Những công trình, tài liệu bàn về việc dạy học các bài thơ trữ tình Việt Nam hiện đại mang dấu ấn tượng trưng chủ nghĩa trong SGK Ngữ văn 11, 12 THPT Chúng tôi nhận thấy có rất nhiều t
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS PHAN HUY DŨNG
NGHỆ AN - 2014
Trang 3Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của luận văn 4
7 Cấu trúc của luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1 Thi phái tượng trưng chủ nghĩa và ảnh hưởng của nó đến thơ Việt Nam hiện đại 6
1.1.1 Thi phái tượng trưng chủ nghĩa 6
1.1.2 Ảnh hưởng của thi phái tượng trưng chủ nghĩa đến thơ Việt Nam hiện đại 11
1.2 Về những bài thơ trữ tình Việt Nam hiện đại mang dấu ấn tượng trưng chủ nghĩa trong SGK Ngữ văn 11, 12 THPT 20
1.2.1 Nhận diện những yếu tố tượng trưng chủ nghĩa trong một bài thơ trữ tình hiện đại 20
1.2.2 Tổng quan về những bài thơ trữ tình Việt Nam hiện đại mang dấu ấn tượng trưng chủ nghĩa trong SGK Ngữ văn 11, 12 THPT 24
1.3 Vấn đề quán triệt nguyên tắc bám sát đặc trưng thể loại - loại hình của tác phẩm trong dạy học đọc hiểu thuộc môn Ngữ văn THPT 26
1.3.1 Thể loại - loại hình như là quy luật chỉnh thể của tác phẩm văn học sau 26
Trang 4đặc trưng thể loại - loại hình 27 1.4 Tình hình dạy học những bài thơ trữ tình mang dấu ấn tượng
trưng chủ nghĩa theo SGK Ngữ văn 11, 12 THPT 30
1.4.1 Sự lúng túng trong việc lựa chọn phương pháp tiếp cận
hữu hiệu 30 1.4.2 Sự cắt nghĩa tùy tiện đối với các yếu tố tượng trưng chủ
nghĩa trong bài thơ 31
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NHỮNG BÀI THƠ TRỮ TÌNH
VIỆT NAM MANG DẤU ẤN TƯỢNG TRƯNG CHỦ NGHĨA TRONG
SGK NGỮ VĂN 11, 12 THPT 33 2.1 Những định hướng cơ bản 33 2.1.1 Luôn ý thức về đặc thù thi pháp của các bài thơ mang dấu ấn
tượng trưng chủ nghĩa 33 2.1.2 Thường xuyên sử dụng thủ pháp so sánh trong hoạt động
phân tích tác phẩm 38 2.1.3 Lựa chọn hình thức diễn đạt riêng về ý nghĩa của hình tượng
tượng trưng 42 2.2 Một số phương pháp, biện pháp dạy học 44 2.2.1 Phương pháp, biện pháp khai thác ý nghĩa của hệ thống
biểu tượng 44 2.2.2 Phương pháp, biện pháp khai thác cách tạo nhạc tính trong
bài thơ 47 2.2.3 Phương pháp, biện pháp khai thác mạch liên tưởng trong
bài thơ 50
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 52 3.1 Mục đích thực nghiệm 52
Trang 53.2.1 Đối tƣợng và địa bàn thực nghiệm 52
3.2.2 Thời gian thực nghiệm 53
3.2.3 Thiết kế giáo án dạy thực nghiệm 54
3.3 Tiến trình thực nghiệm 80
3.4 Kết quả thực nghiệm 81
3.4.1 Tiêu chuẩn đánh giá 81
3.4.2 Đánh giá kết quả thực nghiệm về phía giáo viên 82
3.4.3 Đánh giá thực hiện từ phía học sinh 82
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 PHỤ LỤC
Trang 6GV : Giáo viên
HS : Học sinh SGK : Sách giáo khoa SGV : Sách giáo viên THPT : Trung học phổ thông TPVH : Tác phẩm văn học
Trang 7Trang Bảng 1.1 Thống kê văn bản thơ trữ tình Việt Nam mang dấu ấn
tượng trưng chủ nghĩa trong chương trình SKG Ngữ văn (THCS, THPT) bộ sách cơ bản 25 Bảng 3 1 Thống kê danh sách các lớp học và các GV tham gia dạy
đối chứng và thực nghiệm 53 Bảng 3.2 Bảng kết quả số bài kiểm tra của học sinh lớp thực nghiệm
và đối chứng 83 Bảng 3.3 Bảng đánh giá kết quả xếp loại của học sinh lớp thực nghiệm
và đối chứng 83
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Thơ trữ tình Việt Nam được dạy học theo chương trình và sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn THPT rất đa dạng về loại hình và giữa các loại hình thường có sự giao thoa phức tạp Chúng ta đã có nhiều tài liệu bàn về phương pháp dạy học thơ trữ tình nói chung Điều đó thật giàu ý nghĩa, giúp giáo viên có được định hướng đúng để tổ chức những giờ dạy học thơ trữ tình đạt chất lượng tốt Tuy nhiên, nếu tính đến sự phong phú về loại hình của thơ trữ tình và hiện tượng giao thoa phức tạp vừa nói, những nghiên cứu về phương pháp dạy học thơ trữ tình cần được triển khai sâu rộng hơn nữa, bám sát vào đặc trưng của từng lại hình thơ, hiện tượng thơ cụ thể Hiện nay, trong dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông, đây quả thực là một nhu cầu bức thiết
1.2 Trong chương trình và SGK Ngữ văn 11, 12 THPT có nhiều bài
thơ mang đậm dấu ấn tượng trưng chủ nghĩa, của những tác giả như Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Hoàng Cầm, Nguyễn Đình Thi, Thanh Thảo… Khi dạy học những bài này, cả giáo viên và học sinh đều có những lúng túng nhất định Các tài liệu hướng dẫn dạy học (đặc biệt là sách
giáo viên) thường nhắc đến các khái niệm tượng trưng, siêu thực nhưng
không nêu được định hướng cụ thể giúp người dạy, người học vượt qua được những thách thức Đây chính là điều khiến chúng tôi thường xuyên trăn trở, suy nghĩ
1.3 Đề tài của chúng tôi được hình thành khi chúng tôi trực tiếp đối
diện với bài Đàn ghi ta của Lorca của Thanh Thảo trong SGK Ngữ văn 12 Đi sâu tìm hiểu các khái niệm tượng trưng, siêu thực theo gợi ý của sách giáo
viên, chúng tôi nhận thấy vấn đề đã được mở rộng ra, đụng đến nhiều bài thơ
trữ tình khác được dạy học trong chương trình, nhất là chương trình Ngữ văn
Trang 9các lớp 11, 12 Hy vọng qua tìm hiểu đề tài này, chúng tôi sẽ có được những
đề xuất hữu ích, giúp cho việc dạy học những bài thơ trữ tình Việt Nam hiện đại mang dấu ấn tượng trưng chủ nghĩa đạt được hiệu quả tốt đẹp hơn
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Những công trình bàn về thi phái tượng trưng và ảnh hưởng của
nó đến thơ Việt Nam hiện đại
Thơ tượng trưng là một trường phái tiêu biểu của nền thơ ca Pháp ở thế
kỉ XIX Đây là một trường phái văn học lớn nên đã trở thành đối tượng được rất nhiều công trình nghiên cứu bàn đến Sau đây chúng tôi xin điểm qua một
số công trình mang tính chất giáo khoa đã giới thiệu một cách khái quát về thơ tượng trưng, trường phái thơ tượng trưng, chủ nghĩa tượng trưng
Giáo trình lí luận văn học (2002) của Đại học Sư phạm Hoa Trung, Vũ
Hán (Trung Quốc) có giải thích sự ra đời của thơ trượng trưng và nêu rõ đặc điểm thi phái thơ tượng trưng
Tài liệu chuyên văn, tập 1 (2013) do Đỗ Ngọc Thống (chủ biên) cũng
bàn luận: thơ tương trưng là khát vọng tìm kiếm cái bí ẩn sâu kín đằng sau các
sự vật, hiện tượng, cảm giác, nó hướng tới ý niệm siêu cảm giác, tới cái vô thức [45, 129]
Gần đây, trên một số báo mạng có rất nhiều bài viết về thơ tượng
trưng, chủ nghĩa tượng trưng: Baudelaire chủ nghĩa tượng trưng và Thơ mới, Hoàng Ngọc Hiến; Chủ nghĩa tượng trưng trong tác phẩm văn học, Nhã Thuyên dịch; Bàn về chất tượng trưng trong thơ Xuân Diệu trước 1945, trích
Ba đỉnh cao Thơ mới của Chu Văn Sơn; Vấn đề tiếp nhận các yếu tố nghệ thuật thơ tượng trưng trong Thơ mới, Nguyễn Hữu Hiếu;…
Cũng đã có nhiều khóa luận, luận văn tốt nghiệp, sáng kiến kinh nghiệm
của học viên, giáo viên quan tâm đến vấn đề này như luận văn Yếu tố tượng
trưng, siêu thực trong thơ Thanh Thảo (2011) của Đỗ Thanh Tuấn, Đà Nẵng
Trang 10Các công trình, bài viết đã nêu trên đã ít nhiều quan tâm tới đặc điểm thơ tượng trưng Tất cả đều là nguồn tư liệu rất cần thiết, đưa ra những gơi ý
vô cùng quý giá để chúng tôi viết đề tài này
2.2 Những công trình, tài liệu bàn về việc dạy học các bài thơ trữ tình Việt Nam hiện đại mang dấu ấn tượng trưng chủ nghĩa trong SGK
Ngữ văn 11, 12 THPT
Chúng tôi nhận thấy có rất nhiều tài liệu bàn về việc dạy học các bài
thơ trữ tình Việt Nam mang dấu ấn tượng trưng chủ nghĩa trong SGK Ngữ
văn 11, 12 THPT như: bộ SGK Ngữ văn chương trình cơ bản do tác giả Phan
