Một trong những phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, rèn luyện khả năng tự học, khả năng tổng hợp, xây dựng kế hoạch trong học tập và thực ti
Trang 1CƠ LỚP 9 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn hóa học
Mã số: 60.14.01.11
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian nghiên cứu và thực hiện, tôi đã hoàn thành xong luận văn thạc sĩ với
đề tài ―Thiết kế và sử dụng sơ đồ tư duy nhằm nâng cao hiệu quả dạy học phần hóa
hữu cơ lớp 9 ở trương THCS‖ Tôi vui mừng với thành quả đạt được và biết ơn sâu
sắc đến quý thầy cô giáo, gia đình, bạn bè cùng các em học sinh đã giúp đỡ tôi khi
thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến:
- Thầy giáo TS Lê Danh Bình, đã giao đề tài, dành nhiều thời gian để đọc bản
thảo, bổ sung, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi nghiên cứu và
hoàn thành luận văn này
- Thầy giáo PGS.TS Lê Văn Năm và thầy giáo TS Nguyễn Văn Bời đã tận tình
trao đổi, góp ý cho tôi nhiều ý kiến quí báu để luận văn được hoàn thiện hơn
- Phòng Đào tạo Sau đại học, Ban chủ nhiệm khoa Hoá học cùng các thầy giáo,
cô giáo thuộc Bộ môn Lí luận và phương pháp dạy học hoá học - khoa Hoá học
trường ĐH Vinh; Ban giám hiệu trường Đại học Sài Gòn đã giúp đỡ, tạo mọi điều
kiện thuận lợi nhất cho tôi hoàn thành luận văn này
- Ban giám hiệu, các thầy, cô tổ Hóa của các Trường THPT Sương Nguyệt
Anh, THPT Trí Đức, THCS Phạm Văn Chiêu, THCS Võ Văn Tần Thành phố Hồ
Chí Minh đã hỗ trợ tôi trong suốt quá trình thực nghiệm sư phạm để luận văn được
hoàn thành theo kế đúng hoạch
- Cuối cùng, cảm ơn gia đình, bạn bè, các em học sinh giúp đỡ, tiếp sức, động
viên tôi hoàn thành tốt luận văn
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 6 năm 2014
Võ Mỹ Dung
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 7
DANH MỤC CÁC BẢNG 8
DANH MỤC CÁC HÌNH 9
MỞ ĐẦU 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 14
1.1 Xu hướng đổi mới và phát triển phương pháp dạy học trong giai đoạn hiện nay 14
1.1.1 Những nét đặc trưng cơ bản của việc đổi mới PPDH trên thế giới hiện nay 14 1.1.1.1 Dạy học lấy học sinh làm trung tâm. 14
1.1.1.2 Dạy học bằng hoạt động của người học. 15
1.1.2 Một số định hướng đổi mới và phát triển phương pháp dạy học ở Việt Nam hiện nay 17
1.1.2.1 Tính kế thừa và phát triển. 17
1.1.2.2 Tính khả thi và chất lượng mới 18
1.1.2.3 Áp dụng những phương tiện kỹ thuật hiện đại để tạo ra các tổ hợp PPDH mang tính công nghệ. 18
1.1.2.4 Chuyển đổi chức năng từ thông báo - tái hiện sang tìm tòi – Ơrixtic. 19
1.1.2.5 Cải tiến phương pháp kiểm tra đánh giá học sinh. 19
1.2 Một số phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực 20
1.2.1 Một số phương pháp dạy học cơ bản [10], [18] 20
1.2.1.1 Phương pháp thuyết trình. 20
1.2.1.2 Phương pháp trực quan. 21
1.2.1.3 Phương pháp đàm thoại. 22
1.2.1.4 Phương pháp nghiên cứu 23
1.2.1.5 Phương pháp sử dụng bài tập trong dạy học hóa học. 24
1.2.2 Một số phương pháp dạy học phức hợp 25
1.2.2.1 Phương pháp nêu vấn đề - Ơrixitit
Trang 41.2.2.2 Phương pháp dạy học theo nhóm 26
1.2.2.3 Phương pháp Grap dạy học 27
1.2.2.4 Phương pháp dạy học theo dự án 28
1.3 Sơ đồ tư duy 30
1.3.1 Nguồn gốc sơ đồ tư duy 30
1.3.2 Khái niệm sơ đồ tư duy 31
1.3.3 Qui tắc thiết kế sơ đồ tư duy 31
