Tìm hiểu về thơ Nguyễn Trọng Tạo, cụ thể là tìm hiểu tính chính luận và tính thế sự trong thơ ông, chúng tôi hy vọng được mở rộng thêm hiểu biết về đặc trưng thẩm mỹ của một dòng thơ tro
Trang 1ĐẶNG THỊ MAI SƯƠNG
TÍNH CHÍNH LUẬN VÀ TÍNH THẾ SỰ TRONG THƠ NGUYỄN TRỌNG TẠO
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2014
Trang 2ĐẶNG THỊ MAI SƯƠNG
TÍNH CHÍNH LUẬN VÀ TÍNH THẾ SỰ TRONG THƠ NGUYỄN TRỌNG TẠO
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60.22.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS PHAN HUY DŨNG
NGHỆ AN - 2014
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Cấu trúc của luận văn 6
Chương 1 ĐƯỜNG THƠ NGUYỄN TRỌNG TẠO VÀ CỘI NGUỒN TÍNH CHÍNH LUẬN, TÍNH THẾ SỰ TRONG THƠ ÔNG 7
1.1 Đường thơ Nguyễn Trọng Tạo 7
1.1.1 Quê hương, con người 7
1.1.2 Những dấu mốc trên hành trình thơ 12
1.1.3 Việc khẳng định vị trí riêng trong “dàn đồng ca” 20
1.2 Cội nguồn tính chính luận và tính thế sự trong thơ Nguyễn Trọng Tạo 25
1.2.1 Khái niệm về tính chính luận và tính thế sự trong thơ 25
1.2.2 Sự kế thừa tính chính luận của một nền thơ, nền văn học lấy ngòi bút làm vũ khí 28
1.2.3 Sự tiếp nối các thành tựu thơ đi sâu khám phá, thể hiện những vui buồn của cõi nhân sinh 31
1.2.4 Sự đáp ứng những nhu cầu bức thiết của đời sống dân tộc và thời đại 35
1.3 Khái quát về nét riêng của tính chính luận và tính thế sự trong thơ Nguyễn Trọng Tạo 38
1.3.1 Nét riêng của tính chính luận 38
1.3.2 Nét riêng của tính thế sự 41
1.3.3 Nét riêng của việc kết hợp tính chính luận và tính thế sự 43
Trang 42.1 Những luận đề thể hiện tính chính luận trong thơ Nguyễn Trọng Tạo 47
2.1.1 Luận đề Tổ quốc anh hùng, Nhân dân bất diệt 47
2.1.2 Luận đề niềm tin và sự trả giá 55
2.1.3 Luận đề “những bông hoa vẫn cứ nở đúng mùa” 58
2.2 Hệ thống hình tượng thể hiện tính thế sự trong thơ Nguyễn Trọng Tạo 62
2.2.1 Hình tượng người nghệ sĩ rong chơi 63
2.2.2 Hình tượng cái tôi phản tỉnh 68
2.2.3 Hình tượng quê nghèo, mẹ và em 75
2.3 Những hình tượng phức hợp thể hiện tính chính luận và tính thế sự trong thơ Nguyễn Trọng Tạo 85
2.3.1 Hình tượng người lính của quê hương 86
2.3.2 Hình tượng các nhà văn hóa trong “cõi lặng” 95
2.3.3 Các hình tượng ẩn dụ, tượng trưng 99
Chương 3 NHỮNG TÌM TÒI NGHỆ THUẬT TẠO NÊN TÍNH CHÍNH LUẬN VÀ TÍNH THẾ SỰ TRONG THƠ NGUYỄN TRỌNG TẠO 105
3.1 Cấu tứ bài thơ trên cơ sở luận đề 105
3.2 Biểu trưng hóa những chi tiết, sự kiện lấy từ cuộc sống đời thường 108
3.3 Chọn hình thức trường ca để tuyên ngôn về những vấn đề lớn của đời sống đất nước 112
3.4 Chọn hình thức đồng dao và thể lục bát để “trình bày” những buồn vui thế tục 119
KẾT LUẬN 125
TÀI LIỆU THAM KHẢO 128
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Nguyễn Trọng Tạo là nhà thơ nổi tiếng thuộc thế hệ các nhà thơ chống Mỹ Ông đến với thơ từ rất sớm như một mối lương duyên tiền định để rồi trong suốt những năm tháng của cuộc đời mình, Nguyễn Trọng Tạo gắn bó với thơ như một tình nhân tri kỉ Dù hoạt động nghệ thuật của ông trải rộng trên nhiều lĩnh vực như hội hoạ, âm nhạc, phê bình văn học, song có lẽ thơ
ca vẫn là địa hạt giúp ông gặt hái được nhiều thành công vang dội nhất Từ
những mùa quả đầu tiên như: Tình yêu sáng sớm (1974), Gương mặt tôi yêu (1980), Sóng thuỷ tinh (1988)… đến Thế giới không còn trăng (2006), Em
đàn bà (2008)…, Nguyễn Trọng Tạo đã từng bước khẳng định vị thế của
mình trên thi đàn Việt Nam đương đại Các sáng tác của ông đã gây được những tiếng vang lớn trong đời sống văn học nước nhà và bản thân Nguyễn Trọng Tạo đã gặt hái được nhiều giải thưởng có ý nghĩa quan trọng Năm
1969, ông được nhận giải thưởng về thơ của Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Nghệ An, đến năm 1978, chỉ trong vòng một năm nhà thơ vừa được nhận giải
thưởng thơ hay báo Văn nghệ do độc giả bình chọn, vừa nhận giải thưởng thơ hay do báo Nhân dân và tạp chí Văn nghệ quân đội tổ chức Riêng tập thơ
Đồng dao cho người lớn đã từng đoạt giải thưởng Văn học Nghệ thuật Cố đô
(1995 - 2000) Cho đến ngày hôm nay, sức bút của Nguyễn Trọng Tạo vẫn còn dồi dào và ông vẫn thường xuyên góp vào thi đàn những bài thơ đầy nhiệt huyết, gây được hiệu ứng tích cực Đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu
về thơ ông nhưng đánh giá về một sự nghiệp thơ phong phú như sự nghiệp thơ của Nguyễn Trọng Tạo luôn là công việc hứa hẹn nhiều khám phá mới
1.2 Thơ Nguyễn Trọng Tạo viết về nhiều đề tài, vấn đề Dù ông viết về
đề tài, vấn đề gì, người ta cũng thấy tính chính luận và tính thế sự luôn nổi
Trang 6bật Đến với đề tài nghiên cứu này, chúng tôi muốn lý giải cơ chế tạo nên sự thống nhất của thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Trọng Tạo cũng như sự năng động xã hội của nhà thơ với tư cách là một nghệ sĩ có ý thức dấn thân
1.3 Tìm hiểu về thơ Nguyễn Trọng Tạo, cụ thể là tìm hiểu tính chính luận và tính thế sự trong thơ ông, chúng tôi hy vọng được mở rộng thêm hiểu biết về đặc trưng thẩm mỹ của một dòng thơ trong thơ Việt Nam hiện đại luôn
ý thức sâu sắc về sứ mệnh xã hội cao cả của mình và chưa bao giờ rời xa những vui buồn của cuộc sống nhân gian
2 Lịch sử vấn đề
Là một nhà thơ tài hoa, là gương mặt tiêu biểu của nền thơ Việt Nam sau khi đất nước thống nhất, là người can đảm cách tân thơ Việt song những nghiên cứu về Nguyễn Trọng Tạo vẫn còn rất mỏng, chưa xứng tầm với “vóc dáng” của ông trên thi đàn Cho đến nay, vẫn chưa thực sự có công trình nào
có quy mô nghiên cứu về thơ Nguyễn Trọng Tạo nói chung và tính chính luận, tính thế sự trong thơ ông nói riêng Nhìn chung những nghiên cứu về thơ ông chủ yếu là những bài viết nhỏ được đăng trên các tạp chí chuyên ngành
Đề tài và chủ đề trong thơ Nguyễn Trọng Tạo tương đối đa dạng, không
thống nhất, không đóng đinh ở một miền nào, bởi thế trong bài viết Nguyễn
Trọng Tạo - một người thơ lẻ loi, tác giả Vũ Cao đã nhận xét: “Nếu người đọc muốn tìm thấy ở thơ Nguyễn Trọng Tạo câu trả lời “chức năng của thơ là gì” thì khó có một lời giải đáp cụ thể Ta thấy thơ anh không nhằm phục vụ một nhiệm vụ hoặc cổ vũ một trào lưu gì Anh như một người lẻ loi đứng trên các nẻo đường, mặc cho các lớp người cứ trùng điệp qua lại Anh suy nghĩ một mình vẩn vơ với những điều bất chợt nhận ra rồi bất chợt viết thành những câu thơ có lúc mộc mạc, có lúc sang trọng nhưng cũng có lúc như chỉ viết cho mình” [6]
Nguyễn Thuỵ Kha trong bài viết Người tận lực cho thơ đã nhận định
“Tạo đã có những đột phá mang khát vọng cách tân như không nhiều nhà thơ
Trang 7khác thời đầu thanh bình Tạo khởi xướng ra “thơ đời thường” nhằm đối trọng với thơ tụng ca nhan nhản lúc bấy giờ…”[61,533] Trong bài viết này,
Nguyễn Thuỵ Kha đã khẳng định tâm huyết và bản lĩnh của Nguyễn Trọng Tạo trước cuộc đời khi nhà thơ mạnh dạn đặt ra những câu hỏi nhức nhối của
thời đại: “Một trong những luồng điện lạ của Tạo là bài thơ dài “Tản mạn
thời tôi sống” Bài thơ nhức nhói bao nhiêu câu hỏi đòi phải được trả lời, đòi phải có sự chuyển đổi Đó là thơ “đổi mới trước đổi mới” như có nhà phê bình đã nhận xét…” [61, 534]
Văn Công Hùng trong bài viết Cộng cảm với Nguyễn Trọng Tạo đăng trên Blog Nguyễn Trọng Tạo thì cắt nghĩa: thơ Nguyễn Trọng Tạo “nhiều khi
cứ ngấp nghé giữa bờ vực của thực và hư, giữa đời và đạo, giữa cái mong manh và vĩnh cửu, giữa khoảnh khắc và trường tồn, giữa có thể và không thể, giữa chỉn chu và phá cách, giữa nhất thời và mai hậu” [30]
Những có lẽ những đóng góp, cách tân của Nguyễn Trọng Tạo trên phương diện nghệ thuật đã được người đọc ghi nhận nhiều nhất Đến với hiện đại từ truyền thống, Nguyễn Trọng Tạo đã đem đến cho người đọc những mĩ
cảm đặc biệt Vũ Thị Thuỳ Hương trong Thơ Nguyễn Trọng Tạo - sự đổi mới
trên nền truyền thống đã đánh giá: “Nguyễn Trọng Tạo không làm mới thơ mình bằng những hình ảnh tân kỳ, những thủ pháp cắt dán, đồng hiện xa lạ từ phương Tây như trường hợp Dương Tường, Lê Đạt, Hoàng Hưng… Nguyễn Trọng Tạo chọn cho mình một hướng cách tân khác: cách tân trên nền cổ điển Trên nền cổ điển, ta gặp thơ Hữu Thỉnh tinh tế, mới mẻ trong cái duyên của những làn điệu dân ca Bắc Bộ, ta cũng gặp trong thơ Nguyễn Duy cái nhìn tinh tế của ca dao Nguyễn Trọng Tạo đem vào thơ nét riêng của giai điệu ví dặm và cái chất “nhà quê” thực thà, chân tình, ấm áp” [35]