Trọng Luận tổng chủ biên; bộ SGK Ngữ văn nâng cao do 11, 12 do Trần Đình
Sử tổng chủ biên; bộ sách Dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ
văn 11, 12 do Phạm Trọng Luận chủ biên Chúng tôi nhận thấy những bộ sách
này đã định hướng cho GV, HS khám phá tác phẩm bằng hệ thống câu hỏi học bài, xác định được trọng tâm kiến thức mỗi bài và định hướng cho GV
cách tổ chức bài học Cuốn thiết kế bài giảng Ngữ văn 11, 12 của Nguyễn Văn Đường; Kĩ năng đọc hiểu văn bản của Nguyễn Kim Phong… Tuy nhiên
các công trình, tài liệu này mới chỉ dừng lại ở việc khám phá, phân tích một tác phẩm cụ thể, chưa đưa ra phương pháp chung nhất cho việc dạy thơ trữ tình mang dấu ấn tượng trưng, trong khi GV đứng lớp đang rất cần gợi ý cụ
thể về các phương pháp, biện pháp dạy học
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là định hướng và phương pháp dạy học những bài thơ trữ tình Việt Nam mang dấu ấn tượng trưng chủ nghĩa
trong SGK Ngữ văn 11, 12 THPT
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài, bao gồm việc làm sáng tỏ những vấn đề về thi phái tượng trưng chủ nghĩa và ảnh hưởng của nó
Trang 11đến thơ trữ tình Việt Nam hiện đại; vấn đề quán triệt nguyên tắc bám sát đặc trưng thể loại - loại hình của tác phẩm trong dạy học đọc hiểu; tình hình dạy học các bài thơ trữ tình Việt Nam mang dấu ấn tượng trưng chủ nghĩa trong
SGK Ngữ văn 11, 12 THPT
4.2 Xác lập định hướng cơ bản và xây dựng hệ thống phương pháp, biện pháp dạy học những bài thơ trữ tình Việt Nam mang dấu ấn tượng trưng
chủ nghĩa trong SGK Ngữ văn 11, 12 THPT
4.3 Tiến hành thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi của những phương pháp, biện pháp được đề xuất nhằm khắc phục những bất cập của việc dạy học những bài thơ trữ tình Việt Nam mang dấu ấn tượng trưng
chủ nghĩa trong SGK Ngữ văn11, 12 THPT
5 Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng phối hợp nhiều phương pháp thuộc hai nhóm nghiên
cứu lý thuyết và nghiên cứu thực tiễn:
- Dùng các phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phân loại và
hệ thống hóa lý thuyết để đánh giá, thẩm định những công trình nghiên cứu đã
có liên quan đến đề tài
- Dùng các phương pháp quan sát và điều tra để nắm bắt được những
dữ liệu cần thiết về hoạt động dạy học các bài thơ trữ tình mang dấu ấn tượng
trưng chủ nghĩa trong SGK Ngữ văn 11, 12 THPT
- Dùng phương pháp thực nghiệm để thẩm định, đánh giá tính khoa
học, khả thi của hệ thống phương pháp, biện pháp được đề xuất trong luận văn trên vấn đề dạy học các bài thơ trữ tình mang dấu ấn tượng trưng chủ
nghĩa trong SGK Ngữ văn 11, 12 THPT
6 Đóng góp của luận văn
Góp phần tháo gỡ những khó khăn trong việc dạy học các bài thơ trữ
tình Việt Nam mang dấu ấn tượng trưng chủ nghĩa trong SGK Ngữ văn 11, 12
Trang 12THPT, thông qua việc đề xuất những phương pháp, biện pháp dạy học có tính khả thi
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận
văn được triển khai qua 3 chương:
Chương 1 Cơ sở khoa học của đề tài
Chương 2 Phương pháp dạy học những bài thơ trữ tình Việt Nam
mang dấu ấn tượng trưng chủ nghĩa trong SGK Ngữ văn
11, 12 THPT Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Thi phái tượng trưng chủ nghĩa và ảnh hưởng của nó đến thơ Việt Nam hiện đại
1.1.1 Thi phái tượng trưng chủ nghĩa
1.1.1.1 Sự ra đời, quá trình phát triển
Chủ nghĩa tượng trưng là trường phái văn học xuất hiện sớm nhất trong văn học hiện đại chủ nghĩa Âu Mĩ và có ảnh hưởng sâu sắc đối với các trường phái xuất hiên sau Chủ nghĩa tượng trưng là một trào lưu nghệ thuật mang một quan điểm triết học - mỹ học riêng xuất hiện cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ
XX, nối tiếp chủ nghĩa lãng mạn Như chúng ta đã biết, trường phái lãng mạn
ra ra đời những năm 20 của thế kỉ XIX ở nước Pháp, nó chiếm lĩnh văn đàn trong mấy chục năm Thơ lãng mạn thổi luồng gió mới vào thi đàn với việc bày tỏ cảm xúc một cách trực tiếp, bày tỏ sự bất mãn với cuộc sống tầm thường của xã hội tư sản Các nhà lãng mạn chủ nghĩa hướng về một thế giới khác thường mà họ tìm thấy trong các thời đại lịch sử đã qua, trong những bức tranh kì diệu của thiên nhiên, trong đời sống, sinh hoạt, tập quán của các dân tộc và đất nước xa xôi Họ đem những ước vọng cao cả và những biểu hiện cao nhất của đời sống tinh thần như nghệ thuật… đối lập với thực tiễn vật chất tầm thường Một cá nhân cô đơn xung đột với môi trường xung quanh, một khát vọng tự do cá nhân vô hạn tách biệt hoàn toàn với xã hội, dẫn tới sự thích thú với những tình cảm mạnh mẽ, những tương phản gay gắt, những vận động bí ẩn tối tăm của tâm hồn Ý thức đầy đủ về vai trò của cá tính sáng tạo của nghệ sĩ, họ cho rằng nghệ sĩ có quyền cải biến thế giới hiện thực bằng cách tạo cho mình một thế giới riêng đẹp hơn, thích sự tưởng tượng phóng khoáng và bác bỏ tính quy phạm trong mĩ học và sự quy định có tính
Trang 14chất duy lí trong nghệ thuật Các đại diện xuất sắc của trường phái này Chateaubriant, Lamartine, Hugo… Sự ra đời của trường phái này cũng ảnh hưởng không nhỏ tới nền thơ ca Việt Nam Ở Việt Nam, chủ nghĩa lãng mạn như một trào lưu văn học xuất hiện vào những năm 30 của thế kỉ XX Tiêu biểu cho trào lưu văn học này là sáng tác tác văn xuôi của nhóm Tự lực văn đoàn và sáng tác thơ ca của phong trào Thơ mới Tuy nhiên đây là một hiện tượng không thuần nhất Vì vậy, sau một thời gian thống ngự trên thi đàn, người ta cảm thấy nhàm chán trường phái lãng mạn với cách viết dài dòng, lắm lời… Họ tìm đến cách viết mới mẻ hơn, lúc đó thơ tượng trưng ra đời Đi đầu là các nhà thơ Pháp giữa thế kỉ 19 như Baudelaire, nhà thơ Mĩ Edgar Allan Poe, ngoài ra còn có Paul Verlaine, Stephane Mallarmé… và nếu như Baudelaire nêu lên sự tương ứng kì bí giữa các giác quan, tình cảm thì Verlaine cho rằng thơ ca là thứ âm nhạc gợi cảm, qua sắc thái và những biểu tượng tế nhị dẫn đến tình cảm bán ý thức Còn Rimbaud thì nhấn mạnh đến hình thái siêu thực và cố gắng tạo ra một thứ ngôn ngữ mà mọi giác quan có
thể cảm thụ được Tập thơ Hoa ác của Baudelaire đã được các nhà lịch sử văn
học xếp vào sự kiện quan trọng bậc nhất của chủ nghĩa tượng trưng
18-9-1886 nhà thơ người Pháp R Molas chính thức đề xuất tên gọi “chủ nghĩa
tượng trưng” và phát biểu Tuyên ngôn của chủ nghĩa tượng trưng Stephane
Mallarmé là nhà lí luận của chủ nghĩa tượng trưng Ông tổng kết kinh nghiệm sáng tác thơ ca tượng trưng, đề xuất một loạt luận điểm về chủ nghĩa tượng trưng Sang thế kỉ 20, chủ nghĩa tượng trưng truyền bá đến các nước Âu Mĩ, gọi là chủ nghĩa tượng trưng hậu kì với những tác giả như Wallace của Pháp, Rainer Maria Rilke của Đức, Eliot, Pound của Mĩ, William Butler Yeats của Ireland Thành tựu chủ yếu của chủ nghĩa tượng trưng biểu hiện trong lĩnh vực thơ ca, cũng ảnh hưởng đến kịch và tiểu thuyết, ví dụ như nhà viết kịch câm Maurice Maeterlinck là đại biểu tiêu biểu cho chủ nghĩa tượng trưng ở
Trang 15lĩnh vực kịch Từ “tượng trưng” trong tiếng Hi Lạp chỉ miếng gỗ hoặc đồ gốm phân thành hai nửa, mỗi người nắm một nửa, khi gặp lại ghép thành một bản, chỉ tín vật thân thiện, sau đó phát triển thành cái thay thế cho quan niệm hoặc
