Danh lục thành phần loài tảo Silic tại một số đầm tôm ở huyện Nghi Xuân - Hà Tĩnh qua 2 đợt nghiên cứu .... Sự đa dạng bậc trên loài tảo Silic qua 2 đợt nghiên cứu trong một số đầm nuô
Trang 1
LÊ THỊ THẢO
CHÊT L¦îNG N¦íC Vµ THµNH PHÇN LOµI T¶O SILIC (BACILLARIOPHYTA) TRONG MéT Sè §ÇM NU¤I T¤M
T¹I HUYÖN NGHI XU¢N TØNH Hµ TÜNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGHỆ AN - 2014
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS NGUYỄN ĐÌNH SAN
NGHỆ AN - 2014
Trang 3Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Đài khí tượng thuỷ văn Hà Tĩnh, Phòng thống kê huyện Nghi Xuân, các bạn học viên lớp cao học 20 chuyên ngành Thực vật và những người thân trong gia đình đã động viên, tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này
Nghệ An, tháng 10 năm 2014
Tác giả
Lê Thị Thảo
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC HÌNH v
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Vài nét về tình hình nghiên cứu tảo Silic trên thế giới và ở Việt Nam 4
1.1.1 Trên thế giới 4
1.1.2 Ở Việt Nam 5
1.2 Đặc điểm hình thái của tảo Silic 10
1.2.1 Hình thái vỏ (vách tế bào) 11
1.2.2 Cấu trúc vỏ tảo 13
1.3 Vai trò và ứng dụng của tảo trong nuôi trồng thủy sản 14
1.4 Vài nét về đặc điểm của Nghi Xuân - Hà Tĩnh 16
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Đối tượng nghiên cứu 18
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 18
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 18
2.2.2 Thời gian nghiên cứu 18
2.3 Phương pháp nghiên cứu 18
2.3.1 Phương pháp thu mẫu nước 18
2.3.2 Phương pháp thu mẫu tảo silic 19
2.4 Phương pháp phân tích 19
2.4.1 Phương pháp phân tích thủy lý, thủy hóa 19
2.4.2 Phương pháp định loại tảo silic 19
2.4.3 Phương pháp định lượng tảo silic 20
Trang 5Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21
3.1 Kết quả phân tích chỉ tiêu thuỷ lý, thuỷ hoá mẫu nước ở một số đầm nuôi tôm huyện Nghi Xuân - Hà Tĩnh 21
3.1.1 Một số chỉ tiêu thủy lý 21
3.1.2 Một số chỉ tiêu thủy hóa 26
3.1.3 Đánh giá chung: 37
3.2 Kết quả phân tích mẫu tảo ở một số đầm nuôi tôm huyện Nghi Xuân - Hà Tĩnh 38
3.2.1 Đa dạng về taxon tảo Silic (Bacillariophyta) 38
3.2.2 Đa dạng tảo Silic trong mối quan hệ với môi trường sống trong khu vực nghiên cứu 48
3.2.3 Sự biến động số lượng tảo silic ở Nghi Xuân - Hà Tĩnh 50
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 52
1 Kết luận 52
2 Đề nghị 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54 PHỤ LỤC
Trang 6Bảng 3.6 Hàm lượng Oxy hòa tan trung bình trong nước tại các
điểm nghiên cứu qua 2 đợt thu mẫu 28
Bảng 3.7 Nhu cầu Oxy hóa học tại các điểm nghiên cứu qua 2 đợt
trung bình qua 2 đợt nghiên cứu 34
Bảng 3.11 Hàm lượng SiO2 trung bình qua 2 đợt nghiên cứu 36
Bảng 3.12 Danh lục thành phần loài tảo Silic tại một số đầm tôm
ở huyện Nghi Xuân - Hà Tĩnh qua 2 đợt nghiên cứu 39
Bảng 3.13 Sự đa dạng bậc trên loài tảo Silic qua 2 đợt nghiên cứu
trong một số đầm nuôi tôm ở huyện Nghi Xuân - Hà Tĩnh 46
Bảng 3.14 Sự phân bố taxon loài/dưới loài tảo Silic qua 2 đợt nghiên
cứu trong một số đầm nuôi tôm ở huyện Nghi Xuân 47
Bảng 3.15 Kết quả phân tích mẫu định lượng tảo silic ở Nghi Xuân
(TB/lít) 50
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1 Đa dạng tảo Silic nhìn từ mặt vỏ 12 Hình 1.2 Cấu tạo vỏ tảo Silic 13 Hình 3.1 Biểu đồ nhiệt độ nước ở các địa điểm nghiên cứu qua đợt
1 thu mẫu 22
Hình 3.2 Biểu đồ nhiệt độ nước ở các địa điểm nghiên cứu qua đợt
2 thu mẫu 23
Hình 3.3 Biểu đồ độ trong trung bình ở các địa điểm nghiên cứu
qua 2 đợt thu mẫu 24
Hình 3.4 Biểu đồ độ mặn trung bình ở các địa điểm nghiên cứu qua
2 đợt thu mẫu 26
Hình 3.5 Biểu đồ độ pH trung bình ở các địa điểm nghiên cứu qua
2 đợt thu mẫu 27
Hình 3.6 Biểu đồ hàm lượng Oxy hòa tan trung bình trong nước tại
các địa điểm nghiên cứu qua 2 đợt thu mẫu 29
Hình 3.7 Biểu đồ COD tại các điểm nghiên cứu qua 2 đợt thu mẫu 31 Hình 3.8 Biểu đồ hàm lượng NO3- trung bình qua 2 đợt nghiên cứu 32
Hình 3.9 Biểu đồ hàm lượng NH4
+ trung bình qua 2 đợt nghiên cứu 33
Hình 3.10 Biểu đồ hàm lượng PO4
trung bình qua 2 đợt nghiên cứu 35
3-Hình 3.11 Biểu đồ hàm lượng SiO2 trung bình qua 2 đợt nghiên cứu 36
Trang 8MỞ ĐẦU
Trong hệ sinh thái tự nhiên hay trong các ao đầm nuôi trồng thuỷ sản (trong đó có ao nuôi tôm) thực vật nổi là một trong những yếu tố hữu sinh đóng vai trò hết sức quan trọng trong trao đổi vật chất và năng lượng của hệ Chúng là cơ sở thức ăn tự nhiên, tác nhân lọc sinh học và là nguồn cung cấp ôxy hoà tan trong nước, đặc biệt là ở các ao nuôi thương phẩm Thực vật nổi phản ứng rất nhanh với nguồn dinh dưỡng bổ sung vào môi trường nước, bởi vậy được xem là chỉ số quan trọng để đánh giá mức độ dinh dưỡng của các
ao nuôi Sinh khối và tốc độ sinh trưởng của thực vật nổi thay đổi theo mùa