Một trong những yếu tố nổi bật nhất trong thơ Nguyễn Trọng Tạo đó
chính là chất nhạc Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp đã khẳng định:“Cấu
Trang 8trúc thơ Nguyễn Trọng Tạo hàm chứa rất nhiều chất nhạc là vì thế Nhạc cất lên từ nhịp… Nhạc cất lên từ vần… từ sự bung phá một cách phóng túng để diễn tả chính sắc màu của nhịp điệu…” [15] Không chỉ vậy, nhà nghiên cứu
còn đánh giá cao sự cách tân của Nguyễn Trọng Tạo trong việc làm mới thơ lục
bát, đưa vào thể thơ “cổ truyền” này những nét mới mẻ, độc đáo: “Nếu “Đồng
dao cho người lớn” mở ra bước chuyển về thi pháp, đưa thơ đến với giọng triết
lý sau cái vẻ ngu ngơ thật như đùa thì “Chia” lại là một nỗ lực cách tân của Nguyễn Trọng Tạo trên con đường làm mới thể thơ lục bát” [15]
Ngoài ra, chúng ta còn có thể kể thêm một số bài viết về con người và
một (hoặc một nhóm) bài thơ của Nguyễn Trọng Tạo như: Nguyễn Trọng Tạo
- Tuổi tôi cầm tinh con Hợi (Nguyễn Thuỵ Kha, tạp chí Văn học và Tuổi trẻ,
số 6 - 2008); Đọc lại Đồng dao cho người lớn (Hoàng Cầm - Blog Nguyễn Trọng Tạo); Nguyễn Trọng Tạo, người tự sắm vai mình (Lê Huy Mậu - Blog Nguyễn Trọng Tạo); Cảm nhận Ngày không em (Phan Chí Thắng); Bài thơ Tự
hoạ của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo (Lê Thanh Chung)…
Nhìn chung ở những bài viết trên, các tác giả đã đi vào một số khía cạnh khác nhau trong thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Trọng Tạo, và đã có những ghi nhận đúng đắn về sự đóng góp của nhà thơ cho thi đàn Tuy nhiên, như thế vẫn là quá ít để nói về một người thơ tài hoa như Nguyễn Trọng Tạo, đặc biệt về phương diện tính chính luận và tính thế sự trong thơ ông thì chưa thấy công trình nào đánh giá trọn vẹn Vậy nên, trên cơ sở tổng hợp và tiếp thu những ý kiến của các tác giả, các nhà phê bình nghiên cứu đi trước, chúng tôi
sẽ tiếp tục tìm hiểu, mở rộng, đi sâu để có cái nhìn phổ quát và đầy đủ hơn về tính chính luận và tính thế sự trong thơ ông
3 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi tƣ liệu khảo sát
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Như tên đề tài đã xác định, đối tượng nghiên cứu của luận văn là Tính
chính luận và tính thế sự trong thơ Nguyễn Trọng Tạo
Trang 93.2 Phạm vi tư liệu khảo sát
Để thực hiện đề tài, chúng tôi chủ yếu khảo sát tuyển tập Nguyễn Trọng
Tạo Thơ và trường ca (Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2011) Ngoài ra, chúng tôi
còn khảo sát các tập thơ và trường ca in riêng của Nguyễn Trọng Tạo, gồm:
Gửi người không quen, Đồng dao cho người lớn, Thư trên máy chữ và tản mạn thời tôi sống, Nương thân, Thơ trữ tình, Thế giới không còn trăng, 36 bài thơ, Em Đàn Bà, Con đường của những vì sao, Tình ca người lính (hai tập sau
là trường ca)
Để sự nghiên cứu và đánh giá thơ Nguyễn Trọng Tạo được toàn diện, chúng tôi cũng khảo sát thơ của nhiều nhà thơ Việt Nam hiện đại khác, đặc biệt là thơ của các nhà thơ thế hệ chống Mỹ như Phạm Tiến Duật, Bằng Việt, Nguyễn Khoa Điềm, Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ, Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Ý Nhi, Lâm Thị Mỹ Dạ, Phan Thị Thanh Nhàn…
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Khái quát về đường thơ Nguyễn Trọng Tạo và phân tích cội nguồn tính chính luận, tính thế sự trong thơ của ông
4.2 Phân tích những luận đề, hình tượng thể hiện tính chính luận và tính thế sự trong thơ Nguyễn Trọng Tạo
4.3 Làm rõ những tìm tòi nghệ thuật đã tạo nên tính chính luận và tính thế sự trong thơ Nguyễn Trọng Tạo
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp sau đây:
- Phương pháp hệ thống - cấu trúc
- Phương pháp loại hình
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
Trang 106 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận
văn được triển khai qua 3 chương:
Chương 1 Đường thơ Nguyễn Trọng Tạo và cội nguồn tính chính luận, tính thế sự trong thơ ông
Chương 2 Những luận đề, hình tượng thể hiện tính chính luận và tính thế sự trong thơ Nguyễn Trọng Tạo
Chương 3 Những tìm tòi nghệ thuật tạo nên tính chính luận và tính thế
sự trong thơ Nguyễn Trọng Tạo
Trang 11Chương 1 ĐƯỜNG THƠ NGUYỄN TRỌNG TẠO VÀ CỘI NGUỒN
TÍNH CHÍNH LUẬN, TÍNH THẾ SỰ TRONG THƠ ÔNG
1.1 Đường thơ Nguyễn Trọng Tạo
1.1.1 Quê hương, con người
1.1.1.1 Quê hương
Nguyễn Trọng Tạo sinh ngày 25 tháng 7 năm 1947 trong một gia đình Nho học ở làng Trường Khê, thuộc huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, mảnh đất đã gắn liền với biết bao kì tích, biết bao huyền sử linh thiêng của dân tộc Vùng đất gió Lào ấy tự bao đời nay đã sản sinh, hun đúc nên biết bao anh hùng yêu nước, thương dân Phải chăng chính cái khốc liệt của khí hậu hoà quyện với vùng đất cát nóng bỏng đã tạo sinh ra nhân kiệt cho muôn đời Cho đến thời của chúng ta, miền đất giàu truyền thống ấy cũng đã hun đúc, sinh tạo nên cho cuộc đời một chàng nghệ sĩ đa tài “cầm - kì - thi - hoạ” luôn nặng lòng với đất nước, quê hương Chàng nghệ sĩ ấy dù trong suốt cuộc đời mình
đã đi rất nhiều nơi, rong ruổi ở nhiều vùng đất song vẫn không bao giờ quên được miền “quê cát” chôn rau cắt rốn của mình
Trong suốt hơn 60 năm cuộc đời, Nguyễn Trọng Tạo đã đặt chân đến biết bao nhiêu vùng đất, trong đó có những vùng đất đã trở thành “quê hương” thứ hai của ông song con người đó vẫn không bao giờ quên được mảnh đất xứ Nghệ nắng gió, nơi anh đã được sinh tạo và trưởng thành Đã có
lần Nguyễn Trọng Tạo bộc bạch: “Quê đối với tôi là sự gắn bó, tự hào và
luôn coi quê là dòng dõi, sang trọng, và có lẽ vì đó mà trong mỗi sáng tác của mình tôi luôn hướng đến nỗi lòng của người quê” [74] Đối với thi sĩ, dù có đi
cùng trời, cuối bể, dù có ham chơi rong ruổi cả đời thì hình ảnh quê hương
vẫn luôn ngự trị trong tâm trí “Nương thân ở chốn thị thành nhưng chàng
Trang 12vẫn thèm nghe một khúc dân ca xứ Nghệ, thèm được trở về tắm ở con sông Bùng, ngủ trong vòng tay người mẹ yêu kính” [13] Cái tết nào ở chốn thị
thành nhà thơ cũng nhớ quê đến nôn nao, da diết:
Cỏ may khâu áo làng quê
Cớ chi gió thổi bay về trời cao
Ta lên sân thượng chạm vào
Cỏ may Ta cúi xuống chào… cỏ may
(Cỏ may trên sân thượng)
Ở chốn phồn hoa, dù được thưởng thức biết bao của ngon vật lạ nhưng nhà thơ vẫn không thể quên được những món quê với cơm nắm chấm vừng, với lon dưa vại cà đầy thân thương mộc mạc:
Nghìn năm hay vạn năm xưa
Muối vừng cơm nắm lon dưa vại cà
Món quê thơm thảo mặn mà
Vẫn len lỏi chốn phồn hoa phố phường
(Món quê)
Đã có những lúc, sống giữa phố phường đông đúc nhưng nhà thơ vẫn
cảm thấy “ngơ ngác”, lạc lõng bởi cảnh thân tại phố nhưng hồn tại quê:
Trang 13Ngơ ngác giữa phố một thằng nhà quê nhớ thương mộ tổ biết bao giờ về
(Lưu lạc)
Con người Nguyễn Trọng Tạo là vậy, dù có xa quê bao nhiêu năm, dù
có sống ở nhiều nơi nhưng ông vẫn là con người của quê hương với ý nghĩa tuyệt đối của nó Đọc thơ ông, ta thấy nhà thơ không thể nào thoát khỏi gánh nặng của lèn Hai Vai, của Rú Cài… luôn ngự trị trong tâm trí Mặc dù ông
biết Áo quần chẳng rách như xưa (Cỏ may trên sân thượng) song muôn đời
Nguyễn Trọng Tạo vẫn là người con của quê hương Nghệ - Tĩnh:
Quê cha lèn Hai Vai quê mẹ chân Rú Cài Nghệ An và Hà Tĩnh
là tình tôi nhân hai
(Quê ngoại)
Chính vì lẽ đó, chúng ta hiểu được vì sao nhạc phẩm “Khúc hát sông
quê” của ông lại mê đắm lòng người đến vậy Đơn giản vì bài hát đó là âm
nhạc được cất lên từ cõi lòng luôn nồng nàn, tha thiết hướng về quê hương, nguồn cội
1.1.1.2 Con người
Nhìn bề ngoài Nguyễn Trọng Tạo là một con người không có gì đặc
biệt Mọi người vẫn nhớ đến anh với “mái tóc quăn quăn”, “giàu tài nói
năng”, với “thân thể không cao nhưng tài hoa thật lớn” Đó là những đánh
giá chân thành của nhà thơ Luân Hoán về Nguyễn Trọng Tạo trong một bài thơ ông hoạ về con người đa tài nhưng cũng đa mang, đa hệ luỵ này Với cái nhìn hóm hỉnh, pha chút bông đùa nhưng chất chứa biết bao tình cảm chân
Trang 14thành trìu mến, Luân Hoán đã vẽ nên một bức chân dung chân thực tuy chưa thể trọn vẹn và đầy đủ về chàng thi sĩ đa đoan của mảnh đất xứ Nghệ