sự vật, như cái thẻ thay thế cho vương quyền, cây thánh giá thay thế cho thiên chúa giáo… Chữ tượng trưng trong chủ nghĩa tượng trưng không phải là tượng trưng trong kí hiệu học, cũng không chỉ chỉ một thủ pháp nghệ thuật nào đó, mà có ý nghĩa riêng Nó biểu hiện một loại quan niệm văn học phản hiện thực, phi lí tính Chủ nghĩa tượng trưng dựa vào lí luận của Kant, cho rằng hiện thực là đối tượng làm cho con người đau khổ, giả dối và không có ý thơ, không thể thành thơ, ở bên ngoài hiện thực vẫn còn một hiện thực vĩnh hằng khác, đó là chân thực, chân lí, thế giới đó tuy không nhìn thấy, không thể biết, không thể dùng lí tính mà phải nắm bắt thông qua tâm linh cảm tính, cái mà nhà thơ tìm kiếm là thế giới đó
Trong việc chọn đề tài, thơ ca tượng trưng ngoài những cái rất nhỏ, thường không thâm nhập vào đề tài xã hội rộng lớn, mà thường chú trọng thế giới nội tâm bí hiểm và mộng ảo hư vô của nhà thơ, thể hiện cảm nhận chủ quan, đặt quan niệm hoặc tình cảm của thế giới nội tâm vào trong hình thức cảm tính Trong thủ pháp biểu hiện, thơ ca tượng trưng phủ định tu từ trống rỗng và thuyết giáo cứng nhắc, nhấn mạnh hình tượng trực cảm, thông qua thủ pháp biểu hiện ám thị, tô đậm, so sánh, liên tưởng, tượng trưng… biểu hiện thế giới có thể cảm thấy của nội tâm nhà thơ tượng trưng, cố gắng đem thế giới bên ngoài hướng vào thế giới tinh thần bên trong
Tóm lại, thơ tượng trưng là một trường phái thi ca Pháp có ảnh hưởng lớn đến thơ ca Việt Nam hiện đại Trong quá trình phát triển, thơ tượng trưng gặp không ít cản trở, phản ứng từ nhiều phía Nhưng vượt qua thử thách, chủ nghĩa tượng trưng đã làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình mở ra một nền văn
học mới, hiện đại
Trang 161.1.1.2 Những đặc điểm thi pháp của thơ trữ tình thuộc thi phái tượng
trưng chủ nghĩa
Mỗi loại hình nghệ thuật và thể loại văn học có đặc điểm khác nhau về thi pháp, đành rằng xét về mặt lịch sử, mỗi loại hình văn học có sự tiếp nối trong tiến trình phát triển của nền văn học đó Nhưng xét về mặt mĩ học, chúng liên tục “phủ nhận”lẫn nhau, nhằm xác lập những nguyên tắc thẩm mĩ mới trong cách nhìn nhận con người và thế giới Mỗi loại hình văn học có một đặc điểm riêng về mặt thi pháp, đòi hỏi mỗi nhà văn khi sáng tác phải tuân thủ Và nếu người tiếp nhận tác phẩm văn chương không tìm hiểu đặc điểm thi pháp của loại hình, thể loại văn học thì chắc chắn việc tìm hiểu nội dung rất khó và thậm chí sai lệch Vì vậy, chúng ta nhận thấy đây là một yêu cầu rất quan trọng trong việc tìm hiểu loại hình văn học nói chung, và loại hình thơ trữ tình thuộc thi phái thơ tương trưng chủ nghĩa nói riêng, nhất là trong đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn trong giai đoạn hiện nay
Như chúng ta đã biết, thi pháp - thi pháp học là thuật ngữ đã có từ thời
cổ Hi Lạp với tác phẩm của Aristoteles Thi pháp là thuật ngữ của các nhà phê bình và nghiên cứu văn học, chỉ hệ thống các phương tiện biểu đạt bằng hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn học Thi pháp học là công cụ để thâm nhập vào cấu trúc tác phẩm, cách tư duy của tác giả cũng như để nắm bắt mã văn hóa nghệ thuật của tác giả và các thời kì văn học nghệ thuật, từ đó nâng cao năng lực thụ cảm tác phẩm Thi pháp học cổ xưa nặng về tính chất quy phạm, thi pháp học hiện đại nặng về phát hiện, miêu tả các ngôn ngữ nghệ thuật đang hình thành với sự vận động của văn học
Trên những bình diện trên, chúng tôi nhận thấy thơ trữ tình tượng trưng chủ nghĩa có những đặc điểm sau: xét về quan niệm mĩ học, thơ tượng trưng phủ nhận thơ lãng mạn, cho rằng chủ nghĩa lãng mạn dễ dãi, rườm lời, chủ yếu biểu hiện bằng hình tượng, hình ảnh tương phản, có nhiều hình thức như:
Trang 17hỏi, kể, tả, cảm thán hay gia tăng các yếu tố tự sự, phân tích, lí giải,… với chủ đề: nỗi buồn sầu, sự cô đơn, tình yêu đôi lứa với mục đích bộc bạch, giãi bày tâm sự trực tiếp cái tôi chủ thể, còn thơ trữ tình tượng trưng chủ nghĩa đã đưa đến một thi pháp phân biệt khá rõ với thơ lãng mạn Thi pháp thơ tượng trưng chủ nghĩa được xây dựng trên quan niệm khác trước về con người với vũ trụ
Mĩ học tượng trưng cũng quan niệm giữa con người và vũ trụ có mối quan hệ tương giao bí ẩn Mối tương giao, tương hợp này diễn ra trên nhiều mặt Có
sự tương giao về ý niệm: hư-thực, có sự tương giao của các giác quan, về cảm giác: ánh sáng-bóng tối, có sự tương giao ngang dọc, có sự tương giao về màu sắc: đen - trắng… Baudelaire cho rằng giữa vũ trụ và con người có sự tương giao huyền bí Vì vậy, phải có khả năng thấu thị để vượt qua cái cảm tính bề mặt để thâm nhập vào sự bí ẩn đó
Thơ tượng trưng chủ nghĩa đề cao tư tưởng, triết luận và đặc biệt coi trọng trực giác, biểu tượng, ám thị và âm nhạc Với thơ tượng trưng: trực giác, biểu tượng, âm nhạc là những phương tiện hữu hiệu nhất để “chọc thủng cái vỏ quen thuộc hàng ngày nhằm vươn tới bản chất lí tưởng siêu thời gian của thế giới - cái vẻ đẹp siêu nghiệm” Chủ nghĩa tượng trưng xem thế giới hữu hình chỉ là hình ảnh, là cái bóng, là tượng trưng cho một thế giới mà ta không nhìn thấy được Đấy mới chính là bản thể của thế giới Cho nên nhà thơ đến với cuộc sống bằng trực giác vì chỉ có trực giác mới tìm ra cái bí ẩn nằm sau thế giới hữu hình, mới nhìn thấy thế giới đích thực là cái thế giới không nhìn thấy Verlaine quan niệm thơ gắn chặt với âm nhạc, phải gợi chứ không vẽ các đường nét, hình thể Nghĩa là thơ không cần có hình tượng rõ nét, và được quan niệm như bản hòa âm huyền ảo Mỗi từ trong thơ phải gắn liền với một nốt nhạc
Thơ tượng trưng chủ nghĩa chú ý tạo ra một sự tác động tương đương với âm nhạc trong thơ bằng cách chú trọng nhịp lẻ, đi sâu tập trung diễn đạt những trạng thái huyền hồ khó nắm bắt của sự vật
Trang 18Thơ tượng trưng chủ nghĩa rất hay tước bỏ ý nghĩ trung gian, làm cú pháp câu thơ mờ tối, khó nắm bắt, không đi theo mạch thông thường, chú ý những từ lạ Họ tránh dùng miêu tả mà dùng những từ gợi lên ý nghĩa, tức là dùng biểu tượng như một phương tiện biểu hiện
1.1.2 Ảnh hưởng của thi phái tượng trưng chủ nghĩa đến thơ Việt Nam hiện đại
1.1.2.1 Điều kiện tiếp nhận ảnh hưởng của thi phái tượng trưng chủ nghĩa trong thơ Việt Nam hiện đại
Cuối thế kỉ XIX, thực dân Pháp đặt ách thống trị trên đất nước ta Sau gần nửa thế kỉ bình định về quân sự, đến khoảng đầu thế kỉ XX, chúng mới thực sự khai thác về kinh tế làm cơ cấu xã hội Việt Nam có những biến đổi sâu sắc Một số thành phố công nghiệp ra đời, đô thị mọc lên nhiều nơi, những giai cấp, tầng lớp xã hội mới xuất hiện ngày càng đông đảo Một lớp công chúng có đời sống tinh thần và thị hiếu mới đã hình thành đòi hỏi thứ văn chương mới Từ đầu thế kỉ XX, văn hóa Việt Nam dần dần thoát khỏi ảnh hưởng văn hóa phong kiến Trung Hoa, bắt đầu mở rộng tiếp xúc với văn hóa phương Tây mà chủ yếu là văn hóa Pháp Luồng văn hóa mới thông qua tầng lớp tri thức Tây học ngày càng thấm sâu vào ý thức và tâm hồn người cầm bút cũng như người đọc Chính sự ảnh hưởng, tiếp xúc nền văn hóa Pháp đã làm nên sự thay đổi trong thơ văn Việt Nam hiện đại, đầu tiên và nhiều nhất là đội ngũ tri thức Tây học tức là những người được đào luyện trong nhà trường Pháp thuộc Sự tiếp xúc đã làm nên sự đổi thay trong thơ việt Nam hiện đại, đặc biệt là phong trào Thơ mới Các nhà Thơ mới cho rằng cần phải có một cái gì đó mới mẻ để tăng sinh khí cho thi đàn Với điều kiện hết sức khách quan ấy, việc thơ Việt Nam gặp gỡ thơ Pháp, trong đó có thơ của thi phái tượng trưng chủ nghĩa trở thành vấn đề tất yếu Nhiều nhà Thơ mới tự nhận rằng họ học tập được rất nhiều ở Baudelaire, Verlaine… GS Phan Cự Đệ có
Trang 19nói: “nhìn chung từ năm 1936 trở về sau, trường phái tượng trưng được người