1.3.3.1 Qui tắc kỹ thuật 32
1.3.3.2 Qui tắc về cách bố trí. 33
1.3.3.3 Các bước vẽ sơ đồ tư duy. 33
1.3.4 Phạm vi nghiên cứu và ứng dụng của sơ đồ tư duy trong dạy học 34
1.4 Thực trạng sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học hóa học ở trường THCS 36 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 41
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC PHẦN HÓA HỮU CƠ LỚP 9 THCS 42
2.1 Vị trí và vai trò của chương trình hóa học hữu cơ lớp 9 trong chương trình hóa học phổ thông 42
2.2 Nội dung và cấu trúc chương trình hóa học hữu cơ lớp 9 THCS 42
2.2.1 Mục tiêu chung 42
2.2.1.1 Về kiến thức 42
2.2.1.2 Về kĩ năng 43
2.2.1.3 Về giáo dục tình cảm thái độ 43
2.2.2 Đặc điểm của nội dung chương trình 43
2.2.3 Cấu trúc nội dung của chương trình 44
2.3 Những định hướng khi thiết kế sơ đồ tư duy trong dạy học Hóa học 45
2.3.1 Nguyên tắc thiết kế sơ đồ tư duy : gồm 6 nguyên tắc 45
2.3.2 Quy trình thiết kế : gồm 6 bước 46
2.4 Phần mềm Mindjet Mindmanager 9.0 47
2.5 Thiết kế sơ đồ tư duy phần kiến thức hóa hữu cơ lớp 9 59
Trang 52.5.1.1 Sơ đồ tư duy do cho kế hoạch năm học 59
2.5.1.2 Sơ đồ tư duy hệ thống hóa chương 60
2.5.1.3 Sơ đồ tư duy cho nội dung một bài lên lớp 60
2.5.1.4 Sơ đồ tư duy theo ý chính bài học 65
2.5.1.5 Sơ đồ tư duy cho học sinh tự luyện tập tại nhà 66
2.5.2 Sơ đồ tư duy do HS thiết kế 67
2.6 Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học 76
2.6.1 Sử dụng sơ đồ tư duy trong quá trình dạy học trên lớp 76
2.6.1.1 Bài ―Khái niệm về hợp chất hữu cơ và hóa học hữu cơ‖ 76
2.6.1.2 Bài ―Metan‖ 80
2.6.1.3 Bài ―Etilen‖ 85
2.6.1.4 Bài ―Axetilen‖ 92
2.6.1.5 Bài ― Benzen‖ 98
2.6.1.6 Bài ―Ancol etylic‖ 104
2.6.1.7 Bài ―Axit axetic‖ 108
2.6.1.8 Bài ―Glucozơ‖ 112
2.6.2 Sử dụng sơ đồ tư duy trong giờ dạy thực hành 116
2.6.3 Sử dụng sơ đồ tư duy trong giờ ôn tập 120
2.6.4 Sử dụng sơ đồ tư duy hỗ trợ cho HS tự ôn tập tại nhà 123
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 129
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 130
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 130
3.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 130
3.3 Nội dung thực nghiệm sư phạm 130
3.4 Đối tượng thực nghiệm 131
3.5 ử lí ết quả 131
3.5.1 hương pháp định ượng 131
3.5.2 hương pháp định t nh 133
3.6 Kết quả thực nghiệm 133
Trang 63.6.1.1 Kết quả bài kiểm tra lần 1 133
3.6.1.2 Kết quả bài kiểm tra lần 2 135
3.6.1.3 Kết quả bài kiểm tra lần 3 137
3.6.2 Phân tích kết quả định ượng 139
3.6.3 Kết quả định tính 140
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 144
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 145
TÀI LIỆU THAM KHẢO 148
PHỤ LỤC 151
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tổng hợp phiếu thăm dò thực trạng
Bảng 1.2 Tổng số phiếu điều tra thống kê tỉ lệ thâm niên giảng dạy
Bảng 1.3 Mức độ sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học hóa học
Bảng 1.4 Mục đích sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học hóa học
Bảng 1.5 Ưu điểm và hạn chế của việc sử dụng sơ đồ trong dạy học
Bảng 1.6 Mức độ hiểu biết và sử dụng SĐTD của giáo viên
Bảng 1.7 Mức độ sử dụng các PPDH theo hướng tích cực
Bảng 2.1 Nội dung chương trình hóa hữu cơ 9 THCS
Bảng 3.1 Danh sách lớp TN và ĐC khi thực nghiệm