Tác giả Thiên Sơn trong bài viết Nguyễn Trọng Tạo, kẻ vớt trăng bao
lần trăng vỡ nát cũng đã từng ghi lại những ấn tượng của mình về Nguyễn
Trọng Tạo như sau: “Ai gặp Nguyễn Trọng Tạo cũng thấy mình được vui lây
Tính anh hoà đồng, giản dị và hết lòng với bạn bè Người ta thấy anh hát, anh cười, và trò chuyện chia sẻ chuyện đời, chuyện thơ Anh dí dỏm và ít khi trầm
tư Giữa đám đông với lòng ngưỡng mộ của mọi người, anh càng thăng hoa biết mấy…” [56] Quả thật đúng như lời đánh giá của Thiên Sơn, bất kì ai đã
từng gặp Nguyễn Trọng Tạo đều có một cảm nhận thống nhất ở ông đó là sự gần gũi, thân thiện Ông không bao giờ nghĩ rằng mình là một người nổi tiếng, tài hoa để rồi tạo ra một khoảng cách với người đối diện Tác giả Trịnh
Quốc Dũng đã khẳng định điều đó sau một lần trực tiếp gặp nhà thơ: “Tôi gặp
gỡ nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo lần đầu tiên tại một quán rượu trên đường Bưởi Cái cảm giác trước khi được gặp một người nổi tiếng, một nhà thơ lớn với rất nhiều bài thơ mà tôi thuộc nằm lòng từ lâu là sự hồi hộp xen lẫn chút ngại ngùng, Nhưng anh đã xoá tan đi cái cảm giác ban đầu đó của tôi bằng cái bắt tay đầy thiện cảm và chân thành” [13] Còn nếu nói về sự hết
lòng với bạn bè thì có lẽ cũng chẳng có mấy ai bằng Nguyễn Trọng Tạo Cuộc đời ông cả trong sự nghiệp và tình duyên đều gặp nhiều sóng gió, chính vì vậy bạn bè là chỗ dựa lớn nhất của ông, là nơi ông tìm về sau những đắng cay, chua chát trong cuộc đời Vì lẽ đó, Nguyễn Trọng Tạo đã có rất nhiều thi phẩm viết hay và cảm động về tình bạn, tình bằng hữu, tri kỉ Với ông, bạn bè
là lẽ sống, là nguồn sống kể cả trong đời thực và trong những trang thơ Bạn vừa là người nâng đỡ ông những lúc cơ cực và cũng chính bạn là khởi nguồn cảm hứng thơ ca trong ông Chỉ cần nghĩ tới lúc cuộc đời không có bạn, nhà thơ đã hốt hoảng, âu lo, cảm nhận được nỗi cô đơn, chán chường vây bủa:
Trang 15“Bạn bè ơi nếu mà không các bạn/ ta như chai rượu đã cạn rồi/ cốc chén buồn tênh úp trên đĩa/ ta như bình gốm chẳng hoa tươi” (Cõi nhớ) Người
xưa thường nói “giàu vì bạn, sang vì vợ”, nếu hiểu như vậy thì có lẽ trên thế
gian này mấy ai giàu có được như Nguyễn Trọng Tạo, bởi mấy ai có được tình bạn chân thành, sâu sắc như ông?
Phải khẳng định rằng, Nguyễn Trọng Tạo là một người nghệ sĩ đúng nghĩa, một con người luôn sống đúng, sống hết mình với thi ca, nghệ thuật
Không phải ngẫu nhiên tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường trong lời tựa Đồng
dao cho người lớn đã dùng cụm từ “Người Ham Chơi” để gọi tên Nguyễn
Trọng Tạo Có lẽ chính bởi cái cốt cách lãng tử, ưa cuộc sống phóng túng, ghét sự gò bó của những quy định, những luật lệ nghiêm nghị đã tạo sinh cho cuộc đời một kẻ ham chơi như Nguyễn Trọng Tạo
Mọi người nhớ đến ông, khâm phục ông ngoài sự gần gũi, hoà đồng với bạn bè còn bởi ông là một người thẳng thắn, trung thực, một con người dám dấn thân, đấu tranh cho sự thật Trong một lần trả lời phỏng vấn, nhà thơ
đã không ngần ngại trình bày quan niệm của mình: “Đã là nhà thơ thực sự thì
anh phải hướng tới sự thật dù vinh quang hay đau buồn của chính anh và của
cả thời đại mình đang sống Tôi là kẻ đau buồn lạc quan nên tôi không sợ nói
ra sự thật bằng thơ”[20] Nhưng cũng chính sự táo bạo và thẳng thắn đó đã
khiến Nguyễn Trọng Tạo phải chịu đựng biết bao thiệt thòi, áp lực trong một thời gian dài
Chân thành, gần gũi, thẳng thắn… từng ấy từ ngữ chưa thể đầy đủ để nói về con người Nguyễn Trọng Tạo Đó là trong quan hệ với bạn bè, đồng nghiệp, còn trong công việc, ông là người có trách nhiệm, lương tâm với cái
“nghiệp” mà mình đã lựa chọn Phải thừa nhận rằng, Nguyễn Trọng Tạo là con người đa tài, một nghệ sĩ tài hoa, bởi ông không chỉ làm thơ mà còn viết
nhạc, vẽ bìa sách… và ở lĩnh vực nào ông cũng “cho ra những đứa con tử tế”
Trang 16[20] Có những bài hát do ông phổ nhạc đã đằm sâu trong tâm hồn biết bao thế hệ khán giả và đến nay hãy còn ngân nga trong tâm tưởng của tất cả chúng
ta Tác giả Thiên Sơn đã một lần nữa đánh giá trọn vẹn, chân xác về con
người Nguyễn Trọng Tạo như sau: “Nguyễn Trọng Tạo là một phức thể Tài
năng của anh như một viên ngọc lấp lánh nhiều sắc màu và khía cạnh Trong thơ, nhạc và hoạ hay phê bình, tiểu luận anh đều ghi được những ấn tượng đậm nét Nhưng có lẽ hơn hết anh là một nhà thơ Một nhà thơ xuất phát từ mạch nguồn trong trẻo của thơ ca dân gian, từ những truyền thống đẹp của thơ ca cách mạng đã vươn thẳng vào hiện đại, tìm ra một lối đi riêng sau rất nhiều tự vấn và trăn trở, sau rất nhiều khúc quanh của định mệnh” [56]
Nguyễn Trọng Tạo là vậy, tài năng, giản dị, gần gũi và không bao giờ phô trương, khoảng cách, ông luôn sống thành thực với chính mình và không
cố tình tạo ra cái “mặt nạ da người” để che dấu bản thân, để khoác lên mình chiếc áo đạo đức giả Con người ấy, dù phải trải qua biết bao oan khiên, định kiến trong cuộc đời vẫn luôn nhìn đời bằng cái nhìn đầy lạc quan, tin yêu, vẫn không ngừng khát khao và hi vọng
1.1.2 Những dấu mốc trên hành trình thơ
Nói về thi ca, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo từng bộc bạch: “Thơ là cái
bóng của tôi hay tôi là cái bóng của thơ, tôi nào có biết Những yêu ghét giận hờn, những vui buồn sống chết… không có gì thuộc về con người lại xa lạ với thơ Thơ dạo gót nhẹ nhàng tới những chỗ tăm tối tận cùng của Cõi Người… Trên con đường vô định, tôi đã đi tìm thơ gần trọn cuộc đời” [61,517]
Những lời thổ lộ chân tình ấy đã thể hiện một tâm hồn yêu và sống hết mình cho thơ Xuất bản tập thơ đầu tay năm 1974 (in chung cùng Nguyễn Quốc Anh) đến nay Nguyễn Trọng Tạo đã có 14 tập thơ So với văn xuôi, hội hoạ thì thơ ca thực sự là thế mạnh của ông Tài sản của ông tuy không thật sự lớn lao về mặt số lượng song đó đều là những thi phẩm tinh tế, giàu sức sáng tạo
Trang 17và tràn đầy những thông điệp mang tính nhân văn Mỗi bài thơ, mỗi tập thơ đều là mồ hôi, nước mắt, là sự kết tinh biết bao tâm huyết của một hồn thơ luôn đau đáu, trăn trở và hết mình vì thơ ca, nghệ thuật Hơn 50 năm theo nghiệp thơ ca, trảỉ qua biết bao biến động, thăng trầm, thị phi của cuộc đời, Nguyễn Trọng Tạo cũng đã khẳng định được tên tuổi và tài năng nghệ thuật của mình với những vần thơ vượt thời gian chân thành mà sâu sắc Đọc thơ
ông, càng ngẫm chúng ta càng thấy tâm đắc với một chân lý: “Quá trình lao
động nghệ thuật cũng là quá trình bồi dưỡng cho mình một lý tưởng thẩm mĩ đúng đắn” Trong hành trình sáng tác của mình, nhà thơ luôn không ngừng
đổi mới, sáng tạo, vì thế thơ ông luôn vận động và thay đổi theo thời cuộc, biến thiên theo những chuyển mình lớn lao của đất nước và nhân dân
1.1.2.1 Thơ Nguyễn Trọng Tạo từ thời chiến chuyển sang thời bình
Nguyễn Trọng Tạo bén duyên với thơ từ rất sớm Mới 14 tuổi, ông đã trình làng những vần thơ đầu tiên và được đông đảo người yêu thơ biết đến Từng tham gia quân đội từ 1969 - 1988, Nguyễn Trọng Tạo thuộc thế hệ các nhà thơ chống Mỹ Cũng như bao văn nghệ sĩ khác cùng thế hệ lúc này, Nguyễn Trọng Tạo mang trên mình sứ mệnh kép, vừa làm thơ vừa đánh giặc Chính vì vậy thơ Nguyễn Trọng Tạo cũng một thời phơi phới tin yêu, một
thời tha thiết thật lòng “mỗi chiếc lá đều ghi lời tự nguyện”
Thơ trước năm 1975 và thơ viết về chiến tranh của Nguyễn Trọng Tạo
chủ yếu thực hiện sứ mệnh “Dùng ngòi bút làm đòn xoay chế độ” tuy nhiên ông đã có những sự tìm tòi, phát hiện những điểm sáng của cảm xúc ở Tình
yêu sáng sớm (1973) và Gương mặt tôi yêu (1980) Đặc biệt trong hai trường
ca Con đường của những vì sao (1981) và Tình ca người lính (1984) đã cho
thấy sự trưởng thành của Nguyễn Trọng Tạo trong sự nghiệp văn chương
Phải khẳng định rằng ở các sáng tác giai đoạn này “Nguyễn Trọng Tạo đã
vững vàng khi thể hiện chiến tranh và tâm hồn con người thời chiến ở những
Trang 18bình diện mới, với vốn sống, với vốn văn hoá phong phú Người đọc đã thấy ở anh một tư duy thơ sắc sảo, trẻ trung, đầy dự cảm”[10]
Như một quy luật tất yếu, con người luôn bị chi phối bởi môi trường, hoàn cảnh xã hội Những năm bảy mươi của thế kỷ trước, dân tộc ta đang sục
sôi cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ, đó là những năm “đất nước có chung