và phụ thuộc vào các yếu tố môi trường (ánh sáng, nhiệt độ, độ mặn, muối dinh dưỡng…) Nhưng mức độ biến động của thực vật nổi (khi chúng phát triển quá nhiều hoặc quá ít) lại là tác nhân chính ảnh hưởng đến chất lượng nước của ao Trong các ao nuôi với một số loài hay mật độ của chúng trong khoảng cho phép sẽ có lợi hay ít nhất là vô hại đối với các đối tượng nuôi, nhưng khi chúng phát triển quá mạnh, kèm theo đó là tàn lụi và lắng đọng cũng như sự phân huỷ của chúng trong ao sẽ là nguyên nhân làm chậm sự phát triển của đối tượng nuôi, gián tiếp ảnh hưởng đến năng suất nuôi trồng Không những thế, một số thực vật nổi gây hại đối với các đối tượng nuôi (sống bám, tiết độc tố…)
Để ổn định và phát triển nghề nuôi tôm thương phẩm, chúng ta không những hoàn thiện các quy trình nuôi mà còn phải quan tâm đến việc quản lý các yếu tố môi trường ao nuôi, trong đó có thực vật nổi Điều quan trọng là phải tìm ra những thành phần nào, những yếu tố và thời gian nào ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng và tạo sinh khối của thực vật nổi để tạo ra các biện pháp cần thiết để điều khiển thực vật nổi trong ao nuôi Song ở nước ta, các công trình nghiên cứu về thực vật nổi và mối quan hệ giữa chúng với các yếu
Trang 9tố môi trường lý, hóa học trong ao nuôi tôm còn quá ít Vì thế chưa đánh giá đúng mức về sự phát triển cũng như vai trò của thực vật nổi trong hệ sinh thái
ao nuôi, gây khó khăn cho việc quản lý chất lượng nước và khai thác nguồn thức ăn tự nhiên trong ao nuôi
Trong các thuỷ vực nước ngọt Tảo Silíc thường là một trong các thành viên chính tạo nên năng suất sơ cấp cho thuỷ vực Trong các biển và đại dương Tảo Silíc luôn là thành phần chính cả về thành phần loài cũng như sinh khối, thường chiếm trên 70%, có nơi có lúc chúng hầu như quyết định 100% Người ta ước tính hàng năm toàn bộ thực vật phù du trong đó chủ yếu
là Tảo Silíc đã tạo nên khoảng 19 tỷ tấn chất hữu cơ, nuôi sống khoảng 5 tỷ tấn động vật không xương sống Đối với trong ngành thuỷ sản, sự xuất hiện của tảo Silíc là một trong những tín hiệu quan tâm của người nghiên cứu
Có những xã diện tích nuôi tôm công nghiệp lên đến hàng trăm ha như Xuân Trường, Xuân Hội, Xuân Song, Xuân Phổ
Từ thực tế đó chúng tôi tiến hành đề tài “Chất lượng nước và thành
phần loài tảo Silic trong một số đầm nuôi tôm tại huyện Nghi Xuân tỉnh
Hà Tĩnh ”
Mục tiêu của đề tài:
Mục tiêu của đề tài nhằm xác định chất lương nước và thành phần loài tảo silic ở một số đầm nuôi trồng thủy sản tại huyện Nghi Xuân, đồng thời tìm hiểu sự phân bố của chúng trong mối liên quan với một số yếu tố sinh thái của
Trang 10môi trường làm cơ sở cho các giải pháp kỹ thuật nhằm làm ổn định và nâng cao chất lượng nguồn thức ăn tự nhiên trong cáo ao nuôi
Để đạt được mục tiêu trên, nội dung nghiên cứu của đề tài là:
- Phân tích một số chỉ tiêu thủy lý - thủy hóa tại địa bàn nghiên cứu
- Điều tra thành phần loài tảo silic cũng như số lượng của chúng ở một
số đầm nuôi trồng tôm tại Nghi Xuân - Hà Tĩnh
Đề tài được tiến hành từ tháng 2 năm 2014 đến tháng 9 năm 2014 tại các đầm nuôi tôm Nghi Xuân - Hà Tĩnh và phòng thí nghiệm Bộ môn Thực vật, Trung tâm Thí nghiện thực hành - Trường Đại học Vinh
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Vài nét về tình hình nghiên cứu tảo Silic trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1 Trên thế giới
Nghiên cứu phân loại tảo Silic được tiến hành rất sớm, từ những thập
niên đầu thế kỷ XIX, với công trình đầu tiên là “Systema Algarum” của
Agardh C.A năm 1824 Sau đó, Ehrenberg C.G., Kuetzing F.T., Smith W., Ralfs J đã đề xuất các hệ thống phân loại tảo Silíc Tuy nhiên, cơ sở phân loại của các tác giả còn đơn giản, chủ yếu dựa và số lượng thể sắc tố và các rãnh có hay không để phân loại Sau đó, hệ thống phân loại tảo Silic đã được Kastern G (1928), Kokubo A (1955), Kim Đức Tường (1965) bổ sung [dẫn theo1]
Theo hướng nghiên cứu về tảo phù du biển, Cupp E.E (1943) đã điều tra, nghiên cứu thành phần loài tảo Silíc biển ven bờ ở khu vực Bắc Mỹ; Crossby và Cassie (1959) nghiên cứu tảo Silíc ở Ôxtrâylia và Niudilân hay Sournia A (1968) khảo sát tảo Silíc phù du ở vùng biển ven bờ Môzămbic Đáng chú ý hơn cả là những công trình điều tra, khảo sát Silíc trên vùng biển
Ấn Độ Dương mà Kastern G là người đầu tiên thực hiện vào năm 1907 Về sau, vào những năm 1964 - 1965 một số nhà khoa học đã nghiên cứu đối tượng này tại 103 điểm, trong đó có một số khu vực mà Kastern G đã quan tâm 60 năm trước đó Kết quả được Reimer Simonsen (1974) tổng hợp trong
cuốn “The Diatoms Plankton of The India Ocean”, mô tả 247 taxon loài và
dưới loài thuộc 80 chi, trong đó có 15 loài, 1 thứ và 3 chi được coi là mới đối với khoa học [dẫn theo 4]
Kokubo A (1955) đã công bố cuốn “Tảo Silic phù du” bằng tiếng Nhật,
trong đó đã mô tả chi tiết 370 loài tảo Silic ở biển và ao, hồ của Nhật Bản
Trang 12Năm 1965, Kim Đức Tường và cộng sự đã xuất bản cuốn “Trung Quốc hải
dương phù du khuê tảo loại” trình bày 228 loài tảo Silic phù du ở các vùng
biển Trung Quốc, là nơi có mối quan hệ mật thiết với biển và sông ngòi của nước ta [dẫn theo 1]
Nghiên cứu tảo Silíc trên thế giới phải kể đến các công trình của Foged
