Thực trạng và giải pháp bảo tàng Quân khu 4, đề tài khoa học cấp tỉnh của bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh “ Đưa Xô Viết Nghệ Tĩnh vào trường học”,… Do vậy, với đề tài này, nó sẽ là đề tài
Trang 1Tr-ờng đại học vinh KHOA LịCH Sử
Trang 2069 Tr-ờng đại học vinh
Chuyên ngành việt nam học
Giáo viên h-ớng dẫn: Ths D-ơng Thị Vân Anh
Vinh, 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình, em xin chân thành cảm
ơn cô giáo: Th.S.Dương Thị Vân Anh- người trực tiếp hướng dẫn và giúp
đỡ em trong suốt quá trình làm bài; các thầy cô giáo trong khoa sử- Đại hoc Vinh đã tạo điều kiện để em thực hiện tốt khóa luận này
Em cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của giám đốc, cán bộ làm việc tại ba bảo tàng: bảo tàng Quân khu 4, bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh và bảo tàng Tổng hợp Nghệ An đã giúp đỡ về mặt tư liệu cũng như có những đóng góp để bài làm được hoàn chỉnh hơn
Là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên của bản thân, nguồn tài liệu cũng như năng lực bản thân còn nhiều hạn chế, khóa luận sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và bạn đọc yêu thích ngành bảo tàng để nó đầy đủ hơn và có thể áp dụng vào thực tiễn nhằm phát huy vai trò to lớn của hệ thống bảo tàng ở thành phố Vinh cho phát triển du lịch Nghệ An nói riêng và cả nước nói chung
Em xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 5 năm 2014
Tác giả
Hồ Thị Duyên
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN 3
MỞ ĐẦU 7
1.Lý do chọn đề tài 7
2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 10
5.Đóng góp của đề tài 11
6.Bố cục của đề tài 11
NỘI DUNG 12
Chương 1: 12
KHÁI QUÁT HỆ THỐNG BẢO TÀNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VINH 12
1.1.Những lý luận chung về bảo tàng 12
1.1.1 Khái niệm bảo tàng 12
1.1.2.Các khâu công tác của bảo tàng 13
1.1.3.Chức năng của bảo tàng 15
1.1.4.Bảo tàng địa phương 16
1.1.5.Bảo tàng lưu niệm 17
1.1.6.Bảo tàng lịch sử quân sự 18
1.2.Hệ thống bảo tàng ở thành phố Vinh 18
1.2.1.Bảo tàng Quân khu IV 18
1.2.1.1.Lịch sử hình thành 18
1.2.1.2.Vị trí và quy mô 19
1.2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ 21
1.2.1.4 Cơ cấu tổ chức 21
1.2.1.5 Nội dung trưng bày 22
1.2.2.Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh 27
Trang 51.2.2.1.Lịch sử hình thành 27
1.2.2.2 Vị trí và quy mô 30
1.2.2.3 Chức năng, nhiệm vụ 30
1.2.2.4 Cơ cấu tổ chức 31
1.2.2.5 Nội dung trưng bày 31
1.2.3.Bảo tàng tổng hợp Nghệ An 32
1.2.3.1.Lịch sử hình thành 32
1.2.3.2.Vị trí và quy mô 33
1.2.3.3 Cơ cấu tổ chức 33
1.2.3.4 Chức năng, nhiệm vụ 34
1.2.3.5 Nội dung trưng bày 35
Chương 2: 37
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG BẢO TÀNG THÀNH PHỐ VINH VỚI SỰ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 37
2.1 Những mặt thuận lợi và kết quả đạt được 37
2.1.1 Thuận lợi 37
2.1.2 Kết quả đạt được 39
2.2 Thực trạng và những mặt hạn chế 42
2.3 Một vài đánh giá 51
2.3.1 Một số kết quả khảo sát 51
Chương 3: 59
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN VÀ THU HÚT KHÁCH THAM QUAN BẢO TÀNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VINH 59
3.1 Bảo tàng ở thành phố Vinh trong chiến lược phát triển của Đảng và Nhà nước 59
3.2 Phương hướng phát triển của bảo tàng ở Nghệ An trong thời gian tới 61
3.3 Vai trò của bảo tàng trong phát triển du lịch ở Nghệ An 66
3.4 Đề xuất một số giải pháp 68
3.5 Xây dựng một số tour du lịch gắn với bảo tàng ở thành phố Vinh 81
Trang 6KẾT LUẬN 83 TÀI LIỆU THAM KHẢO 85 PHỤ LỤC 86
Trang 7MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài
Bảo tàng như một chiếc cầu nối giữa quá khứ và hiện tại Đến với bảo tàng, đứng trong một căn phòng nhỏ bé nhưng mở ra trước mắt ta một không gian rộng lớn, một phần của ký ức, giúp cho mỗi người tiếp cận rõ hơn các giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc, nhận thức được văn hóa, xã hội thời
đã qua Từ đó, giúp chúng ta thêm tự hào, thêm yêu mảnh đất mình luôn gắn
bó
Ngày nay, bảo tàng có sự biến đổi lớn cả về quy mô lớn nhỏ, về mục đích, về chức năng và nhiệm vụ để góp phần cho sự phát triển của xã hội và phục vụ nhu cầu văn hóa của con người Hơn thế nữa, trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ngày càng quân tâm hơn đến vấn đề đầu tư, xây dựng
và phát triển hệ thống bảo tàng trong cả nước Bảo tàng không chỉ có ý nghĩa
về văn hóa, giáo dục mà nó còn trở thành một trong những điểm du lịch hấp dẫn của Việt Nam
Trong khi Bảo tàng chứng tích chiến tranh, Bảo tàng phụ nữ Việt Nam, Bảo tàng dân tộc hoc Việt Nam lọt vào tốp 25 bảo tàng hấp dẫn nhất Châu Á
( theo bình chọn của trang wed du lịch TripAdvisor) mang lại niềm vui cho
công chúng yêu bảo tàng; là địa chỉ thu hút nhiều khách tham quan và là đối tượng hấp dẫn cho các công ty du lịch khai thác thì bảo tàng ở Nghệ An vẫn
“ đóng cửa cài then”, vẫn “ say ngủ” trong sự chờ đợi của bao lớp người
Ở Nghệ An có 3 bảo tàng lớn: Bảo tàng Quân khu 4, Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh và Bảo tàng tổng hợp Nghệ An, là những bảo tàng có tiềm năng rất lớn để phát triển du lịch
Bảo tàng Quân khu 4- địa chỉ đỏ, nơi minh chứng cho cuộc kháng chiến trường kỳ, cho sức mạnh quật cường của quân và dân Quân khu 4 nói riêng và
cả nước nói chung
Trang 8Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh- là một bảo tàng lưu niệm sự kiện lịch sử trọng đại, được thành lập năm 1960, sớm hơn cả bảo tàng Hồ Chí Minh, bảo tàng Phụ nữ Việt Nam,…
Bảo tàng tổng hợp Nghệ An- được xây dựng ngay trên mảnh đất Nghệ
An, khúc ruột miền Trung phải gánh chịu cái nắng cái gió gay gắt, bao khó khăn vất vả Cũng từ đây hun đúc nên con người anh dũng, kiên cường, chịu thương chịu khó, các nhà hoạt động cách mạng lỗi lạc như cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hồ Chí Minh, Phạm Hồng Thái,…cùng bao truyền thống tốt đẹp, nơi lưu giữ những giá trị riêng độc đáo, tất cả đều được tái hiện rõ nét qua các không gian trưng bày của bảo tàng tổng hợp Nghệ An
Nhưng một câu hỏi lớn đặt ra ở đây là “ Vì sao đến nay, hệ thống bảo
tàng ở Nghệ An vẫn chưa thu hút được khách tham quan, vẫn tiến từng bước
“ chậm chạp? ”
Là một người con của mảnh đất xứ Nghệ, cũng là một sinh viên đang theo học ngành du lịch, chuyên ngành văn hóa, tôi mạnh dạn chọn đề tài:
“ Đánh giá hoạt động của hệ thống bảo tàng trên địa bàn thành phố Vinh với
phát triển du lich Nghệ An” làm khóa luận tốt nghiệp của mình
2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong những năm gần đây, xu thế hoà bình, hợp tác ngày càng trở thành xu thế chủ đạo trong các mối quan hệ hợp tác giữa các nước trên thế giới và khu vực Đảng và nhà nước ta đã từng bước quan tâm đầu tư, tạo điều kiện cho ngành du lịch phát triển để hoà nhập với các hoạt động du lịch trên thế giới, trong đó có lĩnh vực bảo tàng
Nghệ An từ lâu được biết đến là mảnh đất địa linh nhân kiệt, giàu bản sắc văn hoá và truyền thống Hiện nay, Nghệ An có trên 1000 di tích lịch sử văn hoá, trong đó có gần 150 di tích lịch sử văn hoá đã được xếp hạng Nghệ
