tiếp theo

là Luật Tố tụng hành chính năm 2010 và đặc biệt là Luật Thanh tra năm

2010 ra đời thay thế Luật Thanh tra năm 2004 Qua các thời kỳ lịch sử thì

tổ chức thanh tra nhà nước vẫn luôn được khẳng định là một bộ phận của

bộ máy hành chính Nhà nước, có nhiệm vụ giúp cơ quan quản lý nhà nước quản lý công tác thanh tra và thực hiện quyền thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, xem xét giải quyết các khiếu nại, tố cáo trong phạm

vi thẩm quyền quản lý nhà nước của thủ trưởng cùng cấp

Xuất phát từ vị trí của cơ quan thanh tra trong tổng thể bộ máy nhà nước, cơ quan thanh tra nhà nước gồm:Ở cấp trung ương có Thanh tra Chính phủ, Thanh tra Bộ và cơ quan ngang Bộ Ở cấp địa phương có Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Thanh tra Sở, Thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

1.3.3.2 Chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan thanh tra:

Với vị trí là cơ quan ngang bộ, cơ quan thanh tra có chức năng cơ

bản là: “cơ quan thanh tra nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện và giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tiến hành thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo

và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật”

Trang 36

Một trong những nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan thanh tra là giải quyết khiếu nại hành chính trong phạm vi quản lý của cơ quan thanh tra và tham mưu cơ quan quản lý hành chính nhà nước cùng cấp giải quyết khiếu nại hành chính, giải quyết tố cáo thuộc thẩm quyền của cơ quan quản lý hành chính nhà nước cùng cấp

Từ chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan thanh tra trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước nói trên có thể khẳng định vai trò của cơ

quan thanh tra ở những khía cạnh sau:

Thứ nhất, cơ quan thanh tra được xem là một yếu tố trong cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo

Trước khi tìm hiểu về cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo, ta cần nhận thức về yếu tố và cơ chế:

Theo từ điển Tiếng Việt, yếu tố là: “thành phần, bộ phận tạo thành

sự vật, sự việc, hiện tượng ”[41, tr 1889]; Cơ chế là: “cách thức sắp xếp tổ chức để làm đường hướng, cơ sở theo đó mà thực hiện”[41, tr 464]

Từ các khái niệm trên ta có thể hiểu các yếu tố cơ bản trong cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo bao gồm: Thẩm quyền, trình tự, đối tượng,

Như vậy, có thể hiểu vị trí của cơ quan thanh tra trong cơ chế giải

quyết khiếu nại, tố cáo là “phương thức hoạt động của cơ quan thanh tra

và các cơ quan hành chính nhà nước trong việc thẩm tra, xác minh, kết luận, ra quyết định giải quyết khiếu nại, kết luận xử lý tố cáo”

Với quan niệm cơ quan thanh tra là một yếu tố trong cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo, vai trò của cơ quan thanh tra được xem xét ở các góc độ sau:

Một là,cơ quan thanh tra có thể là một cấp trong cơ chế giải quyết

khiếu nại tố cáo.Với ý nghĩa cơ quan thanh tra là một cấp trong cơ chế giải quyết khiếu nại,tố cáo, đồng nghĩa với việc cơ quan thanh tra có thẩm quyền xem xét, kiểm tra lại hoạt động của cơ quan quản lý hành chính nhà

Trang 37

nước; ra quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo với chủ thể bị khiếu nại, tố cáo là các cơ quan quản lý hành chính nhà nước

Hai là, là một yếu tố trong cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo cơ

quan thanh tra giữ vai trò tham mưu giải quyết cho các cơ quan quản lý hành chính nhà nước

Theo từ điển Tiếng việt, tham mưu được hiểu là: “góp ý kiến về chủ trương, kế hoạch và biện pháp cho một người hay một tổ chức”[41, tr