N Ông đã dành trọn cuộc đời mình để nghiên cứu tảo Silic ở rất nhiều nơi trên thế giới, từ châu Âu, châu Á, châu Mỹ đến châu Úc với hình vẽ chi tiết các taxon tảo Silíc đã phát hiện được Năm 1976 [22] ông đã tiến hành nghiên cứu tảo Silic nước ngọt ở Srilanka trên 22 vùng khác nhau, công bố được 310 loài, thuộc 34 chi, trong đó có 1 loài mới tiếp đó năm 1978 [23] tác giả tiến hành nghiên cứu ở phía đông nước Úc đã phát hiện và công bố được 860 loài thuộc
70 chi, trong đó có 10 loài mới Năm 1984 [24] trong công trình “Tảo Silic ven biển Cuba” ông đã phát hiện và công bố 203 loài, trong đó có 16 loài mới
Ngoài việc điều tra và phân loại tảo thì hướng sử dụng vi tảo trong đó
có tảo Silic để chỉ thị cho chất lượng nước cũng được một số tác giả đề cập đến [dẫn theo 4]
1.1.2 Ở Việt Nam
Ở miền Nam, dẫn liệu về tảo Silic phù du ở nước ta đã được đề cập khá
sớm Năm 1926, Rose M đã công bố 13 chi với 20 loài tảo Silic khi nghiên cứu vùng biển vịnh Nha Trang [1] Hoàng Quốc Trương (1962 - 1963) đã phát hiện 154 loài tảo Silic ở vịnh Nha Trang [19]
Năm 1966, trong cuốn “The plankton of South Vietnam”, cùng với các
loài tảo nước ngọt, Shirota A đã giới thiệu 213 loài tảo Silic trong 15 vùng nước lợ, nước mặn ven biển từ Thừa Thiên Huế đến Kiên Giang [25] Tuy chỉ mới trình bày bảng tên loài cùng với những hình vẽ còn đơn giản, không có phần mô tả hình thái mà chỉ nêu các kích thước nhưng đây là công trình nghiên cứu quan trọng về thực vật phù du biển Với danh mục loài phong phú,
Trang 13công trình đã giới thiệu bao quát về thực vật nổi vùng ven biển miền Nam Việt Nam - điều mà trước đó chưa có tác giả nào thực hiện được
Trong danh mục loài thực vật phù du ở vùng biển Thuận Hải, Minh Hải công bố năm 1982 do Viện nghiên cứu biển Nha Trang tổ chức điều tra năm
1977 - 1980 có ghi tên 170 loài tảo Silic [dẫn theo 1]
Ở miền Bắc, trong những năm từ 1959 - 1962 và 1965 - 1966, chương trình hợp tác điều tra cơ bản tổng hợp vịnh Bắc Bộ đã được Trung Quốc và Việt Nam tiến hành ở vịnh Bắc Bộ, kết quả có trên 140 loài tảo Silic đã được công bố [dẫn theo 1]
Trần Trường Lưu (1970) [12], trong báo cáo “Tổng kết thực vật phù du
các vực nước điều tra”, đã thống kê được 74 chi thực vật nổi trong đó tảo Silic:
29, tảo lục: 23, tảo lam: 14, tảo mắt: 4, tảo giáp: 1, tảo vàng: 2, tảo vàng ánh:1
Sau đó, năm 1972 Trương Ngọc An và một số đồng nghiệp đã tiến hành khảo sát vùng cửa sông Hồng, sông Đáy, sông Ninh Cơ và vùng biển ven bờ tỉnh Nam Hà Kết quả sơ bộ cho thấy sự ưu thế vượt trội của tảo Silic phù du (110 loài, chiếm 88%) trong những thủy vực nước lợ đó [2]
Năm 1972, Cudơmina A.l có một báo cáo về thực vật phù du trong mùa hè ở vịnh Bắc bộ, do tàu Peelamida vớt mẫu vào tháng 7 năm 1961 đã đưa ra danh lục trong đó có 61 loài tảo Silic [dẫn theo 1]
Cũng Trần Trường Lưu (1975) [13] đã tiến hành nghiên cứu trên sông Hồng, sông Đà, sông Mã và một số sông đào khác và đã thống kê được 98 chi tảo sông thuộc các ngành: tảo Silíc, tảo lục, tảo lam, tảo mắt, tảo giáp, tảo vàng và tảo vàng ánh
Năm 1978, trong báo cáo “Thực vật phù du vùng ven biển Quảng Ninh
- Hải Phòng”, Trương Ngọc An đã giới thiệu một bảng tên loài ghi danh 156
loài tảo Silic Dựa vào các nguồn tài liệu trước đó ông đã biên soạn cuốn
“Phân loại tảo Silic phù du biển Việt Nam” mô tả 225 loài tảo thuộc 2 bộ, 18
Trang 14họ, 60 chi tảo Silic [1] Với danh mục loài phong phú, phần mô tả chi tiết, dễ hiểu, các hình vẽ rõ ràng, cuốn sách thực sự là một tài liệu chuyên sâu về phân loại có giá trị, rất cần thiết và thuận lợi trong nghiên cứu tảo Silic
Dương Đức Tiến (1981) [28] nghiên cứu thực vật nổi trên một số sông, suối tiêu biểu thuộc các miền khác nhau ở Việt Nam, đã phát hiện được 286 loài/dưới loài, trong đó tảo Silic chiếm ưu thế với 180 loài Ở một số con sông lớn như sông Hồng, trong số 55 loài vi tảo đã phát hiện có 33 loài tảo Silic, ở sông Hương có 64 loài tảo Silic (trong số 95 loài được tìm thấy), còn ở sông Cửu Long tác giả đã phát hiện 136 loài vi tảo, trong đó tảo Silic có 83 loài/dưới loài
Ở miền Trung, những nghiên cứu về TVN trong các vũng, vịnh, đầm phá ven biển phía Nam có các công trình tiêu biểu sau: Tôn Thất Pháp (1993) khi nghiên cứu khu hệ thực ở nước trong Phá Tam Giang (Thừa Thiên Huế),
đã công bố 238 taxon bậc loài và dưới loài TVN, trong đó có 19 taxon mới đối với Việt Nam Trong khu hệ có loài chỉ xuất hiện vào mùa ngọt hoá hay mặn hoá của Phá, song cũng có loài xuất hiện quanh năm (tảo Silíc Lông
chim Pennales) [15]
Nguyễn Ngọc Lâm, Đoàn Như Hải, Nguyền Thị Mai Anh và Hồ Văn Thệ (2002) đã công bố kết quả về TVN trong thuỷ vực nước nông vùng cửa sông Cửa bé (Vịnh Nha Trang) gồm 37 loài tảo Hai Roi và 60 loài tảo Silíc Các loài chủ đạo quyết định sinh khối cũng như tần số xuất hiện là các loài
tảo Hai Roi Gonyaulax spp, Properidinium spp và tảo Silíc Trung Tâm
Coscinodiscus spp, Skeletonema costatum và Rhizosolenia spp Thành phần