Bảng 3.2 Bảng điểm kiểm tra lần 1
Bảng 3.3 Tổng hợp các tham số đặc trưng bài kiểm tra
Bảng 3.4 Phân phối tần số, tần suất và tần suất tích lũy bài kiểm tra
Bảng 3.5 Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra lần 1
Bảng 3.6 Bảng điểm kiểm tra lần 2
Bảng 3.7 Tổng hợp các tham số đặc trưng bài kiểm tra
Bảng 3.8 Phân phối tần số, tần suất và tần suất tích lũy bài kiểm tra
Bảng 3.9 Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra lần 2
Bảng 3.10 Bảng điểm kiểm tra lần 3
Bảng 3.11 Tổng hợp các tham số đặc trưng bài kiểm tra
Bảng 3.12 Phân phối tần số, tần suất và tần suất tích lũy bài kiểm tra
Bảng 3.13 Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra lần 3
Bảng 3.14 Số lượng phiếu thăm dò
Bảng 3.15 Tâm trạng của học sinh khi được đặt nhiều câu hỏi
Bảng 3.16 Ý kiến của học sinh về những ưu điểm của việc sử dụng câu hỏi
Bảng 3.17 Ý kiến của học sinh để việc sử dụng câu hỏi đạt hiệu quả
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ tư duy cho kế hoạch dạy học phần hóa hữu cơ chương trình lớp 9 Hình 2.2 Sơ đồ tư duy bài ―Khái niệm hợp chất hữu cơ và hóa học hữu cơ‖
Hình 2.3 Sơ đồ tư duy bài ―Metan‖
Hình 2.4 Sơ đồ tư duy bài ―Etilen‖
Hình 2.5 Sơ đồ tư duy bài ―Axetilen‖
Hình 2.6 Sơ đồ tư duy bài ―Benzen‖
Hình 2.7 Sơ đồ tư duy bài ―Ancol etylic‖
Hình 2.8 Sơ đồ tư duy bài ―Axit axetic‖
Hình 2.9 Sơ đồ tư duy bài ―Glucozo‖
Hình 2.10 Sơ đồ tư duy bài ―Thực hành: Tính chất của hiđrocacbon‖
Hình 2.11 Sơ đồ tư duy về mối liên hệ giữa etilen, ancol etylic và axit axetic
Hình 2.12 Sơ đồ tư duy mối liên hệ giữa các HCHC
Hình 2.13 đến hình 2.28 Sơ đồ tư duy do HS vẽ
Hình 2.29 Sơ đồ tư duy ôn tập HKII
Hình 3.1 Đồ thị tích lũy bài kiểm tra lần 1
Hình 3.2 Biểu đồ kết quả học tập bài kiểm tra lần 1
Hình 3.3 Đồ thị tích lũy bài kiểm tra lần 2
Hình 3.4 Biểu đồ kết quả học tập bài kiểm tra lần 2
Hình 3.5 Đồ thị tích lũy bài kiểm tra lần 3
Hình 3.6 Biểu đồ kết quả học tập bài kiểm tra lần 3
Trang 10Để đào tạo ra con người đáp ứng được những yêu cầu trên, Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương đổi mới toàn diện giáo dục mà đổi mới phương pháp giáo dục là một bước đột phá Nghị quyết hội nghị lần thứ 2 BCHTW Đảng khoá VIII đã nhấn mạnh: ―Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của từng người học, từng bước
áp dụng các phương pháp tiên tiến hiện đại vào quá trình dạy học‖
Những năm qua việc đổi mới nội dung, chương trình SGK được thực hiện khá đồng bộ Việc đổi mới nội dung chương trình dạy học, đổi mới PPDH đòi hỏi phải sử dụng phương tiện dạy học phù hợp và ứng dụng CNTT là một trong những phương tiện quan trọng góp phần đổi mới PPDH
Một trong những phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, rèn luyện khả năng tự học, khả năng tổng hợp, xây dựng kế hoạch trong học tập và thực tiễn là sử dụng sơ đồ tư duy
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc sử dụng phương pháp grap và lập
sơ đồ tư duy trong dạy học hóa học nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở trường phổ thông Cụ thể một số công trình nghiên cứu như sau:
- Trần Thị Lan Phương (2009), Sử dụng phương pháp grap và lược đồ tư duy nhằm nâng cao năng lực nhận thức, tư duy logic cho HS trong giờ luyện tập phần phi kim lớp 10 THPT, Luận văn Thạc sĩ, ĐH Vinh