1523].Như vậy, có thể hiểu cơ quan thanh tra giữ vai trò là góp ý kiến về biện pháp giải quyết khiếu nại hành chính cho cơ quan quản lý hành chính nhà nước, được thể hiện dưới hình thức bằng kiến nghị của cơ quan thanh tra với thủ trưởng cơ quan quản lý hành chính nhà nước

Với quan điểm trên có thể hiểu, thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc về cơ quan quản lý hành chính nhà nước, cơ quan thanh tra sẽ giúp cơ quan quản lý hành chính trong việc tham mưu biện pháp giải quyết, xác minh thu thập chứng cứ cũng như các hoạt động khác trong quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo

Đối với cơ quan thanh tra, việc tham mưu giải quyết khiếu nại , tố cáohoàn toàn phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thanh tra là cơ quan thuộc hệ thống hành pháp có chức năng thanh tra, kiểm tra hoạt động quản lý hành chính nhà nước Khi giao việc cho cơ quan thanh tra tham mưu, vẫn đảm bảo được chức năng quản lý của cơ quan quản lý nhà nước mà lại giảm bớt được gánh nặng công việc đối với cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan quản lý nhà nước

Trong quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo cơ quan thanh tra giữ vai trò tham mưu cho chủ thể quản lý hành chính nhà nước cùng cấp là: xem xét, kết luận và kiến nghị việc giải quyết Với việc tham mưu cho lãnh đạo các cấp trong việc xem xét, giải quyết khiếu nại bằng việc thẩm tra, xác minh, kết luận về nội dung vụ việc và hướng xử lý, thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có cơ sở trong việc ra quyết định giải quyết

Trang 38

Tóm lại, cơ quan thanh tra có vai trò tham mưu là hoàn toàn phù hợp, giúp cho hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước được hiệu quả và chuyên nghiệp hơn

Ba là, cơ quan thanh tra là một yếu tố trong cơ chế giải quyết khiếu

nại,tố cáo còn được khẳng định ở nhiệm vụ thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại,tố cáo của cơ quan thanh tra

Hiệu quả của việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước chỉ có ý nghĩa khi có các thiết chế nhằm phát hiện và loại bỏ các lệch lạc có thể có của đối tượng quản lý; chấn chỉnh lại các quyết định đã ban hành trước đây cho phù hợp thực tế và yêu cầu từ phía nhà nước Trong các thiết chế đó, thanh tra là thiết chế không thể thiếu.Trong mối quan hệ giữa quản

lý nhà nước và thanh tra thì quản lý nhà nước giữ vai trò chủ đạo, chi phối hoạt động của thanh tra.Tuy nhiên, thanh tra lại có tác động tích cực đối với quản lý và góp phần nâng cao hiệu lực hiệu quả của quản lý nhà nước Vai trò của thanh tra không chỉ là hoạt động kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch của Nhà nước, kịp thời phát hiện, kiến nghị

xử lý nghiêm khắc đối với những hành vi vi phạm và đề ra các biện pháp giúp các đối tượng thanh tra khắc phục, sửa chữa sai lầm, khuyết điểm, phát huy ưu điểm… mà còn là phương tiện để chủ thể quản lý phát hiện những biểu hiện trì trệ, không phù hợp với thực tế khách quan của cơ chế

và phương pháp quản lý đã và đang cản trở các hoạt động quản lý, từ đó đề xuất các biện pháp cải cách, hoàn thiện các hoạt động quản lý nhà nước.Như vậy, cơ quan thanh tra có chức năng kiểm tra, giám sát trong việc thực thi quyền lực nhà nước nói chung

Thứ hai, vai trò của cơ quan thanh tra trong việc “thanh tra, kiểm tra” hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo

Theo từ điển tiếng Việt, thanh tra là: “người thuộc cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí

Trang 39

nghiệp”[41, tr 838].Thanh tra theo ngôn ngữ tiếng anh “Inspect” xuất phát

từ gốc latinh(In-spectare) có nghĩa là “nhìn vào bên trong” chỉ “một sự xem xét từ bên ngoài vào một đối tượng nhất định” Theo từ điển tiếng Việt, kiểm tra là “xem xét thực chất, thực tế” [41, tr 937].Với cách hiểu trên thì thanh tra, kiểm tra bao hàm nghĩa kiểm soát nhằm “xem xét và phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định”.Như vậy, “Thanh tra nhà nước các cấp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình thanh tra việc chấp hành pháp luật về khiếu nại, tố cáo của các cơ quan hành chính nhà nước”

Thứ ba, vai trò của cơ quan thanh tra trong việc tham mưu giải quyết khiếu nại, tố cáoGiải quyết khiếu nại,tố cáolà việc xác minh, kết

luận và ra quyết định giải quyết Cơ quan thanh tra thực hiện tham mưu trong việc xác minh, kết luận và kiến nghị việc giải quyết khiếu nại, tố cáo

Cụ thể:

Một là, cơ quan thanh tra tham mưu trong hoạt động đối thoại

Hai là,cơ quan thanh tra tham mưu trong việc xác minh, thu thập chứng cứ

Ba là cơ quan thanh tra tham mưu trong hoạt động nghiên cứu hồ sơ Bốn làcơ quan thanh tra tham mưu cho chủ thể có thẩm quyền trong việc ban hành quyết định giải quyết khiếu nại

Như vậy, cơ quan thanh tra chiếm một vị trí quan trọng và quyết định đến nội dung của quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước

Thứ tư, vai trò của cơ quan thanh tra trong việc thực hiện giải quyết khiếu nại, tố cáo của chính cơ quan thanh traCơ quan thanh tra

nằm trong hệ thống cơ quan hành pháp và trong quá trình thực hiện chức năng của mình, cơ quan thanh tra cũng có trách nhiệm giải quyết những thắc mắc, yêu cầu của đối tượng quản lý Cụ thể là có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo về quyết định hành chính, hành vi hành chính của chính mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp

Trang 40

Tóm lại, về phương diện lý luận vai trò của cơ quan thanh tra có thể

được khẳng định ở các góc độ sau: Là một yếu tố không thể thiếu trong cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo; là cơ quan tham mưu cho cơ quan quản lý nhà nước nhiệm vụ giải quyết khiếu nại,tố cáo; trực tiếp thực hiện nhiệm

vụ giải quyết khiếu nại,tố cáovà quản lý nhà nước đối với công tác giải quyết khiếu nại,tố cáocũng như thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động giải quyết khiếu nại,tố cáocủa các đối tượng thanh tra thuộc quyền

1.3.3.3 Sự cần thiết nâng cao vai trò của Thanh tra tỉnh Long An trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc lĩnh vực đất đai

Vai trò của cơ quan thanh tra trong giải quyết khiếu nại là không giống nhau qua các thời kỳ lịch sử, nó được điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tiễn khiếu nại và giải quyết khiếu nại, tổ chức bộ máy nhà nước nói chung,

tổ chức và hoạt động của cơ quan thanh tra nói riêng và yêu cầu của công tác quản lý nhà nước trong từng giai đoạn Đây cũng là một xu hướng tiếp diễn trong tương lai.Vì thế, vấn đề đặt ra đối với các cơ quan thanh tra không phải là được trao quyền đến đâu, mà chính là làm tròn trách nhiệm của mình trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo

Có thể khái quát sự cần thiết của việc nâng cao vai trò của Thanh tra tỉnh Long An trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo như sau:

- Xuất phát từ yêu cầu bảo đảm thực hiện quyền cơ bản của công dân, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhà nước của dân, do dân và vì dân

Khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền công dân được ghi nhận trong Hiến pháp nước ta và được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật Giải quyết khiếu nại, tố cáo là trách nhiệm của cơ quan nhà nước

mà trực tiếp là cơ quan thanh tra Giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân thực chất là việc đảm bảo các quyền và nghĩa vụ của công dân, là mục tiêu của việc xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân Và với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩaViệt Nam, chúng ta đang xây