An không chỉ giàu sản phẩm văn hoá vật thể mà còn rất phong phú văn hoá phi vật thể có sức hấp dẫn cuốn hút khách du lịch - đó là những nét văn hoá dân gian phong phú và đậm đà bản sắc dân tộc Đây là điều kiện thuận lợi để
Trang 9du lịch Nghệ An khai thác và phát huy những giá trị truyền thống của quê hương Bên cạnh đó hệ thống bảo tàng ở Nghệ An có tiềm năng du lịch rất lớn nhưng vẫn chưa được coi trọng việc khai thác để góp phần phát triển du lịch của tỉnh nhà
Từ trước tới nay đã có nhiều học giả, nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề bảo tàng và đưa ra nhiều kết quả nghiên cứu khác nhau Nhưng chủ yếu họ chỉ mới chú trọng các bảo tàng lớn như bảo tàng Hồ Chí Minh, bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, bảo tàng Chứng tích chiến tranh, …để làm đối tượng khai thác, tìm hiểu Đối với bảo tàng ở Nghệ An, mà cụ thể hơn là
hệ thống bảo tàng trên địa bàn thành phố Vinh vẫn chưa được đưa ra tìm hiểu một cách sâu sắc, cụ thể Có chăng chỉ là các bài báo viết về các bảo tàng riêng lẻ đăng trên báo hay các bài viết in trong các cuốn sách viết về Nghệ An
( ví dụ: Nghệ An- di tích, danh thắng) Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở
như: Công tác kiểm kê bảo quản của bảo tàng Quân khu Thực trạng và giải
pháp ( bảo tàng Quân khu 4), đề tài khoa học cấp tỉnh của bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh “ Đưa Xô Viết Nghệ Tĩnh vào trường học”,…
Do vậy, với đề tài này, nó sẽ là đề tài đầu tiên đi sâu tìm hiểu hoạt động của hệ thống bảo tàng trên địa bàn thành phố Vinh cũng như thực trạng phát triển của nó, để tìm ra hướng đi phù hợp
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là toàn bộ các nội dung hoạt động liên quan đến 3 bảo tàng trên địa bàn thành phố Vinh, chủ yếu là lịch sử hình thành và phát triển của bảo tàng, thực trạng phát triển, thu hút khách tham quan, phục vụ du lịch,…Bao gồm: Bảo tàng Quân khu 4, Bảo tàng Xô Viêt Nghệ Tĩnh và Bảo tàng Tổng hợp Nghệ An
- Bảo tàng Quân khu 4, tại 189- Lê Duẩn- thành phố Vinh- Nghệ An
- Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh, tại số 6 - đường Đào Tấn- thành phố Vinh- Nghệ An
Trang 10- Bảo tàng Tổng Hợp Nghệ An, tại số 7- đường Đào Tấn- thành phố Vinh- Nghệ An
* Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian của khóa luận là ba bảo tàng ở thành phố Vinh- Nghệ An: bảo tàng Quân khu 4, bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh và bảo tàng tổng hợp Nghệ An
- Phạm vi thời gian: chủ yếu khai thác hoạt động của bảo tàng trong
giai đoạn từ năm 2000 đến nay( đặc biệt số liệu thống kê từ năm 2010 đến
nay)
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
* Nguồn tài liệu
Để hoàn thành khóa luận, tôi chủ yếu sử dụng nguồn tài liệu thành văn
là các sách chuyên ngành về bảo tàng tại thư viện, các cuốn sách lưu hành nội
bộ tại bảo tàng Quân khu 4, bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh, bảo tàng tổng hợp Nghệ An Đặc biệt các thông tin, tài liệu thông qua mạng internet Bên cạnh
đó, tôi đã có một thời gian đi thực địa, điền dã tại ba bảo tàng này để thu thập
số liệu thực tế, đồng thời có các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc và trao đổi với các cán
bộ làm việc tại bảo tàng để tìm hiểu những thông tin mới, cần thiết
* Phương pháp nghiên cứu
- Để thực hiện khóa luận, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
khảo sát thực địa (quan sát, ghi chép, phỏng vấn, chụp ảnh…) để thu thập tài
liệu
- Khóa luận dùng phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, tổng
hợp và phương pháp xã hội học (tiến hành lấy ý kiến của 100 học sinh, sinh
viên các trường Trung học cơ sở, Phổ thông trung học, Cao đẳng và Đại học
và nhân dân trên địa bàn thành phố Vinh để biết được thực tế tham quan bảo tàng và nhu cầu của họ khi tham quan 3 bảo tàng: bảo tàng Quân khu 4, bảo tàng Xô Viết Nghệ tĩnh và bảo tàng Tổng hợp Nghệ An) Để hoàn thành khóa
Trang 11luận, tôi còn có những câu hỏi phỏng vấn sâu dành cho giám đốc, phó giám đốc và những nhân viên làm việc tại bảo tàng này
5.Đóng góp của đề tài
Đề tài “ Đánh giá hoạt động của hệ thống bảo tàng trên địa bàn thành
phố Vinh với phát triển du lich Nghệ An” khá mới mẻ, nhưng những vấn đề
được nêu ra trong đó không còn xa lạ với những bạn đọc yêu thích ngành bảo tàng, muốn tìm hiểu về bảo tàng
Là sinh viên ngành du lịch, được tiếp cận với bảo tàng thông qua lĩnh vực văn hoá du lịch, tôi mong muốn góp phần nhỏ bé của mình cùng các nhà khoa học, các nhà quản lý bảo tàng, các chuyên gia trong lĩnh vực bảo tàng, các công ty du lịch giúp các bạn có cái nhìn tổng quan về bảo tàng ở thành phố Vinh từ lịch sử hình thành, phát triển; vị trí, quy mô; chức năng, nhiệm
vụ đến cơ cấu tổ chức và nội dung trưng bày Những mặt đã làm được cũng như thực trạng, mặt hạn chế của các bảo tàng này Đồng thời, nhận thức rõ tầm quan trọng của bảo tàng trong đời sống kinh tế- xã hội nói chung và du lịch nói riêng Từ đó, đưa ra các giải pháp phát triển dựa trên tiềm năng vốn
có của nó, nhất là thu hút khách tham quan đến với bảo tàng Và đây cũng là công trình nghiên cứu đầu tiên, nó sẽ giúp ích cho công việc của tôi sau này
Vinh với sự phát triển du lịch
Chương 3: Một số giải pháp phát triển và thu hút khách tham quan
bảo tàng trên địa bàn thành phố Vinh
Trang 12NỘI DUNG Chương 1:
KHÁI QUÁT HỆ THỐNG BẢO TÀNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ VINH 1.1.Những lý luận chung về bảo tàng
1.1.1 Khái niệm bảo tàng
Bảo tàng có lịch sử lâu đời, là nơi lưu giữ ký ức của các dân tộc, các nền văn hóa, những ước mơ và hy vọng của con người Từ trước đến nay, từ mỗi góc độ nghiên cứu thì mỗi quốc gia, tổ chức, cá nhân lại đưa ra khái niệm
về bảo tàng khác nhau Nhưng khái niệm được mọi người thừa nhận và
thường xuyên sử dụng là khái niệm bảo tàng được quy định trong luật “Luật
di sản văn hóa” như sau:
“Bảo tàng là nơi bảo quản và trưng bày các sưu tập về lịch sử tự nhiên
và xã hội ( về sau gọi là sưu tập) nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, giáo dục, tham quan và hưởng thụ văn hóa của nhân dân” [ 2, Tr.110]
Có nhiều quan điểm khác nhau về bảo tàng như vậy nhưng chúng đều khẳng đinh:
- Bảo tàng là một thiết chế văn hóa đặc thù, một cơ quan văn hóa, khoa học và giáo dục
- Đối tượng nghiên cứu, giới thiệu của bảo tàng là những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể cùng môi trường tồn tại xung quanh con người
- Các hoạt động của bảo tàng là nghiên cứu, sưu tầm, thu thập, bảo quản, gìn giữ và trưng bày giới thiệu các sưu tập hiện vật về lịch sử xã hội, tự nhiên và thông tin của sưu tập cho công chúng
- Các không gian chính của bảo tàng bao gồm:
+ Không gian trưng bày trong và ngoài bảo tàng
+ Không gian bảo quản và xử lý hiện vật
+ Không gian dành cho các thiết bị kỹ thuật
Trang 13+ Không gian dành cho cán bộ chuyên môn và cán bộ hành chính làm việc
1.1.2.Các khâu công tác của bảo tàng
Hoạt động của bảo tàng gồm có 6 khâu công tác nghiệp vụ, bao gồm:
1 Công tác nghiên cứu khoa học
2 Công tác sưu tầm hiện vật bảo tàng
3 Công tác kiểm kê hiện vật bảo tàng
4 Công tác tổ chức kho- bảo quản hiện vật bảo tàng