ta chú ý hơn cả Tại sao đây? Cái chính là sự gặp nhau của những tri thức bất mãn với xã hội, đau buồn, chán nản, u uất, khi phong trào quần chúng bị thất bại và vì thế thơ tượng trưng - lối thơ xoáy sâu vào chủ thể, lối thơ biểu hiện
sự phản ứng tầm thường, nhỏ nhen, vị lợi trở thành sức hấp kì lạ đối với các nhà thơ Việt Nam”
Thơ mới không thuần túy là kết quả của những điều kiện đưa đến từ bên ngoài vào Các nhà thơ Việt Nam tiếp thu thi pháp thơ tượng trưng chủ nghĩa một cách hoàn toàn thuận lợi do thơ truyền thống Việt Nam không thiếu chất tượng trưng Như ta đã biết, trong thơ Đường, chất tượng trưng được bộc
lộ rất rõ: khi nói về con người, thế giới… các nhà thơ không thiên về tả thực
mà thiên về xây dựng những hình ảnh có tính chất biểu trưng, biểu tượng để cho người đọc tự suy ra Nói đến thơ Đường là nói đến khả năng gợi ý, gợi cảm chứ không phải khả năng truyền cảm Ngôn ngữ thơ Đường có tính hàm súc, cô đọng, nói ít gợi nhiều “ý tại ngôn ngoại” Thơ Đường cũng là nguồn thơ tượng trưng, chất tượng trưng trong thơ Đường không xa lạ với chất tượng trưng trong thơ tượng trưng chủ nghĩa Chẳng hạn như trong bài thơ
Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng của Lí Bạch có nhiều
yếu tố tượng trưng: hình ảnh cô phàm - bóng buồm, nói lên được cái lẻ loi, cô
độc của con thuyền chở bạn, mặc dù trên dòng sông Trường Giang bấy giờ là huyết mạch giao thông chính của miền Nam Trung Quốc, mùa xuân tấp nập thuyền bè qua lại, thế mà thi nhân lại chỉ nhìn thấy cánh buồm lẻ loi, đơn độc chở bạn xuôi về Dương Châu mà thôi Sự lẻ loi, cô đơn không chỉ đọng ở người ra đi mà còn đọng trong cả người ở lại Trong không gian mênh mông
ấy, lúc này chỉ duy nhất có một sự vật có ý nghĩa mà thôi cô phàm Hình ảnh
thiên tế lưu - dòng sông chảy ngang lưng trời cho thấy được sự giao hòa giữa
cái mênh mông, vô hạn của đất trời với cái lẻ loi, đơn độc, trống trải đến rợn
Trang 20ngợp của tác giả khi phải chia tay người bạn tri kỉ Cả câu thơ đã tạo được ấn
tượng thị giác và ấn tượng thời gian tâm lí hết sức rõ rệt Hay trong bài Thu
hứng của Đỗ Phủ, hình ảnh tùng cúc - khóm cúc, cô chu - con thuyền được
hiểu: hình ảnh hoa cúc tượng trưng cho thời gian hai năm xa quê nhà, cũng là
tình cảm của nhà thơ với quê nhà Cô chu - con thuyền lẻ loi, cô đơn nơi đất
khách quê người, miền sơn cước Cho nên những người am hiểu thơ Đường cắm rễ sâu vào thơ truyền thống thì họ cảm thấy đi đến với thơ tượng trưng không phải có cái gì là khó khăn
Ở Pháp, thơ tượng trưng chiếm lĩnh thi đàn sau khi thơ lãng mạn đã mất dần sức hấp dẫn Nhưng cả thơ lãng mạn và thơ tượng trưng Pháp đều là những hiện tượng thơ của thế kỷ XIX Ở Việt Nam, phong trào Thơ mới mãi tới đầu những năm 30 của thế kỷ XX mới khởi phát Với các nhà Thơ mới, thơ lãng mạn hay thơ tượng trưng Pháp đều là những nguồn thơ mới mẻ, cần học tập, tiếp thu để cách tân thơ Việt, đưa thơ Việt bước hẳn sang phạm trù hiện đại Như vậy chúng ta nhận thấy, cùng một lúc các nhà thơ Việt Nam vừa tiếp nhận thơ lãng mạn, vừa chịu ảnh hưởng thơ tượng trưng Bởi vậy trong sáng tác của các nhà thơ Việt Nam luôn luôn có sự kết hợp hài hòa tượng trưng và lãng mạn Những nhà thơ lãng mạn nhất cũng là những nhà thơ có những tìm tòi hướng về tượng trưng nhiều nhất
Tượng trưng là sự thăng hoa của tri giác và cảm giác, nó không chứng minh gì, mà làm nảy sinh một trạng thái ý thức, nó phá vỡ mọi ngẫu nhiên, nó
là biểu hiện cao nhất tinh thần mà nghệ thuật có thể được (Vecharen - nhà thơ tượng trưng Bỉ)
1.1.2.2 Sự đa dạng trong hoạt động tiếp nhận ảnh hưởng của thi phái tượng trưng chủ nghĩa ở các nhà thơ Việt Nam
Thi phái thơ tượng trưng chủ nghĩa không chỉ tạo tiếng vang cho nền thơ ca Pháp, nước Pháp mà còn ảnh hưởng sâu rộng trên toàn thế giới Và sự
Trang 21tìm tòi của các nhà thơ tượng trưng chủ nghĩa cũng rất đa dạng, phong phú Điều đó giúp cho những người học tập thơ tượng trưng chủ nghĩa cũng có thể tùy vào điều kiện của mình mà tiếp nhận khía cạnh này hoặc khía cạnh khác của thơ tượng trưng Mỗi nhà thơ khác nhau tùy theo phong cách cá nhân và cách cảm nhận của mình mà có những cách tiếp nhận khác nhau Cho nên,
trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh, Hoài Chân đã khẳng định: Các nhà thơ
mới không nhiều thì ít, mức độ đậm nhạt khác nhau đều bị ám ảnh bởi Baudelaire, người đã khơi nguồn thơ ấy Sự đa dạng trong hoạt động tiếp nhận của thi phái tượng trưng chủ nghĩa ở các nhà thơ Việt Nam phải kể đến các nhà thơ tiêu biểu trong phong trào thơ mới: Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Xuân Sanh Hoàng Cầm,… và sau này là nhà thơ Thanh Thảo
Nói đến ảnh hưởng của thơ tượng trưng chủ nghĩa Pháp với Thơ mới, Hoài Thanh kể tên những nhà thơ như Baudelaire (1821 - 1876), Rimbau (1854 - 1891), Verlaine (1844 - 1896), Mallarmé (1842 - 1898), Valery (1871
- 1945)… Vậy những gì trong thi pháp, trong quan điểm tư tưởng - nghệ thuật của thơ tượng trưng đã được tác giả Thơ mới tâm đắc đến như vậy? Điều này chúng tôi đã trình bày ở phần đầu luận văn về đặc điểm thi pháp thơ tượng trưng Vấn đề chúng tôi muốn bàn đến ở đây là sự tiếp nhận thi pháp thơ tượng trưng đã diễn ra ở khía cạnh nào và mức độ sâu sắc ra sao
Tác giả đầu tiên tiếp nhận thơ tương trưng sâu sắc là Xuân Diệu Bản thân Xuân Diệu cũng đã thừa nhận ảnh hưởng của Baudelaire đối với ông
Câu thơ nổi tiếng của Baudelaire Những mùi hương, những màu sắc và những
âm thanh đáp ứng với nhau được Xuân Diệu lấy làm đề từ cho bài Huyền diệu Trước hết Xuân Diệu chịu ảnh hưởng của thơ tượng trưng ở quan niệm
về mối tương giao các giác quan Xuân Diệu trong Thơ Duyên nói tới sự
tương giao huyền diệu giữa những sự vật, hiện tượng thiên nhiên và con
Trang 22người Cái đặc biệt trong trong bức tranh chiều thu ấy là sự nhịp nhàng, hòa
điệu của cảnh vật: Chiều mộng hòa trên những nhánh duyên/ Cây me ríu rít
cặp chim chuyền/ Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá/ Thu đến nơi nơi động tiếng huyền/ Cái đẹp và thơ mộng không phải ở từng chi tiết, hình ảnh riêng rẽ mà
chủ yếu là sự hòa hợp giữa chúng: chiều mộng hòa với nhánh duyên, cây me với cặp chim chuyền, bầu trời xanh soi vào muôn lá được cảm nhận không riêng rẽ mà sóng đôi, gợi lên một sự nhịp nhàng, hòa điệu Tâm hồn nhạy cảm của thi nhân đã đón nhận được cái không gian, thời gian của buổi chiều, niềm giao cảm, những tình ý vấn vương, hòa nhịp với những rung động của lòng người “lần đầu” Trong niềm rung động ấy, với một năng lực giao cảm kì diệu, con người cảm nhận sự tương giao gắn kết những tâm hồn cô đơn gữa
khung cảnh buổi chiều thật hài hòa, êm dịu Em bước điềm nhiên không
vướng chân/ Anh đi lững đững chẳng theo gần; Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá? Thu đến nơi nơi động tiếng huyền/ Giữa cái bài thơ dịu của cảnh chiều
thu trên đường chiều thật thơ mộng, hai con người điềm nhiên kia vẫn có một mối tương giao thầm kín, tạo nên một sự hòa nhịp song đôi như một
Xuân Diệu là nhà thơ đã thể hiện cảm quan hết sức tinh nhạy, lắng nghe được những âm thanh bí ẩn huyền diệu của đất trời, cảm nhận được sắc
màu không gian, hương thơm tạo vật muôn loài: Này lắng nghe em khúc nhạc
thơm/ say người như rượu tối tân hôn/ Như hương thấm tận qua muôn tủy/
Âm điệu thần tiên thấm tận hồn/ (Huyền diệu) Sự tương ứng các giác quan
tạo nên hiệu ứng lan tỏa, đan xen nhiều tầng cảm xúc Chỉ bốn câu thơ, Xuân Diệu đã tổng hòa bốn giác quan tương ứng Là người tiếp thu nhuần nhuyễn phép tương giao của lối thơ tượng trưng, Xuân Diệu cảm nhận và mô tả thế