Ngày đăng: 09/09/2021, 21:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. C.Mác-Ph.Ăngghen (1979), Toàn tập, tập 1, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 1
Tác giả: C.Mác-Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nhà xuất bản Sự thật
Năm: 1979
4. Phan Huy Chú (1961), Lịch triều hiến chương loại chí, tập 2, Nhà xuất bản Sử học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí, tập 2
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nhà xuất bản Sử học
Năm: 1961
5. Đại Việt Sử ký toàn thư (1983), tập 1, Nhà xuất bản khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt Sử ký toàn thư (1983), tập 1
Tác giả: Đại Việt Sử ký toàn thư
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học xã hội
Năm: 1983
6. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2001
7. Đảng cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 1996
8. Đảng cộng sản Việt Nam (1995), Văn kiện hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 (khóa VIII), Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 (khóa VIII)
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 1995
9. Đảng cộng sản Việt Nam (1997), Nghị quyết hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 3 (khóa VIII), Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 3 (khóa VIII)
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 1997
11. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 4,Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 4
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 1995
12. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 5, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 5
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1995
13. Hồ Chí Minh (2000), Bàn về Nhà nước và pháp luật, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2000
14. Hồ Chí Minh (1985), Nhà nước và pháp luật, Nhà xuất bản pháp lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản pháp lý
Năm: 1985
15. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 9, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 9
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 1996
16. Đỗ Mười (1993), “Bài phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ƣơng (khóa VII)”, Tạp chí cộng sản, tr.7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ƣơng (khóa VII)”, "Tạp chí cộng sản
Tác giả: Đỗ Mười
Năm: 1993
17. Học viện chính trị quốc gia (1996), Đại hội VIII- Những tìm tòi và đổi mới, Trung tâm tƣ liệu Học viện chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại hội VIII- Những tìm tòi và đổi mới
Tác giả: Học viện chính trị quốc gia
Năm: 1996
18.V.I.Lênin, Toàn tập, tập 44, Nhà xuất bản Tiến bộ, Matxcova 19. Lênin (2006), Toàn tập, Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 44", Nhà xuất bản Tiến bộ, Matxcova 19. Lênin (2006), "Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin, Toàn tập, tập 44, Nhà xuất bản Tiến bộ, Matxcova 19. Lênin
Nhà XB: Nhà xuất bản Tiến bộ
Năm: 2006
20. Lênin (1976), Toàn tập, tập 35, Nhà xuất bản Tiến bộ, Matxcova Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 35
Tác giả: Lênin
Nhà XB: Nhà xuất bản Tiến bộ
Năm: 1976
21. PTS.Cao Văn Liên (1998), Pháp luật qua các triều đại,Nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật qua các triều đại
Tác giả: PTS.Cao Văn Liên
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh niên
Năm: 1998
32. PTS Nguyễn Đình Tấn (1998), “Nhà nước phong kiến với việc giải quyết đơn từ khiếu tố của dân”,Tập san pháp luật cuối tháng (4), tr.12- 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước phong kiến với việc giải quyết đơn từ khiếu tố của dân”,"Tập san pháp luật cuối tháng (4)
Tác giả: PTS Nguyễn Đình Tấn
Năm: 1998
33.Tạp chí Thanh tra (1995), Những mốc son lịch sử ngành thanh tra Việt Nam (1945-1995), Tạp chí Thanh tra số 11, tr.13-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Thanh tra số 11
Tác giả: Tạp chí Thanh tra
Năm: 1995
45. Viện Nhà nước và pháp luật (1992), Tìm hiểu về Nhà nước pháp quyền,Nhà xuất bản Pháp lý Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về Nhà nước pháp quyền
Tác giả: Viện Nhà nước và pháp luật
Nhà XB: Nhà xuất bản Pháp lý Hà Nội
Năm: 1992