Trang 11- Vũ Thị Thu Hoài (2010), Sử dụng SĐTD hướng dẫn HS ôn tập tổng kết kiến thức trong các bài luyện tập, ôn tập tổng kết hoá học hữu cơ, Hội nghị Hoá Học Toàn quốc lần thứ 5 – Hà Nội (tr 222 – 228)
- Nguyễn Thị Khoa (2010), Sử dụng SĐTD trong dạy và học hoá học ở trung học phổ thông, Khoá Luận TN, ĐHSP TP.HCM
- Đoàn Thị Hoà (2011), Xây dựng và sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học phần hiđrocacbon nhằm nâng cao chất lượng dạy học hoá học THPT, luận văn Thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội
- Đinh Thị Mến (2011), Sử dụng grap và SĐTD trong giờ ôn tập, luyện tập phần hóa phi kim lớp 11 THPT, luận văn Thạc sĩ ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh
- Lê Thị Hồng Trâm (2013), Thiết kế và sử dụng lược đồ tư duy trong giờ luyện tập phần kim loại (hóa học lớp 12 ban cơ bản) THPT, luận văn Thạc sĩ ĐH Vinh
Kết quả ghi nhận ban đầu cho thấy: Việc vận dụng SĐTD trong dạy học sẽ dần hình thành cho HS tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, ―định vị trong đầu‖ được các kiến thức, sự kiện cơ bản, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học, học tốt không chỉ kiến thức trong sách vở mà còn cả từ thực tiễn cuộc sống
Xuất phát từ những thực tế đó, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài ―Thiết kế
và sử dụng sơ đồ tư duy nhằm nâng cao hiệu quả dạy học phần hóa học hữu cơ lớp 9 ở trường trung học cơ sở”
2 Mục đích của đề tài
Thiết kế và sử dụng sơ đồ tư duy vào dạy học phần hóa học hữu cơ lớp 9 ở trường trung học cơ sở nhằm nâng cao chất lượng dạy học cũng như giúp học sinh nắm bắt được kiến thức cốt lõi, bản chất, tìm ra mối liên hệ giữa các kiến thức và vận dụng sáng tạo trong việc giải quyết các vấn đề học tập và thực tiễn qua đó làm tăng hứng thú học tập môn hóa học của học sinh trung học cơ sở
3 Nhiệm vụ của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lí luận liên quan đến đề tài: đổi mới phương pháp dạy học, các phương pháp dạy học tích cực đối với bộ môn Hóa học Sơ đồ tư duy: khái niệm, nguồn gốc, qui tắc thiết kế, phạm vi nghiên cứu và ứng dụng
Trang 12- Nghiên cứu về phần mềm Mindjet Mindmanager 9.0
- Tìm hiểu thực trạng việc dạy và học bộ môn hóa học có sử dụng sơ đồ tư duy ở trường THCS
- Thiết kế hệ thống sơ đồ tư duy một số bài giảng thuộc phần hóa học hữu cơ lớp 9 THCS
- Nghiên cứu sử dụng hệ thống sơ đồ tư duy trong dạy học phần hóa học hữu cơ lớp
9 THCS
- Thực nghiệm sư phạm đánh giá tính phù hợp và hiệu quả của các đề xuất
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học phần hóa học hữu cơ lớp 9 THCS
Đối tượng nghiên cứu: Thiết kế và sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học các bài phần
hóa hữu cơ hóa học lớp 9 THCS
5 Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế và sử dụng sơ đồ tư duy vào quá trình dạy học hiệu quả thì học sinh sẽ dễ nhớ, dễ hiểu, dễ vận dụng và tổng hợp được các kiến thức đã học, từ đó nâng cao chất lượng dạy học bộ môn
6 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành nhiệm vụ đặt ra chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
