Từ bao đời nay Quỳnh Lưu vẫn là một trong những trung tâm sản xuất các mặt hàng thủ công truyền thống của tỉnh Nghệ An, do vậy Quỳnh Lưu thực sự đóng vai trò quan trọng trong việc phát t
Trang 1Tr-ờng đại học vinh KHOA LịCH Sử
‐‐‐‐‐‐‐‐‐*****‐‐‐‐‐-‐‐‐‐
Hồ THị lan
PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở LÀNG NGHỀ THỦ CễNG TRUYỀN THỐNG CHẾ BIẾN NƯỚC
MẮM PHÚ LỢI
CHUYÊN NGàNH việt nam học
Vinh, 2014
Trang 2Tr-ờng đại học vinh Khoa lịch sử
‐‐‐‐‐‐‐‐*****‐‐‐‐‐-‐‐‐
Hồ thị LAN
NGHề TRONG BốI CảNH PHáT TRIểN CáC
LOạI HìNH DU LịCH ở QuỳNH LƯU
Chuyên ngành việt nam học
Giáo viên h-ớng dẫn: Ths D-ơng Thị Vân Anh
Vinh, 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này bản thân tôi luôn luôn nhận được sự
giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn Th.S Dương Thị Vân Anh cùng các
thầy cô trong khoa Lịch sử trường Đại học Vinh.Với sự cố gắng, nỗ lực hết mình của bản thân và sự động viên, khích lệ của gia đình, bạn bè đã giúp tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình
Qua đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo hướng dẫn cùng các thầy cô giáo trong khoa lịch sử và xin gửi đến thầy cô lời cảm ơn chân thành nhất
Vì thời gian và nguồn tư liệu có hạn, vả lại bản thân còn là một sinh viên tập nghiên cứu khoa học, đây là công trình thử thách bước đầu của mình nên chắc chắn đề tài còn nhiều thiếu sót, tác giả mong nhận được sự đóng góp của quý thầy, cô giáo và các bạn sinh viên
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 05 năm 2014
Tác giả
Hồ Thị Lan
Trang 4Trang
LỜI CẢM ƠN 1
A.MỞ ĐÂU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Mục đích nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của đề tài 4
B.NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1 5
GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN QUỲNH LƯU 5
1.1 Vị trí địa lí và tài nguyên thiên nhiên của huyện Quỳnh Lưu 5
1.2 Lịch sử hình thành 8
1.3 Con người 10
1.4 Truyền thống lao động, sản xuất 12
CHƯƠNG 2 14
ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ Ở HUYỆN QUỲNH LƯU 14
2.1 Giới thiệu khái quát về làng nghề thủ công truyền thống ở huyện Quỳnh Lưu 14
2.1.1 Quan niệm về làng nghề, làng nghề thủ công truyền thống 14
Ở Việt Nam hiện nay có gần 2000 làng nghề, phân bố khắp cả nước, tập trung đông nhất ở Đồng bằng sông Hồng trong đó chỉ có khoảng 15% là các làng nghề truyền thống 16
2.1.2 Đặc điểm của làng nghề thủ công truyền thống 16
2.1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển 16
Trang 52.1.2.2 Đặc điểm của làng nghề thủ công truyền thống 18
2.1.3 Những nhân tố tác động đến sự phát triển của các làng nghề thủ công truyền thống ở Quỳnh Lưu 20
2.2 Đánh giá tiềm năng làng nghề chế biến nước mắm Phú Lợi (Quỳnh Dị, Quỳnh Lưu, Nghệ An) đối với sự phát triển du lịch 23
2.2.1 Đặc điểm trường hợp nghiên cứu và mẫu khảo sát 23
2.2.1.1 Đặc điểm trường hợp nghiên cứu 23
2.2.1.2 Đặc điểm mẫu khảo sát 25
2.2.2 Nguồn gốc hình thành 26
2.2.3 Quá trình phát triển 28
2.2.4 Thực trạng nguồn lao động 34
2.2.5 Thực trạng nguồn thu nhập 35
2.2.6 Thực trạng thị trường tiêu thụ sản phẩm 36
2.2.7 Thực trạng cơ cấu khách tham quan 38
2.2.8 Thực trạng hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật 40
2.2.8.1 Thực trạng hệ thống cơ sở hạ tầng 40
2.2.8.2 Thực trạng hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật 41
2.2.9 Thực trạng môi trường tại làng nghề 41
2.2.10 Đánh giá chung 42
2.3 Giá trị làng nghề 44
2.3.1 Giá trị sản xuất 44
2.3.2 Giá trị xã hội 49
2.3.3 Giá trị văn hóa 50
CHƯƠNG 3 52
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ 52
3.1 Giải pháp về quy hoạch phát triển làng nghề 52
3.2 Giải pháp phát triển cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật 53
3.3 Giải pháp phát triển thị trường, thương hiệu cho sản phẩm làng nghề 54
3.4 Giải pháp bảo vệ môi trường 55
Trang 6C KẾT LUẬN 58 TÀI LIỆU THAM KHẢO 59 PHỤ LỤC
Trang 7Trải qua quá trình ra đời và phát triển, nghề thủ công đã đi vào tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam, nó trở nên gần gũi, thân quen, là một phần không thể thiếu trong cuộc sống đời thường Hơn nữa khi nghiên cứu sự phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của một đất nước, chúng ta không thể không nghiên cứu đến nghề thủ công truyền thống ở mỗi làng quê Việt Nam
Trong những năm gần đây, cùng với nhịp độ phát triển du lịch của cả nước cộng với việc chú trọng, đầu tư tích cực thì du lịch Nghệ An đang có
những bước chuyển mình to lớn Du lịch được mệnh danh là “ngành công
nhiệp không khói, nó đã góp phần đem lại nguồn thu nhập lớn cho ngân sách
tỉnh, góp phần tạo sự chuyển dịch trong cơ cấu kinh tế Hơn nữa thông qua hoạt động du lịch làm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, tăng cường mối quan
hệ hợp tác kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội giữa các vùng trong một quốc gia
và giữa các quốc gia với nhau
Dựa vào tiềm năng sẵn có để phát triển du lịch, nghị quyết 45/CP, Chính
phủ khẳng định: “Du lịch là một ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược
phát triển kinh tế, xã hội của đất nước” Trên tinh thần đó, “Quy hoạch tổng
thể phát triển du lịch Nghệ An đến năm 2020“ được Uỷ ban nhân dân tỉnh
Nghệ An phê duyệt ngày 12/06/2009 cũng đã nêu rõ mục tiêu tổng quát là “
phấn đấu đưa du lịch Nghệ An thành ngành kinh tế mũi nhọn, phát triển bền vững, phấn đấu đến năm 2020 Nghệ An trở thành trung tâm du lịch khu vực Bắc Trung Bộ và là trọng điểm du lịch của cả nước”
Trang 8Quỳnh Lưu vốn là mảnh đất có đầy đủ cả ba yếu tố “thiên thời, địa lợi,
nhân hòa” nên đã nhanh chóng tiếp nhận và vận dụng một cách có hiệu quả
những ngành nghề và làng nghề thủ công truyền thống Từ bao đời nay
Quỳnh Lưu vẫn là một trong những trung tâm sản xuất các mặt hàng thủ công
truyền thống của tỉnh Nghệ An, do vậy Quỳnh Lưu thực sự đóng vai trò quan
trọng trong việc phát triển kinh tế nói chung và ngành du lịch nói riêng của
toàn tỉnh
Tuy nhiên, trên thực tế thì hoạt động du lịch tại các làng nghề thủ công
truyền thống hầu như chưa phát triển, khách đến với các làng nghề ở đây chủ