loài thay đổi rõ rệt theo hai mùa khô và mùa mưa Nhiệt độ và độ mặn là hai yếu tố chính ảnh hưởng đến những thay đổi về mùa vụ Đỉnh cao của tảo Silíc cũng là đỉnh cao của tảo Hai Roi Hàm lượng muối dinh dưỡng (silic, photpho, nitơ) có liên quan chặt chẽ với độ mặn, nhưng các mối quan hệ giữa các thành phần sinh học và các muối dinh dưỡng lại không rõ ràng [10]
Trang 15Lê Thị Thúy Hà, Võ Hành (1999), trong công trình “Chất lượng nước
và thành phần loài vi tảo (Microalgae) ở sông La - Hà Tĩnh” đã xác định
được 136 loài và dưới loài trong đó có 60 loài tảo Silic (chiếm 44,12%) [9]
Nguyễn Đình San (2001), giới thiệu trong Luận án Tiến sĩ Sinh học của mình một danh mục gồm 196 loài thuộc 5 ngành tảo trong một số thủy vực bị
ô nhiễm ở 3 tỉnh Bắc miền Trung, trong đó có 59 loài tảo Silic phù du [16]
Ở sông Lam (Nghệ An), Lê Thị Thuý Hà (2004) với đề tài“Khu hệ
thực vật nổi ở vùng Tây Nam hệ thống sông Lam (Nghệ An - Hà Tĩnh)”, Luận
án Tiến sỹ Sinh học, đã phát hiện được 165 loài tảo Silic, trong đó bộ Discales và bộ Diraphinales có nhiều loài nhất Tác giả cũng nghiên cứu yếu
tố phân bố địa lý theo Murapharov (1981) và đã kết luận yếu tố địa lý của tảo Silic ở vùng Tây Nam hệ thống sông Lam mang đầy đủ các yếu tố: Yếu tố phân bố rộng (134 loài), yếu tố ôn đới Bắc (17 loài), yếu tố nhiệt đới và á nhiệt đới (7 loài), yếu tố châu Úc đại dương (1 loài) [8]
Trong các đầm nuôi tôm quảng canh cải tiến và bán thâm canh thuộc hai vùng Quỳnh Lưu - Nghệ An và Thạch Hà - Hà Tĩnh) Nguyễn Đức Diện
và cộng sự đã công bố số loài tảo Silíc củng cao hơn các ngành khác (với 47/72 loài, chiếm 64,38%), kế đó là tảo Hai Roi với 10 loài (13,7%), ngành tảo Mắt có số loài thấp nhất (4 loài, chiếm 5,48%) Thành phần loài TVN trong đầm nuôi tôm ở hai vùng có sự khác nhau, với hệ số giống nhau
S = 0,34 Mật độ tế bào TVN trong các đầm này cũng khá phong phú (17,8 - 25) 103tb/L ở đầm nuôi Quỳnh Lưu, 25 - 28105tb/L ở đầm nuôi Thạch Hà [5]
Võ Hành cùng Phan Tấn Lượm (2010) [7] đã thống kê được 110 loài tảo Silic ở cửa Cung Hầu (sông Tiền Giang), trong đó các chi chủ đạo thuộc
về Coscinodiscus, Chaetoceros, Pleurosigma, Cyclotella, Nitzschia,
Rhizosolenium, Gyrosigma và Biddulphia
Trang 16Lương Quang Đốc (2007) đã phát hiện 113 loài/dưới loài tảo Silic sống trên nền đáy mềm ở đầm, phá tỉnh Thừa Thiên - Huế [6]
Ở Miền Nam, các công trình nghiên cứu về sự phân bố thành phần loài tảo trong các ao nuôi tôm còn được đề cập trong công trình nghiên cứu của
Đỗ Thị Bích Lộc (2002) khi đánh giá sự ô nhiễm ao nuôi tôm Sú qua chỉ số tảo (phytoplankton) trong các ao tôm tại Cần Giờ (TP HCM), TVN có số loài thấp (14 - 48 loài, tảo Silíc chiếm ưu thế), trong khi mật độ tế bào lại khá cao
từ 8103 - 7.720109tb/L Các ao nuôi trên ruộng lúa có mật độ thấp hơn (3,2
- 7,7106tb/L), ưu thế thuộc về các loài thuộc chi tảo Lam Phormidium,
Oscillatoria và tảo Silíc Nitzschia, Pleurosigma Trong một số ao nuôi tôm
thuộc Cần Giuộc (Long An) tảo phát triển mạnh, gây ô nhiễm môi trường với mật độ dao động 4.436106 - 17.266106tb/m3 cùng với chỉ số đa dạng loài rất thấp (< 2) Từ kết quả nghiên cứu của mình, tác giả kết luận rằng thành phần loài TVN trong các ao nuôi thấp, trong khi mật độ tế bào lại cao hơn so với kênh rạch (nơi cấp nước cho ao) Sự phát triển quá mạnh của một số loài
đã lấn át sự phát triển của các loài khác, vì thế độ đa dạng loài của TVN trong
ao nuôi tôm thấp hơn so với mực nước tự nhiên Với môi trường nước tĩnh và giàu dinh dưỡng là điều kiện tốt cho các loài tảo Lam phát triển mạnh, tạo đỉnh cao về mật độ tế bào trong ao nuôi Nguyễn Văn Hảo (2002) cũng đưa
ra một số dữ liệu về TVN trong các ao nuôi tôm ở Tiền Giang, Bến Tre, Cà Mau với thành phần loài dao động 16 - 44 loài (tảo Silíc chiếm ưu thế) và mật độ tế bào đạt từ 0,2 - 6,6 103tb/L Theo ông, thành phần loài và mật độ tảo trong ao qua các đợt khảo sát nghèo nàn, trong các loài đã định danh không có tảo độc Bên cạnh sự nghèo nàn về thành phần loài và mật độ tảo
là sự hiện diện khá phong phú của nhóm động vật không xương sống
Copepoda (ưu thế là Oithona spp) Trong luận án tiến sỹ của Hoàng Thị Bích Mai, với đề tài “ Biến động thành phần loài và số lượng thực vật nổi
Trang 17trong ao nuôi tôm Sú tại Khánh Hoà”, tác giả cho biết có 122 thuộc 5 ngành
TVN được xác định: ngành Heterokontophyta có 88 loài (là các loài thuộc lớp Bacillariophyceae), chiếm 72%; ngành Dinophyta có 11 loài, chiếm 9%; ngành Cyanobacteria có 14 loài, chiếm 11,5%; ngành Chlorophyta có 6 loài (5%) và ngành Euglenophyta với 3 loài, chiếm 2,5% Từ kết quả này, tác giả
cho rằng thành phần loài TVN trong ao nuôi tôm ở Khánh Hoà khá phong phú, song diễn biến về sự phát triển của chúng trong các ao còn phụ thuộc vào hình thức nuôi, mức độ tác động của con người [14]
Hiện nay, các nghiên cứu về tảo được gắn liền với nhiều thiết bị và phương pháp hiện đại, trong đó việc sử dụng kính hiển vi điện tử trong những nghiên cứu sâu về từng nhóm tảo giúp cho việc phân loại chính xác hơn Các phương pháp phân tích ADN được áp dụng với một số nhóm tảo, nhất là với các nhóm có tính độc tố giúp cho việc xây dựng cây phát sinh chủng loại và phát hiện các loài và dưới loài mới cũng như thẩm định lại các loài đã biết Có thể kể đến các công trình của Nguyễn Thị Thu Liên, Lê Như Hậu và Nguyễn Hữu Đại, Đặng Diễm Hồng và cộng sự, Đặng Đình Kim và cộng sự Các ứng dụng về toán học và tin học trong sinh học cũng được sử dụng để đánh giá tác động của các yếu tố môi trường lên tảo [11]