6.1 Các phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Nghiên cứu cơ sở lí luận có liên quan tới đề tài, các phương pháp dạy học tích cực, các tài liệu, giáo trình, sách giáo khoa, sách giáo viên và các tài liệu khác có liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu lý thuyết về tư duy, thiết kế sơ đồ tư duy, phần mềm Mindjet Mindmanager 9.0
- Nghiên cứu nội dung, cấu trúc chương trình hóa học lớp 9
6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra cơ bản: Tìm hiểu thực trạng dạy học hóa học lớp 9 THCS
- Phỏng vấn, trao đổi, dự giờ, tổng kết kinh nghiệm về vấn đề thiết kế một số bài giảng hóa học lớp 9 có sử dụng lược đồ tư với các giáo viên có kinh nghiệm trong
Trang 13- Thực nghiệm sư phạm: Nhằm xác định tính đúng đắn của giả thuyết khoa học, tính khả thi của đề tài luận văn
6.3 Phương pháp xử lí thông tin
Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục để xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm
7 Những đóng góp mới của đề tài
Thiết kế các sơ đồ tư duy và đề xuất cách sử dụng chúng trong dạy học phần hóa hữu cơ hóa học lớp 9 THCS
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 u hướng đổi mới và phát triển phương pháp dạy học trong giai đoạn hiện nay
1.1.1 Những nét đặc trưng cơ bản của việc đổi mới PPDH trên thế giới hiện nay
Hiện nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu, thử nghiệm về đổi mới PPDH Sau đây là một số xu hướng cơ bản
1.1.1.1 Dạy học lấy học sinh làm trung tâm
Cùng với sự phát triển của đất nước trong thời mở cửa, ngành giáo dục đã và đang phát triển mạnh mẽ về số lượng và chất lượng Thực tế ngày càng chứng minh rằng trong quá trình học, người học đòi hỏi kiến thức, thông tin rộng hơn và nhiều hơn Đồng thời cũng thấy rõ nhược điểm là người học lúng túng về việc tiếp nhận
và lựa chọn nguồn thông tin đa dạng hiện nay Dạy học cũng như mọi quá trình tự nhiên, trải qua thời kì hình thành, tồn tại và phát triển lâu dài của mình Ở Việt Nam, tư tưởng dạy học ―lấy học sinh làm trung tâm‖ đã có từ lâu Sau cách mạng tháng Tám 1945, ở nước ta đã có các phong trào học tập dân chủ, học tổ, học nhóm,
có chủ trương biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, phát huy tính độc lập sáng tạo của HS Giáo sư Lê Khánh Bằng đã đề cập đến vấn đề ―lấy HS làm trung tâm trên hai phương diện vĩ mô và vi mô, ở đây người dạy phải tính đến nhu cầu, nguyện vọng của người học, đến những đặc điểm tâm sinh lí và các cấu trúc tư duy của từng người‖ [1]
a) Trên phương diện vĩ mô
Trong quá trình dạy học lấy HS làm trung tâm, cần phải chú ý đến những yêu cầu của xã hội được phản ánh vào mong muốn của HS và đáp ứng được những yêu cầu đó HS là nhân vật trung tâm, GV là nhân vật quyết định chất lượng Một cách khái quát, người dạy đại diện cho nhà trường, đại diện cho hệ thống giáo dục Mối quan hệ giữa nhà trường với người học thực chất là quan hệ của nhà trường và yêu cầu của xã hội
Dạy học lấy HS làm trung tâm về mặt vĩ mô phải thỏa mãn được hai yêu cầu
cơ bản:
Trang 15- Thứ nhất là sản phẩm hệ thống giáo dục quốc dân và nhà trường đào tạo ra phải đáp ứng đầy đủ và kịp thời các yêu cầu của nền kinh tế xã hội
- Thứ hai là chú ý đầy đủ đến lợi ích của HS, tức là quan tâm đến các đặc điểm tâm sinh lí và các điều kiện kinh tế xã hội của HS, tạo cho HS có niềm vui và hạnh phúc trong học tập
Yêu cầu này đôi khi mâu thuẫn với nhau Vì vậy, khi mâu thuẫn này nẩy sinh, cần có các cách giải quyết phù hợp