yếu là những người dân địa phương, các vùng phụ cận đến đây để học hỏi
kinh nghiệm sản xuất, trao đổi, mua bán sản phẩm làng nghề Bên cạnh đó thì
sản phẩm làng nghề có thương hiệu đang còn ít, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất
kĩ thuật còn nghèo nàn, chưa được đầu tư thích đáng Chính vì vậy, chưa thu
hút được đông đảo du khách đến tham quan
Xuất phát từ nhận thức trên, chúng tôi chọn đề tài “Đánh giá tiềm năng
du lịch làng nghề trong bối cảnh phát triển các loại hình du lịch ở Quỳnh
Lưu” Do thời gian và khả năng nghiên cứu có hạn nên đề tài đã chọn nghiên
cứu trường hợp: “làng chế biến nước mắm truyền thống Phú Lợi, Quỳnh
Dị, Quỳnh Lưu, Nghệ An “ để đánh giá tiềm năng phát triển du lịch làng
nghề, từ đó khái quát và đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao
hiệu quả hoạt động du lịch tại làng nghề trên địa bàn huyện
2 Lịch sử vấn đề
Du lịch làng nghề tại Quỳnh Lưu là một loại hình du lịch chưa được
khai thác hiện nay nên chưa có một đề tài nghiên cứu chính thức nào về loại
hình du lịch này Đây là một loại hình có tiềm năng khá lớn nên cần có những
chính sách quy hoạch, đầu tư phát triển các làng nghề thủ công truyền thống
Trang 9để phục vụ cho hoạt động du lịch tại các làng nghề nông thôn và du lịch Nghệ
“Quyết định số 1998/ QĐ- UBND.ĐT của Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ
An ngày 11/05/2009 về Phê duyệt đề án phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng làng nghề vùng ven biển tỉnh Nghệ An đến năm 2020” Ngoài ra còn có các bài viết về làng nghề được đăng trên báo và mạng internet
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống các lí luận và thực tiễn phát triển làng nghề truyền thống chế biến nước mắm Quỳnh Dị
Phạm vi nghiên cứu là làng nghề chế biến nước mắm Phú Lợi ở xã Quỳnh Dị, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Thời gian đề tài được thực hiện từ 12/2013 đến 04/2014
Trang 10nhằm đẩy mạnh hoạt động du lịch tại địa phương và thu hút du khách đến với làng nghề
5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu các tài liệu sẵn có: Các tài liệu thành văn, các bài báo, mạng internet…
Khảo sát thực địa: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp, thăm dò ý kiến người dân thông qua phiếu điều tra tại làng nghề
Phân tích tổng hợp các số liệu thống kê: Thông qua các phiếu điều tra sẽ tổng hợp lại và tiến hành phân tích những số liệu thu thập được
Đối chiếu, so sánh: Đối chiếu, so sánh những thông tin, số liệu đã thu thập được với những thông tin, số liệu trên lý thuyết
Điền dã: Các cuộc trao đổi, phỏng vấn với những người cao niên, những nghệ nhân của làng nghề hiện nay còn sống hoặc hậu duệ của những nghệ nhân xưa hiện đang tiếp tục làm nghề
6 Đóng góp của đề tài
Qua đề tài khóa luận, tác giả mong muốn góp một phần nhỏ bé của cá nhân vào sự phát triển của làng nghề chế biến nước mắm Quỳnh Dị trong hoạt động du lịch, nhằm tạo việc làm ổn định và nâng cao thu nhập cho người dân Bên cạnh đó, tác giả nhấn mạnh việc phát triển làng nghề thủ công truyền thống gắn với phát triển du lịch, tạo ra loại hình du lịch mới cho Quỳnh Lưu
là “Du lịch làng nghề truyền thống”, vừa góp phần làm đa dạng hóa loại hình
du lịch, vừa bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của làng nghề
Trang 11B.NỘI DUNG CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN QUỲNH LƯU
1.1 Vị trí địa lí và tài nguyên thiên nhiên của huyện Quỳnh Lưu
Quỳnh Lưu nằm ở phía bắc tỉnh Nghệ An Tuy đây là huyện đồng bằng nhưng có rừng núi, có biển Diện tích đất tự nhiên là 60.706 ha Dân số tính đến năm 2007 là 360.000 người Quỳnh Lưu là một huyện đồng bằng tương đối rộng, có tọa độ địa lý: Cực Bắc 19º22’12” vĩ độ bắc, cực Nam: 19º0’15”
vĩ độ bắc, cực Tây: 106º5’15” đông kinh tuyến, cực Đông: 105º47’50” đông kinh tuyến Quỳnh Lưu có đường biên giới dài 122 km, trong đó đường biên giới đất liền dài 88 km và 34 km đường biển Khoảng cách từ Huyện lị là Thị trấn Cầu Giát đến Tỉnh lỵ là Thành phố Vinh khoảng 60 km Phía bắc huyện Quỳnh Lưu giáp huyện Tĩnh Gia (Thanh Hóa), có chung địa giới khoảng 24
km với ranh giới tự nhiên là khe nước lạnh Phía nam và tây nam huyện Quỳnh Lưu giáp với huyện Diễn Châu và huyện Yên Thành với ranh giới khoảng 31km Phía tây huyện Quỳnh Lưu giáp huyện Nghĩa Đàn với ranh giới khoảng 33 km được hình thành một cách tự nhiên bằng các dãy núi kéo dài liên tục mà giữa chúng có những đèo thấp tạo ra những con đường nối liền hai huyện với nhau Phía đông huyện Quỳnh Lưu giáp biển Đông
Mặc dù không được ưu dãi về mặt đất đai, song thiên nhiên đã phú cho Quỳnh Lưu có sơn thủy hữu tình Khách bộ hành đi trên con đường thiên lý bắc nam , dù ngoài vào hay trong ra, qua đất Quỳnh Lưu, sẽ thấy phía tây và phía bắc núi non trùng điệp, hòn thấp hòn cao, khi ẩn khi hiện trong làn mây trắng Ngắm cảnh phía đông sẽ thấy những ngọn núi đá nhỏ đứng chơ vơ giữa đồng ruộng, điểm xuyết cho cảnh chí Quỳnh Lưu thêm khối hình, màu sắc Quỳnh Lưu có nhiều ngọn núi: Núi Trụ Hải, núi Bào Đột, núi Tùng Lĩnh…bên cạnh đó thì Quỳnh Lưu còn có nhiều sông, cửa biển là điều kiện
Trang 12thuận lợi cho giao thông đường thủy phát triển, với các sông như: Sông Thai, sông Hoàng Mai…
Đặc biệt Quỳnh Lưu nằm ở khu vực nhiệt đới, nhưng lại ở miền biển nên thường nhận được ba luồng gió: Gió mùa Đông Bắc nằm sâu trong lục địa lạnh lẽo của vùng Sibia và Mông Cổ, từng đợt thổi qua Trung Quốc và vịnh Bắc Bộ tràn về, bà con gọi là gió Bắc Gió mùa Tây Nam ở tận vịnh Bănggan tràn qua lục địạ, luồn qua các dăy Trường Sơn thổi sang mà nhân dân thường gọi là gió Lào, nhưng chính là gió Tây khô nóng Gió mùa Đông Nam mát mẻ
từ biển Đông thổi vào nhân dân gọi là gió nồm
Nhìn chung khí hậu Quỳnh Lưu chia làm hai mùa rõ rệt, mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10 dương lịch, mùa lạnh từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 dương lịch năm sau Về mùa nóng nhiệt độ trung bình 30ºC, có ngày lên tới 40ºC; về mùa lạnh thường có gió mùa Đông Bắc, ít mưa Với một điều kiên địa lý tự nhiên như vậy thì chúng ta có thể thấy rằng Quỳnh Lưu là mảnh đất không được thiên nhiên ưu đãi như các huyện khác trong tỉnh Chính điều đó