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 Bảnđồhànhchínhtỉnh Long An - Vai trò của thanh tra tỉnh long an trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực đất đai hiện nay
Hình 2.1 Bảnđồhànhchínhtỉnh Long An (Trang 45)
Bảng 2.1.Nguyên nhânchủyếukhiếunại, tốcáo - Vai trò của thanh tra tỉnh long an trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực đất đai hiện nay
Bảng 2.1. Nguyên nhânchủyếukhiếunại, tốcáo (Trang 48)
2.3.1.1.Phân tíchtìnhhìnhsốlƣợng, chấtlƣợngcánbộgiảiquyết khiếu nại, tố cáo về đất đai tỉnh Long An   - Vai trò của thanh tra tỉnh long an trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực đất đai hiện nay
2.3.1.1. Phân tíchtìnhhìnhsốlƣợng, chấtlƣợngcánbộgiảiquyết khiếu nại, tố cáo về đất đai tỉnh Long An (Trang 55)
Đánh giá:Nhìn vào bảng phântích 2.3và biểu đồ minh hoạhình 2.2cho thấy  số  lƣợng  và  chất  lƣợng  cán  bộ  làm  công  tác  tiếp  dân  và  xử  lý  đơn  thƣkhiếu nại, tố cáođƣợc nâng lên từ năm 2008 đến nay - Vai trò của thanh tra tỉnh long an trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực đất đai hiện nay
nh giá:Nhìn vào bảng phântích 2.3và biểu đồ minh hoạhình 2.2cho thấy số lƣợng và chất lƣợng cán bộ làm công tác tiếp dân và xử lý đơn thƣkhiếu nại, tố cáođƣợc nâng lên từ năm 2008 đến nay (Trang 56)
Hình 2.4. Biểuđồphântíchtỷlệnội dung khiếunạiđấtđaitừngnăm - Vai trò của thanh tra tỉnh long an trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực đất đai hiện nay
Hình 2.4. Biểuđồphântíchtỷlệnội dung khiếunạiđấtđaitừngnăm (Trang 57)
-Nhìn vào bảng 2.4, biểu đồ hình 2.3, 2.4phân tích cho thấy nội dung khiếu nại về đất đai tập trung vào nội dung đòi lại đất cũ (39%), bồi thƣờng  giải  phóng  mặt  bằng  (18%),  cấp  giấy  chứng  nhận  quyền  sử  dụng  đất  (11%)…  Tuy  nhiên  nếu  phân  - Vai trò của thanh tra tỉnh long an trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực đất đai hiện nay
h ìn vào bảng 2.4, biểu đồ hình 2.3, 2.4phân tích cho thấy nội dung khiếu nại về đất đai tập trung vào nội dung đòi lại đất cũ (39%), bồi thƣờng giải phóng mặt bằng (18%), cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (11%)… Tuy nhiên nếu phân (Trang 57)
-Nhìn vào bảng 2.5, hình 2.5, 2.6 phântích cho thấy nội dung tốcáo về đất đai tập trung vào nội dung bồi thƣờng giải phóng mặt bằng (35%),  đòi lại đất cũ (19%),cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (21%)…  - Vai trò của thanh tra tỉnh long an trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực đất đai hiện nay
h ìn vào bảng 2.5, hình 2.5, 2.6 phântích cho thấy nội dung tốcáo về đất đai tập trung vào nội dung bồi thƣờng giải phóng mặt bằng (35%), đòi lại đất cũ (19%),cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (21%)… (Trang 58)
Hình 2.5 Biểuđồphântíchtỷlệnội dung tốcáovềđấtđai - Vai trò của thanh tra tỉnh long an trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực đất đai hiện nay
Hình 2.5 Biểuđồphântíchtỷlệnội dung tốcáovềđấtđai (Trang 58)
Bảng 2.6. Giảiquyếtđơnkhiếunạithẩmquyền - Vai trò của thanh tra tỉnh long an trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực đất đai hiện nay