b) Trên phương diện vi mô
Trong quá trình dạy học, việc lấy HS làm trung tâm gồm 4 điểm cơ bản sau:
- Việc dạy học phải xuất phát từ đầu vào (người học), tức là từ nhu cầu, động cơ, đặc điểm và điều kiện của người học Ở đây, HS đang tồn tại, với những ưu điểm và nhược điểm, những điều chưa biết và đã biết Phải tiến hành việc học tập trên cơ sở hiểu biết năng lực đã có của HS
- Cần đòi hỏi HS tham gia tích cực vào quá trình học tập, không tiếp thu một cách thụ động HS cần tích cực suy nghĩ, tích cực hoạt động
- Thực hiện phân hóa, chú ý đến tư duy của từng HS, không gò bó theo cách suy nghĩ đã định trước của GV
- Động viên, khuyến khích và tạo điều kiện để HS tự kiểm tra, tự đánh giá quá trình học tập của mình tiến tới tự đào tạo và giải quyết các vấn đề lí luận và thực tiễn một cách độc lập, sáng tạo
Trong quá trình ―Dạy học lấy học sinh làm trung tâm‖, người dạy đóng vai trò rất quan trọng Muốn thực hiện dạy học lấy HS làm trung tâm, người thầy vừa phải chú ý đến người học, vừa phải chú ý đến điều phải học GV là người hướng dẫn, vì vậy phải không ngừng vươn lên học tập suốt đời để làm gương tốt cho HS Người thầy phải là người có khả năng tổ chức, điều khiển mọi hoạt động của HS, giúp HS học tập tốt
Trong quá trình phát triển, kiểu dạy học lấy HS làm trung tâm ngày càng được chú ý so với kiểu dạy học lấy GV làm trung tâm
1.1.1.2 Dạy học bằng hoạt động của người học
Dạy học bằng hoạt động của người học là quá trình dạy học trong đó hoạt động của HS được tăng cường, chú trọng trong giờ học và mang tính chủ động Quá
Trang 16trình học tập là quá trình HS tự học, tự khám phá tìm tòi để thu nhận kiến thức một cách chủ động, tích cực Đây chính là quá trình tự phát hiện và giải quyết vấn đề a) Học sinh được hướng dẫn để tiến hành các hoạt động:
- Phát hiện vấn đề cần nghiên cứu hoặc nắm bắt vấn đề học tập do GV nêu ra
- Thực hiện các hoạt động cá nhân hoặc hợp tác theo nhóm để tìm tòi, giải quyết các vấn đề đặt ra Các hoạt động cụ thể có thể là: Dự đoán, phán đoán, suy luận trên cơ
sở lí thuyết, đề ra giả thuyết khi giải quyết một vấn đề mang tính lí luận; tiến hành thí nghiệm, quan sát, mô tả, giải thích và rút ra kết luận; trả lời câu hỏi, thảo luận vấn đề học tập theo nhóm và rút ra kết luận; báo cáo kết quả hoạt động cá nhân, nhóm hoặc phát biểu quan điểm, nhận định của mình về một vấn đề học tập
- Vận dụng kiến thức, kỹ năng đã biết để giải thích, tìm hiểu một số hiện tượng xảy
ra trong tự nhiên và đời sống thực tế
- Đánh giá việc nắm vững kiến thức, kỹ năng của bản thân và các bạn trong lớp b) Giáo viên là người thiết kế, tổ chức và điều khiển các hoạt động của học sinh
- Định hướng và điều chỉnh các hoạt động của HS: chính xác hóa các khái niệm được hình thành, các kết luận về bản chất của các hiện tượng mà HS tìm tòi, thông báo thêm một số thông tin mà HS không thể tự tìm tòi qua các hoạt động trên lớp
- Thiết kế và sử dụng các phương tiện trực quan, hiện tượng thực tế, thí nghiệm, mô hình, mẫu vật như là nguồn thông tin để HS khai thác, tìm kiếm, phát hiện kiến thức
và kỹ năng
- Động viên, khuyến khích, tạo điều kiện để HS vận dụng được nhiều hơn những kiến thức thu được để giải quyết vấn đề có liên quan tới kiến thức trong thực tế đời sống, trong tự nhiên và trong sản xuất