đã tác động không nhỏ đến quá trình phát triển của các làng nghề thủ công truyền thống trong huyện
Vùng ven biển bao gồm các xã từ Quỳnh Lộc đến Quỳnh Thọ gồm có
13 xã Phần lớn các xã đều nằm lọt giữa kênh Dâu với biển Đông Kênh Dâu chảy theo chiều Bắc Nam gần như song song với bờ biển nối sông Hoàng Mai với sông Ngọc Để Các xã nằm bên kênh này và kề mép nước, nhân dân Quỳnh Lưu gọi là vùng Bãi Ngang Vùng ven biển Quỳnh Lưu như vừa nói trên là do cát, đất bồn và vỏ các loài nhuyễn thể, nói chung là trầm tích của biển bồi tụ, nên độ màu mỡ có bị hạn chế Tuy là vùng nhỏ, hẹp, song địa hình cũng khá phức tạp, thấp dần về phía đông, độ chênh từ tây xuống đông trung bình 4m, có chỗ 6m so với mặt nước biển Với độ chênh ấy lại đất cát, nên đồng ruộng dễ bị xói mòn, làm cho việc canh tác và cải tạo đất gặp nhiều
Trang 13khó khăn Đất ở đây thành phần đạm, lân, kali đều kém, lượng mùn nghèo Tuy thế đất ở đây vẫn có 2 loại: đất cát pha và đất sét Đất cát pha phần lớn ở các xã Bãi Ngang, ở đây nhân dân trồng lúa lốc vào mùa vụ, ngoài ra trồng ngô, khoai, đậu, lạc, vừng Nơi đất sét nhân dân trồng lúa
Vùng đồng bằng bao gồm 18 xã, bắt đầu từ xã Mai Hùng kéo tới xã Quỳnh Diễn Đây là vùng đất bằng phẳng, khá màu mỡ do sự bồi tụ của các loại trầm tích biển và do sự cải tạo thường xuyên của con người Chính vì thế
mà vùng này trở thành vựa thóc của cả huyện Quỳnh Lưu Ngoài lúa là chủ yếu, nhân dân còn trồng ngô, khoai, đậu, lạc, vừng Từ ngày có nước sông Nông Giang từ Đô Lương chảy về và các đập kênh tưới tiêu, năng suất cây trồng ở vùng này đã nâng cao trông thấy Đây là vùng trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của huyện
Vùng đồi núi, vùng này không chỉ bao gồm các xã phía tây mà còn một
số xã phía bắc huyện Quỳnh Lưu Đây là vùng đất thuận lợi cho trồng các loại cây công nghiệp như chè, mía…ngoài ra còn trồng các loại cây có hạt như Trẩu, Sở Do đồi núi và địa hình bị chia cắt mạnh, song vùng này có khả năng mở rộng diện tích canh tác, phát triển mạnh chăn nuôi, điều hòa dân số
và phát triển cả về nông nghiệp
Như vậy với sự đa dạng của đặc điểm tự nhiên đã tạo cho Quỳnh Lưu một nền kinh tế đa dạng, phù hợp với tính chất của cư dân phương Đông Trong đó nông nghiệp trồng lúa nước vẫn đóng vai trò chủ đạo Tuy nhiên bên cạnh đó thì còn có những làng nghề thủ công nghiệp được hình thành và ngày càng phát triển, bổ sung vào nguồn thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân Bởi vậy cho nên các làng nghề thủ công truyền thống ở Quỳnh Lưu luôn được các cấp chính quyền quan tâm, được lưu truyền và bảo tồn cũng như phát huy từ nơi này đến nơi khác, từ đời này sang đời khác
Trang 14Quỳnh Lưu là một vùng đất cổ có cư dân sinh sống từ rất lâu đời Bằng
chứng là di chỉ văn hóa Quỳnh Văn Ngoài Quỳnh Văn, các di chỉ cồn sò điệp thuộc loại hình văn hóa Quỳnh Văn còn có ở các xã Quỳnh Hoa, Quỳnh Hậu, Quỳnh Xuân, Quỳnh Lương, Mai Hùng Niên đại văn hóa Quỳnh Văn được xác định là ít nhất ở thời kì đồ đá, tức là cách ngày nay khoảng 6000 năm Cư dân nguyên thủy ở Quỳnh Lưu sinh sống thành từng bộ lạc ở vùng lõm, đầm lầy dọc bờ biển Chính bằng lao động của mình, cư dân Quỳnh Lưu đã “khai thiên phá thạch”, vật lộn với thiên nhiên, tạo nên một kì tích hình thành vùng
đất và cộng đồng dân cư thời xa xưa
Tên Quỳnh Lưu xuất hiện vào thế kỉ XV, thời nhà Lê (1430) ở cương vực từ biển Đông lên tận Quỳ Châu gồm 7 tổng phía trên (thuộc đất huyện Nghĩa Đàn hiện nay) và 4 tổng phía dưới (thuộc đất huyện Quỳnh Lưu ngày nay) Từ năm 1430 trở về trước, cương vực Quỳnh Lưu hiện nay thuộc đất Hàm Hoan (tên của vùng Nghệ Tĩnh từ thế kỉ I đến thế kỉ III) Từ cuối thế kỉ III đến đầu thế kỉ IV, Hàm Hoan đổi tên thành Đức Châu Đến giữa thế kỉ VII (năm 650) thời Bắc thuộc, Nghệ Tĩnh hiện nay được gọi là Hoan Châu, rồi đến nửa cuối thế kỉ VIII Hoan Châu được tách ra thành Hoan Châu và Diễn Châu Diễn Châu lúc bây giờ bao gồm các huyện ngày nay của Nghệ An như: Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Quỳ Châu, Quế Phong
Thời nhà Lý, Diễn Châu là một châu,sau đổi thành một lộ và sau nữa đổi thành một phủ, tức là một đơn vị hành chính thuộc chính quyền trung ương từ năm 1010 đến năm 1225, Quỳnh Lưu bấy giờ nằm trong châu, lộ hoặc phủ Diễn Châu
Đến thời Trần, vùng Hoan Châu và Diễn Châu được đổi tên là trại, sau
là lộ, phủ; năm 1397 Diễn Châu được gọi là trấn với tên là Vọng Giang
Trang 15Thời nhà Hồ, trấn Vọng Giang được đổi thành phủ Linh Nguyên (nghĩa
là đất linh thiêng) gồm đất Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu và Nghĩa Đàn ngày nay
Đến thời Lê, Diễn Châu chỉ là một phủ của Nghệ An Phủ Diễn Châu thời kì này bao gồm hai huyện là Đông Thành và Quỳnh Lưu Như vậy tên
“Quỳnh Lưu” lần đầu tiên xuất hiện dưới thời nhà Lê với niên đại được xác định là năm 1430
Từ mốc thời gian thành lập huyện Quỳnh Lưu trở đi tức là đến thời nhà Nguyễn, năm Minh Mệnh thứ 12(1831) cả nước chia thành 29 tỉnh, trong đó tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh được lập riêng Quỳnh Lưu là đơn vị hành chính thuộc phủ Diễn Châu của tỉnh Nghệ An gồm 11 tổng Từ năm Minh Mệnh thứ 21(1840) , 7 tổng ở vùng trên được tách thành huyện Nghĩa Đường (sau đổi tên thành Nghĩa Đàn) 4 tổng còn lại (Quỳnh Lâm, Hoàng Mai, Hoàn Hậu, Thanh Viên) là huyện Quỳnh Lưu như hiện nay thuộc phủ Diễn Châu
Đến thời kì Thực dân Pháp đô hộ Việt Nam năm 1919, chính quyền Thực dân phong kiến bỏ cấp phủ, Quỳnh Lưu trở thành đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh,không còn là cấp dưới thuộc Diễn Châu nữa
Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (2/9/1945), địa giới huyện Quỳnh Lưu về cơ bản không có gì thay đổi lớn.Tuy nhiên một số làng phía bắc huyện Diễn Châu và huyện Yên Thành được sát nhập vào huyện Quỳnh Lưu.Từ đó đến nay, một số tên xã cũng được thay đổi.Theo đà phát triển của kinh tế - xã hội, các đơn vị hành chính cấp xã trong huyện Quỳnh Lưu có thể còn thay đổi theo hướng lập ra những đơn vị mới trên cơ sở tách
ra từ những đơn vị cũ