5 Công tác trưng bày hiện vật bảo tàng
6 Công tác giáo dục tuyên truyền [2, Tr.113]
Nội dung cụ thể của các khâu hoạt động của bảo tàng như sau:
*Công tác nghiên cứu khoa học
Trong các bảo tàng, công tác nghiên cứu khoa học là một hoạt động nghiệp vụ rất quan trọng, có tính chất xuyên suốt toàn bộ hoạt động của bảo tàng như sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày và giáo dục tuyên truyền
Công tác nghiên cứu khoa học của bảo tàng chính là nghiên cứu sưu tập hiện vật bảo tàng và những di sản văn hóa, bao gồm di sản bất động sản, môi trường, di sản phi vật thể Đồng thời nghiên cứu bộ môn khoa học tương ứng hợp với loại hình, nội dung và đối tượng trưng bày của bảo tàng
Ngoài ra, nó còn hướng tới nghiên cứu bảo tàng học với tư cách là một
bộ môn khoa học xã hội để đóng góp những vấn đề lý luận cho bảo tàng học như: khái niệm về bảo tàng, đặc trưng, chức năng của bảo tàng cũng như các
dự án khoa học trưng bày triễn lãm, sưu tầm; nghiên cứu xã hội học công chúng của bảo tàng, nghiên cứu đảm bảo tính nguyên gốc vật chất của các sưu tập bảo tàng Đồng thời, để thực hiện công tác nghiên cứu khoa học cần có sự cộng tác tích cực với các trường học, trung tâm đào tạo bảo tàng học cũng như các cơ quan nghiên cứu di sản di sản văn hóa
Công tác nghiên cứu khoa học của bảo tàng gắn bó với các bộ môn khoa học tương ứng với loại hình của bảo tàng ấy Mọi hoạt động nghiên cứu
Trang 14khoa học của bảo tàng đều phải từ nghiên cứu hiện vật phù hợp với loại hình của bảo tàng Đặc biệt nó phải nhằm mục đích chủ yếu là đưa ra kết qur trưng bày
*Công tác sưu tầm hiện vật bảo tàng
Công tác sưu tầm hiện vật là khâu quan trọng mở đầu, tạo tiền đề vật chất cho toàn bộ hoạt động của bảo tàng Không có hiện vật thì không thể có bảo tàng Trong bảo tàng, nếu không có hiện vật gốc, sưu tập hiện vật gốc thì không có hoạt động bảo tàng Công tác sưu tầm hiện vật là cơ sở cho hoạt động trưng bày bảo tàng , nó được tiến hành theo các phương pháp và nguyên tắc của bảo tàng học
*Công tác kiểm kê hiện vật bảo tàng
Kiểm kê hiện vật bảo tàng là việc nghiên cứu xác đinh, ghi chép, mô tả các hiện vật, sưu tập bảo tàng nhằm xác định giá trị, nội dung khoa học và lập các thủ tục pháp lý cho hiện vật bảo tàng để phục vụ cho công tác nghiên cứu, công tác trưng bày- giáo dục của bảo tàng Đây là một khâu công tác quan trọng của bảo tàng, phải đảm bảo tính chính xác, rõ rang, làm cơ sở cho thuyết minh các hiện vật bảo tàng
*Công tác tổ chức kho- bảo quản hiện vật, sưu tập bảo tàng
Đây là khâu quan trọng mà Nhà nước giao cho bảo tàng Tất cả hiện vật
và sưu tập hiện vật bảo tàng đều là một bộ phận cảu di sản văn hóa Vì vậy, chúng cần được bảo vệ bằng pháp luật Hệ thống bảo tàng ở nươc ta đều sử dụng các phương pháp bảo vệ phòng ngừa và trị liệu ( bảo quản kỹ thuật) đối với hiện vật bảo tàng Tất cả các biện pháp mới nhất được các bảo tàng sử dụng nhằm bảo quản hiện vật nhằm mục đích chung là kéo dài tuổi thọ cho chúng
*Công tác trưng bày hiện vật bảo tàng
Trưng bày đảm bảo sự giao tiếp giữa bảo tàng với công chúng cũng như với xã hội Từ đó công chúng cảm thụ, thưởng thức các giá trị văn hóa của bảo tàng Tổ chức trưng bày, hoạt động của bảo tàng là một trong những
Trang 15đặc trưng cơ bản dể phân biệt bảo tàng khác với cơ quan văn hóa – khoa học- giáo dục khác Nguyên tắc trưng bày của bảo tàng chính là trưng bày hiện vật gốc, sưu tập hiện vật gốc có giá trị bảo tàng
Công tác trưng bày phải hợp lý, tạo sự sáng tạo mới thu hút sự chú ý, hấp dẫn khách tham quan Đặc biệt đối với hệ thống bảo tàng địa phương thường có sụ trùng lặp về trưng bày dẫn đến sự nhàm chán cho du khách
*Công tác giáo dục- tuyên truyền
Bảo tàng thực hiện công tác giáo dục- tuyên truyền bằng phương thức trực quan sinh động thông qua trưng bày hiện vật gốc , sưu tập gốc và các chương trình giáo dục Để thực hiện công tác này bảo tàng tổ chức hướng dẫn tham quan, in ấn, xuất bản phẩm, tuyên truyền quảng bá hình ảnh bảo tàng trên các phương tiện thông tin đại chúng
Các khâu công tác này có quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau, chúng hoạt động theo một chu trình, có hệ thống trên cơ sở hiện vật gốc
1.1.3.Chức năng của bảo tàng
Cùng với quá trình phát triển của lịch sử, chức năng của bảo tàng luôn được bổ sung, đáp ứng nhu cầu xã hội Hiện nay, bảo tàng đa dạng về loại hình, tính chất, quy mô, hình thức tổ chức nhưng vẫn thực hiện các chức năng mang tính truyền thống và các chức năng mới Mặc dù còn tồn tại một số quan điểm khác nhau, nhưng cơ bản các quan điểm đều thống nhất bảo tàng
có các chức năng xã hội sau:
1 Chức năng nghiên cứu khoa học
2 Chức năng giáo dục tuyên truyền
3 Chức năng bảo quản di sản văn hóa
4 Chức năng thông tin, giải trí và thưởng thức
5 Chức năng tài liệu hóa khoa học [2, Tr.129]
Các chức năng này có mối quan hệ mật thiết với nhau, không tách rời nhau Các bảo tàng cần thực hiện tốt các chức năng này để đem lại hiệu quả cũng như lợi ích cho cộng đồng, bao gồm cả lợi ích kinh tế, văn hóa xã hội,
Trang 16lợi ích chính trị hoặc lợi ích tập thể Trong đó, hia chức năng cơ bản thường được nhắc đến là chức năng nghiên cứu khoa học và chức năng giáo dục khoa học
1.1.4.Bảo tàng địa phương
*Khái niệm
Bảo tàng địa phương có nội dung ý nghĩa và phạm vi hoạt động về một địa phương nhất định, với các tên gọi khác nhau như: bảo tàng khảo cứu địa phương, bảo tàng khu vực, bảo tàng tổng hợp hay bảo tàng tỉnh ( thành phố)
Ở trên thế giới, bảo tàng địa phương ra đời sau cuộc cách mạng tư sản
và nhất là sau cuộc cách mạng công nghiệp ở Châu Âu Còn ở Việt Nam, loại hình bảo tàng địa phương ra đời muộn Trước cách mạng tháng 8 năm 1945 nước ta vẫn chưa có bảo tàng địa phương Bảo tàng địa phương được thành lập sớm nhất là bảo tàng Hải Phòng ( 1959)
Bảo tàng địa phương ( tỉnh, thành phố) là một thiết chế văn hóa có chức năng nghiên cứu khoa học và giáo dục phổ biến khoa học và là kho tàng gìn giữ, trưng bày những di sản lịch sử tự nhiên, văn hóa vật chất và tinh thần tiêu biểu có liên quan đến lịch sử- văn hóa- xã hội và thiển nhiên của địa phương [2, Tr.242]
*Nội dung trưng bày của bảo tàng địa phương
Nội dung trưng bày của bảo tàng địa phương ( tỉnh, thành phố) bao gồm những nội dung sau:
Trang 17Ngoài những nội dung trưng bày chính trên, các bảo tàng địa phương còn kết hợp trưng bày chuyên đề, thể hiện những điểm khác biệt, độc đáo của địa phương
1.1.5.Bảo tàng lưu niệm
*Các dạng của bảo tàng lưu niệm
Bảo tàng lưu niệm gồm 2 dạng sau:
+ Bảo tàng lưu niệm dùng để chỉ các bảo tàng có tính chất tiểu sử nhân vật hoặc lịch sử sự kiện trọng đại
Ví dụ:
- Bảo tàng Hồ Chí Minh ( Hà Nội)
- Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tính ( Nghệ An)
-Bảo tàng Tôn Đức Thắng ( thành phố Hồ Chí Minh…
+ Bảo tàng lưu niệm bao hàm nội dung là các di tích lưu niệm
Di tích lưu niệm là một địa điểm, tòa nhà hay căn phòng…cùng với tất
cả các đồ nội thất bên trong, môi trường cảnh quan xung quanh có liên quan trực tiếp đến danh nhân lúc sinh thời hay sự kiện lịch sử trọng đại đã diễn ra
Ví dụ:
- Khu di tích lưu niệm Kim Liên ( Nghệ An)
- Di tích 48 Hàng Ngang ( Hà Nội)…
Trang 181.1.6.Bảo tàng lịch sử quân sự
Đây là một nhóm nhỏ thuộc nhóm bảo tàng loại hình lịch sử xã hội, phản ánh lịch sử hình thành và phát triển của lực lượng vũ trang quân đội của một quốc gia từ cổ đại đến hiện đại trong cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng đất nước
Ví dụ:
-Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam
-Bảo tàng Tổng cục hậu cần
-Bảo tàng quân khu thủ đô
-Bảo tàng quân khu I, II, III, IV, V,VII, IX
vv…
1.2.Hệ thống bảo tàng ở thành phố Vinh
Trên địa bàn thành phố Vinh hiện có 3 bảo tàng lớn: Bảo tàng quân khu
4, bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh và bảo tàng Tổng hợp Nghệ An Đây là nơi lưu giữ những kỷ vật, hiện vật có giá trị to lớn minh chứng cho truyền thống yêu nước của nhân dân ta qua các thời kỳ lịch sử, có ý nghĩa quan trọng trong giáo dục thế hệ trẻ, khơi dậy niềm tự hào dân tộc
1.2.1.Bảo tàng Quân khu IV
Bảo tàng quân khu 4- một trong những trường học tinh thần cách mạng góp phần quan trọng bồi dưỡng tinh thần cách mạng cho toàn thể cán bộ chiến sỹ và quần chúng nhân dân Đây là nơi minh chứng cho cuộc kháng chiến trường kỳ, cho sức mạnh quật cường của quân và dân quân khu 4 nói riêng và cả nước nói chung
1.2.1.1.Lịch sử hình thành
Từ một số hoạt động triển lãm, trưng bày hiện vật gốc mang tính chất bảo tàng trong kháng chiến chống Pháp và trong những năm đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ, đến ngày 22/12/1966, bảo tàng Quân khu 4 chính thức được thành lập và đi vào hoạt động
Trang 19Ra đời trong hoàn cảnh chiến tranh phá hoại ác liệt của Mỹ, điều kiện bom đạn ác liệt, bảo tàng đã nhiều năm phải sơ tán trong nhà dân Tuy vậy, trước tinh thần không ngại khó, ngại khổ, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, thì cán bộ, nhân viên cùng chiến sỹ quân khu vẫn kiên cường bám trụ, vừa bền bỉ
đi vào các trận địa để sưu tầm hiện vật, tư liệu Đồng thời, tích cực tìm tòi, học hỏi để tổ chức được hàng tram cuộc trưng bày , triển lãm dưới nhiều hình thức khác nhau Trong đó, đã có các cuộc trưng bày lưu động ngay tại trận địa
để kịp thời cổ động, tuyên truyền, cổ vũ chiến đấu trên các mặt trận
Trải qua quá trình phát triển lâu dài, bảo tàng đã tích lũy đươc nhiều kinh nghiệm trên tất cả các mặt Đến nay, bảo tàng đã được Bộ văn hóa- thể thao và du lịch xếp hạng là bảo tàng hạng 2 trong hệ thống bảo tàng quốc gia Việt Nam
Lịch sử hình thành và phát triển của bảo tàng có thể chia làm 3 giai đoạn chính sau:
1.Một số hoạt động tiền thân bảo tàng Quân khu 4 trong kháng chiến chống Pháp và những năm đầu chống Mỹ ( 1948- 1965)
2.Bảo tàng Quân khu 4 ra đời, xây dựng và trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ( 1966-1975)
3.Bảo tàng Quân khu 4 trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ( 1976-nay)
1.2.1.2.Vị trí và quy mô
*Vị trí
Quân khu 4 là một địa bàn chiến lược quan trọng về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội Nằm ở Bắc Trung Bộ, trải dài từ Dốc Xây ( Thanh Hóa) đến Đèo Hải Vân ( Thừa Thiên- huế), phía Tây tựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ, cùng chung biên giới với nước bạn Lào anh em; phía Đông là biển Đông nơi có hải cảng nối liền với các nước Châu Á và nhiều nước trên thế giới Từ vị trí địa chính trị- quân sự quan trọng như vậy nên lịch sử đấu tranh xây dựng của quân và dân Quân khu 4 luôn gắn liền với lịch sử đấu
Trang 20tranh và phát triển của đất nước, của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Đảng ủy quân khu 4 và Đảng bộ các cấp trên địa bàn
Trong chin năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Liên khu
4 có các tỉnh Bình- Trị- Thiên là chiến trường trực tiếp, vừa có vùng tự do Thanh- Nghệ- Tĩnh là hậu phương chiến lược của cả nước Trải qua muôn vàn khó khăn gian khổ, quân và dân quân khu 4 đã chiến đấu ngoan cường, bảo vệ vững chắc địa bàn chiến lược , chi viện to lớn sức người, sức của cho chiến trường cả nước và chiến trường Lào, tham gia phục vụ chiến cuộc Đông Xuân 1953- 1954 làm nên chiến thắng lừng lẫy Điện Biên Phủ
Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Quân khu 4 vừa là hậu phương của chiến trường miền Nam và chiến trường Đông Dương, vừa là tuyến đầu của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, cùng lúc thực hiện bốn nhiệm vụ trên ba chiến trường Đồng thời, là một trong những chiến tuyến ác liệt nhất Bằng ý chí chiến đấu ngoan cường, mưu trí, quân và dân quân khu 4 dã góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước
Trong công cuộc xây dựng hòa bình, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, quân và dân quân khu 4 luôn là lực lượng đi đầu, tham gia phát triển kinh tế- xã hội, ra sức xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh về mọi mặt
Xuất phát từ yêu cầu và thực tiễn của cách mạng là cần lưu giữ, khôi phục và tái hiện một cách sinh động, trung thực truyền thống vẻ vang , lịch sử xây dựng, chiến đấu hào hùng, oanh liệt của quân và dân Quân khu 4 Công tác bảo tàng đã sớm được Đảng ủy- Bộ tư lệnh quân khu quan tâm, nhận thức
đầy đủ và coi đó là một “công tác có vị trí đặc biệt quan trọng và hết sức cấp
thiết”
Bảo tàng đã được thành lập và xây dựng tại số 189- Lê Duẩn- thành phố Vinh- Nghệ An Nó từng bước được cải tạo và xây dựng khang trang hơn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới
*Quy mô
Trang 21Tại bảo tàng, phần diện tích mặt bằng của 6 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An,
Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế chiếm khoảng 2.180m2 Phần diện tích trưng bày trong bảo tàng chiếm khoảng 2.000m2, còn lại là kho bảo quản và các hoạt động văn hoá khác gần 2.500m2
Ngoài ra, bảo tàng còn tổ chức trưng bày lưu động tại các địa phương trên địa bàn 6 tỉnh từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên Huế
Nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê lưu giữ tư liệu và hiện vật liên quan đến
sự ra đời, lớn mạnh của quân và dân quân khu 4
Trưng bày, giới thiệu phục vụ khách tham quan tại bảo tàng, đưa giáo dục truyền thống cách mạng đến với nhân dân các vùng, miền trong và ngoài tỉnh Phục vụ cán bộ, học sinh, sinh viên nghiên cứu khai thác tư liệu đang lưu giữ tại bảo tàng
1.2.1.4 Cơ cấu tổ chức
Trong đó:
- Ban giám đốc gồm: 2 người
- Ban kiểm kê, bảo quản gồm: 6 người
- Ban trưng bày, tuyên truyền gồm: 5 người
Trang 22- Ban hành chính gồm: 4 người
1.2.1.5 Nội dung trưng bày
Nội dung trưng bày chính của bảo tàng được thể hiện ở phần trưng bày ngoại thất và trưng bày nội thất
a,Trưng bày ngoại thất
Phần trưng bày này được thực hiện trên một khuôn viên rộng 800m2 với những hiện vật thể khối lớn và các tác phẩm nghệ thuật
* Những hiện vật có thể khối lớn:
+ Nhóm pháo cao xạ: có 5 khẩu
- Khẩu pháo cao xạ 14 ly5 bốn nòng của đại đội 94 dân quân huyện Quảng Xương ( Thanh Hóa) anh hùng
- Khẩu pháo cao xạ 37 ly một nòng của đại đội 3 Tiểu đoàn 14 Nguyễn Viết Xuân anh hùng
- Khẩu pháo cao xạ 57 ly của Đại đội 1 Tiểu đoàn 19 Trng đoàn 214 anh hùng
- Khẩu pháo cao xạ 100 ly của Trung đoàn 222