giới, trước hết là không gian và thời gian bằng nhiều kênh cảm giác: Đã nghe
rét mướt luồn trong gió/ Đã vắng người sang những chuyến đò (Đây mùa thu tới) Theo cách diễn tả đầy tính tượng trưng của Xuân Diệu, cái rét được cụ
Trang 23thể hóa thành tiếng gọi tinh tế, khiến ta thấy được cái rét đầu thu đã bắt đầu
len lỏi, ẩn thân vào cảnh vật, vào lòng người Bài thơ Vội vàng là một ví dụ
khác, cho thấy hồn thơ Xuân Diệu luôn khao khát giao cảm với cuộc đời và
tạo vật, từ cảm giác đến vị giác Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi… Cho
no nê thanh sắc của thời tươi
Sự tương ứng các giác quan cũng thể hiện rất rõ trong một số bài thơ
của Huy Cận Bài Đi giữa đường thơm, mùi hương, âm thanh, sắc màu xen
lẫn cùng các giác quan giao hòa, cảm ứng, phức hợp, mở ra nhiều tầng cảm xúc, khơi gợi, dẫn dắt bước chân người dập dìu đi giữa đường thơm
Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử thì lại tiếp nhận thơ tượng trưng ở cách xây dựng biểu tượng Trong thơ tượng trưng, sự xuất hiện của biểu tượng dường như đáp ứng nhu cầu chống lại lối miêu tả và biểu lộ trực tiếp của chủ nghĩa lãng mạn Nói cách khác chủ nghĩa tượng trưng tôn trọng điều bí ẩn của thơ Họ tránh dùng miêu tả mà dùng những từ gợi lên ý nghĩa, tức là dùng biểu tượng như là một phương tiện biểu hiện vật trừu tượng để tạo thành một dấu hiệu mới Biểu tượng trong thơ tượng trưng là những hình ảnh rất phức tạp Thông thường biểu tượng được biểu hiện bằng một vật cụ thể, nhưng cái được biểu đạt bao giờ cũng rộng lớn hơn nhiều Biểu tượng là cái cô đọng, súc tích và dồn nén ý nghĩa, và là một tín hiệu thẩm mỹ Có thể nói, trong các nhà thơ tượng trưng thì Baudelaire được xem như bậc thầy về sử dụng biểu
tượng mà tập thơ Ác hoa (1887) là một ví dụ tiêu biểu Ông đã sử dụng hình
tượng những bông hoa là một hình tượng để gắn vào đó một tính cách trừu tượng, thi vị hóa cái xấu, cái ác Với thơ ca lãng mạn, biểu tượng con thiên nga được dùng để ca ngợi tình yêu, còn với Baudelaire, con thiên nga lại được viện đến để nói lên sự thay đổi của Pari và thông qua đó nhà thơ vẽ nên hình ảnh bị lưu đày của nà thơ trên chính quê hương mình Như vây, nếu chỉ sử dụng từ ngữ một cách thông thường thì khó mà có thể gợi ra được ý nghĩa của những biểu tượng vừa nêu
Trang 24Nhà thơ Chế Lan Viên cũng dùng biểu tượng để diễn đạt cảm xúc của mình Con đường thơ của Chế Lan Viên trải qua nhiều biến động, nhiều bước ngoặt Trước Cách mạng tháng Tám, thơ Chế Lan Viên là một thế giới đúng
nghĩa trường thơ loạn, kinh dị, thần bí, bế tắc của thời điêu tàn với xương,
máu, sọ người, với những cành đổ nát với những tháp Chàm Những tháp
Chàm điêu tàn là nguồn cảm hứng lớn Qua những phế tích đổ nát, không
kém phần kinh dị trong thơ Chế Lan Viên ta thấy ẩn hiện hình bóng một vương quốc hùng mạnh thời vàng son cùng với niềm hoài cổ của nhà thơ Sau Cách mạng tháng Tám, thơ ông đã đến với cuộc sống của nhân dân và đất nước, thấm nhuần ánh sáng của cách mạng, đã có những thay đổi rõ rệt Hồn thơ mang đậm chất chính luận, thời sự, chất trí tuệ với khuynh hướng suy
tưởng - triết lí Bài thơ Tiếng hát con tàu lấy cảm hứng trực tiếp từ sự kiện từ
một sự kiện kinh tế - xã hội: vào những năm 1958 - 1960 có phong trào vận động đồng bào miền xuôi lên xây dựng kinh tế miền núi Tây Bắc Trong không khí sôi động của miền Bắc những năm đầu xây dựng cuộc sống mới, Chế Lan Viên lúc bấy giờ bị bệnh không thể đi đến các vùng đất xa xôi của
Tổ quốc, ông đã thể hiện khát vọng lên đường, và sang tác bài thơ này Trong bài thơ, con tàu và Tây Bắc là những hình ảnh có ý nghĩa biểu tượng Con tàu
là biểu tượng cho tâm hồn nhà thơ đang khao khát lên đường, vượt ra khỏi cuộc sống chật hẹp, quẩn quanh để đến với cuộc đời rộng lớn Con tàu cũng là tâm hồn nhà thơ với ước vọng tìm về ngọn nguồn sáng tạo nghệ thuật đích thực của mình Con tàu trong bài thơ chỉ là con tàu trong mộng tưởng mà thôi bởi vì lúc nảy chưa hề có đường tàu lên Tây Bắc Biểu tượng này thích hợp với hình ảnh ra đi, gợi những ước mơ lãng mạn, và cũng là sự hóa thân, phân
thân của tác giả Con tàu này lên Tây Bắc anh đi chăng; Ngoài cửa ô, Tàu đói
những vành trăng; Tàu gọi anh đi, sao chửa ra đi?; Lấy cả những cơn mơ! Ai bảo con tàu không mộng tưởng? Tây Bắc ngoài ý nghĩa cụ thể chỉ địa danh
Trang 25một vùng đất xa xôi của Tổ quốc, còn là một biểu tượng của cuộc sống lớn của nhân dân và đất nước, là cội nguồn của cảm hứng nghệ thuật, của hồn thơ
và sáng tạo thơ ca Vì thế lời giục giã, kêu gọi lên Tây Bắc cũng là về với chính lòng mình, với tình cảm trong sáng, nghĩa tình gắn bó sâu nặng với nhân dân, đất nước Với Chế Lan Viên, hành trình đến với nhân dân, đến với cuộc đời rộng lớn cũng là trở về với chính mình Ông đã tìm ra một cách diễn đạt thông minh, sắc sảo để thể hiện sự hòa nhập tư tưởng, tình cảm, tâm hồn nghệ sĩ với cuộc đời rộng lớn của nhân dân, đất nước, hòa nhập cái tôi cá nhân vào cái ta của cộng đồng Con tàu trong Chế Lan Viên phải chăng mang
dấu ấn của biểu tượng con tàu quá nổi tiếng trong kiệt tác Con tàu say của A
Rimbaud - một bài thơ đầy chất men say, luôn mời gọi và kích thích
Hàn Mặc Tử là người có một hồn thơ mãnh liệt nhưng luôn quằn quại
và đau đớn; dường như có một cuộc vật lộn và giằng xé giữa linh hồn và xác thịt Linh hồn muốn thoát ra khỏi xác phàm để bay tới cõi siêu nhiên, sáng láng, thơm tho, tinh khiết, nhưng thực ra vẫn gắn bó với cuộc đời, với con người mà ông tha thiết yêu thương bằng một tình yêu trần thế Thế giới thơ Hàn Mặc Tử thường được chia làm hai phần đối lập nhau Những vần thơ điên loạn, ma quái, rùng rợn với hai hình tượng chính là hồn và trăng là
nguồn cảm hứng sáng tạo vô biên, ẩn dấu sau đó là lòng yêu cuộc đời: Tôi
chết giả vờ và no nê vô hạn/ Cười như điên, sặc sụa cả mùi trăng/ Áo tôi là một thứ ngợp hơn vàng/ Hồn đã cấu, đã cào, nhai ngấu nghiến?/ Thịt da tôi sượng sần và tê điếng/ Tôi đau và rùng rợn đến vô biên/ Tôi dìm hồn xuống một vũng trăng êm/ Cho trăng ngập, trăng dồn lên tới ngực/ (Hồn là ai - Đau thương) Ngoài ra trong thơ Hàn Mặc Tử nhìn về mặt cấu tứ đó là sự chuyển
kênh đột ngột, thường có những bước nhảy về ý, ý nọ cách ý kia một khoảng cách rất lớn Cái gọi là sự phi lôgic của sự gắn kết của thơ tạo sự chú ý cho người đọc
Trang 26Huy Cận xây dựng hệ thống hình ảnh có tính chất biểu tượng, biểu trưng, xây dựng những mang tính triết lí để gợi mở ra những suy nghĩ đa
chiều: Tràng giang…
Thế Lữ cũng sử dụng hình ảnh mang tính biểu tượng, xây dựng biểu tượng con hổ trong vườn bách thú để thể hiện khát vọng tự do lúc bấy giờ, thái độ phản kháng gay gắt trước thực tại tầm thường, giả dối, tù túng, giam hãm ước mơ con người, mơ về một cuộc sống tươi đẹp đã qua trong quá khứ
Bích Khê cũng là tác giả của những bài thơ đậm chất tượng trưng Từ phương diện tương giao, tương hợp đến việc sử dụng hình ảnh biểu tượng, tạo nhạc tính, tất cả đều rất thành công Nhà thơ chú ý đến tính ma thuật của ngôn ngữ, câu thơ rất kì cục, đọc khó hiểu… Bích Khê cũng tìm đến với sọ người nhưng nó không đem lại cảm giác ghê rợn, chết chóc điên cuồng như Chế Lan Viên Ông không mô tả trực tiếp mà chỉ đưa ra những gợi ý liên tưởng, loại
suy nên sọ người trong mắt thi nhân hóa thành bình vàng, chén ngọc, hồ
nguyệt có sức ám thị người đọc Nhìn chung biểu tượng trong thơ Bích Khê
mang tính chất tâm linh
Thơ của nhóm Xuân Thu nhã tập đi đến một tứ thơ tượng trưng thuần