Trước khi chia tách,huyện Quỳnh Lưu có 43 đơn vị hành chính gồm 2 thị trấn: Cầu Giát (huyện lị), Hoàng Mai và 41 xã: Mai Hùng, Quỳnh Vinh, Quỳnh Lộc, Quỳnh Lập, Quỳnh Dị, Quỳnh Phương, Quỳnh Liên, Quỳnh
Trang 16Xuân, Quỳnh Trang, An Hòa, Ngọc Sơn, Quỳnh Đôi, Quỳnh Bá, Quỳnh Bảng, Quỳnh Châu, Quỳnh Diễn, Quỳnh Giang, Quỳnh Hồng, Quỳnh Hậu, Quỳnh Hưng, Quỳnh Hoa, Quỳnh Lâm, Quỳnh Lương, Quỳnh Long, Quỳnh Minh, Quỳnh Mĩ, Quỳnh Ngọc, Quỳnh Nghĩa, Quỳnh Tân, Quỳnh Tam, Quỳnh Thắng, Quỳnh Thạch, Quỳnh Thọ, Quỳnh Thanh, Quỳnh Thuận, Quỳnh Yên, Quỳnh Văn, Sơn Hải, Tân Sơn, Tiến Thủy, Tân Thắng
Ngày 3/4/2013, toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thị trấn Hoàng Mai và 9 xã: Mai Hùng, Quỳnh Vinh, Quỳnh Lộc, Quỳnh Lập, Quỳnh Dị, Quỳnh Phương, Quỳnh Liên, Quỳnh Xuân, Quỳnh Trang được tách ra thành lập thị xã Hoàng Mai
1.3 Con người
Thời nguyên thủy cách chúng ta 5 – 6000 năm đã có cư dân trên đất Quỳnh Lưu Họ sống trên các đồi điệp, đã để lại một nền văn hóa mới mà các nhà khảo cổ học, sử học gọi là “Văn hóa Quỳnh Văn”
Người nguyên thủy sống ở Quỳnh Lưu từ văn hóa Quỳnh Văn (sơ kì đồ
đá mới) đến văn hóa Đông Sơn (đồ đồng) ở Đồi Đền (Quỳnh Hậu) Vùng ven biển do có các dòng hải lưu xuôi ngược, do có hiện tượng sóng nhào, gió, sự bồi tụ của các loại nhuyễn thể nói chung là trầm tích biển, cát, phù sa…nên hình thành các dải cồn cát cho nên cư dân đến cư trú sớm hơn đồng bằng Ví
dụ như ở Tiến Thủy, Quỳnh Phương, Quỳnh Lập…
Suốt thiên niên kỉ thứ nhất đến đầu thiên niên kỉ thứ hai, cư dân trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu đã lan dần từ vùng bán sõn ðịa phía tây và vùng phía tây bắc xuống các cồn gò, các rệ đất ven núi, ven đồi Nước biển lùi đến đâu,
họ đắp đập ngăn mặn đến đó và lập các trang trại
Suốt cả đời Lý và đời Trần là thời gian mà tiền nhân của cư dân Quỳnh Lưu hiện tại đã chế ngự thiên nhiên, mở rộng đất đai Đây là thời gian không
Trang 17chỉ Quỳnh Đôi ra đời mà Quỳnh Yên, An Hòa, Quỳnh Hồng, Quỳnh Bảng, Quỳnh Giang,Quỳnh Thạch, Quỳnh Hưng, Quỳnh Bá…đều có người cư trú Như vậy vào cuối đời Trần, tuy còn thưa thớt nhưng khắp địa bàn Quỳnh Lưu đều có cư dân sinh sống
Từ đời Lê trở về sau, trên địa bàn Quỳnh Lưu việc khai khẩn được đẩy mạnh hơn Song dù là người ở ngoài Bắc vào hay là người từ các xã cũ của Quỳnh Lưu san ra, cũng chỉ là chen vào những vùng đồng bằng nước mặn, cư dân thưa thớt như Phú Minh (Quỳnh Minh) là từ Thổ Đôi xuống, Hiền Lương (Quỳnh Lương) là từ Tân Cự sang
Từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945, cư dân Quỳnh Lưu lại có hiện tượng ngược lại là không từ miền tây hay tây bắc xuống nữa mà các xã vùng giữa hay vùng biển lại chuyển cư lên để lập xã mới, chưa kể những xã có hiện tượng “đắm dân”, bốn xã mới ra đời là: Quỳnh Tân, Quỳnh Thắng, Ngọc Sơn, Tân Sơn Điều này là do tăng trưởng dân số, song cũng còn là do sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật, con người chế ngự được thiên nhiên mạnh mẽ hơn Trong cư dân Quỳnh Lưu, ngoài người bản địa, còn có người từ Trung Quốc sang mà rõ nhất là họ Hồ từ đời Hồ Hưng Dật, có người từ ngoài Bắc từ Thanh Hóa vào, có người từ Hà Tĩnh ra hay các huyện khác ở Nghệ An đến
Có người Việt, có bà con dân tộc ít người (người Man Thanh) Họ đến Quỳnh Lưu vào nhiều thời điểm khác nhau với nhiều lí do khác nhau nhưng giờ đây thời gian đã xóa nhòa gốc gác xa xưa của họ Họ chỉ biết mình là người Quỳnh Lưu, đi đâu, ở đâu cũng nhớ mình là người Quỳnh Lưu, địa đầu của xứ Nghệ
Con người Quỳnh Lưu còn được biết đến bởi sự thật thà, chân thành , cần cù, kiên cường và bất khuất Trong các cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc hay trong quá trình lao động sản xuất mọi người đều có tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, tích cực giúp đỡ lẫn nhau hoàn thành công việc
Trang 18Ngày nay có những người con nổi tiếng như: Chính khách Hồ Đức Việt, nhà báo Hồ Anh Dũng; Trung tướng Lê Nam Phong; PGS,TS,NGND Phan Đức Dư (giám đốc Học viện An ninh nhân dân); GS Phan Cự Đệ; GS Phan Nguyên Di; nhà văn Nguyễn Minh Châu; nhà văn Bùi Hiển; nhà thơ Hoàng Trung Thông; nhà thơ Tú Mỡ; Thiếu tướng, nhạc sĩ An Thuyên; các anh hùng: Cù Chính Lan, Hoàng Hữu Nhất, Hoàng Quốc Đông, Nguyễn Thị Hồng, Nguyễn Thị Minh Châu…
1.4 Truyền thống lao động, sản xuất
Quỳnh Lưu là mảnh đất có đầy đủ ba yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” nên cư dân ở đây đã nhanh chóng tiếp nhận và phát huy những thế mạnh của vùng Trải qua chiều dài thời gian và những bước thăng trầm của lịch sử, nhân dân huyện Quỳnh Lưu đã tích cực tham gia sản xuất và đạt được những thành tựu đáng kể trong các lĩnh vực: Nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ… Nông nghiệp là ngành sản xuất chính và đem lại nguồn thu nhập chủ yếu cho bà con nơi đây Sản phẩm sản xuất được thường phục vụ cho đời sống hàng ngày
Tùy thuộc vào đặc điểm địa hình, nguồn nước, dân cư, xã hội mà cư dân nơi đây đã hình thành nên những phương thức canh tác phù hợp Ở vùng trung du, người dân thường trồng các loại cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả…Còn ở vùng đồng bằng thì cư dân thường trồng lúa và các loại cây công nghiệp ngắn ngày: lạc, ngô, rau màu…Đối với những cư dân miền biển thì việc khai thác và chế biến hải sản là chủ yếu
Chính những truyền thống lao động, sản xuất này đã góp phần hình thành tính cách, phẩm chất cho người Quỳnh Lưu nói riêng và nhân dân cả nước nói chung
Trang 19Hiện nay, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp, truyền thống lao động, sản xuất của cư dân Quỳnh Lưu ngày càng phát huy hiệu quả, xây dựng nền kinh tế huyện nhà vững mạnh và góp phần phát triển đất nước
Trang 20
CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ Ở
HUYỆN QUỲNH LƯU 2.1 Giới thiệu khái quát về làng nghề thủ công truyền thống ở huyện Quỳnh Lưu
2.1.1 Quan niệm về làng nghề, làng nghề thủ công truyền thống
Làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một thôn (làng) có một hay một số nghề tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh độc lập, chiếm
ưu thế về số hộ, số lao động và tỉ trọng so với nghề nông