- Khẩu pháo cao xạ 37 ly hai nòng của Đại đội 2 Trung đoàn 233 anh hùng
+ Nhóm pháo mặt đất: có 5 khẩu
- Khẩu sung cối 160 ly của Trung đoàn 84 chiến đấu ở Quảng Trị
- Khẩu pháo 85 ly của Đại đội 10 ( Quảng Bình) anh hùng
- Khẩu pháo 85 ly của Đại đội dân quân gái pháo binh xã Ngư Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình anh hùng
- Khẩu pháo 105 ly của Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 164 anh hùng
- Khẩu pháo 122 ly của Đại đội 12 Trung đoàn 166 anh hùng
+ Nhóm bệ phóng và tên lửa SAM-2 của Đoàn 236 đã bắn rơi chiếc máy bay B52 đầu tiên trên miền Bắc tại Quảng Bình năm 1968
+ Nhóm máy bay: có 2 chiếc
Trang 23- Chiếc máy bay trực thăng MI-4 nhiều lần chở Bác Hồ đi công tác, đưa Bác về thăm quân khu lần thứ nhất năm 1957
- Chiếc máy bay MIG-17 do đồng chí Trần Hanh lái tham gia chính trong trận chiến đấu ngày 3-4 tháng 4 năm 1965 trên bầu trời Hàm Rồng, Thanh Hóa
+ Nhóm xe máy: có 2 chiếc
- Chiếc xe Ját 69 đã chạy hàng vạn km an toàn phục vụ các đông chí trong Bộ tư lệnh quân khu và đồng chí Thiếu tướng Lê Quang Hòa chính ủy Quân khu đi công tác và chỉ huy chiến đấu trong những năm chống Mỹ cứu nước ở Quân khu IV
- Chiếc xe Páp K63 lội nước của tiểu đoàn 27 công binh anh hùng + Nhóm chiến lợi phẩm: có 3 hiện vật
- Khẩu pháo 155 ly của Mỹ, ta thu được tại chiến trường Quảng Trị năm 1972
- Hai khẩu pháo 105 ly của Mỹ, ta thu được trong chiến dịch giải phóng Trị- Thiên- Huế mùa xuân 1975
- Chiếc xe tăng M48 của Mỹ, ta thu được tại chiến trường Quảng Trị năm 1972
* Các tác phẩm nghệ thuật
Bao gồm 7 tác phẩm:
- 6 bức phù điêu ( 2 mặt) thể hiện những sự kiện tiêu biểu của lực lượng vũ trang nhân dân 6 tỉnh Quân khu IV qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ
- Tượng Bác Hồ
Ngoài ra, bảo tàng còn có các hạng mục công trình phục vụ khách tham quân như: hệ thống bồn hoa, cây cảnh, hệ thống đèn chiếu sáng, cờ tổ quốc,
cờ Đảng, khẩu hiệu, băng rôn,
b, Phần trưng bày nội thất: có nhà trưng bày chính và nhà tưởng niệm,
trưng bày di vật liệt sỹ
Trang 24*Nhà trưng bày chính
Nhà trưng bày chính có diện tích 1800m2
với 925 hiện vật gốc khối,
572 tấm ảnh các cỡ, 114 tác phẩm nghệ thuật để minh họa, gồm 5 đề mục:
Đề mục thứ nhất: Phòng khánh tiết- sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí
Minh; các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội đối với quân và dân Quân khu IV
Diện tích trưng bày là 157m2, tỉ lệ 8,7 %
Gồm 5 đề tài: có 93 hiện vật, 63 ảnh, 10 tác phẩm nghệ thuật
- Quân khu 4 quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại
- Sự quan tâm của Bác Hồ đối với quân và dân Quân khu 4
- Phần khánh tiết
- Đảng, Chính phủ và Quân đội đối với quân và dân Quân khu 4
- Các thế hệ lãnh đạo chỉ huy Quân khu 4 qua các thời kỳ
Đề mục thứ hai: Quân khu 4 vị trí địa bàn chiến lược về quốc phòng,
truyền thống vẻ vang ( từ xưa đến cách mạng tháng 8 năm 1945) Diện tích trưng bày 104 m2
tỷ lệ 6,0%
Gồm 2 đề tài: có 62 hiện vật, 66 ảnh và 9 tác phẩm nghệ thuật
- Quân khu 4 vụ trí địa bàn chiến lược về quốc phòng trước đây, hiện nay và sau này
- Truyền thống chống giặc ngoại xâm trên địa bàn Quân khu 4 từ xưa đến cách mạng tháng 8 năm 1945
Đề mục thứ 3: Liên khu 4 trong cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp xâm lược ( 1946- 1954)
Diện tích trưng bày 245m2, tỷ lệ 13,6%
Gồm 4 đề tài: 118 hiện vật, 114 ảnh và 21 tác phẩm nghệ thuật
- Sự ra đời của lực lượng vũ trang Liên khu 4
- Thanh- Nghệ - Tĩnh hậu phương vững chắc, chi viện sức người, sức của trực tiếp cho chiến trường Bình- Trị- Thiên, các chiến trường cả nước và Trung, Thượng Lào
Trang 25- Chiến trường Bình- Trị- Thiên kiên cường, bất khuất bám đất, bám dân đánh bại mọi âm mưu thủ đoạn của giặc Pháp
- Liên khu 4 với chiến cuộc Đông xuân ( 1953-1954) chi viện cho chiến dịch Điện Biên Phủ
Đề mục thứ tư: Quân khu 4 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước (1955- 1975)
Diện tích trưng bày 631m2, tỷ lệ 35%, chia làm 2 giai đoạn
Tổng số hiện vật trưng bày là 445 hiện vật, 186 ảnh và 46 tác phẩm nghệ thuật
+Giai đoạn 1: từ 1955 đến 1964
Gồm có 5 đề tài:
- Tội ác của giặc Mỹ gây ra ở 2 miền Nam Bắc Quân khu
- Quân dân phía Bắc quân khu khôi phục kinh tế, xây dựng chủ nghĩa
xã hội
- Các lực lượng vũ trang Quân khu xây dựng chính quy, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu bảo vệ trật tự an ninh giới tuyến, biên giới hải đảo, sẵn sang chi viện cho chiến trương miền Nam
- Phong tào đấu tranh các mạng Trị- Thiên- Huế từng bước trưởng thành và không ngừng lớn mạnh
- Quân dân miền Bắc quân khu chiến thắng trận đầu ngày 5/8/1964
+ Giai đoạn 2: Từ năm 1965 đến năm 1975
Trang 26- Sát cánh cùng quân và dân Trị- Thiên- Huế đánh bại mọi chiến lược của Mỹ- Ngụy giải phóng quê hương
- Quân khu 4 làm tròn nghĩ vụ quốc tế giúp cách mạng Lào và Campuchia
Đề mục thứ năm: Quân khu 4 thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược của
Đảng, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ( từ 1976 đến nay)
Diện tích trưng bày là 266m2, tỷ lệ 14,8%
Gồm có 5 đề tài : với 207 hiện vật, 154 ảnh và 30 tác phẩm nghệ thuật
- Quân và dân Quân khu 4 khắc phục hậu quả chiến tranh
- Quân khu 4 chi viện lực lượng cho các hướng: Tây Nam và phía Bắc
- Quân khu 4 xâu dựng lực lượng, huấn luyện sẵn sang chiến đấu, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân “ Địa bàn an toàn làm chủ”
- Sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế
- Lực lượng vũ trang Quân khu 4 không ngừng đổi mới, xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ từng bước hiện đại, góp phần đầy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
Ngoài hệ thống trưng bày đó, bảo tàng còn có phòng chiếu phim tư liệu
để phục vụ khách tham quan với diện tích 280m2
, tỷ lệ 15% và phòng triển lãm chuyên đề có diện tích 159m2
, tỷ lệ 7,6%
* Nhà tưởng niệm và trưng bày di vật liệt sỹ
+ Phần tưởng niệm: diện tích 45m2, có bia đá khắc lời Bác Hồ với liệt
sỹ và lư hương
+ Phần trưng bày di vật liệt sỹ có diện tích 216m2, với 2000 di vật,
1000 hiện vật và 500 tư liệu
Trưng bày 3 phần:
Trang 27Phần tưởng niệm: không gian long trọng, ấn tượng: tổ hợp “ Tượng
mẹ đón con trở về”, cùng với hệ thống phù điêu, ảnh thấu quang thể hiện các chủ đề ( lên đường, xung trận trở về, giữa hai trận đánh)
Phần âm: trưng bày các bộ sưu tập di vật liệt sỹ nằm nằm cùng phần
mộ ( bia, quân trang, đồ dùng cá nhân, vũ khí, khí tài, những di vật tìm được tên cho liệt sỹ, những di vật chưa tìm được tên, cần khớp nối thông tin, đặc biệt những cuốn nhật ký chiến trường, thư cuối cúng của các liệt sỹ…)
Phần dương: thể hiện hình ảnh bảo tàng Quân khu 4 xác minh lý lịch
cho liệt sỹ và quá trình xác minh lý lịch liệt sỹ qua đề tài nghiên cứu của cục Chính trị Đồng thời, còn trưng bày 300 bức thư gia đình liệt sỹ gửi bảo tàng
và giấy báo tử liệt sỹ
1.2.2.Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh
1.2.2.1.Lịch sử hình thành
Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh ra đời và được đặt trong thành cổ Nghệ