Bên cạnh những thành tựu nói trên, chắc chắn còn có nhiều cuộc điều tra, khảo sát đã được tiến hành trên quy mô nhỏ hay mang tính địa phương nhưng chưa được công bố đầy đủ, dù vậy chúng đều có những đóng góp đáng
kể trong việc nghiên cứu về tảo Silic ở nước ta
1.2 Đặc điểm hình thái của tảo Silic
Tảo Silic là đơn bào dạng hạt sống đơn độc hay sống thành tập đoàn dạng palmella, dạng sợi, dạng chuỗi, dạng zíc zắc, dạng băng, dạng sao, dạng các ống nhầy không phân nhánh hay phân nhánh đơn giản hoặc phức tạp dạng cây Kích thước của tế bào từ vài µm đến vài trăm µm Tế bào Tảo silíc có
Trang 18nhân là lưỡng bội Tảo silíc khác biệt với tất cả các ngành tảo khác bởi cấu trúc độc đáo của vách tế bào là gồm hai mảnh cấu thành bởi lớp trong là pectin và lớp ngoài là chất silíc (SiO2 7H2O) Hai mảnh vỏ có cấu trúc như hai nắp của một cái hộp lắp vào với nhau, bên trong chứa tế bào chất Như vậy có một mảnh vỏ lớn và một mảnh vỏ nhỏ hơn Bề mặt của mỗi mảnh vỏ
là mặt vỏ của tế bào Như vậy mỗi tế bào có hai mặt vỏ Mặt bên của mảnh vỏ khi lắp vào với mặt bên của mảnh vỏ thứ hai tạo thành mặt đai của tế bào Nếu mặt vỏ có hình tròn, hình elíp hay hình có hai góc thì mỗi tế bào chỉ có hai mặt đai, còn mặt vỏ có hình nhiều góc thì tương ứng với mỗi cạnh của hình đa giác của mặt vỏ là một mặt đai Những Tảo silíc trên mặt vỏ có các cấu trúc hoa văn là các vách hay sườn ngang hoặc xiên hoặc các chấm xếp thành hang và đối xứng qua trục dọc tế bào theo kiểu lông chim thì thuộc lớp Tảo silíc lông chim Thường các hoa văn nằm hai bên mặt vỏ để lại một dăi ở chính phần trục dọc không có hoa văn gọi là vùng trục Những Tảo silíc có hoa văn là các đường vạch, là các chấm, các vân dạng vảy hay dạng mắt sàng xếp lộn xộn hay xếp theo quy luật nhất định trên bề mặt vỏ thì thuộc lớp Tảo silíc trung tâm
1.2.1 Hình thái vỏ (vách tế bào)
Tảo Silic rất đa dạng về mặt hình thái, có ít nhất 16 kiểu khác nhau: hình que, hình thuyền, hình đĩa, hình chuỗi, sợi, dải, sao [6]
Trang 19Hình 1.1 Đa dạng tảo Silic nhìn từ mặt vỏ
1,2 - elip nhỏ, 3 - elip to, 4 - đàn ghi ta, 5 - thước kẻ, 6 - kim găm, 7 - hình trứng, 8,9 - dao chích, 10 - hình thoi, 11,13 - nửa dao chích, 12 - nửa vòng cung, 14 - hình chữ S, 15 - hình chữ nhật, 16 - hình u lồi (theo Gollerback, 1977)
- Tập đoàn có thể tách rời: các tế bào được liên kết lại với nhau nhờ cơ chất và trong những điều kiện thích hợp, chúng có thể tách ra những tập đoàn nhỏ hơn
- Tập đoàn không thể tách rời: Các tế bào được liên kết lại với nhau nhờ vách có tẩm Silic hoặc nhờ các gai, sừng để móc với nhau
- Tập đoàn vỏ phân cách: giữa các tế bào liền kề nhau, do có cấu trúc khác nhau nên chúng có thể nối với nhau thông qua mặt vỏ
- Chuỗi: các tế bào nối với nhau liên tiếp tạo thành chuỗi dài nhờ vỏ phân cách, các gai, các lông gai
- Dạng dải: các tế bào nối lại với nhau liên tiếp nhờ các mặt vỏ tiếp xúc hoặc các gai ở viền mép mặt vỏ
- Dạng chuỗi bậc chồng nhau: các tế bào liền nhau nối với nhau bằng cách một phần của tế bào này gối lên một phần của tế bào kia
Trang 20- Dạng chữ chi (zigzag) hay hình sao: đầu mút của mỗi tế bào dính lại với nhau theo kiểu zigzag hay hình sao nhờ các tấm chất nhầy
1.2.2 Cấu trúc vỏ tảo
Tảo Silic có cấu tạo gồm hai mảnh vỏ lồng vào nhau tương tự như hộp đĩa petri, nên khi quan sát tảo có thể thấy mặt đai (nhìn ngang) hoặc một vỏ (nhìn từ trên xuống)
Hình 1.2 Cấu tạo vỏ tảo Silic
a Nhìn thẳng, b Nhìn nghiêng: 1 Mảnh vỏ ngoài;
2 Mảnh vỏ trong; 3 Đường rãnh; 4 U lồi
(Nguồn: Trung tâm dữ liệu thực vật Việt Nam - www.botanyvn.com)
Ngoài các đặc điểm về hình dạng, kích thước (chiều dài, chiều rộng, chiều cao) của tế bào tảo thì các cấu trúc và vi cấu trúc lỗ trên bề mặt của vỏ tảo như hình dạng, số lượng, cách sắp xếp của chúng cũng phải được quan sát
để căn cứ vào đó mà định danh
Trang 21- Tảo Silic trung tâm: hình dạng, số lượng, cách sắp xếp dải lỗ vân (đơn
lẻ hay thành nhóm) từ trung tâm đến viền mép của mặt vỏ; bề mặt vỏ (lồi, lõm, phẳng, hình nón hay gợn sóng); số lượng, hình dạng các u lồi, lông gai, gai, mấu, chúng sắp xếp ở trung tâm hay viền mép mặt vỏ
- Tảo Silic lông chim không rãnh: thường có dạng hình que, kích thước rất nhỏ, đa số sống bám Những đặc điểm cần chú ý: hình dạng, cách liên kết các tế bào, có hay không có rãnh giả, số lượng các dải vân, sự sắp xếp các dải vân, các dải trơn chạy dọc theo mặt vỏ, đặc điểm phân bố các dải vân ở trung tâm với vùng đầu của mặt vỏ
- Tảo Silic lông chim có rãnh: rãnh hay khe có phía ngoài rộng và hẹp ở giữa, chia mặt vỏ thành hai phần bằng nhau hoặc có thể lệch sang bên, rãnh
có một u lồi ở trung tâm và kết thúc bởi 2 u lồi ở cực tế bào