Như vậy, tiêu chí nhận biết làng nghề rõ nhất là thông qua % lao động làm nghề và tỉ trọng thu nhập từ ngành nghề thủ công trong cơ cấu kinh tế chung Song định mức cụ thể các tiêu chí này vẫn chưa thống nhất
Trang 21a) Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn
b) Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu hai năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận
c) Chấp hành tốt chính sách Pháp luật, Nhà nước
- Quan niệm về nghề thủ công truyền thống
Theo tác giả Bùi Văn Vượng, nghề thủ công truyền thống cần hội tụ đủ các yếu tố:
a) Đã hình thành và phát triển lâu đời
b) Sản xuất tập trung tạo thành làng nghề, phố nghề
c) Có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề
d) Kĩ thuật và công nghệ khá ổn định
e) Sử dụng nguyên liệu tại chỗ, trong nước hoàn toàn hoặc chủ yếu nhất Sản phẩm tiêu biểu, độc đáo của Việt Nam có giá trị và chất lượng cao, vừa là hàng hóa, vừa là sản phẩm văn hóa nghệ thuật, mỹ thuật, thậm chí trở thành di sản văn hóa của dân tộc, mang bản sắc văn hóa của Việt Nam
Là nghề nghiệp nuôi sống của một bộ phận dân cư của cộng đồng, có đóng góp đáng kể vào ngân sách Nhà nước
- Quan niệm về làng nghề thủ công truyền thống
Theo tác giả Bùi Văn Vượng: “Làng nghề thủ công truyền thống là trung tâm sản xuất hàng thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính truyền thống lâu đời có sự liên kết hỗ trợ sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểu doanh nghiệp vừa và nhỏ, có
Trang 22và gia tộc Sự liên kết, hỗ trợ nhau về nghề, kinh tế, kĩ thuật, đào tạo thợ trẻ giữa các gia đình cùng dòng tộc, cùng phường nghề trong quá trình lịch sử hình thành làng nghề ngay trên đơn vị cư trú, làng xóm của họ”
Theo Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn:
Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống, trong đó nghề truyền thống có tiêu chí:
a) Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm trở lên tính đến thời điểm đề nghị công nhận
b) Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc
c) Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề
Đối với những làng chưa đạt tiêu chuẩn của tiêu chí công nhận làng nghề nhưng có ít nhất một nghề truyền thống được công nhận theo quy định này thì cũng được công nhận là làng nghề truyền thống
Ở Việt Nam hiện nay có gần 2000 làng nghề, phân bố khắp cả nước, tập trung đông nhất ở Đồng bằng sông Hồng trong đó chỉ có khoảng 15% là các làng nghề truyền thống
2.1.2 Đặc điểm của làng nghề thủ công truyền thống
2.1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Các làng nghề thủ công truyền thống vốn xuất hiện sớm trong lịch sử dân tộc ta nói chung và trong lịch sử Quỳnh Lưu nói riêng Trong số những làng nghề thủ công đang hiện diện, nhiều làng nghề đã hình thành từ xưa, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và thường được gọi là những làng nghề thủ công truyền thống Cùng với sự phát triển của nền văn minh nông
Trang 23nghiệp từ hàng ngàn năm trước đây, nhiều nghề thủ công đã ra đời tại các vùng nông thôn Việt Nam, việc hình thành các làng nghề bắt đầu từ những nghề ban đầu được cư dân tranh thủ làm lúc nông nhàn, những lúc không phải
là mùa vụ chính
Bởi lẽ trước đây kinh tế của người Việt Cổ chủ yếu sống dựa vào viêc trồng lúa nước mà nghề trồng lúa không phải lúc nào cũng có việc Thông thường chỉ những ngày đầu vụ hay những ngày cuối vụ thì người nông dân mới có việc làm nhiều, vất vả như: Cày bừa, cấy, làm cỏ, cho đến gặt lúa, phơi khô…Còn những ngày còn lại thì nhà nông nhàn hạ, rất ít việc dể làm
Từ đó nhiều người đã bắt đầu tìm kiếm thêm công việc phụ để làm nhằm mục đích ban đầu là cải thiện bữa ăn và những nhu cầu thiết yếu hàng ngày, về sau
là tăng thêm thu nhập cho gia đình
Theo thời gian, nhiều nghề phụ ban đầu đã thể hiện vai trò to lớn của nó, mang lại lợi ích thiết thực cho cư dân Như việc làm ra các đồ dùng bằng mây, tre phục vụ sinh hoạt hay đồ đồng, đồ sắt hay phục vụ sản xuất Nghề phụ từ chỗ chỉ phục vụ nhu cầu riêng đã trở thành hàng hóa để trao đổi, đã mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho người dân vốn trước đây chỉ trông chờ vào các vụ lúa Từ chỗ chỉ một vài nhà trong làng làm, nhiều gia đình khác cũng học làm theo, nghề từ đó mà lan rộng ra phát triển trong cả làng, hay nhiều làng gần nhau Và cũng chính nhờ những lợi ích khác nhau do các nghề thủ công đem lại mà trong mỗi làng bắt đầu có sự phân hóa Nghề đem lại lợi ích nhiều thì phát triển mạnh dần, ngược lại những nghề mà hiệu quả thấp hay không phù hợp với làng thì dần bị mai một Từ đó bắt đầu hình thành nên những làng chuyên sâu vào một nghề duy nhất nào đó như: Làng mây tre đan, làng mộc…
Ở Quỳnh Lưu, các làng nghề truyền thống mặc dù có quá trình hình thành và phát triển giống nhau, tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau mà
Trang 24mà các làng nghề ở Quỳnh Lưu khẳng định được vị trí của mình trong đời sống cũng như trong xã hội
2.1.2.2 Đặc điểm của làng nghề thủ công truyền thống
Quỳnh Lưu là một huyện đồng bằng tương đối rộng, trên địa bàn Quỳnh Lưu hiện nay có tới hơn mấy chục làng nghề thủ công truyền thống Trong đó có nhiều làng nghề nổi tiếng không chỉ trong vùng mà còn nổi tiếng
ra các huyện và các tỉnh lân cận: Nghề chế biến nước mắm ở làng Phú Lợi, xã Quỳnh Dị Chính nhờ những làng nghề này và sản phẩm của nó đã góp phần
tô thêm vẻ đẹp cũng như nét riêng cho huyện Quỳnh Lưu
Trải qua những bước thăng trầm của lịch sử, sự biến động của xã hội, không ít làng nghề ở Quỳnh Lưu dần dần bị mai một, rồi mất đi nhưng hệ quả của nó là sự ra đời của các làng nghề khác Ở Quỳnh Lưu bên cạnh những làng nghề có tuổi nghề mấy năm lại đây thì vẫn đang còn tồn tại nhiều làng nghề có tuổi nghề hàng trăm năm như: Nghề chế biến nước mắm Quỳnh Dị… Những làng nghề này trong quá trình tồn tại và phát triển của mình đã tạo ra được những giá trị về kinh tế, xã hội, văn hóa vô cùng quan trọng góp phần thúc đẩy kinh tế Quỳnh Lưu ngày một phát triển đi lên Những sản phẩm tạo