An theo nghị quyết của Hội đồng Chính phủ ngày 15/1/1960, Bộ văn hóa ra quyết đinh số 106-VP/QĐ cho phép 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh xây dựng nhà trưng bày thường trực những tư liệu hiện vật về phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh
Đến nay, đã bảo tàng đã đi được chặng đường 54 năm, trải qua những giai đoạn phát triển khó khăn, vất vả để hoàn thành nhiệm vụ trên mặt trận văn hóa Không những thế, những năm gần đây, bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh còn là địa chỉ của nhiều đoàn tham quan trong tỉnh cũng như đoàn khách từ nơi khác đến Nó đã bước đầu góp phần vào phát triển du lịch chung của toàn tỉnh Nghệ An
*1960- 1964
Bảo tàng ra đời năm 1960 với số lượng hiện vật chủ yếu thu thập được nhờ sự đóng góp của các Đảng viên cúng như các gia đình cách mạng Bên
Trang 28cạnh đó là sự giúp sức thu thập tài liệu từ sinh viên trường Đại học sư phạm Vinh ( nay là trường Đại học Vinh)
Công tác xây dựng ban đầu gặp rất hiều khó khăn cả về kinh phí và tổ chức cán bộ Tuy nhiên, nhờ sự đóng góp sức người sức của từ bà con nhân dân Nghệ Tĩnh, quyên góp tùy theo điều kiện; còn các Đảng viên trên địa bàn thành phố Vinh ra sưc san lấp mặt bằng Nhờ sự đóng góp đó mà qua 3 năm xây dựng, trước yêu cầu phục vụ 33 năm ngày XôViết Nghệ Tĩnh ( 12/9/1963), bảo tàng đã tổ chức trưng bày chuyên đề Xô Viết Nghệ Tĩnh ngay tại đây
Năm 1964, Bác Hồ đã ký “ Lời đề tựa” cho bảo tàng Đến nay, bảo
tàng còn lưu giữ bút long, viến mực, đĩa mài mực mà Bác đã sử dụng để viết
nó
*1965- 1980
Ngày 5/8/1964, Mỹ ra sức đánh phá miền Bắc, lúc này thành phố Vinh trở thành tâm điểm đánh phá của quân giặc Vì vậy, bảo tàng đã phải đóng cửa nhà trưng bày, đi sơ tán nhưng vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ phục vụ thời chiến Ba ngôi nhà cấp 4 đã được xây dựng nhanh chóng tại Kim Liên- Nam Đàn để phục vụ việc trưng bày
Để phù hợp với tình tình, bên cạnh việc trưng bày tại chỗ, bảo tàng đã
tổ chức trưng bày lưu động với những hình ảnh gon nhẹ để tuyên truyền, cổ
vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng trong quần chúng, khích lệ tinh thần chiến
sỹ Cũng thời gian này có nhiều đơn vị bộ đội, thanh niên xung phong trước khi lên đường làm nhiệm vụ đều đến bảo tàng để tiếp thêm sức mạnh truyền thống từ cha anh
Ngay trong thời kỳ chiến tranh ác liệt, những đã có các đoàn khách quốc tế đến với bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh Đây là niềm tự hào, nguồn động viên to lớn cho quân và dân Nghệ Tĩnh nói riêng và cả nươc nói chung
Ngày 18/5/1971, đoàn binh chùng Hải quân Liên Xô đến thăm bảo tàng
và ghi lại cảm tưởng: “ Khâm phục các bạn quá, với lực lượng tự vệ vừa mới
Trang 29ra đời, chỉ có vũ khí thô sơ, gậy gộc và giáo mác, giai cấp vô sản Việt Nam đã làm đảo lộn chính quyền của đế quốc Pháp năm 1930- 1931, nhất định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước này, chiến thắng thuộc về các bạn”
Nó càng thôi thúc quân và dân ta nỗ lực phấn đấu hơn nữa để phục vụ cách mạng, phục vụ chiến đấu
Đất nước thống nhất ( 1975), cùng với cả nước, nhân dân thành phố Vinh hàn gắn vết thương chiến tranh, tiến hành công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Lúc này, bảo tàng lại được đưa về thành phố Vinh ( 1980) Công trình xây dựng trước đó của bảo tàng đã bị phá hủy do bom đạn, chỉ còn lại tầng dưới Công tác tu sửa, phát triển bảo tàng được bắt đầu để phù hợp với tình hình mới: hòa bình, phát triển kinh tế
* 1980- nay
Bảo tàng được trùng tu, sửa chữa, đầu tư thêm trang thiết bị để đảm bảo trưng bày có hiệu quả nhất Ngày 11/11/ 1987, Bộ văn hóa thông tin ra quyết định 204- VH/QĐ chuyển bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh thành một chi nhánh của bảo tàng cách mạng Việt Nam Nhờ vậy, mà bảo tàng sẽ được đầu tư kinh phí và hỗ trợ công tác chuyên môn Năm 1995, bảo tàng đã nâng cấp toàn bộ nội ngoại thất dựa vào nguồn kinh phí 5 tỷ đồng từ Trung ương
Hệ thống di tích về Xô Viết Nghệ Tĩnh được kiểm kê và 48 di tích được xếp hạng cấp Quốc gia; tổ chức trưng bày bổ sung tại các di tích tạo điều kiện cho nhân dân, học sinh và thanh niên trong vùng hiểu thêm về lịch
Trang 30gặp mặt nhân chứng lịch sử, nói chuyện truyền thống, thi tìm hiểu lịch sử với học sinh, thanh niên các địa phương; hoặc phối hợp với các báo, đài truyền hình giới thiệu về một thời đấu tranh oanh liệt của nhân dân Nghệ Tĩnh Ngoài ra cong thu hút nhiều đoang khách quốc tế đến tham quan
Trải qua 54 năm hoạt động, đội ngũ cán bộ bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh ngày càng trưởng thành Từ buổi ban đầu thành lập mới có một cán bộ
về chuyên môn, nay 99 % cán bộ có trình độ đại học, trong đó có 1 tiến sỹ và
1 thạc sỹ; cán bộ chuyên môn có khả năng tác nghiệp độc lập Bảo tàng cũng đang tuyển thêm cán bộ bảo tàng, là người có trình độ đại học, có nghiệp vụ chuyên môn và thạo viết, nói tiếng Lào
Là một Bảo tàng lưu niệm sự kiện lịch sử tiêu biểu trong cả nước, bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh đã và đang cố gắng phát huy những thành quả đạt được trong thời gian qua, góp phần xây dựng và phát huy giá trị di sản văn hoá của dân tộc; xây dựng con người mới, xây dựng Nghệ An và Hà tĩnh thành hai tỉnh gương mẫu, góp phần vào phát triển du lịch của cả nước
1.2.2.2 Vị trí và quy mô
*Vị trí:
Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh nằm trên đường Đào Tấn, ngay cạnh bảo tàng Tổng hợp Nghệ An, trong khu vực thành cổVinh Đây là nơi có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng của tỉnh
*Quy mô:
Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh lúc này đã có một khuôn viên với 2 ha, diện tích trưng bày có 10 phòng với 600 m2 đủ để thể hiện được khí thế đấu tranh hào hùng của nhân dân Nghệ Tĩnh năm 1930-1931
Trang 31Nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê lưu giữ tư liệu và hiện vật liên quan đến
sự kiện lịch sử Xô Viết Nghệ Tĩnh
Trưng bày, giới thiệu về phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh phục vụ khách tham quan tại bảo tàng, đưa giáo dục truyền thống Xô Viết Nghệ Tĩnh đến với nhân dân các vùng, miền trong tỉnh
Phục vụ cán bộ, học sinh, sinh viên nghiên cứu khai thác tư liệu về Xô Viết Nghệ Tĩnh hiện đang lưu giữ tại bảo tàng; Phục vụ các địa phương trong hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh xây dựng lịch sử Đảng bộ, xác minh lập hồ sơ đối với những người có công với cách mạng
1.2.2.4 Cơ cấu tổ chức
Trong đó:
- Ban giám đốc gồm: 1 giám đốc và 1 phó giám đốc
- Phòng nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản gồm: 6 người
- Phòng trưng bày, tuyên truyền gồm: 8 người
- Phòng hành chính, tổng hợp gồm: 6 người
1.2.2.5 Nội dung trưng bày
Bảo tàng XôViết Nghệ Tĩnh là nơi trưng bày chuyên đề về sự kiện lịch
sử tiêu biểu của dân tộc khi Đảng ta mới ra đời, đó là cao trào Xô Viết Nghệ
Trang 32Tĩnh năm 1930- 1931 Đây cũng là một trong ba bảo tàng được thành lập sớm nhất trong hệ thống bảo tàng Việt Nam Nó đã trở thành một thiết chế văn hóa nổi bật trong hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa xứ Nghệ Bảo tàng đã Sưu tầm được gần 15.000 hiện vật, tài liệu với hơn 1/3 là tài liệu, hiện vật gốc có giá trị và đến nay đã có 47 di tích Xô Viết Nghệ Tĩnh được công nhận di tích lịch sử- văn hóa cấp quốc gia