túy kiểu như thơ của Mallarmé và có những câu thơ khó hiểu
Thơ tượng trưng chủ nghĩa gây ảnh hưởng rõ nét trong các nhà Thơ mới, tạo nên một trào lưu văn học nổi bật của thời kì văn học hiện đại Còn những nhà thơ sau phong trào Thơ mới không có điều kiện để mà học tập, bởi
vì nền thơ cách mạng là nền thơ của đại chúng Tuy vậy, không vì thế mà các nhà thơ Việt Nam đoạn tuyệt với thơ tượng trưng
Trong những nhà thơ sau này chịu ảnh hưởng của thơ tượng trưng,
chúng ta phải kể đến Thanh Thảo với bài Đàn ghi ta của Lorca Hình ảnh đàn
ghi-ta biểu tượng cho nghệ thuật, cuộc đời, sinh mệnh của Lorca…
Trang 27Tóm lại, việc ảnh hưởng của thi phái tượng trưng chủ nghĩa trong thơ trữ tình Việt Nam đã tạo nên sự đa dạng, phong phú trong sáng tạo nghệ thuật, giúp người đọc cảm nhận cái nét tài hoa của mỗi nhà thơ
1.2 Về những bài thơ trữ tình Việt Nam hiện đại mang dấu ấn
tượng trưng chủ nghĩa trong SGK Ngữ văn 11, 12 THPT
1.2.1 Nhận diện những yếu tố tượng trưng chủ nghĩa trong một bài thơ trữ tình hiện đại
Để nhận diện bài thơ trữ tình mang dấu ấn tượng trưng chủ nghĩa trong chương trình Ngữ văn 11, 12 không phải là dễ, bởi nền văn học Việt Nam rất khó tồn tại các trường phái Người ta có thể học tập thủ pháp của một trường phái nào đó nhưng không đứng chân hẳn vào trường phái mà họ chịu ảnh hưởng Ở luận văn này, chúng tôi chỉ đề cập đến những bài thơ trữ tình Việt Nam mang dấu ấn tượng trưng chủ nghĩa, có nghĩa là những bài thơ thể hiện được những đặc điểm thi pháp của trường phái thơ tượng trưng Theo chúng tôi, một bài thơ mang dấu ấn của thơ tượng trưng chủ nghĩa thường có các
biểu hiện dưới đây:
1.2.1.1 Có cách tạo nhạc tính đặc thù
Có thể nói âm nhạc là yếu tố quan trọng làm nên đặc trưng của thơ tượng trưng Các nhà thơ tượng trưng nhận thấy giữa ngôn ngữ và âm nhạc có mối quan hệ đặc biệt Mỗi một từ trong một bài thơ tượng trưng có khả năng tạo thành một giai điệu như một nốt nhạc Âm nhạc đã đem đến cho các nhà thơ tượng trưng nguồn cảm hứng sáng tạo chứ không phải là những cái mà nhà thơ biểu thị Nhạc tính ở đây không phải là thứ nhạc tính có được do sự
bố trí luân phiên bằng trắc hoặc âm hưởng cao thấp, mà là nhạc tính được tạo nên bởi sự biến đổi trong hệ thống nhịp điệu, bởi sự tồn tại của những khoảng
mơ hồ, bất định kích thích liên tưởng, bởi sự không rõ ràng trong ý nghĩa của câu thơ, ý nghĩa của toàn văn bản Nhạc ở đây làm xúc động tâm hồn con
Trang 28người Thường cái gì làm xúc động tâm hồn con người thì vẫn khó xác định được, tự bản thân người đọc phải tưởng tượng ra
Như vậy, nhạc tính trong thơ tượng trưng là cách viết rất mới mẻ và độc đáo Nó giúp thơ không rơi vào miêu tả, kể lể mà hướng dến gợi lên một thế giới vô hình trong tính thống nhất sâu xa của nó Nhạc tính trong thơ gắn với sự xuất hiện của các biểu tượng để làm nổi bật thế giới không nhìn thấy,
trinh nguyên, vô hạn đằng sau bề mặt của sự vật Bài thơ Đàn ghi ta của
Lorca của Thanh Thảo là một bài thơ dồi dào nhạc tính, được sáng tạo với ý
thức khắc đậm hình tượng García Lorca - người đã dùng tiếng đàn ghi ta để giãi bày nỗi buồn đau và khát vọng yêu thương của nhân dân mình Có thể nhận thấy nhạc tính của bài thơ thể hiện từ nhiều yếu tố Trước hết, đó là những từ mô phỏng âm thanh các nốt đàn ghi-ta Ở đầu bài thơ là chuỗi âm
thanh li-la li-la li-la và kết thúc cũng là chuỗi âm thanh ấy - một chuỗi âm
thanh gợi lên chất nhạc ngân nga từ cây tây ban cầm của nghệ sĩ đa tài Bên cạnh đó, nhạc tính của bài thơ này còn được tạo nên bởi cách sử dụng nhiều
điệp ngữ, điệp kiểu câu: tiếng ghi ta lá xanh biết mấy; tiếng ghi ta tròn bọt
nước vỡ tan; tiếng ghi ta ròng ròng máu chảy… Nhạc tính còn thể hiện ở
cách sử dụng các dòng thơ liền mạch và khổ thơ như là ca khúc, trước mỗi dòng thơ tác giả đều không viết hoa chữ cái đầu câu tựa như những lời ca cứ nối tiếp lên xuống, như nhịp sống không bao giờ đứt đoạn (dáng dấp ca khúc
và lối diễn tấu không bao giờ đứt đoạn)
1.2.1.2 Quan tâm tạo các biểu tượng trùng phức
Một trong những đặc điểm thi pháp thơ tượng trưng là tạo biểu tượng Nhưng trong một bài thơ không chỉ có một biểu tượng mà có nhiều biểu tượng, những biểu tượng không thể giải nghĩa một cách rõ ràng thì gọi là biểu tượng trùng phức Các biểu tượng trùng phức như muốn giải mã, giải nghĩa sâu hơn ý mà nhà thơ muốn nói
Trang 29Trong bài Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên, biểu tượng trung tâm là
con tàu, nhưng con tàu ở đây là con tàu thật hay con tàu trong mộng tưởng, con tàu ảo? Đặt vào hoàn cảnh sáng tác bài thơ và thực tại tâm hồn tác giả thì chúng ta hiểu được rằng đây chỉ là con tàu mộng tưởng Con tàu như một khát vọng, một sinh thể, hay một cái gì đó khó gọi tên Biểu tượng con tàu trong bài thơ chứa đựng một tiềm năng ý nghĩa phong phú
Hay trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, biểu tượng thôn Vĩ
Dạ có lúc chỉ miền quê cụ thể của xứ Huế nhưng cũng có lúc gợi nỗi niềm
trong tâm tưởng của tác giả
Đàn ghi ta của Lorca của Thanh Thảo có nhiều hình ảnh biểu tượng
nhưng biểu tượng trung tâm, biểu tượng lớn của bài thơ, thu hút vào nó các hình ảnh khác, đó là đàn ghi ta - hay chính xác hơn là tiếng đàn ghi ta Ở đây, đàn ghita không còn là một hình ảnh cây đàn cụ thể nào mà là biểu tương nghệ thuật mang nhiều nghĩa Đàn ghi ta gợi ra hình ảnh đất nước Tây Ban Nha, văn hóa dân gian vùng Andalucía tươi đẹp và thân thuộc của Lorca Đàn ghi ta cũng là biểu tượng của chính Lorca, với tâm hồn phóng khoáng, tình yêu say đắm với đất nước và con người, cả sự sống và cái chết bất ngờ, sự bất
tử của một tài năng lớn, đầy sức sáng tạo Đàn ghi ta cũng là biểu tượng của thi ca, nghệ thuật, nảy sinh và gắn bó với cuộc sống con người, đất nước, cũng chịu một số phận đau đớn, nhưng cũng sẽ trường cửu, không thế lực đen tối nào có thể hủy diệt
1.2.1.3 Có những cách kết hợp từ đặc biệt
Ngôn từ là yếu tố đầu tiên của văn bản Các hình tượng, hình ảnh, các chi tiết nghệ thuật, giọng điệu… đều được tạo nên nhờ ngôn từ Không có ngôn từ, chúng ta không có căn cứ cụ thể để tìm hiểu, thưởng thức cái hay của văn bản, giá trị thẩm mĩ của văn bản Vậy đi sâu khai thác lớp ngôn từ chính
là khám phá tác phẩm Có ngôn từ tài hoa, có ngôn từ trong sáng, tinh tế, có
Trang 30ngôn từ bộc trực, giản dị, tất cả đều mang dấu ấn cảm xúc, phong cách của tác giả Như vậy, ngôn từ là phương tiện để sáng tạo thơ ca, được lấy từ đời sống, được sàng lọc, gọt giũa, lựa chọn phù hợp với chức năng thông tin, chức năng thẩm mĩ
Ở đây, điều mà chúng tôi muốn đề cập là những cách kết hợp từ đặc biệt trong một bài thơ trữ tình mang dấu ấn tượng trưng Chẳng hạn trong
bài Tràng giang của Huy Cận có cụm từ sâu chót vót thể hiện cách dùng từ
độc đáo: nắng càng xuống trời càng được nâng lên tạo thành một không gian vừa dài, rộng, cao, sâu gợi cho người đọc nghĩ đến không gian đa chiều,
không gian của vũ trụ Hay trong bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, việc kết hợp từ đặc biệt tạo nên cách diễn đạt khó xác định Mơ cách đường xa,
khách đường xa/ Áo em trắng quá nhìn không ra Khách đường xa là ai thật
khó xác định, có thể hiểu là người đang sống ở Vĩ Dạ cũng có thể chính là
nhà thơ Điệp ngữ khách đường xa gợi lên khoảng cách xa xôi, sự cách trở
vô vọng Tại sao áo trắng lại nhìn không ra? Nhà thơ cảm nhận hình ảnh ở
đây không phải bằng mắt thường, bởi ông đang sống trong ảo giác Lúc đó, hiện thực hư ảo mờ nhòa, càng lúc càng chìm dần trong cõi mộng Hay trong