ra từ các làng nghề thủ công truyền thống ở Quỳnh Lưu nó đã chứng tỏ được khả năng sáng tạo trình độ kĩ thuật cao cũng như là phản ánh đời sống vật chất và tinh thần cư dân Quỳnh Lưu
Đặc điểm nổi bật nhất của làng nghề chính là tồn tại ở vùng nông thôn, gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp, người thợ thủ công trước hết và đồng thời là người nông dân
Hai là, công nghệ kĩ thuật sản xuất sản phẩm trong làng nghề thường rất thô sơ, sử dụng kĩ thuật thủ công là chủ yếu, công cụ lao động cũng là những vật dụng thủ công như: Chum, vại, chượp…
Trang 25Ba là, đại bộ phận nguyên vật liệu của các làng nghề thường là tại chỗ Hầu hết các làng nghề truyền thống được hình thành xuất phát từ sự sẵn có của nguồn nguyên liệu sẵn có tại chỗ, trên địa bàn địa phương
Bốn là, thị trường tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề hầu hết mang tính địa phương, tại chỗ và nhỏ hẹp, bởi sự ra đời của các làng nghề, đặc biệt
là các làng nghề truyền thống, xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu về hàng tiêu dùng tại chõ của các địa phương Ở mỗi làng nghề hoặc một cụm làng nghề đều có các chợ dùng làm nơi trao đổi, buôn bán, tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề Cho đến nay, thị trường về làng nghề cơ bản vẫn là các địa phương, trong tỉnh hay liên tỉnh và một phần cho xuất khẩu
Năm là, hình thức tổ chức trong các làng nghề chủ yếu là ở quy mô hộ gia đình, một số đã có sự phát triển thành tổ chức hợp tác và doanh nghiệp tư nhân
Và một đặc điểm nữa của các làng nghề thủ công truyền thống ở Quỳnh Lưu nói riêng và cả nước nói chung đó là tạo ra được việc làm ngay cả cho những người có trình độ thấp, nâng cao thu nhập cho người dân, góp phần quan trọng vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn thúc đẩy việc chuyển dịch cơ cấu lao động theo xu hướng tích cực, giảm dần lao động trong nông nghiệp, tăng số lao động tham gia làm việc trong các làng nghề tiểu thủ công nghiệp
Hiện nay, được sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp chính quyền, các làng nghề thủ công truyền thống ở huyện Quỳnh lưu có điều kiện để phát triển hơn Bên cạnh đó thì một số làng nghề còn vấp phải những khó khăn trong quá trình sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm Tuy nhiên những khó khăn này sẽ dần dần được khắc phục trong thời gian tới để đưa quê hương Quỳnh Lưu phát triển sánh ngang với các huyện khác trong tỉnh
Trang 26truyền thống ở Quỳnh Lưu
Nghề thủ công truyền thống gắn liền với nhu cầu của con người, bởi vậy còn sự tồn tại của con người là còn nghề thủ công hoạt động Do đó nó chịu sự tác động của những nhân tố sau đây:
Trước hết đó là nhu cầu của con người về hàng thủ công truyền thống Nhu cầu này rất lớn và hết sức đa dạng, thời nào cũng có, không bao giờ chấm dứt bởi vì nó đã gắn liền với cuộc sống của mỗi con người, không chỉ
đó là đời sống sinh hoạt như: ăn, mặc, ở…mà đó cũng là nhu cầu tâm linh Đây là nhu cầu thiết yếu xuyên suốt chiều dài lịch sử
Mặt khác, sự phát tiển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật đã tác động sâu sắc tới quá trình phục hồi và phát triển của những nghề thủ công truyền thống Tuy vậy các nghề thủ công truyền thống cần phải tiếp cận với những tiến bộ khoa học kĩ thuật vừa phải tạo ra sự tinh tế trong kĩ thuật và kinh nghiệm truyền thống Chính vì vậy mà các sản phẩm của các làng nghề thủ công truyền thống luôn giữ được chỗ đứng trong lòng người tiêu dùng và ngày được sử dụng rộng rãi trong xã hội
Như vậy có nhu cầu về hàng thủ công, tất phải có sản xuất hàng thủ công truyền thống Nhu cầu càng lớn, càng bền vững thì việc sản xuất ở các làng nghề càng ổn định, càng phát triển lâu dài Ngược lại một khi những mặt hàng thủ công không còn người tiêu dùng ưa chuộng, mến mộ nếu không kịp thời thay đổi sản phẩm thì nghề thủ công đó khó có thể tồn tại và đứng vững trong xã hội được
Trình độ của nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng tới nghề thủ công truyền thống Cần phải thấy được rằng, vai trò của nghệ nhân và những thợ lành nghề có vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của các làng nghề thủ công truyền thống
Trang 27Không có nghệ nhân thì không có nghề hoặc ít nhất là không có thương hiệu lớn trong xã hội Chính tài năng của các nghệ nhân với “đôi tay vàng” của họ
đã tạo nên những sản phẩm quý giá và độc đáo, tạo ra những sản phẩm không chỉ có giá trị về mặt vật chất mà còn có giá trị về mặt văn hóa, sống mãi với thời gian góp phần làm vẻ vang cho quê hương đất nước, tạo nên nét riêng, nét độc đáo và truyền thống cho quê hương Chính nghệ nhân, người thợ cả là nhân tố hàng đầu cho sự tồn tại của các nghề thủ công truyền thống, đã tạo ra những nhóm thợ mà trước hết là con cháu họ, những người trong gia đình, rồi những người trong làng Cứ như vậy các nghệ nhân đã tạo ra một đội ngũ thợ lành nghề ngay tại làng xóm của mình Những nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề họ có thể tiến hành công việc của mình từ khâu mua nguyên, vật liệu, chế biến nguyên liệu và cuối cùng là tổ chức tiêu thụ các sản phẩm hàng hóa của mình Bởi vậy mà họ có vai trò hết sức quan trọng, to lớn ðối với nghề thủ công truyền thống trong việc giữ gìn và phát huy những nghệ nhân và bí quyết nghề nghiệp Đồng thời chính họ còn là những người có kĩ thuật và kinh nghiệm lâu đời, đã tạo ra những sản phẩm độc đáo có kĩ thuật cao Vì thế cho nên nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề là nhân tố quan trọng để nghề thủ công truyền thống tồn tại và phát triển Ngược lại một khi không có đội ngũ thợ lành nghề thì nghề nghiệp cũng không còn nữa
Đặc biệt yếu tố địa lí – môi trường của làng nghề cũng có tác động rất lớn, có ý nghĩa quyết định tới sự hình thành và đảm bảo sự tồn tại, phát triển lâu dài đối với nghề thủ công truyền thống Thông thường những nơi có nghề thủ công phát triển thường tập trung ở các làng xã, chính vì thế mà nó rất thuận tiện về giao thông thủy bộ, gần nguồn nguyên liệu Quỳnh Lưu là một huyện đồng bằng ven biển, đất đai bằng phẳng, hệ thống giao thông đường bộ
và đường thủy lại rất phát triển Chính điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nghề thủ công truyền thống trong quá trình vận chuyển nguyên liệu buôn