Nội dung trưng bày của bảo tàng có 3 phần chính:
Phần thứ nhất: Nguyên nhân dẫn đến phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh Phần thứ hai: Diễn biến và thành quả của phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh
Phần Thứ ba: Ảnh hưởng và ý nghĩa của phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh
1.2.3.Bảo tàng tổng hợp Nghệ An
1.2.3.1.Lịch sử hình thành
Bảo tàng tổng hợp Nghệ An ( hay bảo tàng Nghệ An) là nơi gìn giữ,
bảo tồn, giới thiệu toàn bộ đất nước, con người, lịch sử, văn hóa và các hoạt động liên tục, tiêu biểu của nhân dân Nghệ An từ xưa đến nay
Ngày 17 tháng 10 năm 1979 Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ Tĩnh đã có quyết định số 1103/TCUB- QĐ- UB về việc thành lập Bảo tàng Nghệ Tĩnh Tên gọi này gắn liền với thời kỳ nhập tỉnh của 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh Bảo tàng Nghệ Tĩnh từ khi ra đời và hoạt động đã mang tính chất là một bảo tàng loại hình khảo cứu địa phương, một bảo tàng tổng hợp Và do đó sau một thời gian hoạt động để phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của loại hình bảo tàng này nó đã điều chỉnh tên gọi là Bảo tàng tổng hợp Nghệ An đến nay đổi lại là Bảo tàng Nghệ An Bảo tàng Nghệ An là một thiết chế văn hóa không thể thiếu được trong cơ cấu tổ chức xã hội của tỉnh Nghệ An, có tầm quan trọng chiến lựơc và vai trò, ý nghĩa to lớn, trong đó có phát triển du lịch
Trang 331.2.3.2.Vị trí và quy mô
*Vị trí:
Bảo tàng Nghệ An tọa lạc trên một vùng đất cao Xa xưa, các nhà phong thủy, địa lý đã chọn nơi cát địa để xây tòa thành cổ, bên trong có cơ quan đầu não, có trại lính, kho lương với quan niệm thành cao, hào sâu sẽ chế ngự được giặc ngoại xâm để yên ổn sản xuất, phát triển kinh tế
Bảo tàng được mọi người, du khách tìm đến vì nó nằm trong khu vực thành cổ Vinh, gần sân vận động, thánh địa của đội bóng Sông Lam Người ta
đã chon được một vùng đất để xây dựng bảo tàng, một công trình kiến trúc mang tầm vóc thế kỷ có sự kết hợp giữa nhu cầu phát triển văn hóa- du lịch
*Quy mô:
So với các công trình cổ và công trình hiện đại, bảo tàng Nghệ An đồ
sộ, khang trang xứng đáng là một địa chỉ đỏ, một công trình văn hóa đẹp về
về kiến trúc, khá hấp dẫn về chủ đề, nghệ thuật trưng bày
Nhìn tổng thể, mặt bằng của bảo tàng có 3 công trình: sân vườn, nhà trưng bày và nhà kho Trong đó, nhà trưng bày là công trình chính với diện tích 3.900m2, ngôi nhà 3 tầng với kết cấu bền vững
1.2.3.3 Cơ cấu tổ chức
Trang 34Trong đó:
- Ban giám đốc gồm 1 giám đốc và 2 phó giám đốc
- Phòng nghiên cứu, kiểm kê, bảo quản gồm 1 trưởng phòng, 1 phó phòng ( tổng số là 10 cán bộ )
- Phòng sưu tầm, trưng bày, tuyên truyền gồm 1 trưởng phòng, 1 phó phòng ( tổng số cán bộ là 10 người)
Với tư cách một bảo tàng tỉnh, thành phố, bảo tàng Nghệ An cũng thực hiện đầy đủ các chức năng xã hội của mình: chức năng nghiên cứu khoa học; chức năng giáo dục tuyên truyền; chức năng bảo vệ, bảo quản di sản văn hóa; chức năng tài liệu hóa khoa học; chức năng thông tin, giải trí và thưởng thức
*Nhiệm vụ:
Bảo tàng có nhiệm vụ nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, trưng bày các hiện vật, tư liệu tiêu biểu về lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội giúp cho nhân dân Nghệ An hiểu biết thêm, tự hào về truyền thống lịch sử quê hương
Bảo tàng thực hiện các nhiệm vụ chính sau:
- Sưu tầm, kiểm kê, bảo quản và trưng bày các sưu tập hiện vật;
- Nghiên cứu khoa học phục vụ việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa ;
- Tổ chức phát huy giá trị văn hóa phục vụ xã hội;
- Quản lý cơ sở vật chất và trang thiết bị kỷ thuật;
- Thực hiện hợp tác quốc tế theo quy định của pháp luật;
Trang 35- Tổ chức hoạt động dịch vụ phục vụ khách tham quan phù hợp với nhiệm
vụ của bảo tàng;
- Thực hiện nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật
Với quy mô như hiện nay, bảo tàng không chỉ dừng lại ở hoạt động nghiên cứu tại chỗ mà còn có trách nhiệm hướng dẫn phục vụ nghiên cứu, bảo
vệ, phát huy các di tích ở địa bàn 19 huyện, thành phố, thị xã trong tỉnh Nó còn có nhiệm vụ chỉ đạo các nhà truyền thống huyện, nhà truyền thống xã,
cơ quan để khơi dậy niềm tự hào về qua khứ của quê hương và dân tộc Bên cạnh đó còn phục vụ nhu cầu tham quan du lịch của du khách gần xa
1.2.3.5 Nội dung trưng bày
Với hơn 1,7 vạn tài liệu, hiện vật; xếp hạng được nhiều di tích: trưng bày được hơn 30 chuyên đề về lịch sử, văn hóa, phục vụ hàng triệu lượt khách
tham quan ( năm 2001) Đến nay bảo tàng có hơn 20 nghìn tài liệu, hiện vật
bằng giấy, thể khối khác nhau
Vào bảo tàng, phòng khánh tiết là một không gian tương đối rộng, trang trọng, đặt bức tượng Hồ Chí Minh bằng đồng với dáng người thanh thản, đôi mắt hiền từ, vầng trán cao như dẫn bước cho cả dân tộc đi lên, phía sau là bức phù điêu phản ánh khái quát về đất nước, con người Nghệ An
Dựa trên khối lượng hiện vật lớn như vậy, bảo tàng trưng bày với 7 chủ
đề thương trực và 5 chủ đề mang tính triển lãm:
Chủ đề 1: Đất nước- con người Nghệ An ( hay điều kiện địa lý- tài
nguyên) cho chúng ta thấy được vị thế của Nghệ An , vùng đất địa linh với tài nguyên phong phú
Chủ đề 2: Nghệ An thời kỳ tiền sử Giúp chúng ta thấy được khung cảnh
sinh hoạt đơn sơ, hoang dã của người nguyên thủy, người Việt cổ trên đất Nghệ An như : Thẩm Òm, Quỳnh Văn, làng Vạc,…cách ngày nay từ hàng vạn đến hàng ngàn năm
Chủ đề 3: Các dân tộc Nghệ An- đời sống kinh tế và bản sắc văn hóa
Giới thiệu địa bàn cư trú, các nghề sản xuất, phong tục tập quán và các sinh
Trang 36hoạt văn hóa đa dạng của các dân tộc như: Việt, Thái, Thổ, H’mông, Kh mú,
Ơ Đu đã sinh sống ở Nghệ An
Chủ đề 4: Nghệ An đấu tranh, xây dựng dưới thời phong kiến Phản ánh
một cách khái quát quá trình lao động cần cù, sáng tạo, ý chí kiên cường chống giặc ngoại xâm, giữ vũng độc lập dân tộc của con người Nghệ An
Chủ đề 5: Nghệ An đấu tranh giành độc lập dân tộc dưới sự lãnh đạo
của Đảng Khái quát bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ 19, thế kỷ 20 với
phong trào cách mạng sục sôi của nhân dân Nghệ An dưới sự lãnh đạo của Đảng ở thời kỳ cánh mạng 1930- 193, tháng 8/ 1945, kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ
Chủ đề 6- 7: Nghệ An xây dựng chủ nghĩa xã hội- đổi mới Giới thiệu
những chiến công, thành tựu về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng mà nhân dân Nghệ An đạt được từ năm 1954 đến nay
Ngoài chủ đề trưng bày chính, bảo tàng còn trưng bày chuyên đề mang tính triển lãm như: danh nhân Nghệ An, ngành nghề truyền thống Nghệ An, điêu khắc- mỹ thuật- kiến trúc cổ Nghệ An,…
Trang 37thế phát triển chung ấy, bảo tàng ở thành phố Vinh ( Nghệ An) đã được đầu tư
nâng cấp, đổi mới trưng bày với trang thiết bị hiện đại
Bảo tàng ở thành phố Vinh là một trong những bảo tàng ra đời sớm
nhất cả nước: bảo tàng Quân khu 4 ( 1966), bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh ( 1960) và bảo tàng Tổng hợp Nghệ An ( 1979) Trong suốt quá trình hình