tâm hồn, có chung khuôn mặt” (Chế Lan Viên), văn học vì vậy cũng chủ yếu
để phục vụ cách mạng và tuyên truyền chính trị Thơ cũng vậy, “thơ là một
hoạt động có ý thức của toàn xã hội Hoạt động ấy phải nhịp nhàng và hài hoà với hoạt động thực tiễn nói chung của dân tộc, đất nước và thời đại”
[66,120] Hoà chung vào không khí sục sôi đó, Nguyễn Trọng Tạo đã có
những vần thơ, bài thơ thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng, khẳng định sức mạnh của dân tộc, sức sống bất diệt của
con người trước bom đạn chiến tranh như: Quê cát, Người chèo đò thời chiến,
Đường ra trận đêm trăng, Trưa rừng Hương Sơn, Gửi bạn làm thợ rừng…
đặc biệt là hai trường ca Tình ca người lính và Con đường của những vì sao
(Trường ca Đồng Lộc)
Nổi bật trong những sáng tác viết về chiến tranh của Nguyễn Trọng Tạo chủ yếu là hình tượng con người thời chiến với bản lĩnh kiên trung, sức sống bất diệt và ý chí căm thù giặc sâu sắc Nhà thơ đã tái hiện một cách chân thực hiện thực chiến tranh khốc liệt tàn phá, bom đạn dày xéo cuộc sống bình
yên của nhân dân ta: Quê cát nắng từng cơn bỏng rát / Mà quân thù hòng
cướp giọt nước trong (Quê cát); Những viên đạn /Từ đêm đen qua bình minh / Lửa bốc cháy một vùng biên giới bắc / Những lỗ thủng trên ngực người già, trên ngực trẻ em /Trên ngực đất (Tình ca người lính - số 3) Trên phông nền
chiến tranh dữ dội đó ông đã chạm khắc hình ảnh những con người Việt Nam
vươn lên vượt qua bão táp với sức mạnh, bản lĩnh phi thường: Chúng đâu
hiểu từ trong lòng đất/ Đạn bất ngờ thiêu chúng giữa tầng không (Quê cát);
Trang 19bom đạn giặc từ trời cao ném xuống / Nhân Dân từ ruột đất trồi lên! (Con
đường của những vì sao - chương 3) Không chỉ vậy, Nguyễn Trọng Tạo còn
có những khúc tráng ca thể hiện niềm tự hào, ngợi ca con người quê hương với những phẩm chất chịu thương, chịu khó và đức hi sinh cao cả:
Quê cát những thân dừa cặm cụi
Như mẹ hiền sớm tối nuôi con
Chịu cát bỏng một đời thân mẹ
Vẫn quanh năm ngọt nước cho buồng non
(Quê cát)
Đặc biệt, nhà thơ còn có những vần thơ thể hiện tinh tế và sâu sắc nỗi lòng, vẻ đẹp tâm hồn của những người lính nơi chiến trường khốc liệt Có lẽ những năm tháng tham gia kháng chiến, được sống với những người lính nơi bom đạn đã giúp nhà thơ thấu hiểu một cách sâu sắc hơn ai hết nỗi lòng của những người chiến sĩ phải xa quê hương Đó là nỗi nhớ da diết khúc dân ca quê nhà đơn sơ, mộc mạc:
Chiến tranh xoá đi nhiều lắm
Những miền phẳng lặng trong ta
Tôi đi trên đường kháng chiến
Con đò neo khúc dân ca
(Người chèo đò thời chiến)
Giữa những đêm trăng nơi chiến trường, tâm hồn người lính lại hướng
về quê nhà với nỗi nhớ cồn cào, da diết đến cháy lòng: Chiến sĩ cháy lòng nỗi
khát khao quê kiểng/ Là khi đường trăng chói đỏ sắc chiến hào (Đường ra
trận đêm trăng) Mặc cho chiến trường khốc liệt, bom đạn giày xéo, cái chết luôn cận kề, những người lính vẫn không nguôi nhớ về quê hương, vẫn tràn đầy nhiệt huyết và tâm hồn bay bổng, lãng mạn Phải chăng chính điều đó đã
Trang 20tạo nên sức mạnh thôi thúc những người lính trẻ chiến đấu hết mình cho sự bình yên của tổ quốc, quê hương?
Bên cạnh đó, Nguyễn Trọng Tạo cũng không quên gửi gắm tình yêu quê hương, đất nước thiết tha trong mỗi thi phẩm viết về chiến tranh của mình Trong cái ác liệt của chiến tranh, của cái ranh giới vô cùng mong manh giữa sự sống và cái chết, tâm hồn thi sĩ xứ Nghệ vẫn hướng về vẻ đẹp của quê hương đất nước:
Tổ quốc tôi! Tổ quốc tôi ơi
Ở biên giới Người giàu có nhất
Ở biên giới Người gần gũi nhất
Ở biên giới Người sâu lắng nhất…
(Tổ quốc ở biên giới)
vẫn ngợi ca sức mạnh bất diệt của Tổ quốc non sông:
Cứ thế dân tộc tôi không bao giờ mất đi sau mỗi cuộc chiến tranh Dọc Trường Sơn lại trồng màu gieo lúa
Như trồng cỏ trên con đê vừa đắp cao dày thêm nữa
Và màu xanh như xanh vậy, từ xưa!
(Con đê trên bán đảo)
Như vậy, có thể khẳng định rằng, ở các sáng tác trong giai đoạn này, Nguyễn Trọng Tạo đã thể hiện được một cách chân thực, sinh động hình ảnh chiến tranh và tâm hồn con người thời chiến bằng những trải nghiệm sâu sắc của chính mình Những vần thơ của ông ra đời trong bom đạn, mang hơi thở của chiến trường, của tuổi trẻ căng tràn nhựa sống với những khát khao cháy bỏng Tuy đã có những đau đáu, suy tư trăn trở nhưng thơ ông lúc này vẫn bị chi phối mạnh mẽ bởi cảm hứng sử thi, lãng mạn bởi
Tất cả trôi xuôi cấm lội ngược dòng Bút pháp hiện thực pha lẫn lãng mạn
đã được Nguyễn Trọng Tạo sử dụng triệt để nhằm chuyển tải đời sống chiến
Trang 21trận của quê hương và dân tộc Ngôn ngữ thơ giản dị, mộc mạc Nhưng cũng không thể phủ nhận bên cạnh đó, thơ ông đã bắt đầu hoài thai những dấu hiệu của sự bứt phá để sáng tạo Một số sáng tác của Nguyễn Trọng Tạo trong thời gian này như cánh én nhỏ góp phần báo hiệu một mùa xuân mới của thi ca dân tộc
1.1.2.2 Thơ Nguyễn Trọng Tạo thời hậu chiến
Phải khẳng định rằng phần hay nhất của thơ Nguyễn Trọng Tạo nằm ở thời hậu chiến Sau năm 1975, đặc biệt là những năm đất nước đầy biến động khi đứng trước công cuộc đổi mới, Nguyễn Trọng Tạo đã nhanh chóng nhập cuộc Thơ ông đã có một bước chuyển quan trọng từ tính chất sử thi sang trữ
tình, đó là bước chuyển từ các trường ca Con đường của những vì sao và Tình
ca người lính sang các tập thơ Sóng thuỷ tinh và Gửi người không quen mà
bản lề là Tản mạn thời tôi sống Bước chuyển mình trong thơ Nguyễn Trọng
Tạo thời kỳ này nằm trong sự chuyển mình chung của văn học sau 1975, khẳng định tên tuổi của ông bên cạnh Thanh Thảo, Nguyễn Duy, Trần Mạnh Hảo, Lâm Thị Mỹ Dạ… làm thành đội hình mới với những giọng điệu mới
mẻ, bất ngờ, đôi khi táo bạo
Là một người lính trở về sau chiến tranh, Nguyễn Trọng Tạo đã có một
chùm thơ viết về những ám ảnh, trăn trở không nguôi: Thơ tình người đứng
tuổi, Lời ru của người đứng tuổi, Thư gửi người không quen… Nỗi lòng của
người lính trải qua bao năm tháng chiến tranh bom đạn nay được trở về gặp lại người yêu đã được nhà thơ thể hiện đầy xúc động:
Bây giờ qua cuộc chiến tranh
bây giờ qua tuổi xuân xanh, tôi về
bàn tay người có gầy đi
run run nước mắt ướt nhoè ngực tôi
(Thơ tình người đứng tuổi)
Trang 22Xuất phát từ trái tim đã từng nếm trải những yêu thương, mất mát và không nguôi những khát vọng, Nguyễn Trọng Tạo đã không ngần ngại nói lên những bi kịch cần được chia sẻ của cuộc đời người lính:
với ba lô cóc trên lưng
thèm nghe tiếng trẻ giữa chừng đạn bom…
(Lời ru của người đứng tuổi)
Nỗi “thèm khát” đó của người lính tưởng chừng rất giản đơn song lại vô cùng khó khăn giữa nơi đạn bom ngày đêm vần vũ Những tâm tư đó đã một thời bị văn học lãng quên, nay trỗi dậy đầy nhức nhối, ám ảnh Và một khi ước vọng đó đã thành thì niềm vui cũng ùa về trước sự tái sinh của sự sống:
ngủ cho ngoan, ngủ cho ngoan
lời cha đứng tuổi, ru con vụng về
ru mà lại sợ con nghe
mẹ con về nép bờ tre mỉm cười
(Lời ru của người đứng tuổi)
Tóm lại, những bài thơ Nguyễn Trọng Tạo viết trong giai đoạn này là tiếng hát vui của người lính sau bao nhiêu năm bom đạn và chết chóc được trở
về với cuộc sống gia đình bình dị, thân thương nên gợi cho người đọc niềm xúc động khó tả Đó là nỗi lòng, là những lời thổ lộ chân thành của biết bao người lính, trong đó có cả nhà thơ
Sau Thơ tình người đứng tuổi, bài thơ Tản mạn thời tôi sống đã đánh
dấu một bước đột phá mới trong sự nghiệp thơ ca của Nguyễn Trọng Tạo Bài
thơ như một “luồng điện lạ” (Lời của Nguyễn Thuỵ Kha), nhức nhói bao nhiêu câu hỏi đòi phải được trả lời, đòi phải có sự chuyển đổi Tản mạn thời
tôi sống đã đưa Nguyễn Trọng Tạo lên vị trí một trong những tác giả được
người đọc ngưỡng mộ nhất đương thời, song nó cũng đặt ra cho nhà thơ những áp lực, những thách thức rớm máu:
Trang 23Thời tôi sống có bao nhiêu câu hỏi
Câu trả lời thật không dễ dàng chi
(Tản mạn thời tôi sống)
Sau khi Tản mạn thời tôi sống ra đời, một không gian nghệ thuật đa
chiều, lấm láp chất đời thường bắt đầu xuất hiện dưới ngời bút Nguyễn Trọng Tạo Từng mảnh nhỏ hiện thực xù xì và tương phản như ẩn chứa một thái độ đòi phản biện Đó là ngọn nguồn của một ý thức ráo riết, của một tâm thế
không yên, của những phá cách ngang tàng, pha chút gây hấn: Như con chiên