Ngoài ra, trong thực tế khi định danh còn phải sử dụng một số các đặc điểm khác như: gần phía đầu mặt vỏ và hai bên mép mặt vỏ thắt lại rồi mở rộng ra tạo thành hình đầu; đoạn kết thúc của rãnh ở trung tâm hoặc đầu mặt
vỏ có hình dạng như thế nào; quanh vùng trục có hay không có cấu trúc dạng hạt; cấu trúc trơn dạng chữ H trên bề mặt vỏ; rãnh lệch tâm hay không lệch tâm Ở nhiều loài tảo Silic trung tâm chỉ có thể định danh qua hình dạng và cấu trúc của mặt đai; một số loài tảo Silic lông chim có cấu trúc vỏ khác nhau: một vỏ có rãnh (thường là nắp dưới) và một vỏ không có rãnh
1.3 Vai trò và ứng dụng của tảo trong nuôi trồng thủy sản
Vi tảo là sinh vật sản xuất của mọi hệ sinh thái thủy vực, cung cấp chất hữu cơ và dưỡng khí cho các sinh vật khác sống trong nước Đại dương
và biển chiếm 71% diện tích trái đất, nhiều tác giả cho rằng hàng năm tảo sống trong đó đã tạo nên 19 - 53 tỉ tấn chất hữu cơ thậm chí một số tác giả người Mỹ còn đưa ra con số 70 - 280 tỉ tấn/năm Trong nghề nuôi cá thực vật nổi đóng vai trò then chốt, đúng như Gollerbakh M.M nhà nghiên cứu
Trang 22về tảo lớn của thế giới đã từng nói “không có thực vật nổi thì không có nghề cá” [dẫn theo 18]
Thực vật phù du tạo nên cơ sở cho chuỗi thức ăn trong môi trường biển Do đó có lẽ không lấy gì làm ngạc nhiên khi thấy rằng các vi tảo là nguồn thức ăn không thể thiếu trong nuôi thương phẩm nhiều đối tượng, bao gồm tất cả các giai đoạn sinh trưởng của nhuyễn thể hai mảnh vỏ, các giai đoạn ấu trùng của một số loài giáp xác và giai đoạn sinh trưởng rất sớm của một số loài cá Ngoài ra tảo còn được dùng để sản xuất khối lượng lớn các động vật phù du (luân trùng, động vật chân chèo, Artemia) và các động vật này sẽ được dùng làm thức ăn cho các giai đoạn ấu trùng và ấu thể ban đầu của các loài giáp xác và cá [3]
Trên thế giới, năm 1910 Allen G.O và Nelson E.M đã sử dụng tảo Silic làm nguồn thức ăn cho một số động vật không xương sống Năm 1939
Bruce D đã phân lập và nuôi 2 loài tảo đơn bào (Isochrysis galbana và
Pyramimonas grosii) để nuôi ấu trùng hàu Ở Nhật Bản việc nuôi tảo silíc Skeletonema costatum và Chaetoceros sp làm thức ăn cho ấu trùng tôm là
điều kiện tiên quyết sự thành bại của nghề nuôi tôm Hiện nay, việc nuôi tảo theo quy mô công nghiệp để phục vụ cho nuôi trồng thủy sản đã rất phổ biến
và đang phát triển thành công nghệ ở nhiều nước như: Ostrâylia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Singapo, Malaysia, Philippin… [dẫn theo 18]
Ở Việt Nam, các nhà khoa học Việt Nam đã thử nghiệm đưa Spirulina
vào thức ăn của cá mè trắng, mè hoa, trắm cỏ, rô phi với tỉ lệ 5% đã làm tăng tỉ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của cá [14] Từ năm 1980 đến nay nhiều địa phương đã tiến hành nuôi trồng vi tảo để làm thức ăn cho các cơ
sở nuôi trồng thủy sản, đặc biệt ở Quảng Ninh, Đà nẵng, Bình Định, Khánh Hòa… [dẫn theo 18]
Trang 231.4 Vài nét về đặc điểm của Nghi Xuân - Hà Tĩnh
Huyện Nghi Xuân nằm trong dải đồng bằng ven biển xen với đồi núi Phần đồng bằng tương đối bằng phẳng có xu hướng dốc từ Tây sang Đông, trung bình 1,2% có nơi 1,8% Toàn huyện có tổng diện tích tự nhiên là 21.800 ha
Trong đó: Đất nông nghiệp là 11.485ha (Chiếm hơn 50%), còn lại là đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng, diện tích mặt nước và các loại đất khác, trong đó có 420ha diện tích có thể nuôi trồng thuỷ sản và sử dụng 6.300.000m3 nước để nuôi thuỷ sản Ở đồng bằng ven biển và thung lũng sông phân bố ở phía Bắc và phía Đông huyện đất chủ yếu là loại cát, cát pha
và phù sa ven sông là điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản
Về khí hậu: Thời tiết chia thành 2 mùa rõ rệt là mùa khô (mùa lạnh) từ tháng 11 - 4 năm sau và mùa nóng (mùa mưa) từ tháng 5 - 10
Nhiệt độ trung bình năm biến đổi không lớn, từ 20 - 28o
C, tháng nóng nhất là tháng 5 - 7, nhiệt độ trung bình có thể lên tới 37 - 38o
C Các tháng mùa đông nhiệt độ trung bình 10,1 - 18,4oC, tháng lạnh nhất là tháng 12, tháng 1 với nhiệt độ có thể xuống đến 8 - 10o
C
Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm là 85 - 86%, trong đó mùa mưa thường dao động trong khoảng: 80 - 90%, còn mùa khô: 50 - 70%
Hà Tĩnh là vùng có lượng mưa trung bình hàng năm 2.363mm, cao nhất
là 2.725mm, khoảng 90% lượng mưa tập trung vào các tháng 7, 8, 9, 10 Tổng lượng mưa trong ngày là 169 ngày Vì thế mà Nghi Xuân là huyện có lượng mưa nằm trong phạm vi đó
Tổng thời gian chiếu sáng trung bình tại Nghi Xuân là 1.637 - 1.758giờ/năm Độ bức xạ cực đại: 1.838 - 1.851kcal/năm Do độ dài ngày và
độ cao mặt trời lớn nên tổng lượng bức xạ của khu vực cao tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản
Trang 24Tuy nhiên khu vực Nghi Xuân chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão và áp thấp nhiệt đới thường xuất hiện vào tháng 8, 9, 10 Đây chính là vấn đề khó khăn cho nghề nuôi trồng thuỷ sản