Trang 28truyền thống
Ngoài những yếu tó trên thì một yếu tố khác nữa cũng có tác động đến nghề thủ công truyền thống đó chính là chính sách của Đảng và Nhà nước ta Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách nhằm xây dựng và phát triển các nghề thủ công truyền thống Ngoài những chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với các làng nghề thủ công truyền thống trên phương diện cả nước thì do tính đặc thù của mỗi địa phương do đó mỗi địa phương thì do những chính sách riêng để nhằm xây dựng và phát triển làng nghề Nghị quyết 06- NQ/TƯ ngày 08/08/2001 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về việc phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp và xây dựng làng nghề tỉnh Nghệ An giai đoạn 2001- 2005 có tính đến năm 2010 và quyết định số 3465 QĐ – UB ngày 23/09/2002 của Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An về việc phê duyệt đề án thực hiện nghị quyết 06- NQ/TƯ của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Thực hiện nghị quyết số 07 của Ban chấp hành huyện ủy Quỳnh Lưu khóa 24 Thực hiện đề
án của Ủy ban nhân dân huyện về phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 2003 – 2005 có tính đến 2010
Các chính sách của Trung Ương
Nghị quyết số 134/NĐ – CP ngày 09/06/2004 của chính phủ về khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn Thông tư liên tịch số 36/2005/TTLT – BTC – BCN của Bộ tài chính và Bộ công nghiệp ngày 16/05/2005 hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp kinh tế đối với hoạt động khuyến công Thông tư 03/05/2005 /TT – BCN của Bộ công nghiệp ngày 23/06/2005 hướng dẫn thực hiện một số nội dung của nghị định 134/2004
NĐ – CP ngày 09/06/2004 của Chính phủ về khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn Nghị định 66/2006/NĐ – CP của Chính phủ ngày 07/07/2006 về phát triển ngành nghề ở nông thôn
Trang 29Chính sách của tỉnh Nghệ An
Quyết định số 82/2004/QĐ – UBND ngày 02/08/2004 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc ban hành quy định chính sách khuyến nông phát triển tiểu thủ công nghiệp, nghề và làng nghề trên địa bàn tỉnh Quyết định số 109/2004/QĐ – UBND ngày 29/10/2004 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc ban hành quy chế quản lí, sử dụng quỹ khuyến nông
Các chính sách của làng nghề đã được hưởng
Hỗ trợ 20.000.000 đồng làm đường cấp phối để xây dựng làng nghề, tặng thưởng 30.000.000 đồng đạt danh hiệu làng nghề tiểu thủ công nghiệp Được hỗ trợ đào tạo nghề cho 75 lao động tham gia, hỗ trợ kinh phí xây dựng đường nhựa làng nghề dài 2km trị giá 1,2 tỷ đồng
Từ đó thấy rằng các chính sách của Nhà nước cũng như của chính quyền địa phương đã tạo cho làng nghề có một bộ mặt khởi sắc và tiếp tục đưa làng nghề ngày càng phát triển cao hơn
Như vậy, điều kiện địa lí tự nhiên cũng như môi trường thể chế, chính sách và pháp luật của Nhà nước có ý nghĩa quyết định và trực tiếp tác động đến sự phát triển và bền vững đối với các làng nghề thủ công truyền thống Sự tác động này đã ảnh hưởng lớn đến sự phát triển hưng thịnh hay suy yếu của làng nghề thủ công truyền thống
2.2 Đánh giá tiềm năng làng nghề chế biến nước mắm Phú Lợi (Quỳnh
Dị, Quỳnh Lưu, Nghệ An) đối với sự phát triển du lịch
2.2.1 Đặc điểm trường hợp nghiên cứu và mẫu khảo sát
2.2.1.1 Đặc điểm trường hợp nghiên cứu
Đề tài đã chọn trường hợp làng nghề chế biến nước mắm truyền thống Phú Lợi, Quỳnh Dị, Quỳnh Lưu, Nghệ An để nghiên cứu bởi đây là làng nghề
Trang 30huyện Quỳnh Lưu
Thứ nhất, làng chế biến nước mắm truyền thống Phú Lợi là làng nghề truyền thống điển hình bởi đây đã hội tụ đầy đủ những tiêu chí công nhận là làng nghề truyền thống theo quy định của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Làng chế biến nước mắm truyền thống Phú Lợi đã được công nhận là làng nghề xét theo các tiêu chí sau:
Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia vào các hoạt động ngành nghề nông thôn: Xã Quỳnh Dị là một xã ven biển nên người dân trên địa bàn chủ yếu là tham gia vào hoạt động ngư nghiệp
Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu hai năm tính đến thời điểm
đề nghị công nhận: Làng nghề đã có hoạt động sản xuất kinh doanh truyền thống lâu đời, đây là nghề chính và đem lại nguồn thu nhập chủ yếu cho người dân từ trước năm 2005 (thời gian làng nghề được công nhận)
Chấp hành tốt chính sách của Pháp luật, Nhà nước
Thứ hai, làng chế biến nước mắm truyền thống Phú Lợi đã thể hiện đầy đủ tất cả các đặc trưng của làng nghề truyền thống trong huyện Quỳnh Lưu
Từ xa xưa, người dân nơi đây đã biết đến nghề làm nước mắm Ban đầu chỉ có một số hộ gia đình làm nhỏ, lẻ, chủ yếu phục vụ trong phạm vi gia đình Khi sản phẩm làm ra nhiều, ăn không hết, họ đã đem ra chợ trao đổi, buôn bán với mục đích kiếm thêm thu nhập Dần dần, tất cả mọi người dân trong làng học theo, từ già trẻ cho đến gái trai đều tham gia vào quá trình sản xuất, chế biến sản phẩm làng nghề Chính những bí quyết gia truyền cộng với điều kiện tự nhiên thuận lợi đã góp phần tạo nên thương hiệu “ Nước mắm
Trang 31Quỳnh Dị” nổi tiếng khắp cả nước Đời sống của bà con nhân dân dần được cải thiện
Hiện nay, trình độ khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển, nông nghiệp được cơ giới hóa nhưng bà con nơi đây vẫn giữ phương pháp sản xuất thủ công truyền thống, cổ truyền, không áp dụng bất kì công nghệ hiện đại hay máy móc tiên tiến nào Chính vì vậy mà vào năm 2005, làng Phú Lợi đã được công nhận là “ làng nghề tiểu thủ công chế biến hải sản Phú Lợi - Quỳnh Dị - Quỳnh Lưu - Nghệ An” Đây là bước ngoặt lớn thúc đẩy sự phát triển của làng nghề
Hệ thống cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật được đầu tư xây dựng, làng nghề đã được Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp quan tâm, hưởng nhiều chính sách nhằm tạo điều kiện khuyến khích phát triển làng nghề thủ công truyền thống
2.2.1.2 Đặc điểm mẫu khảo sát
Để đánh giá một cách chân thực, đầy đủ và khách quan, đề tài đã tiến hành khảo sát dựa trên bảng hỏi và một số bản phỏng vấn sâu đối với các đối tượng như sau:
Đặc điểm của đối tượng điều tra theo bảng hỏi:
Độ tuổi: từ 28 đến 65 tuổi
Giới tính: Cả nam và nữ
Nghề nghiệp: Chủ yếu là ngư dân
Nơi cư trú: Khối Phú Lợi 1 và Khối Phú Lợi 2
Đặc điểm của mẫu phỏng vấn sâu:
Trang 32như sau:
1) Họ tên: Bác Trần Tân Mân, 60 tuổi
Chức vụ: Nguyên là chủ nhiệm Hợp Tác Xã làng nghề
Nơi cư trú: Khối Phú Lợi 2
2) Họ tên: Bác Trần Văn Lê, 58 tuổi
Chức vụ: Khối trưởng Khối Phú Lợi 2
Nơi cư trú: Khối Phú Lợi 2
3) Họ tên: Bác Nguyễn Đức Xân, 55 tuổi
Chức vụ: Hội trưởng Hội làng nghề
Nơi cư trú: Khối Phú Lợi 1
4) Họ tên: Cụ Lê Quang Đại, 80 tuổi
Theo bác Trần Văn Lê, khối trưởng khối Phú Lợi 2 cho biết: “Làng nghề
chế biến nước mắm Quỳnh Dị đã có từ lâu đời, xa xưa, được ông cha truyền
Trang 33lại và ông là thế hệ thứ 3 kế tục nghề nghiệp gia truyền của gia đình” [Phỏng
vấn sâu số 2, bác Trần Văn Lê, 58 tuổi, Khối trưởng khối Phú Lợi 2]
Trước kia nơi đây vốn là một gò đất trống giáp biển, người dân ở khắp mọi nơi từ Diễn Châu (Diễn Ngọc, Diễn Vạn, Diễn Kim), Nghi Lộc, Thanh Hóa, hội tụ về đây định cư sinh sống tạo nên làng Phú Lợi ngày nay, họ sống chủ yếu dựa vào nghề đánh bắt hải sản gần bờ, với phương tiện hết sức thô sơ
Điều kiện tự nhiên đã ban tặng cho vùng đất này những thuận lợi to lớn, vốn là vùng giáp biển, vùng biển lắm sinh vật phù du, nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao và giàu lượng đạm như: Cá hố, cá thu, cá ngừ, cá chim, đặc biệt là cá cơm, là loại cá phù hợp nhất cho các ngư dân trong làng làm nghề chế biến nước mắm Bởi thế từ rất sớm người dân từ khắp mọi nơi đã hội tụ
về đây lấy nghề đánh bắt hải sản làm nghề chính, mà trước đây người ta quen gọi là “dân vạn chài” Cuộc sống của họ gắn với biển cả, với những phương tiện đánh bắt thô sơ, đánh bắt gần bờ Ban đầu hải sản đánh bắt được một phần đem về phục vụ cho gia đình, một phần đem bán hoặc trao đổi trong làng, trong xã lấy thực phẩm và hàng tiêu dùng cho gia đình, dần dần hải sản đánh bắt được ngày càng nhiều đem dùng trong gia đình và tiêu thụ trong làng, trong xã không hết, họ đem phơi khô và muối phục vụ cho gia đình mình
Ban đầu chỉ một, hai gia đình làm với một vài vại nhỏ Cuộc sống nay đây mai đó trên sông, trên biển quần quật quanh năm nhưng vẫn không đủ sống, trong khi số hải sản họ đánh bắt được lại dư thừa, tiêu thụ không hết Để khắc phục những khó khăn đó nhiều người dân trong làng đã đi khắp nơi đến các nghề ven biển học nghề làm nước mắm, tiêu biểu như cụ Hoàng Đức Phơn, cụ là người đầu tiên ra Cát Hải – Hải Phòng học nghề làm nước mắm,
về truyền lại cho con cháu và nhiều hộ gia đình trong làng
Trang 34dạng, cùng với cái khắt khe của gió tây nam, tưởng chừng như đó là sự khắt khe của tự nhiên đối với làng quê Phú Lợi Thế nhưng những người dân nơi đây đã vượt mọi khó khăn, lợi dụng cái nắng, cái gió khắt khe đó để sống bằng nghề làm nước mắm Có lẽ cũng chính vì cái khắt khe đó tưởng chừng như đe dọa cuộc sống của con người nơi đây lại rèn luyện con người nơi đây cứng cỏi hơn và đây cũng chính là một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho nước mắm ở đây thơm ngon thậm chí còn ngon hơn cả những nơi mà
họ đã từng đến học nghề
2.2.3 Quá trình phát triển
Lịch sử có những bước thăng trầm và nghề làm nước mắm ở làng Phú Lợi cũng có nững bước thăng trầm nhất định:
Thời kì kháng chiến chống Pháp
Làng Phú Lợi là một gò đấy nổi, nằm ven sông Hoàng Mai, ngay từ thời
kì này người dân ở khắp nơi hội tụ về đây sinh sống, chủ yếu dựa vào đánh bắt hải sản gần bờ, cuộc sống gắn bó với sông, biển, mà trước đây người ta thường gọi là những người “dân vạn chài” Hải sản đánh bắt được tiêu thụ không hết, để tận dụng sản phẩm sản phẩm dư thừa, họ đã đem muối làm nước mắm Tuy nhiên thời kì này nước mắm làm ra chủ yếu để phục vụ cho gia đình chỉ mới một số ít gia đình làm, nước mắm chưa phải là nghề chính nuôi sống gia đình, vì thế có thể xem đây là thời kì hình thành phôi thai của nghề làm nước mắm ở làng Phú Lợi
Sống trên mảnh đất hẹp, không có điều kiện để mở rộng sản xuất, người dân nơi đây chủ yếu dựa vào đánh bắt hải sản ven bờ Từ thời Pháp thuộc nghề làm nước mắm đã hình thành phôi thai, đến thời kì này nhiều ngư dân làng Phú Lợi đã đi khắp các nơi đến các vùng ven biển học nghề làm nước mắm như ở Cát Hải – Hải Phòng, về làm nước mắm, vì vậy đến thời kì này
Trang 35nghề làm nước mắm mới thực sự hình thành ở làng Phú Lợi, ở thời kì này sản phẩm nước mắm làm ra không chỉ để phục vụ cho gia đình mà còn đem trao đổi, buôn bán trong làng xã, các hộ gia đình trong làng gây dựng tu bổ được một số cơ sở vật chất
Cuộc cách mạng tháng Tám giành được thắng lợi chưa được bao lâu thì Pháp quay trở lại xâm lược nước ta Chiến tranh đã tàn phá tất cả những cơ sở vật chất ban đầu của ngư dân Phú Lợi, lực lượng đánh bắt hải sản chủ yếu là thanh niên, trai tráng ra chiến trường, bởi vậy nguồn nguyên liệu hải sản dùng
để làm nước mắm thiếu trầm trọng, nghề làm nước mắm ở đây không có điều kiện phát triển, mở rộng sản xuất
Thời kì kháng chiến chống Mỹ
Ngày 10/10/1954, quân Pháp rút lui hết khỏi Miền Bắc, cuộc kháng chiến chống Pháp giành thắng lợi Tuy nhiên Pháp vừa rút khỏi Miền Bắc thì đế quốc Mỹ lại tiến hành xâm lược nước ta, bằng việc thiết lập chính quyền phản động ở Miền Nam Việt Nam, đất nước bị chia thành hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau
Trong hoàn cảnh đó Đảng, Nhà nước ta đã đề ra nhiệm vụ cho cả hai miền Miền Bắc đã hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa và hậu phương vững chắc cho tiền tuyến lớn Miền Nam Còn ở Miền Nam do chưa hoàn thành cách mạng dân tộc nhân dân, nên phải tiếp tục thực hiện cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân hoàn thành
sự nghiệp thống nhất nước nhà là tiền tuyến lớn
Trong hoàn cảnh đó nhân dân làng Phú Lợi cùng nhân dân cả nước, vừa khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, vừa là hậu phương vững chắc cung cấp sức người và sức của cho tiền tuyến ở Miền Nam Nhờ vậy mà đánh bắt và chế biến hải sản, nhất là nghề làm nước mắm truyền thống, dần dần được khôi phục trở lại