Bảng 2.6. Giảiquyếtđơnkhiếunạithẩmquyền (Trang 59)
Bảng 2.7.Các hìnhthứcgiảiquyếtđơnkhiếunại thẩmquyền - Vai trò của thanh tra tỉnh long an trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực đất đai hiện nay
Bảng 2.7. Các hìnhthứcgiảiquyếtđơnkhiếunại thẩmquyền (Trang 60)
Nhìn bảng 2.8, hình 2.9 cho thấy, tỷlệ đơnkhiếunại đúng và khiếu nại đúng một phần chiếm tỷ lệ cao 50,5% - Vai trò của thanh tra tỉnh long an trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực đất đai hiện nay
h ìn bảng 2.8, hình 2.9 cho thấy, tỷlệ đơnkhiếunại đúng và khiếu nại đúng một phần chiếm tỷ lệ cao 50,5% (Trang 61)
Bảng 2.8. Phântíchkếtquảgiảiquyếtđơn khiếunại - Vai trò của thanh tra tỉnh long an trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực đất đai hiện nay
Bảng 2.8. Phântíchkếtquảgiảiquyếtđơn khiếunại (Trang 61)
Nhìn bảng 2.9, hình 2.10 cho thấy, tỷlệ đơnkhiếunại giảiquyết quá hạn bình quân 5 năm là 10,32% , cao nhất là năm 2009 (13,7%), thấp nhất  là năm 2011 (7,8%).Hầu hết các địa phƣơng trong tỉnh đều có vi phạm về  thời hạn giải quyết khiếu nại của công dân - Vai trò của thanh tra tỉnh long an trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực đất đai hiện nay
h ìn bảng 2.9, hình 2.10 cho thấy, tỷlệ đơnkhiếunại giảiquyết quá hạn bình quân 5 năm là 10,32% , cao nhất là năm 2009 (13,7%), thấp nhất là năm 2011 (7,8%).Hầu hết các địa phƣơng trong tỉnh đều có vi phạm về thời hạn giải quyết khiếu nại của công dân (Trang 62)
Bảng 2.9.Chấp hànhthờihạngiảiquyếtkhiếunại - Vai trò của thanh tra tỉnh long an trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực đất đai hiện nay
Bảng 2.9. Chấp hànhthờihạngiảiquyếtkhiếunại (Trang 62)
Hình 2.12 Biểuđồ minh hoạkếtquảgiảiquyếtđơntố cáo - Vai trò của thanh tra tỉnh long an trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực đất đai hiện nay
Hình 2.12 Biểuđồ minh hoạkếtquảgiảiquyếtđơntố cáo (Trang 64)
Đánh giá:Nhìn bảng 2.11, hình 2.12cho thấy, tỷlệ đơntốcáo đúng - Vai trò của thanh tra tỉnh long an trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực đất đai hiện nay
nh giá:Nhìn bảng 2.11, hình 2.12cho thấy, tỷlệ đơntốcáo đúng (Trang 64)
Bảng 2.13.Kiến nghịtrongcôngtácgiảiquyếtkhiếu nại,tố cáo - Vai trò của thanh tra tỉnh long an trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực đất đai hiện nay
Bảng 2.13. Kiến nghịtrongcôngtácgiảiquyếtkhiếu nại,tố cáo (Trang 66)
Ba là Côngtác dân vận khéo- mô hình giảiquyết hiệu quả khiếunại, tố cáo đất đai  - Vai trò của thanh tra tỉnh long an trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực đất đai hiện nay
a là Côngtác dân vận khéo- mô hình giảiquyết hiệu quả khiếunại, tố cáo đất đai (Trang 67)
DANH MỤC CÁC BẢNG - Vai trò của thanh tra tỉnh long an trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực đất đai hiện nay
DANH MỤC CÁC BẢNG (Trang 115)
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ - Vai trò của thanh tra tỉnh long an trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực đất đai hiện nay
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ (Trang 116)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w