sùng đạo chợt bàng hoàng / Nhận ra chúa chỉ ghép bằng đất đá (Tản mạn
thời tôi sống) Tuy nhiên “Là thi nhân với những xác tín nội tâm rạn vỡ và
những quả quyết, bất cần” [47] song trong hành trình thơ của mình, Nguyễn
Trọng Tạo vẫn mải miết đi về phía niềm tin và khát vọng:
Ở đâu đó người vẫn yêu người lắm nước đục ư? qua bể lọc trong ngần
(Gửi con người)
Và hơn hết ông luôn tin rằng: trên úa tàn tốt đẹp sẽ lên ngôi Chính
niềm tin đã trở thành cội nguồn, lí tưởng để nhà thơ tiếp tục khám phá cuộc
sống trong chiều sâu tâm thức: nhưng tôi không cầm bút than ôi/ không thể
không tin gì mà viết (Tin thì tin không tin thì thôi)
Sau những buồn vui, hoài nghi và tin yêu, Nguyễn Trọng Tạo lại quay về
với chốn Nương thân, với Thế giới không còn trăng ôm theo khoảng lặng cô
đơn và nỗi buồn sâu thẳm Buồn và cô đơn là nỗi ám ảnh lớn nhất đối với cái tôi trữ tình trong thơ hiện đại nói chung và thơ Nguyễn Trọng Tạo nói riêng,
và nhà thơ đã tìm mọi cách để giải mã nỗi lòng bằng việc tạo ra thế giới mộng
mơ - nơi hoài niệm quay về với sự đồng hiện của quá khứ tươi đẹp:
Lại tìm về xứ chiêm bao
Hình như xứ ấy cây cao hơn nhiểu
Trang 24Cánh diều chẳng phụ dây diều
Tình yêu nỡ phụ người yêu bao giờ
(Hình như)
Và cuối cùng, sau những cuộc dông dài của đời mình, nếm trải biết bao vui, buồn, đắng chát của cuộc đời, nhà thơ lại quay trở về với cái hồn quê bình dị, quay về với bản sắc truyền thống của muôn đời Lúc này, người đọc
nhận thấy sự ra đời của Đồng dao cho người lớn như một tất yếu của sự đúc
kết, trưởng thành từ những chiêm nghiệm của nhà thơ về bản thân và cuộc
đời “Đồng dao cho người lớn” là tiếng hát ngu ngơ của Người Ham Chơi
(…) và qua bao nẻo đường không tên của trần gian, đi xuyên đá để tới bên bờ vực thẳm của phế tích, và đến cùng kiệt gã theo tờ lịch nhảy vào kiếp luân hồi” [58]
Có thể khẳng định từ Tản mạn thời tôi sống Nguyễn Trọng Tạo đã là
một con người khác, một công dân khác, một thi sĩ khác Cái khác ấy hiện hình nhanh chóng và khẳng định mình một cách đầy tự tin và thuyết phục qua
hai tập thơ Đồng dao cho người lớn và Nương thân Hành trình thơ của
Nguyễn Trọng Tạo đã cho chúng ta thấy một bút lực dồi dào, tinh tế và đặc biệt nhạy cảm với từng nhịp sóng của dòng chảy thi ca đương đại Và nói như
Nguyễn Đăng Điệp: “Mặc dù thập kỷ 80 của thế kỷ XX có sự nỗ lực đổi mới
của nhiều nhà thơ, nhưng cần ghi dấu 3 giọng điệu đáng chú ý; Ý Nhi, Nguyễn Trọng Tạo, Dư Thị Hoàn” [15] Với những nỗ lực và đóng góp không
ngừng của mình, Nguyễn Trọng Tạo xứng đáng được vinh danh là Người giữ lửa cho thi đàn Việt Nam
1.1.3 Việc khẳng định vị trí riêng trong “dàn đồng ca”
Khi Nguyễn Trọng Tạo bước chân vào làng văn, trước ông đã có biết bao tên tuổi được vinh danh, biết bao cây bút được bạn đọc nhớ đến Nói như vậy để chúng ta biết việc nỗ lực không ngừng của ông để ghi tên mình vào
Trang 25lòng độc giả là một điều không dễ dàng Thơ Việt Nam đương đại là một khu vườn trăm hoa khoe sắc, thật khó để xác định được một dòng chủ lưu hay một tên tuổi xuất sắc nổi bật như những giai đoạn trước Nói như thế không có nghĩa thơ Việt Nam giai đoạn này thiếu những đỉnh cao Thực tế cho thấy, văn học nói chung và thơ ca nói riêng đang ở thời kì giao thoa mạnh mẽ, đang trong quá trình thử nghiệm và thể nghiệm, tìm tòi và sáng tạo Dẫu không có những tên tuổi rạng rỡ xứng đáng đại diện cho cả một giai đoạn hay thời kì như trước nhưng cũng không thiếu những con người làm nên vóc dáng và hình hài cho thơ ca Việt Nam đương đại trong hành trình cách tân để hội nhập
Sau 1975, thơ Việt Nam chạy theo quán tính cũ một thời gian rồi phân nhánh và chuyển dòng mạnh mẽ Một số thi sĩ đích thực từ thế hệ này đã quyết định thay đổi diện mạo và khí chất của thơ khi Việt Nam bước vào thập
kỉ 80 Đó là Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Hoàng Hưng, Phan Thị Thanh Nhàn… và trong đó có cả Nguyễn Trọng Tạo Chính họ là những người khởi động góp phần hình thành cho thơ ca Việt Nam đương đại một diện mạo mới
Có thể khẳng định, đổi mới là yếu tố sống còn của nghệ thuật Để tránh lặp lại chính mình, nhà thơ phải biết tự làm mới mình qua mỗi bài thơ, mỗi giai đoạn sáng tác và những đề tài quen thuộc Nguyễn Trọng Tạo là thi sĩ
sớm có ý thức đổi mới, ông từng quan niệm: “Tôi kính nể các nhà thơ cổ
điển Nhưng lớp nhà thơ sau không nên hướng tới họ mà nên hướng tới chính mình Có như vậy mới có thể hi vọng mình sẽ trở thành nhà cổ điển trong tương lai” Trong suốt hành trình sáng tạo thơ ca của mình, thi sĩ đã mê mải
với những tìm tòi cả về nội dung và hình thức Với ông “chủ thể sáng tạo có
tài luôn hướng tới cái mới lạ, không mới lạ thì không thể gọi là sáng tạo…”
Ý thức được điều đó, nhà thơ đã nỗ lực hết mình để tạo cho mình một diện mạo, một dấu ấn riêng không thể trộn lẫn giữa làng thơ đương đại
Trang 26Khác với nhiều nhà thơ đương thời luôn tìm cách làm mới thơ mình bằng những hình ảnh tân kỳ, những thủ pháp cắt dán, đồng hiện như Lê Đạt, Dương Tường, Hoàng Hưng… Nguyễn Trọng Tạo đã có lựa chọn riêng khi ông vin vào truyền thống để đi lên và khẳng định mình bên cạnh đội ngũ nhà thơ cùng thời và các nhà thơ thuộc thế hệ thơ trẻ Sự đổi mới trong thơ của Nguyễn Trọng Tạo đã được in dấu đậm nét ở những cách tân bứt phá nhưng
không đạp đổ mỹ học truyền thống, với ông “nếu có đọc thơ Tây cũng là một
cách mở rộng, tham bác cho cái chất nhà quê vừa gắn với cổ điển, vừa đáp ứng được nhu cầu hiện đại” (Nguyễn Đăng Điệp) Chính “cái chất nhà quê”
ấy là yếu tố quan trọng nhất làm nên nét đặc sắc riêng trong thơ Nguyễn Trọng Tạo, cho phép ông lựa chọn một hướng cách tân khác, cách tân trên nền cổ điển
Có thể thấy, đề tài trong thơ Nguyễn Trọng Tạo vẫn là những lay động muôn thuở trong tâm hồn con người nhưng đã gợi lên được những cảm xúc mới mẻ cho người đọc Cái mới có lẽ ở sự chuyển tải thành công suy nghĩ và tâm tư của con người hiện đại Cũng là tình yêu, nhưng tình yêu trong thơ
Nguyễn Trọng Tạo không mang nét mộc mạc, tình tứ kiểu Thương nhau qua
của tò vò nhìn nhau hay Cái gì như thể nhớ mong / Nhớ nàng? không! quyết là không nhớ nàng (Người hàng xóm) như trong thơ Nguyễn Bính, cũng không
nồng nàn mãnh liệt như Xuân Diệu: Anh nhớ tiếng, nhớ hình, anh nhớ ảnh /
Anh nhớ em! Anh nhớ lắm em ơi… mà ông có cách diễn tả tình yêu rất riêng:
Em cỏ khát Ta mưa rào đầu hạ
Cỏ uống mưa run rẩy
Cỏ đang thì…
(Cỏ và mưa)
Thật tinh tế khi nhà thơ ví tình yêu như cỏ và mưa, nhưng cỏ phải là “cỏ khát” và mưa phải là “mưa rào đầu hạ” Để rồi khi gặp nhau, cả đất trời như
Trang 27nát vụn trong tình yêu run rẩy Những câu thơ đã đem đến cho người đọc những xúc cảm rất đặc biệt, truyền đến cho người đọc những biến động tinh
vi và tinh tế trong tâm hồn yêu Đến đây có thể mượn cách nói của nhà thơ trẻ
Mai Linh để cắt nghĩa thêm về Nguyễn Trọng Tạo: “Thơ anh rất hay, một thứ
thơ sáng tạo, rất đúng với tư duy của thế hệ chúng tôi Dễ thấy thơ anh sống được nhiều thời Một thứ thơ truyền thống”
Không chỉ có truyền thống, trong thơ Nguyễn Trọng Tạo còn có cả những phần mờ ảo tâm linh, có cả màu sắc tượng trưng siêu thực Tuy nhiên ông không để cho vô thức điều khiển ngòi bút của mình như một số nhà thơ siêu thực khác mà yếu tố tâm linh chỉ là điểm tựa để thi sĩ khơi sâu, mở rộng không gian thơ, để cảm thấu một cách trọn vẹn hơn cuộc đời, cõi người:
mưa trắng đường mưa nắng ngất ngư
ai đem dải lụa tận xa mờ
có khi người chết nghìn năm trước
đã biến tấu tài hoa thành tám chữ, nhịp hai:
Trang 28Có thương / có nhớ / có khóc / có cười
Có cái / chớp mắt / đã nghìn / năm trôi
nhằm chuyển tải đầy đủ hơn tâm tư, tình cảm đa thanh phức điệu của con người hiện đại Không chỉ vậy, Nguyễn Trọng Tạo cũng đã rất thành công khi
lạ hoá thể thơ lục bát Đây là thể thơ nặng hồn dân tộc nhưng khi bước vào thế giới thơ ông, nó đã hiện lên với một hơi thở mới, điệu hồn mới Sự mới
mẻ, độc đáo ấy không chỉ thể hiện ở hình thức xuống thang, tách chia câu chữ, chấm câu giữa dòng:
Chia cho em một đời tôi
một cay đắng
một niềm vui
một buồn…
(Chia)
mà hơn hết còn thể hiện ở sự mới mẻ nảy nở từ nội dung, chẳng hạn trong
Thư gửi một người không quen ông viết:
Ngoài ra, một điều làm nên sức cuốn hút đặc biệt cho thơ Nguyễn Trọng Tạo đó chính là nhạc Là một nhạc sĩ, nhà thơ đã biết dựa vào âm nhạc để trải bày những suy tư, trăn trở trong tâm hồn mình, anh đã rất tinh tế lấy nhạc thơ
để diễn tả những nốt nhạc lòng: “Tình trao mắt cho thơ - trời xanh mi ướt bờ
- tình trao nắng cho mưa - chìm vào nhau bất ngờ” (Rượu chát) Chính vì lẽ
Trang 29đó đã có rất nhiều bài thơ của Nguyễn Trọng Tạo được phổ nhạc và đằm sâu trong tâm trí bạn đọc qua biết bao thế hệ và vang vọng tới ngày hôm nay Trên đây là một số khám phá về những nỗ lực tìm tòi, cách tân của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo trong sự nghiệp sáng tác của mình để không ngừng khẳng định vị trí riêng trong “dàn đồng ca” của thơ ca Việt Nam đương đại Dẫu Nguyễn Trọng Tạo chưa phải là một đỉnh cao trong nền thơ đương đại dân tộc song có một điều không thể phủ nhận được là thơ ông đã có những đóng góp đáng kể cho quá trình đổi mới thơ ca Nhà thơ của vùng đất gió Lào cát trắng ấy đã luôn miệt mài lao động để thổi hồn mới cho những trang thơ của mình, làm nên những dấu ấn riêng, màu sắc riêng không thể trộn lẫn Những đóng góp đáng quý ấy của ông đã giúp chúng ta thấm thía hơn một ý
niệm: “Lẽ sống của Thơ là sự đổi mới không ngừng”
1.2 Cội nguồn tính chính luận và tính thế sự trong thơ Nguyễn
Trọng Tạo
1.2.1 Khái niệm về tính chính luận và tính thế sự trong thơ
Cũng như các loại hình nghệ thuật khác, đối tượng phản ánh, bàn luận chủ yếu của thơ ca chính là những vấn đề bề bộn, ngổn ngang của đời sống đất nước và cuộc sống con người Kể cả những bài thơ tưởng như riêng tư nhất, cá nhân nhất cũng không thể tách rời cuộc sống nhân sinh Tiếng nói trong thơ là tiếng nói không phải của một cá nhân, một con người cụ thể mà
đó còn là tiếng nói của rất nhiều người, nhiều thế hệ Chính vì vậy, việc bàn đến những vấn đề mang tính chính luận và tính thế sự là một điều thường vẫn được thể hiện rất rõ nét ở địa hạt thơ ca
“Tính chính luận” có thể hiểu là những vấn đề chính trị - xã hội, những vấn đề có tính thời sự được phản ánh, bàn luận trực tiếp trong thơ Còn “tính thế sự” lại thể hiện thông qua việc tác phẩm đi sâu thăm dò, khám phá những vấn đề của cuộc sống đời thường, bao gồm cả những điều phiền toái, nhỏ
Trang 30nhặt, tưởng như rất đỗi bình thường của cuộc sống nhân sinh Những tác phẩm văn học mang tính thế sự thường hướng đến sinh hoạt hằng ngày của con người, chú ý khẳng định giá trị thẩm mỹ của những cái đời thường, khám phá mọi phức tạp, éo le và cả cái cao quý trên hành trình đi tìm sự sống và hạnh phúc của con người trong cuộc sống thực tại Có thể nói, tính chính luận
và tính thế sự đã được bàn đến trong thơ từ rất lâu Hay nói cách khác, đây không phải là vấn đề mới mẻ nhưng kể từ sau 1975, trong văn học nói chung
và thơ ca nói riêng, những vấn đề của đời sống chính trị và cuộc sống nhân sinh lại được gửi gắm nhiều hơn, mạnh dạn hơn bao giờ hết Tất cả những vấn
đề của cuộc sống, tất cả những vấn đề liên quan đến con người từ những vấn
đề mang tính vĩ mô đến những vấn đề vi mô đều được các nhà văn, nhà thơ quan tâm và đưa vào văn học, kể cả những vấn đề tưởng như nhỏ nhặt nhất
Tuy nhiên, thơ là một loại hình nghệ thuật đặc thù, vì vậy tính chính luận và tính thế sự được phản ánh trong thơ không hoàn toàn giống với các loại hình nghệ thuật khác như kịch, truyện ngắn, tiểu thuyết… Trong thơ, tính chính luận được biểu hiện không phải một cách khô khan, cứng nhắc mà những vấn đề của xã hội, đất nước bao giờ cũng được chuyển tải bằng cảm xúc trữ tình Nói cách khác, thơ không chỉ là chuyện nói lý mà những lí lẽ đó
đã được nâng đỡ bằng cảm xúc dạt dào của tác giả Thơ không phải chỉ là tả,
là kể, là trình bày mà thơ biểu hiện hiện thực bằng những tâm trạng, những cá tính sáng tạo độc đáo Chính vì vậy, những tác phẩm thơ mang đậm tính chính luận luôn đi sâu vào tâm hồn bạn đọc, những vấn đề khô khan của đời sống chính trị luôn được người đọc tiếp nhận một cách dễ dàng Chẳng hạn, thơ Tố Hữu là một ví dụ cụ thể, điển hình cho sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính chính luận và cảm xúc trữ tình trong thơ Phải khẳng định rằng, thơ Tố Hữu gắn liền với những thăng trầm của lịch sử dân tộc, gắn liền với những vấn đề
chính trị nóng bỏng của đất nước Nói như Chế Lan Viên thì “Tố Hữu dù nói
Trang 31chuyện đời hay chuyện mình thì trước hết đó là chuyện chính trị” Trong mỗi
trang thơ của Tố Hữu là một trang nhật ký chính trị đầy ắp tính thời sự Nhưng điều làm nên sức hấp dẫn cho các trang thơ của Tố Hữu là yếu tố chính trị trong thơ ông không diễn giải theo những triết luận lí lẽ mà hơn hết
nó được chuyển tải bằng nhịp đập trái tim, bằng cảm xúc trong tâm hồn ông Chính vì lẽ đó, thơ Tố Hữu bao giờ cũng ngọt ngào, dễ nhớ và được bạn đọc bao thế hệ yêu mến
Không chỉ Tố Hữu mà nhà thơ Chế Lan Viên cũng đã rất thành công khi trình bày những vấn đề chính trị bằng nguồn cảm xúc dạt dào trong các thi phẩm của mình Những vấn đề ngổn ngang của đời sống đất nước đã được nhà thơ diễn đạt bằng những hình ảnh thấm đẫm cảm xúc dạt dào Chẳng hạn khi diễn tả khát vọng lên đường, dấn thân tới mọi miền đất của Tổ quốc, nhà thơ đã khắc hoạ hình ảnh đoàn tàu lên Tây Bắc với khát vọng mãnh liệt và
cảm xúc hồ hởi, háo hức lên đường: Con tàu này lên Tây Bắc, anh đi chăng?/
Bạn bè đi xa anh giữ trời Hà Nội/ Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi/ Ngoài cửa ô? Tàu đói những vành trăng (Tiếng hát con tàu)
Bên cạnh tính chính luận, tính thế sự được biểu hiện trong thơ cũng không hoàn toàn là những vấn đề xù xì, thô ráp của cuộc sống hằng ngày mà hơn hết, khi đi vào thơ, những vấn đề đó đã được tác giả gạn lọc, gọt dũa và được nhìn bằng cái nhìn thấm đẫm cảm xúc của tác giả Chính điều đó đã giúp cho những vấn đề thế sự được phản ánh trong thơ không trở nên vụn vặt, nhàm chán, đơn điệu Chẳng hạn, cũng viết về tình bà cháu, một tình cảm thiêng liêng của mỗi người, nhưng với cảm xúc khác nhau nên cách thể hiện tình cảm của mỗi tác giả cũng không hoàn toàn giống nhau Nếu như Bằng
Việt trong bài thơ Bếp lửa nhớ về bà gắn liền với hình ảnh bếp lửa “ấp iu
nồng đượm”, nhớ về bà với cái nhìn đầy tin yêu, trìu mến thì nhà thơ Nguyễn
Duy qua bài thơ Đò Lèn lại nhớ về bà không chỉ với tình cảm thân thương,
Trang 32gắn bó mà hơn hết còn bằng cái nhìn thức tỉnh, nhận thức lại những điều mà trước đây cháu đã “tưởng” và tin như thế Song, dù cách thể hiện khác nhau nhưng cả hai tác giả đều dành tình cảm mến yêu, chan chứa cho người bà thân thương của mình Chính tình cảm đó là yếu tố giúp hai bài thơ đến tận bây giờ vẫn còn đằm sâu vào tâm hồn bạn đọc Như vậy, một lần nữa ta có thể khẳng định yếu tố cốt lõi của thơ là cảm xúc, tất cả những vấn đề của đời sống, của đất nước bao giờ cũng được các nhà thơ trình bày bằng cái nhìn thấm đẫm cảm xúc Đó chính là điểm khác biệt và cũng chính là thế mạnh của thể loại văn học này so với các thể loại văn học khác
Chính tính chính luận và tính thế sự đã đòi hỏi người nghệ sĩ phải bộc
lộ mình trên hai tư cách: một tư cách là người công dân trước các vấn đề chính trị, xã hội của đất nước và một tư cách là con người cá nhân, cá tính với những suy tư chiêm nghiệm về những vấn đề của đời sống thường nhật Tất
cả những điều đó đều được thể hiện rõ nét trong các sáng tác của Nguyễn Trọng Tạo trong giai đoạn sau này Có thể khẳng định, kể từ sau 1975, Nguyễn Trọng Tạo không phải là người đầu tiên nhưng ông là một trong những nhà thơ tiêu biểu đã mạnh dạn chuyển tải các vấn đề chính trị, xã hội
và đời sống con người vào thơ một cách sâu sắc và phong phú nhất trên tinh thần nhân bản
1.2.2 Sự kế thừa tính chính luận của một nền thơ, nền văn học lấy ngòi bút làm vũ khí
Dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử hàng ngàn năm đã phải đối đầu với biết bao kẻ thù xâm lược Có thể khẳng định, lịch sử của dân tộc Việt là lịch sử chống giặc ngoại xâm, bảo vệ bờ cõi Chính đặc thù lịch sử rất riêng ấy đã chi phối đến tính chất, đặc trưng cơ bản của nền văn học nước nhà Ngay từ thuở xa xưa, cha ông ta đã xác định được một trọng trách vinh quang nhưng cũng rất đỗi khó khăn đó là sáng tác văn chương không phải chỉ