Đàn ghi ta của Lorca của Thanh Thảo, tác giả dùng phổ biến các kết hợp từ
rất lạ Có lúc tỉnh được từ như giọt nước mắt vầng trăng/ long lanh trong
đáy giếng Giọt nước mắt và vầng trăng có nghĩa là nỗi đau và sự vĩnh hằng,
hay đấy chính là giọt nước mắt của vầng trăng của đất trời khóc thương cho cái chết của Lorca? Ngôn ngữ trong thơ Thanh Thảo là kiểu ngôn ngữ không ngừng sáng tạo và luôn luôn có xu hướng bứt phá mạnh mẽ Ngôn ngữ luôn
có xu hướng phá vỡ cấu trúc ngữ pháp thông thường để tồn tại trong mối liên kết tương đối tự do
Đó là các yếu tố chúng tôi xem như tiêu chí để nhận diện tác phẩm nào
thuộc đối tượng nghiên cứu của mình trong luận văn này
Trang 311.2.2 Tổng quan về những bài thơ trữ tình Việt Nam hiện đại mang dấu ấn tượng trưng chủ nghĩa trong SGK Ngữ văn 11, 12 THPT
Thơ mới là một bộ phận không nhỏ trong chương trình Ngữ văn Trong một khoảng thời gian ngắn, từ 1932 đến 1945, Thơ mới đã tập hợp được nhiều nhà thơ có cùng tư tưởng sáng tác nghệ thuật Chúng tôi nhận thấy rằng trong phong trào Thơ mới có rất nhiều bài mang dấu ấn tượng trưng chủ nghĩa của Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Thế Lữ, Tế Hanh… Những bài thơ này vừa là của những nhà thơ lãng mạn tiêu biểu vừa là của những cây bút chịu ảnh hưởng sâu của chủ nghĩa tượng trưng Nhiều tác phẩm của họ được đưa vào trong chương trình Ngữ văn từ cấp hai (THCS) đến cấp ba (THPT) Bên cạnh đó là thơ của những nhà thơ thế hệ chống Mỹ như Hữu Thỉnh, Thanh Thảo Với hai tác giả vừa kể, những tìm tòi theo hướng tượng trưng chủ nghĩa không hề xa lạ
Trong chương trình bậc THCS, tác phẩm thơ trữ tình mang dấu ấn
tượng trưng chủ nghĩa gồm có: Nhớ rừng của Thế Lữ (Ngữ văn 8, tập II), Quê
hương của Tế Hanh (Ngữ văn 8, tập II), Sang thu của Hữu Thỉnh (Ngữ văn 9
tập II) Ở cấp THCS, trong các bài thơ trữ tình Việt Nam mang dấu ấn tượng trưng chủ nghĩa có nhiều hình ảnh biểu tượng: con hổ ở vườn bách thú, cánh buồm của người dân chài miền biển; hàng cây đứng tuổi vào thu…
Đến chương trình THPT, thơ trữ tình mang dấu ấn tượng trưng chủ nghĩa được đưa vào nhiều hơn chủ yếu học trong chương trình Ngữ văn 11,
12 và được đánh dấu bằng các mốc thời gian:
Các bài thơ thuộc phong trào thơ mới gồm có: Vội vàng của Xuân Diệu, Tràng giang của Huy Cận, Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, Chiều
xuân của Anh Thơ… Dấu ấn tượng trưng biểu hiện ở sự tương giao cảm giác,
xây dựng biểu tượng…
Trang 32Các bài thơ sáng tác từ 1945 về sau gồm có: Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, Tây Tiến của Quang Dũng, Đất nước của Nguyễn Đình Thi, Đàn
ghi ta Lorca của Thanh Thảo… Dấu ấn tượng trưng biểu hiện qua việc sử
dụng các hình ảnh biểu tượng, qua chất nhạc, qua cách liên tưởng đột ngột, biến ảo…
Nhìn một cách tổng quan, thơ trữ tình mang dấu ấn tượng trưng chủ nghĩa vừa phong phú về nội dung vừa có nhiều cách tân về nghệ thuật
Bảng 1.1 Thống kê văn bản thơ trữ tình Việt Nam mang dấu ấn tượng trưng chủ nghĩa trong chương trình SKG Ngữ văn (THCS, THPT) bộ sách cơ bản
Đất nước Nguyễn Đình Thi 12 I
Tiếng hát con tàu Chế Lan Viên 12 I
Đàn ghi ta của Lorca Thanh Thảo 12 I
Trang 33
1.3 Vấn đề quán triệt nguyên tắc bám sát đặc trưng thể loại - loại hình của tác phẩm trong dạy học đọc hiểu thuộc môn Ngữ văn THPT
Mỗi tác phẩm văn học là một chỉnh thể có sự kết hợp hài hòa giữa nội dung và hình thức, bao giờ cũng tồn tại trong dạng thức một thể loại nhất định Vậy thể loại văn học là gì? Đó là phương thức tái hiện đời sống và thể thức cấu tạo văn bản Tên gọi thể loại thông báo cho người đọc ít nhất hai nội dung: phạm vi và phương thức tiếp xúc, tái hiện đời sống; hệ thống các phương tiện biện pháp tương ứng Chẳng hạn thể loại thơ trữ tình đòi hỏi biểu hiện những cảm xúc tinh vi qua ngôn ngữ cô đọng, có nhịp điệu Thể loại văn học được hình thành trong lịch sử văn học nên rất đa dạng mang đậm dấu ấn lịch sử và tiếng nói, tâm hồn của dân tộc
Như trên đã nói, đọc - hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại là vấn đề vô cùng quan trọng Để đảm nguyên tắc bám sát đặc trưng thể loại khi dạy đọc - hiểu thơ trữ tình nhất là những bài thơ trong chương trình THPT cần chú ý những điểm sau:
1.3.1 Thể loại - loại hình như là quy luật chỉnh thể của tác phẩm văn học sau
Tác phẩm văn chương bao giờ cũng tồn tại trong một dạng thức, một thể loại nhất định Thể loại văn học đó là phương thức tái hiện đời sống và thể thức cấu tạo văn bản Nó thông báo cho người đọc biết được phạm vi và phương thức tiếp xúc, tái hiện đời sống và hệ thống các phương tiện biện pháp thể hiện tương ứng Điều chúng tôi muốn nói ở đây là: khi dạy đọc - hiểu các tác phẩm văn chương, GV phải quan tâm và nắm chắc đặc trưng thể loại Dạy đọc - hiểu thơ trữ tình, phải nắm được những cảm xúc và suy tư của nhân vật trữ tình trước các hiện tượng đời sống được thể hiện một cách trực tiếp, nắm được tính chất cụ thể hóa của cảm nghĩ và tính chất chủ quan hóa trong sự thể hiện
Trang 34Tác phẩm văn học không chỉ thuộc về thể loại mà còn thuộc về một loại hình nào đó Loại hình văn học là khái niệm để chỉ tính chung của một nhóm sáng tác nào đó về tư tưởng, về nghệ thuật Thơ trữ tình Việt Nam được dạy theo chương trình và SGK Ngữ văn THPT rất đa dạng về loại hình và giữa các loại hình có sự giao thoa phức tạp… Loại hình tác phẩm thơ trữ tình bao gồm: thơ trữ tình cổ điển, thơ trữ tình lãng mạn; thơ tượng trưng, thơ siêu thực, thơ cách mạng… Khi dạy đọc - hiểu tác phẩm thơ, GV cần hướng dẫn
HS nắm vững các tri thức, đặc trưng riêng của từng loại hình văn học Nếu không nắm được loại hình sáng tác thì không thể tìm hiểu sâu tác phẩm văn
tạo đặc thù như thế nào để tìm hiểu nội dung bài thơ
1.3.2 Ý nghĩa của việc dạy học đọc hiểu tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại - loại hình
1.3.2.1 Củng cố thường xuyên tri thức về thể loại - loại hình của tác phẩm
Đây là việc làm thường xuyên, cần thiết, trở thành nguyên tắc của việc dạy đọc - hiểu của môn Ngữ văn, đặc biệt là một phương pháp đổi mới dạy
Trang 35học hiện đại Dạy tác phẩm văn học mà GV không bám sát đặc trưng từng thể loại - loại hình của tác phẩm thì sẽ không nêu bật được nội dung chính của
bài, cách thức biểu hiện như thế nào
Đến cái ý trọng tâm mà tác giả cần nói: việc củng cố thường xuyên tri thức về thể loại - loại hình tác phẩm được biểu hiện trực tiếp khi tìm hiểu tác phẩm văn học Ví dụ khi tìm hiểu thơ trữ tình thuộc loại hình thơ tượng trưng chủ nghĩa thì GV phải cung cấp cho HS những thể loại, đặc điểm thi pháp thơ trữ tình và đặc điểm thơ tượng trưng chủ nghĩa Pháp, từ đó vận dụng vào thơ ca Việt Nam với sự cách tân trong cách biểu hiện, phương tiện
để diễn đạt nội dung
Củng cố thường xuyên tri thức về thể loại - loại hình tác phẩm cũng là nhiệm vụ, là cách hướng dẫn HS dễ dàng tiếp cận tác phẩm văn học, là chìa khóa đa năng để mở, khám phá tác phẩm văn học ở những thể loại, loại hình
Việt Nam khác nhau
1.3.2.2 Hình thành phương pháp đọc văn có hiệu quả
Để phát huy được tính tích cực của HS trong một giờ đọc - hiểu văn bản thơ trữ tình mang dấu ấn tượng trưng chủ nghĩa nói riêng và thơ trữ tình Việt Nam nói chung, người GV cần biết sử dụng linh hoạt những hình thức, phương pháp và biện pháp cụ thể trong các giờ học Sự phát triển của lý luận dạy học hiện đại và hoàn thiện cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn của những phương pháp dạy học đổi mới thay thế cho các học thức và phương pháp dạy học truyền thống, phương pháp dạy đọc văn vừa phát huy được tính sáng tạo, tích cực và hướng đếm cách thức cho HS tiếp cận tác phẩm văn học