Về điều kiện kinh tế xã hội: Nghi Xuân có 17 xã và 2 thị trấn với số dân là 150.512 người (Số liệu tổng điều tra dân số đến 30/12/2013) Kinh tế huyện Nghi Xuân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, trong số 11.485ha đất nông nghiệp có khoảng 6.030ha diện tích trồng lúa 2vụ, màu còn 2.183ha trồng cây công nghiệp hàng năm và 141ha đất trồng cây công nghiệp lâu năm Tuy nhiên nguồn thu từ nông nghiệp vẫn chiếm 1 tỷ lệ nhỏ trong GDP của địa phương Bên cạnh đó Nghi Xuân với mạng lưới sông ngòi khá dày có 30 sông dài trên 10km nhập thành 8 sông chính và đổ vào 4 cửa sông lớn ra biển: Cửa Hội, Cửa Sót, Cửa Nhượng, Cửa Khẩu Chế độ dòng chảy phụ thuộc vào lượng mưa theo mùa rõ rệt
Hiện nay Nghi Xuân đang phát triển phong trào nuôi tôm nói riêng và nuôi thuỷ sản nói chung sâu rộng với tổng diện tích 420ha Nghi Xuân đang trở thành một huyện có sự phát triển nuôi trồng thủy sản lớn của tỉnh Hà Tĩnh
Trang 25Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một số chỉ tiêu thủy lý, thủy hóa và thành phần loài tảo Silic ở một số đầm nuôi tôm và mương cấp nước ở huyện Nghi Xuân - Hà Tĩnh
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Chúng tôi chọn một số đầm tôm thuộc xã Xuân Trường và Xuân Phổ huyện Nghi Xuân nơi có diện tích nuôi tôm lớn nhất của huyện Nghi Xuân làm địa điểm nghiên cứu Tại mỗi xã có ba đầm nuôi tôm được chúng tôi chọn lựa ngẫu nhiên và mương cấp nước để tiến hành thu mẫu, nghiên cứu
Mẫu được thu tại 3 đầm, mỗi đầm thu 2 điểm: gần bờ và giữa đầm, mương cấp thu 01 mẫu/ xã
2.2.2 Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu tài liệu:
Từ tháng 2 năm 2014 đến tháng 9 năm 2014
Thời gian thu mẫu: Chia làm 2 đợt
Đợt 1: Tháng 4 năm 2014: thời gian vừa thả tôm
Đợt 2: Tháng 7 năm 2014: thời gian tôm vào giai đoạn thu hoạch
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu mẫu nước
Mẫu nước được thu vào chai nhựa PE 1,25 lít, bảo quản ở 40
C và phân tích trong vòng 24 giờ Mẫu nước dùng để phân tích chỉ tiêu oxy hòa tan (DO) được thu riêng và cố định ngay trong lọ thủy tinh nút mài 125 ml
Trang 262.3.2 Phương pháp thu mẫu tảo silic
Mẫu tảo được thu bằng lưới vớt thực vật nổi N075, vợt qua vợt lại trên tầng mặt nhiều lần để thu mẫu định tính Lấy 10 lít nước lọc qua lưới nêu trên để lấy 50 ml làm mẫu định lượng Các mẫu tảo được cố định bằng formol 4% (gồm 28 mẫu định tính và 28 mẫu định lượng, tất cả đều được ghi nhãn đầy đủ)
2.4 Phương pháp phân tích
2.4.1 Phương pháp phân tích thủy lý, thủy hóa [21]
- Xác định nhiệt độ bằng nhiệt kế thủy ngân
- Đo độ pH bằng máy đo PH
- Độ trong đo bằng đĩa Secchi
- Độ mặn được đo tại chỗ bằng máy đo độ mặn ATAGO
- Xác định hàm lượng Oxi hòa tan (DO) bằng phương pháp Winkler
- Xác định độ Oxi hóa học (COD) bằng phương pháp Kalipemanganat
- Phương pháp so màu được thực hiện trên máy quang phổ tử ngoại
2.4.2 Phương pháp định loại tảo silic
Mẫu định tính được xử lý bằng phương pháp đốt trên bếp điện 6 -7 giờ, sau đó cố định bằng Baume Canada và quan sát dưới kính hiển vi quang học
Trang 27có độ phóng đại 400 - 1000 lần, đo kích thước, vẽ hình chi tiết, lập bản mô tả
và chụp ảnh hiển vi
Để định loại các loài tảo silic, chúng tôi đã sử dụng các tài liệu:
+ Khóa định loại tảo silic của Zabelina M.M và cộng sự (1951) [26]
+ “Phân loại tảo Silic phù du biển Việt Nam” của Trương Ngọc An
(1993) [1]
+ “Tảo và Địa y” của Gollerbakh M.M (chủ biên) (1977) [27]
Danh mục loài được sắp xếp theo hệ thống phân loại Gollerbakh M.M (1977) [27]
2.4.3 Phương pháp định lượng tảo silic
- Xác định mức độ gặp theo quy ước (10 tiêu bản đối với mỗi mẫu thu) Nếu một loài xuất hiện:
cm3 (ml) nên số lượng tế bào có trong 1 ml là (m.104), tức
là trong 1 lít nước có m.104
.103 = m.107 (tế bào/ lít) Khi thu mẫu ta lọc 10 lít nước lấy 50 ml, nghĩa là đã cô đặc thể tích 200 lần (2.102) Vậy số lượng tế bào tảo silic có trong 1 lít nước mẫu thực tế là:
x = 2
7
10 2
10
m
=
2 1
.m.105 (tế bào / lít)
Trang 28Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Kết quả phân tích chỉ tiêu thuỷ lý, thuỷ hoá mẫu nước ở một số đầm nuôi tôm huyện Nghi Xuân - Hà Tĩnh
3.1.1 Một số chỉ tiêu thủy lý
3.1.1.1 Nhiệt độ
Trong các thủy vực, nhiệt độ nước phụ thuộc vào nhiệt độ không khí Thông thường nhiệt độ nước (nhất là tầng nước mặt) có trị số gần với nhiệt độ không khí Nhiệt độ nước là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của thực vật nổi Ở trong khoảng nhiệt độ cực thuận thì chúng sinh trưởng và phát triển tốt nhất
Bảng 3.1 Nhiệt độ môi trường ở các địa điểm nghiên cứu
qua đợt 1 thu mẫu
không khí (oC) 25,50 25,75 25,25 25,05 26,50 27,25 26,25 27,05 Nhiệt độ nước
(oC) 25,25 25,50 25,25 26,50 27,25 26,25 27,50 27,50
(Ghi chú: đợt 1: tháng 4/2014)
Trang 2925.2527.25 25.5 26.25 25.2527.5 26.5 27.5
0 5 10 15 20 25 30 35
Xuân Trường Xuân Phổ
Hình 3.1 Biểu đồ nhiệt độ nước ở các địa điểm nghiên cứu
qua đợt 1 thu mẫu
Bảng 3.2 Nhiệt độ môi trường ở các địa điểm nghiên cứu
qua đợt 2 thu mẫu
không khí (oC) 31,50 30,50 31,75 30,50 32,50 32,25 31,25 32,05 Nhiệt độ nước
(oC) 29,50 30,00 29,50 30,50 31,25 31,50 29,50 31,00
(Ghi chú: đợt 2: tháng 7/2014)
Trang 3031.25
30 31.5
29.5 29.5
30.5 31
26 27 28 29 30 31 32 33 34 35