Trang 33nhằm mục đích bộc lộ nỗi lòng, tâm tư của cá nhân mà hơn hết văn chương phải có tính chiến đấu, phải là vũ khí đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lược, bảo vệ bờ cõi đất nước Trước nguy cơ tồn vong của dân tộc, các nhà thơ, nhà văn không thể điềm nhiên ngắm hoa, thưởng nguyệt, thả hồn theo trăng gió
mà hơn hết họ luôn phải can dự vào những vấn đề sinh tử của quốc gia, dân tộc Chính vì vậy, tính chính luận, tính chiến đấu đã trở thành những đặc điểm
cơ bản của nhiều tác phẩm hàng đầu trong nền văn học Việt Nam từ trung đại đến cận, hiện đại
Kể từ khi đất nước xây dựng nền độc lập sau hơn một nghìn năm Bắc thuộc cho đến thế kỷ XV, có lẽ Nguyễn Trãi được coi là đỉnh cao nhất, đồ sộ nhất về tài năng thơ ca Tên tuổi của ông gắn liền với nhiều tác phẩm xuất
sắc, trong đó không thể không kể đến Bình Ngô đại cáo, một áng thiên cổ
hùng văn, một bản tuyên ngôn độc lập không chỉ có ý nghĩa lịch sử to lớn mà còn mang giá trị văn chương rất cao
Nửa cuối thế kỷ XIX, Nguyễn Đình Chiểu xuất hiện như một “ngôi sao sáng” trên bầu trời văn học Việt Nam Ông đã xác định dứt khoát vai trò, nhiệm vụ của thơ ca:
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà
Và sau này Phan Bội Châu là người tiêu biểu kế tục ông trong việc dùng thơ ca làm vũ khí trong cuộc đấu tranh giải phóng đất nước
Đến Hồ Chí Minh, tính chiến đấu của thơ ca, của văn học nghệ thuật tiếp tục được đặt lên vị trí hàng đầu Với Hồ Chí Minh, tư duy thơ đã có một
sự kết hợp nhuần nhuyễn với tư duy chính trị Vai trò trách nhiệm của nhà thơ đối với lịch sử, đối với vận mệnh dân tộc đã được đề cao:
Nay ở trong thơ nên có thép
Nhà thơ cũng phải biết xung phong
(Cảm tưởng đọc Thiên gia thi)
Trang 34Đó là tuyên ngôn nghệ thuật góp phần xác định rõ mối quan hệ mật thiết giữa thơ ca với đời sống chính trị của dân tộc Chính tuyên ngôn nghệ thuật đó của Hồ Chí Minh đã trở thành kim chỉ nam cho các nhà thơ, nhà văn trong suốt 30 năm chống Pháp và chống Mỹ, giúp họ giác ngộ một chân lý:
“Khi cuộc sống dân tộc đang bị đe doạ, khi vận mệnh tổ quốc đang lâm nguy thì mọi hoạt động tinh thần của dân tộc phải bị cuốn hút theo Những né tránh của thơ ca đối với tư duy chính trị đều trở thành tội lỗi, trở thành viển vông” [66, 113]
Như vậy, đến đây một lần nữa chúng tôi muốn khẳng định tính chính luận, tính chiến đấu là một trong những đặc điểm quan trọng của nền văn học Việt Nam trong suốt mấy mươi thế kỷ Trong suốt những năm tháng chiến tranh, những vần thơ của các nhà thơ - chiến sĩ như Tố Hữu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Xuân Diệu, Tế Hanh, Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, Hoàng Trung Thông, Phạm Tiến Duật, Bằng Việt, Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Duy… đã đóng vai trò to lớn trong việc cổ vũ tinh thần, ý chí đấu tranh của quân và dân
ta, góp phần làm nên những chiến thắng vẻ vang cho dân tộc Nói đến sự kế thừa truyền thống chính luận của một nền thơ giàu tính chiến đấu, không thể không nhắc đến Nguyễn Trọng Tạo Là một người thuộc thế hệ các nhà thơ chống Mỹ, đã từng kinh qua binh lửa, chiến tranh, cũng như các nhà thơ khác, Nguyễn Trọng Tạo không thể làm ngơ trước những vấn đề nóng bỏng của đời sống quốc gia, dân tộc Chính vì vậy, trong các sáng tác của mình, ông luôn canh cánh, trăn trở về những vấn đề của đời sống chính trị, đất nước Khi Nguyễn Trọng Tạo bước vào làng thơ, trước ông đã có một nền thơ đậm tính chính luận với những tên tuổi nổi bật, do đó việc nhà thơ kế thừa, tiếp nhận những thành tựu của thế hệ cha anh là một điều tất yếu, hiển nhiên Tuy nhiên, với Nguyễn Trọng Tạo, sự kế thừa không có nghĩa là dẫm lại lối mòn của những người đi trước mà hơn hết bản thân ông đã có sự tiếp nối trên cơ sở
Trang 35tự làm mới bản thân, tạo cho mình một dấu ấn riêng, một diện mạo riêng trong “dàn đồng ca” của nền văn học nước nhà
1.2.3 Sự tiếp nối các thành tựu thơ đi sâu khám phá, thể hiện những vui buồn của cõi nhân sinh
M Gorki đã từng nói: “Văn học là nhân học”, văn học là tấm gương
phản chiếu cuộc sống của con người Nói như vậy để chúng ta hiểu được mối quan hệ qua lại khăng khít giữa văn học và đời sống, giữa thơ ca, nghệ thuật
và cuộc sống nhân sinh Chính vì vậy, ngay từ thuở xa xưa, văn học nói chung
và thơ ca nói riêng đã xác định được chức năng cao cả, thiêng liêng của mình
là phản ánh niềm vui, nỗi buồn của nhân sinh, thế tục Từ những bài ca dao trữ tình được nhân dân sáng tác trong quá trình lao động sản xuất, những tác phẩm thơ chữ Hán, chữ Nôm thời trung đại đến những sáng tác thơ ca hiện nay… tất cả dù ít, dù nhiều đều thể hiện được tâm tư nỗi lòng của con người Việt Nam qua từng thời đại
Từ xưa, thơ đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu đối với cuộc sống con người Những bài ca dao ra đời trong quá trình lao động - sản xuất
đã phản ánh phần nào đời sống tâm hồn, những nỗi niềm tâm tư, tình cảm của
tầng lớp bình dân Đó là niềm vui, niềm say mê trong lao động sản xuất Tằm
chăn ba lứa thuận hoà / Tiền dư thóc tích, cửa nhà thênh thang, là nỗi nhớ
nhung thầm kín trong tình yêu Nhớ ai bổi hổi bồi hồi / Như đứng đống lửa,
như ngồi đống than, hay đó là thái độ căm phẫn trước tội ác của bọn quan lại
bất nhân, bất nghĩa Con ơi nhớ lấy câu này / Cướp đêm là giặc, cướp ngày là
quan…Tất cả những niềm vui, những nỗi buồn ấy đã được nhân dân gửi gắm
trong những vần thơ, những bài ca trữ tình đằm thắm Đó là những món ăn tinh thần không thể thiếu giúp người lao động vơi bớt nỗi nhọc nhằn, cơ cực của cuộc sống mưu sinh
Bước sang thời trung đại, suốt gần mười thế kỷ, cha ông ta đã làm nên một nền thơ đồ sộ với số lượng tác phẩm vô cùng phong phú, đa dạng, trong
Trang 36đó có những tác phẩm đã trở thành kiệt tác Tuy nhiên, ở thời kỳ này, do sự
chi phối của quan niệm văn dĩ tải đao, thi dĩ ngôn chí nặng nề trong suốt mấy
thế kỷ của văn học trung đại nên văn chương nói chung và thơ ca nói riêng
chủ yếu là phương tiện để các thi nhân tỏ lòng, nói chí và cảm hoài “Thơ để
nói chí hướng, bậc nho sĩ quân tử lúc nhàn rỗi miêu tả tâm tình, ghi lại hành trạng, thường thường biểu hiện ra thiên chương truyền lại cho người sau, dùng làm niên phả để lại lâu dài.” (Phan Huy Ích) Sáng tác của những nhà
thơ lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm chủ yếu là để bộc lộ cái ý chí
và tình cảm của con người Tính chất giáo huấn, xu hướng thoát ly, nhàn tản, tính chất bác học… vẫn là những phẩm chất chung của Nguyễn Trãi và
Nguyễn Bỉnh Khiêm Còn cái gọi là “nhận thức và phản ánh hiện thực” theo
cách hiểu bây giờ rất ít được chú ý trong thơ các ông
Phải đến khi Nguyễn Du với Đoạn trường tân thanh ra đời, chúng ta mới thấy thực tại xã hội “những điều trông thấy mà đau đớn lòng” đã được
ông phản ánh chân thực, sống động vào thơ Với kiệt tác bất hủ này, thi hào
Nguyễn Du đã “nghĩ về thân phận con người một cách sâu sắc nhất, triệt để
nhất” [66, 90] Trong tác phẩm, điều mà nhà văn băn khoăn, nhức nhối, điều
khiến ông luôn trăn trở, suy tư đó chính là thân phận con người, đặc biệt là thân phận người phụ nữ dưới chế độ phong kiến Mặc dù chưa phản ánh trực tiếp hiện thực xã hội vào trong tác phẩm song có thể khẳng định đến Nguyễn
Du, cái triết lý “thơ là để nói chí, tỏ lòng” đang dần dần nhường chỗ cho
quan niệm thơ là để nói lên nỗi lòng, nói hộ những nỗi đau của người khác - nỗi đau nhân tình thế thái Thơ không chỉ là công cụ cá nhân của một người
mà hơn hết, thơ có thể phản ánh tâm tư con người, thân phận con người của
cả một thời đại
Tiếp sau Nguyễn Du, có lẽ Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương là hai nhà thơ lớn đã tiếp tục cho ta thấy được phần nào cái thực tại xã hội
Trang 37đương thời qua thơ Tuy ở mức độ khác nhau song cả hai nhà thơ đều đã khai thác cái hài hước, trớ trêu, đều phê phán đả kích sâu cay hiện thực thối nát, thói đời đen bạc của xã hội Việt Nam những năm cuối thể kỷ XIX, đầu thế kỷ XX:
Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh choẹ
Tưởng rằng đồ thực hoá đồ chơi
(Vịnh tiến sĩ giấy, Nguyễn Khuyến)
Chữ “y” chữ “chiểu” không phê đến
Ông chỉ quen phê một chữ “tiền”!