Vì để việc hình thành giờ dạy đọc văn có hiệu quả đặc biệt, giờ dạy tác phẩm thơ trữ tình (thể loại rất khó trong dạy đọc văn), chúng tôi đưa một số phương
pháp, hình thức vận dụng trong giờ đọc - hiểu:
Sử dụng phương pháp (đọc diễn cảm, đây là phương pháp đầu tiên không thể thiếu được cho mọi giờ đọc văn; đặc biệt là dạy thơ trũ tình) Đọc
Trang 36diễn cảm là phương pháp đặc thù của dạy học tác phẩm ở trường PT Đây là cách thức hoạt động giúp HS tiếp thu với tác phẩm; thâm nhâp vào thế giới hình tượng trực tiếp cảm thụ tác phẩm gợi lên cảm xúc; những ấn tượng thẩm
mỹ cho quá trình cảm thụ, phân tích tác phẩm một cách chu đáo
Khi đọc diễn cảm cần chú ý yêu cầu đọc đúng từ, câu, nhịp điệu, giọng điệu, cấu trúc mạch lạc để thể hiện sự cảm nhận chủ quan ban đầu về tác phẩm văn học, rồi sau đó mới đến đọc hay Muốn đọc diễn cảm đúng và hay đòi hỏi người đọc phải cảm thụ sơ bộ về tác phẩm, ý đồ tác giả qua giọng điệu, nhịp điệu bài thơ
Việc sử dụng phương pháp này cần được vận dụng, phối hợp các phương pháp khác và sử dụng trong tất cả các khâu của giờ học thì hiệu quả giờ học cao hơn
Sử dụng phương pháp gợi mở: gợi mở là cách thức dạy thông qua hệ thống câu hỏi gợi mở, tổ chức, hướng dẫn HS tự mình từng bước tìm tòi phát hiện, phân tích từng yếu tố để tiến hành khái quát và chiếm lĩnh những giá trị nội dung và hình thức tác phẩm một cách sáng tạo tích cực Thông qua hình thức gợi mở, GV tạo ra một không khí tự do tư tưởng, tự do bộc lộ mới nhận thức được tiếp, những đánh giá riêng của mình và nhờ vậy GV nhanh chóng nắm bắt thông tin kịp thời từ HS để điều chỉnh hay bổ sung nâng cao Khi xây dựng hệ thống câu hỏi gợi mở, GV cần căn cứ vào những giá trị đặc sắc, nội bật của nội dung và hình thức tác phẩm, vào đặc thù nghệ thuật Câu hỏi gợi
mở gồm các dạng chủ yếu sau: hệ thống, đa dạng về hình thức câu hỏi, câu hỏi dễ, câu hỏi khó, câu hỏi nêu vấn đề, câu hỏi phân tích, câu hỏi so sánh, câu hỏi tổng hợp, củng cố Yêu cầu giáo viên phải đặt câu hỏi phù hợp với trình độ HS và có khả năng phân hóa trình độ
Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm kết hợp với nêu vấn đề là hình thức dạy học hiện đại trong đó GV tổ chức cho HS trong nhóm trao đổi, giúp
Trang 37đỡ, hợp tác với nhau để tìm ra kiến thức mới Để có được kết quả tốt trong việc thảo luận nhóm ngoài việc đọc kĩ văn bản, xác định nội dung, GV phải chú ý vào thiết kế những tình huống có vấn đề trong tác phẩm, những tình huống mang trong đó những mâu thuẫn, những nghịch lý không dễ lí giải Những tình huống có vấn đề là những tình huống khó gắn liền với những câu hỏi nêu vấn đề Muốn tạo được tình huống có vấn đề thì GV phải xây dựng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề: câu hỏi vấn đề mang tính chất tổng hợp; phức tạp
về nội dung, đặt ra những mâu thuẫn những cái đã biết và chưa biết giữa cái
cũ và cái mới trong nhận thức của HS; tập trung vào cốt lõi tư tưởng của tác phẩm; câu hỏi vừa bám sát tác phẩm nhưng cũng vừa nằm trong tầm tiếp nhận, cảm nghĩ HS, câu hỏi nêu vấn đề phải mang hệ thống liên tục nhằm dẫn dắt HS từng bước khám phá tư tưởng chủ đề của tác phẩm, quan điểm và dụng ý nghệ thuật của tác giả
Bên cạnh đó còn sử dụng phương pháp giảng bình, mặc dù là phương pháp cũ, truyền thống nhưng gắn với vai trò chủ động của GV GV dùng ngôn ngữ nói để chỉ ra cái hay cái đẹp của tác phẩm văn học qua chọn một điểm nổi bật trong tác phẩm để bình, chú ý phải kết hợp bình và giảng, thời điểm và thời lượng lời bình
Như vậy việc hình thành phương pháp đọc văn có hiệu quả vừa tạo sự chủ động cho GV trong bài dạy và vừa tạo ra sự hứng thú, sáng tạo cho HS khi tiếp nhận tác phẩm
1.4 Tình hình dạy học những bài thơ trữ tình mang dấu ấn tượng
trưng chủ nghĩa theo SGK Ngữ văn 11, 12 THPT
1.4.1 Sự lúng túng trong việc lựa chọn phương pháp tiếp cận hữu hiệu
Những tác phẩm thơ trữ tình mang dấu ấn tượng trưng chủ nghĩa được đưa vào học trong nhà trường THPT đa số là tác phẩm tiêu biểu cho phong trào thơ mới nói chung và là thơ ca lãng mạn nói riêng
Trang 38Chúng tôi còn lúng túng ở việc xác định kết cấu của bài thơ trữ tình mang dấu ấn tượng trưng chủ nghĩa Căn cứ vào đặc điểm thơ tượng trưng, nhiều lúc chúng tôi triển khai bài dạy vẫn còn lúng túng, không biết nên theo hình thức bổ ngang (chia theo khổ) hay là nên triển khai theo hướng bổ dọc (tìm hiểu nội dung)
Vì thơ tượng trưng là một loại hình thơ mới lạ được các nhà thơ mới Việt Nam tiếp cận nhanh chóng trong sáng tác Họ luôn bày tỏ cảm xúc, sự cách tân trong hồn thơ của mình Bằng những từ ngữ mới lạ, có lúc từ ngữ chuyển đổi liên tục cảm giác tạo ra sự khó hiểu với GV và HS, việc giải mã những từ, những cụm từ kết hợp cũng không phải dễ dàng Ví dụ như những
câu thơ trong bài Đàn ghi ta của Lorca của Thanh Thảo: tiếng ghi ta nâu/ bầu
trời cô gái ấy/ tiếng ghi ta lá xanh biết mấy/… chàng ném trái tim mình/ vào lặng yên bất chợt Nhiều lúc GV vẫn còn bí từ trong việc diễn giải nghĩa
Trang 39không chính xác Chính vì cái hạn chế trên cho nên trong một số tiết đọc-hiểu chưa đạt hiệu quả cao
Ở chương này trước hết chúng tôi làm sáng tỏ đặc điểm thi pháp của thơ trữ tình thuộc thi phái tượng trưng chủ nghĩa và điều kiện tiếp nhận và sự
đa dạng trong hoạt động tiếp nhận thơ tượng trưng chủ nghĩa đối với Thơ mới, nhận diện những yếu tố tượng trưng, phân biệt thể loại, loại hình của văn bản, văn học Từ những vấn đề đã trình bày cụ thể giúp GV và HS dễ dàng nhận diện màu sắc tượng trưng trong từng bài thơ, hình thành phương pháp dạy học thơ trữ tình mang dấu ấn tương trưng chủ nghĩa
Trang 40Chương 2 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NHỮNG BÀI THƠ TRỮ TÌNH
VIỆT NAM MANG DẤU ẤN TƯỢNG TRƯNG CHỦ NGHĨA
TRONG SGK NGỮ VĂN 11, 12 THPT
2.1 Những định hướng cơ bản
2.1.1 Luôn ý thức về đặc thù thi pháp của các bài thơ mang dấu ấn tượng trưng chủ nghĩa
2.1.1.1 Tổ chức thảo luận tìm hướng tiếp cận phù hợp đối với bài thơ
Thi pháp học giúp ta công cụ để thâm nhập vào cấu trúc tác phẩm, cốt cách tư duy của tác giả cũng như nắm bắt mã văn hóa nghệ thuật của các tác giả và các thời kì văn học nghệ thuật, từ đó nâng cao năng lực, cảm thụ tác phẩm Thi pháp cổ xưa (từ Aristote) nặng về tính chất quy phạm Thi pháp học hiện đại nghiêng về phát hiện, miêu tả các ngôn ngữ nghệ thuật đang hình thành và song hành với sự vận động của văn học
Thơ tượng trưng chủ nghĩa mang trong mình đặc điểm riêng, khác với thơ lãng mạn Trong chương trình Ngữ văn 11, 12 có nhiều bài thơ trữ tình mang dấu ấn của thơ tượng trưng chủ nghĩa Mỗi tác phẩm đòi hỏi một cách tiếp cận khác nhau
Chẳng hạn khi dạy bài Tràng giang của Huy Cận, chúng ta phải chọn
cách nào cho phù hợp với nội dung ngoài việc tìm hiểu từng khổ thơ với hình thức và nội dung nghệ thuật theo cách thức quen thuộc hay là tìm hiểu bài thơ với hai nội dung: nỗi buồn nhân thế; nỗi sầu vũ trụ Hoặc tính chất tượng hình trong bài thơ; tính chất tượng trưng của bài thơ Như vậy xẻ bài thơ nhiều cách khác nhau để tìm hướng tiếp cận hợp lí nhất Với bài thơ này là một bài thơ mang đậm yếu tố tượng trưng rất rõ thì chúng ta không chỉ dựa vào xem tác giả tả gì, mà quan trọng tác giả muốn biểu đạt điều gì thông qua cảnh sông