thành, phát triển, ba bảo tàng này đã góp phần quan trọng trong việc gìn giữ, trưng bày, giáo dục khoa học, giáo dục truyền thống cho nhân dân
Được xây dựng ngay khu vực trung tâm của tỉnh Nghệ An- vùng đất lịch sử, văn hiến, bảo tàng ở đây có điều kiện thuận lợi để phát triển, thu hút đông đảo khách đến tham quan tìm hiểu, nghiên cứu, học tập
Những năm qua du lịch Nghệ An đã có bước đổi thay nhanh chóng, kết cấu hạ tầng du lịch được quan tâm đầu tư, nâng cấp và phát triển Nhiều tuyến đường giao thông tiếp cận các khu du lịch trọng điểm của tỉnh được đầu
tư xây dựng, nhất là đối với khu vực ven biển Sân bay Vinh được nâng cấp
đủ khả năng đón máy bay lớn hơn; hệ thống bưu chính viễn thông, điện, cấp thoát nước ngày càng hoàn thiện và hiện đại hóa
Nhiều công trình văn hóa, di tích lịch sử, di tích cách mạng được quan tâm đầu tư xây dựng và bảo tồn tôn tạo, trong đó một số công trình như Dự án Bảo tồn tôn tạo Khu di tích lịch sử văn hoá Kim Liên, Khu mộ Bà Hoàng Thị Loan, Quảng trường Hồ Chí Minh và Tượng đài Bác Hồ, Đền thờ vua Quang
Trang 38Trung, thành cổ Vinh, chùa Đảo Ngư…đã hoàn thành đưa vào hoạt động trở thành những điểm du lịch văn hoá, tâm linh hấp dẫn đối với du khách và nhân dân cả nước
Hệ thống cơ sở vật chất phục vụ du lịch phát triển nhanh chóng cả về quy mô và chất lượng, góp phần làm thay đổi bộ mặt của nhiều vùng quê, đô thị Đến thời điểm hiện tại trên địa bàn toàn tỉnh có 549 cơ sở lưu trú với 12.043 phòng, 22.487 giường, trong đó có 4 khách sạn 4 sao, 8 khách sạn 3 sao và gần 50 khách sạn 1- 2 sao Toàn tỉnh có 26 doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, trong đó có 09 đơn vị lữ hành quốc tế, 17 đơn vị lữ hành nội địa Sản phẩm du lịch, dịch vụ từng bước được đa dạng hóa và nâng cao chất lượng với trọng tâm là du lịch văn hoá lịch sử gắn với lễ hội và tâm linh, du lịch nghỉ dưỡng, trong đó Khu di tích Kim Liên, Bãi biển Cửa Lò đã trở thành điểm đến hấp dẫn và là địa chỉ đỏ trên bản đồ du lịch Việt Nam
Công tác tuyên truyền quảng bá xúc tiến du lịch được đẩy mạnh và đem lại hiệu quả thiết thực, tổ chức được nhiều hoạt động văn hoá, du lịch gắn với các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước để quảng bá hình ảnh Nghệ An đến với du khách và nhân dân cả nước Hoạt động liên kết hợp tác phát triển
du lịch với các tỉnh trong nước, trong khu vực ngày càng được mở rộng
Đội ngũ lao động có bước trưởng thành cả về số lượng và chất lượng
Hệ thống trường có đào tạo nghề du lịch phát triển khá nhanh, chất lượng đào tạo từng bước được cải thiện như trường Đại học Vinh, trường cao đẳng du lịch Nghệ An, Hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh Nghệ An ngày càng tăng trưởng nhanh và hiệu quả ngày càng rõ Tổng lượng khách du lịch đến Nghệ An giai đoạn 2006 - 2010 tăng bình quân 14,4% năm, tổng doanh thu dịch vụ du lịch tăng bình quân 23,7%/năm Riêng năm 2011, mặc
dù gặp nhiều khó khăn do lạm phát kinh tế toàn cầu, du lịch Nghệ An vẫn đạt mức tăng trưởng khá, tổng lượng khách du lịch đạt 2,95 triệu lượt, trong đó có trên 98.000 lượt khách quốc tế, tổng doanh thu dịch vụ du lịch toàn ngành đạt 1.317 tỷ đồng, bằng 130% so với năm 2010, trong đó danh thu khách quốc tế
Trang 39ước đạt 17 triệu USD Hoạt động du lịch cũng tạo việc làm cho gần 13.000 lao động trực tiếp và gián tiếp trên địa bàn
Riêng về hoạt động của bảo tàng, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước
và tỉnh nhà, bảo tàng ở thành phố Vinh đã được đầu tư nâng cấp, tu sửa để phục vụ nhu cầu ngày càng cao của mọi đối tượng du khách
2.1.2 Kết quả đạt được
Thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong những năm qua bảo tàng ở thành phố Vinh đã thu được những kết quả to lớn, đáng ghi nhận
Công tác nghiên cứu khoa học:
Công tác nghiên cứu khoa học được các bảo tàng ở thành phố Vinh đặc biệt quan tâm Năm 2013, bảo tàng Tổng hợp Nghệ An đã phối hợp với đoàn chuyên gia nghiên cứu Viện Việt Nam học và khoa học phát triển nghiên cứu giao thương buôn bán Việt- Nhật làm việc tại huyện Hưng Nguyên Bảo tàng cũng đã phối hợp với các chuyên gia Nhật Bản, Đoàn chuyên gia người Đức nghiên cứu hiện vật; phục vụ đoàn tăng ni Thiền Viện Phật giáo Đà Lạt, Hồng Lĩnh nghiên cứu hiện vật liên quan đến Phật giáo; phối kết hợp với đài truyền hình trong và ngoài tỉnh quy phim, chụp ảnh, nghiên cứu tư liệu hiện vật Ngoài ra, bảo tàng đã nghiên cứu và hoàn thành dịch thuật tài liệu chưc Hán với 11.201 chữ tương ứng 128 trang
Trong những năm qua, các bảo tàng ở thành phố Vinh đã thực hiện tốt công tác nghiên cứu khoa học và áp dụng kết quả nghiên cứu vảo tổ chức trưng bày, bảo quản hiện vật…Hoàn thành các đề tài nghiên cứu khoa học cấp
cơ sở như: Công tác kiểm kê bảo quản của bảo tàng Quân khu Thực trạng và
giải pháp ( bảo tàng Quân khu 4), đề tài khoa học cấp tỉnh của bảo tàng Xô
Viết Nghệ Tĩnh “ Đưa Xô Viết Nghệ Tĩnh vào trường học
Công tác sưu tầm:
Từ khi thành lập, các bảo tàng đã chú trọng công tác sưu tầm hiện vật
và đã thu được một số lượng hiện vật, tài liệu lớn: bảo tàng Quân khu 4 là
Trang 4010.000 hiện vật, tài liệu; bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh là 15.000; bảo tàng tổng hợp Nghệ An là 20.000 tài liệu, hiện vật Riêng năm 2013, công tác sưu tầm ở các bảo tàng thu được kết quả to lớn:
Bảo tàng Quân khu 4 đã sưu tầm được trên 1.000 hiện vật trong kháng chiến, di vật liệt sỹ, hình ảnh, sáng kiến kỹ thuật trong các hoạt động của lực lượng vũ trang quân khu
Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh đã tổ chức sưu tầm hiện vật, tài liệu tại các tỉnh Khánh Hòa, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi và Bộ công an đã thu được 40 hiện vật thể khối, 150 hồ sơ và ảnh, dịch thuật tài liệu tiếng Hán, tiếng Pháp ra tiếng Việt với 200 trang
Bảo tàng Tổng hợp Nghệ An đã triển khai sưu tầm được 96 ảnh, 9 bản tài liệu, 1 hiện vật Lịch Dọi người Mường, 1.8 kg đồng tiền cổ tại xã Nghi Thiết- Nghi Lộc, 3 mẫu xương cá voi tại xã Diễn Kỷ- Diễn Châu
Công tác kiểm kê, bảo quản:
Công tác kiểm kê, bảo quản đảm bảo đưa ra các thông tin chính xác, đầy đủ nhất và sự tồn tại lâu dài của hiện vật Trong suốt thời gian tồn tại và hoạt động, các bảo tàng đã có những kế hoạch nhằm xây dựng kho bảo quản hiện vật, tổ chức bảo quản hiện vật định kỳ Tiến hành kiểm kê khoa học và viết lý lịch hoàn thiện hồ sơ khoa học đối với những hiện vật mới sưu tầm được
Bảo tàng Quân khu 4 viết lý lịch hoàn thiện 250 bộ hồ sơ khoa học hiện vật bảo tàng, bảo quản trên 15.000 hiện vật kho cơ sở, hiện vật phòng trưng
bày, sữa chữa 2 hiện vật thể khối trưng bày ngoài trời ( năm 2013)
Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh thực hiện công tác kiểm kê, bảo quản định
kỳ khối lượng hiện vật đồ sộ trong kho và trong nhà trưng bày, với hơn 20.000 hiện vật, tài liệu Để bảo quản tốt hơn nữa hiện vật quý giá về phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, kho bảo quản được đầu tư xây dựng mới với diện tích 300 m2, bổ sung phương tiện bảo quản hiện đại hơn; tạo điều kiện cho kho mở hoạt động