(Bỡn tri phủ Xuân Trường - Trần Tế Xương)
Qua các sáng tác của của mình, hai nhà thơ đã tái hiện một cách chân thực, rõ nét xã hội Việt Nam trong giai đoạn chế độ phong kiến lụi tàn với biết bao cảnh nhố nhăng, trớ trêu
Bước sang thế kỷ XX, xã hội Việt Nam lại phải đối mặt với biết bao thử thách, với những kẻ thù xâm lược từ phương Tây Trước nguy cơ tồn vong của dân tộc, những vấn đề của đời sống riêng tư, thế sự đã phải tạm gác lại nhường chỗ cho vấn đề quan trọng nhất đó là cuộc chiến một mất, một còn để bảo vệ bờ cõi non sông Trải qua hơn 40 năm (1930-1975) thực hiện sứ mệnh cao cả của mình, văn học cách mạng nói chung và thơ ca cách mạng nói riêng
đã trở thành vũ khí, góp phần xứng đáng vào những kỳ tích của cả dân tộc, đất nước
Giờ đây cuộc chiến đã đi qua, những cảnh bom rơi đạn nổ đã lùi xa vào quá khứ, con người lại trở về với cuộc sống sinh hoạt thường ngày, lại phải đối diện với biết bao vấn đề khó khăn, phức tạp của cuộc sống mưu sinh Thơ lúc này đã đến gần hơn, sát hơn với cuộc sống, với đời sống tâm hồn con người thời hậu chiến, thơ đối mặt với cả những vùng tối mà trong chiến tranh người ta đã phải “lờ” đi Các nhà thơ thời kỳ này trực tiếp va chạm với một
Trang 38đời sống hiện thực không lý tưởng hoá, không lãng mạn hoá Con người phải trở về với những lo toan bộn bề của cuộc sống Xu hướng đó đã đòi hỏi văn học phải nhìn thẳng vào đời sống hiện thực của đất nước, xã hội, phải phản
ánh chân thực thực trạng xã hội chứ không “tô hồng” như văn học trong giai
đoạn trước Chính vì vậy, tính thế sự đã trở thành một đặc trưng nổi bật trong sáng tác của nhiều tác giả trong giai đoạn này như: Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Lâm Thị Mỹ Dạ, Trần Nhuận Minh… trong đó không thể không kể đến Nguyễn Trọng Tạo Không phải là người khai phá vấn đề thế sự trong thơ nhưng với tài năng của mình, Nguyễn Trọng Tạo vẫn tạo được những nét riêng độc đáo, vẫn có những khai phá mới mẻ cho mảng đề tài tưởng như đã xưa cũ này
Kế thừa những thành tựu của các nhà thơ đi trước, đồng thời nỗ lực làm mới bằng chính tài năng của bản thân mình, những vần thơ mang đậm tính thế sự của Nguyễn Trọng Tạo đã có những tác động mạnh mẽ đến ý thức xã hội của độc giả, đem lại cho người đọc những nhận thức sâu sắc,
mới mẻ Trong lời tựa cho tập Nương thân, nhà thơ đã từng khẳng định:
“Những yêu ghét, giận hờn, những buồn vui sống chết… không có gì thuộc
về con người lại xa lạ với thơ Thơ dạo gót nhẹ nhàng tới những chỗ tăm tối tận cùng của cõi Người”[61, 517] Trên cơ sở xác định mối quan hệ giữa thơ
ca và hiện thực như vậy, Nguyễn Trọng Tạo đã mạnh mẽ khẳng định trách
nhiệm của người cầm bút: “…Nhưng đã là nhà thơ thực sự thì anh phải
hướng tới sự thật dù vinh quang hay đau buồn của chính anh và của thời đại mình đang sống, Tôi là kẻ “đau buồn lạc quan” nên tôi không sợ nói ra sự thật bằng thơ” [20] Chính những quan niệm tích cực như vậy đã đưa thơ
của Nguyễn Trọng Tạo đến gần với độc giả mọi thế hệ, người đọc có thể thấy hình bóng của thời đại mình, tâm tư của bản thân mình trong những trang thơ của ông
Trang 391.2.4 Sự đáp ứng những nhu cầu bức thiết của đời sống dân tộc và thời đại
Như ta đã biết, Nguyễn Trọng Tạo là một cây bút thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, nên cũng giống như nhiều nhà thơ khác cùng thời, ông được kế thừa, tiếp nối những thành tựu của một nền thơ giàu tính chiến đấu và luôn đi sâu phản ánh những buồn vui của nhân sinh, thế tục Tuy nhiên, dù kế thừa nhưng tính chính luận và thế sự trong sáng tác của Nguyễn Trọng Tạo không lặp lại hoàn toàn những người
đi trước Chính sự khác nhau về thời đại, về bối cảnh xã hội, cùng những nhu cầu bức thiết của đời sống dân tộc đã góp phần tạo cho thơ ca những tiếng nói riêng, những diện mạo mới mẻ
Sau năm 1975, thơ cách mạng Việt Nam đi tiếp quỹ đạo sử thi của nó Lực lượng sáng tác thơ chủ yếu ở chặng đường này vẫn là những nhà thơ đã
có mặt trong giai đoạn trước Trong đó cống hiến quan trọng hơn cả là thế hệ các nhà thơ xuất hiện trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước như: Bằng Việt, Nguyễn Khoa Điềm, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ… Trong số đó cái tên Nguyễn Trọng Tạo cũng
đã ghi được những dấu ấn quan trọng Hào khí của chiến thắng đã tạo nên cảm hứng lớn về nhân dân, về Tổ quốc và sự nghiệp cách mạng Có lẽ vì vậy, trong thơ Nguyễn Trọng Tạo thời kỳ này nói riêng và các nhà thơ “trẻ” nói chung đều dành một phần lớn để khắc tạc hình tượng Tổ quốc anh hùng, nhân dân bất diệt Đặc biệt là trong các trường ca, luận đề Tổ quốc, nhân dân vẫn là
luận đề nổi bật xuyên suốt trong nhiều tác phẩm như: Người đi tới biển (Thanh Thảo), Sức bền của đất, Đường tới thành phố (Hữu Thỉnh) Trong đó Nguyễn Trọng Tạo cũng đã ghi dấu tên tuổi của mình với hai trường ca: Tình
ca người lính (1984) và Con đường của những vì sao (1981) Trong các sáng
tác này, cảm xúc chủ đạo của nhà thơ vẫn là ngợi ca Tổ quốc, non sông tươi
Trang 40đẹp, anh hùng, khẳng định và tự hào về sức sống trường tồn, bất diệt, ý chí kiên cường của nhân dân:
Ôi Tổ quốc! Ta muốn cười muốn khóc Sau cơn bão chiến tranh huỷ diệt
Tóc biển xanh ôm vai đất mỡ màu…
(Con đường của những vì sao - Chương 10)
Tuy nhiên, bên cạnh hào quang của chiến thắng, mười năm sau chiến tranh cũng là giai đoạn nhân dân ta phải sống một hoàn cảnh vô cùng khắc nghiệt Vừa rút bàn chân ra khỏi chiến hào, quân và dân ta lại phải dồn sức vào hai cuộc chiến tranh biên giới (Tây Nam và phía Bắc) mà trước đó không mấy ai ngờ tới Đất nước lại tiếp tục chảy máu vì bọn phản động quốc
tế và đó là lý do khách quan cho việc tiếp tục duy trì hệ thống quản lý điều hành xã hội quan liêu bao cấp Nếu mô hình xã hội chủ nghĩa theo kiểu thời chiến đã phát huy hiệu quả trong chiến tranh thì giờ đây nó đã có những tác dụng trái chiều Đất nước lâm vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng Những hiện tượng tiêu cực trong xã hội có dịp nảy nở Con người trở nên hoang mang truớc sự phức tạp của đời sống với sự đảo lộn của những giá trị, những quan hệ chuẩn mực cũ Nhiều vấn đề hỗn độn, phức tạp không chỉ diễn ra trên phạm vi xã hội mà còn cả trong gia đình và trong chính bản thân của mỗi cá nhân Tuy nhiên, điều bất thường đối với đời sống văn học lúc này là cảm hứng hiện thực lại thể hiện trong các tác phẩm văn học một cách yếu ớt Các nhà thơ dường như thường xuyên phải sống trong tình trạng phân thân Con người thật thì không khỏi xót xa đau buồn trước thảm cảnh của nhân dân và bản thân mình, trong khi con người thơ thì vẫn ca hát vui tươi trong ánh sáng ảo giác của cảm hứng lãng mạn Song cũng có không ít người đã nhận ra khoảng cách khá xa giữa thơ và tâm trạng thực của con người đương
thời Họ đau khổ với mặc cảm là “con chích choè” là “tay chuyên sản xuất