Xuân Trường Xuân Phổ
Hình 3.2 Biểu đồ nhiệt độ nước ở các địa điểm nghiên cứu
qua đợt 2 thu mẫu Qua 2 đợt thu mẫu cho thấy nhiệt độ nước dao động từ 25,25o
C (đợt 1) đến 31,5o
C (đợt 2) Chúng tôi thấy có sự chênh lệch nhiệt độ khá nhiều ở đợt 1
so với đợt 2 (chênh lệch nhau hơn 6oC) Nguyên nhân là do đợt 1 thu mẫu vào tháng 4, tiết thanh minh nên nhiệt độ không khí trung bình chỉ 26,43oC do đó nhiệt độ nước cũng thấp hơn so với đợt 2 Đến đợt 2, do thời điểm này bước sang đầu mùa hè nhiệt độ không khí tăng lên trung bình đạt 31,53oC, nên nhiệt
độ nước cũng tăng theo trung bình đạt 30,25o
C (bảng 3.1 và bảng 3.2.) và thể hiện qua hình 3.1 và hình 3.2
Nhiệt độ giữa các đầm tôm trong 2 đợt thu mẫu cũng có sự chệnh lệch nhưng không nhiều Nguyên nhân do các đầm thu mẫu trong cùng một khu vực và thu mẫu tại một thời điểm trong cùng một ngày
3.1.1.2 Độ trong
Độ trong của nước thể hiện khả năng xâm thực của ánh sáng trong nước, nước càng trong, ánh sáng truyền xuống càng sâu tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình quang hợp của thủy sinh vật nói chung, vi tảo nói riêng và
Trang 31ngược lại Độ trong của nước chịu ảnh hưởng của các chất cặn lơ lửng trong nước, thủy sinh vật… Do đó, độ trong là một yếu tố rất quan trọng đối với sự phân bố theo chiều thẳng đứng và biến đổi theo mùa của các thực vật nổi
Độ trong trung bình ở các đầm nghiên cứu qua 2 đợt thu mẫu được trình bày ở bảng 3.3 và hình 3.3
Bảng 3.3 Độ trong trung bình ở các địa điểm nghiên cứu qua 2 đợt thu mẫu Địa điểm
Xuân Trường Xuân Phổ
Hình 3.3 Biểu đồ độ trong trung bình ở các địa điểm nghiên cứu
qua 2 đợt thu mẫu
Trang 32Kết quả ghi nhận ở hình 3.3 cho thấy, độ trong ở các đầm nuôi tôm cũng như mương cấp nước khá tốt cho nuôi tôm, dao động từ 41,05 đến 69,50
cm ở đợt 1 và giảm nhiều ở lần thu mẫu ở đợt 2 trong các đầm nuôi tôm, còn đối với mương cấp thì sự chênh lệch không đáng kể ở hai đợt thu mẫu Nguyên nhân là do đợt 1, các đầm nuôi tôm vừa khử trùng và tạo màu cho chất lượng nước nuôi tôm theo quy trình nuôi, do đó nước trong và chưa có chất thải từ tôm Còn đợt 2, các sản phẩm bài tiết từ tôm và lượng thức ăn dư thừa đã làm cho các sinh vật trong đầm nuôi cùng phát triển tạo sự huyền phù lớn dẫn đến giảm độ trong
Bảng 3.4 Độ mặn trung bình ở các địa điểm nghiên cứu
qua 2 đợt thu mẫu Địa điểm
Trang 33Xuân Trường Xuân Phổ
Hình 3.4 Biểu đồ độ mặn trung bình ở các địa điểm nghiên cứu
qua 2 đợt thu mẫu
Qua 2 đợt thu mẫu chúng tôi thấy, độ mặn ở đợt 1 dao động từ 18,20 - 20,50‰, ở đợt 2 dao động từ 14,50‰ - 17,50‰ Như vậy độ mặn trung bình đợt 2 là thấp hơn so với đợt 1 có thể là do đợt 1 người nuôi tôm mới cải tạo đầm tôm, lựa chọn nguồn nước thích hợp cho tôm thẻ thích nghi, đợt 2 người nuôi lấy thêm nước, thời tiết mưa nhiều, nước thay trong quá trình nuôi đã làm cho hàm lượng muối giảm thích hợp cho từng giai đoạn của tôm thẻ Vì thế độ mặn ở đợt 1 cao hơn đợt 2 cũng là điều dễ hiểu
Độ mặn trung bình trong các đầm nuôi tôm chênh lệch nhau không nhiều do cùng một khu vực nên độ mặn phụ thuộc vào nguồn cấp
3.1.2 Một số chỉ tiêu thủy hóa
Trang 34hưởng đến khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng của chúng Độ pH quá cao hay quá thấp đều ảnh hưởng xấu đến độ thẩm thấu của màng tế bào, làm rối loạn quá trình trao đổi nước, muối khoáng của thủy sinh vật
Bảng 3.5 Độ pH trung bình ở các địa điểm nghiên cứu
qua 2 đợt thu mẫu
Xuân Trường Xuân Phổ
Hình 3.5 Biểu đồ độ pH trung bình ở các địa điểm nghiên cứu
qua 2 đợt thu mẫu Kết quả qua 2 đợt thu mẫu được trình bày ở hình 3.5 cho thấy trị số pH dao động từ 7,50 - 8,90 Như vậy, nước trong các đầm nuôi tôm có tính kiềm
Đợt 1 Đợt 2
Trang 35(pH >7), do trong quá trình nuôi người ta cho vào đầm nuôi các loại như vôi, dolomit làm tăng tính kiềm pH chênh lệch không nhiều giữa các đầm ở mỗi đợt nghiên cứu nhưng lại có sự chênh lệch giữa đợt 1 và đợt 2 Tuy có sự dao động, song trị số pH ở các đầm nghiên cứu trong cả 2 đợt đều thích hợp đối với tôm cũng như với Tiêu chuẩn Việt Nam [dẫn theo 3]
3.1.2.2 Ôxy hòa tan (Dissolved Oxygen - DO)
Hàm lượng Oxy hòa tan trong nước - DO là điều kiện đầu tiên đảm bảo
sự tồn tại, phát triển của sinh vật và đây cũng là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng nguồn nước Hàm lượng Oxy hòa tan trong nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: áp suất bề mặt nước, nhiệt độ, độ chiếu sáng, hàm lượng các chất hòa tan, gió, mặt thoáng và các thủy sinh vật sống trong đó Nếu nước bị nhiễm bẩn thì thông số của giá trị này thấp, vì trong quá trình oxy hóa các chất, nhất là các sản phẩm hữu cơ đã làm cạn kiệt hàm lượng Oxy trong nước và ngược lại Hàm lượng DO thay đổi theo hoạt động của thủy sinh vật trong những thời điểm khác nhau trong ngày do quá trình quang hợp và hô hấp
Hàm lượng Oxy hòa tan trong nước trung bình tại các điểm nghiên cứu qua các đợt thu mẫu được trình bày ở bảng 3.6
Bảng 3.6 Hàm lượng Oxy hòa tan trung bình trong nước
tại các điểm nghiên cứu qua 2 đợt thu mẫu (mgO2/l) Địa điểm