Như vậy, PP dạy học bằng hoạt động của người học là một trong những con
Trang 17này làm tăng hiệu quả dạy học, học sinh có thể học tập một cách thực sự nếu như họ
có cơ hội hoạt động, trở thành chủ thể của hoạt động tự khám phá kiến thức và tiếp thu kiến thức Học sinh càng được hoạt động nhiều thì thời gian học tập thực sự trong một tiết học càng lớn, hiệu quả dạy học càng cao [2]
Tóm lại, việc đổi mới phương pháp dạy học học là phải tác động vào HS, để
HS được hoạt động nhiều hơn, suy nghĩ nhiều hơn, tích cực hơn, chủ động trong các hoạt động chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng hóa học Có ý thức và biết cách vận dụng kiến thức hóa học vào đời sống Thông qua các hoạt động thì HS không những nắm vững các kiến thức, kỹ năng hóa học mà còn nắm được phương pháp học tập, kỹ năng hoạt động tìm tòi, phát hiện và giải quyết vấn đề học tập một cách linh hoạt, sáng tạo
1.1.2 Một số định hướng đổi mới và phát triển phương pháp dạy học ở Việt Nam hiện nay
1.1.2.1 Tính kế thừa và phát triển
Việc đổi mới và phát triển phương pháp dạy học ở nước ta hiện nay là cần thiết và cấp bách Tuy nhiên sự phát triển phải dựa trên điều kiện thực tế hiện tại của đất nước Tức là trước hết "phải thừa nhận bản chất thực tiễn của dạy học", cần xác định rõ trình độ của hệ thống dạy học ở nước ta hiện nay Tình trạng phổ biến của dạy học ở Việt Nam hiện nay vẫn là các yếu tố truyền thống Vì vậy, "hướng tìm tòi của chúng ta vẫn phải từ trong lĩnh vực các lí thuyết truyền thống về phương pháp dạy học" [18] Trong lý luận dạy học truyền thống, những ưu điểm, những yếu
tố hợp lí của nó vẫn còn giá trị và mang tính tổng quát Tuy nhiên, do vào thời đại phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ, nếu chỉ bằng lòng như vậy là sẽ bị tụt hậu, là không có khả năng tiếp cận các nhân tố mới đang vận động và phát triển Do
đó đổi mới ở đây phải bao gồm cả sự lựa chọn những giá trị của phương pháp dạy học truyền thống có tác dụng tích cực vào việc góp phần phát triển chất lượng giáo dục trong thời đại mới
Chẳng hạn trong lý luận dạy học truyền thống cũng có nêu ra việc đặt vấn đề
và giải quyết vấn đề "tích cực hoá quá trình nhận thức của học sinh", nhưng vẫn đặt
nó trong khuôn khổ cứng nhắc của lối truyền thụ một chiều, nặng về vai trò của
Trang 18học sinh trong xã hội phát triển Vì vậy, ―đổi mới phương pháp phải bổ khuyết mặt yếu kém nói trên, nâng trình độ đa dạng, phức hợp, toàn diện của hoạt động dạy học theo yêu cầu ngày càng cao của xã hội phát triển" [18]
1.1.2.3 Áp dụng những phương tiện kỹ thuật hiện đại để tạo ra các tổ hợp PPDH mang tính công nghệ
Đây là xu hướng phù hợp với công cuộc xây dựng công nghệ dạy học hiện đại trên thế giới Nhiều thành tựu của khoa học kĩ thuật và công nghệ được ứng dụng vào khoa học giáo dục Khi nghiên cứu xu hướng này, giáo sư Nguyễn Ngọc Quang đã phát hiện ra một qui luật cơ bản chi phối chiến lược đổi mới và hiện đại hoá phương pháp dạy học, đó là qui luật vệ sự chuyển hoá của phương pháp khoa học kĩ thuật thành phương pháp dạy học, thông qua xử lí sư phạm (cho thích nghi với môi trường dạy học)
Việc phát minh ra qui luật này giúp cho việc xây dựng và chuyển giao những công nghệ tương ứng của khoa học kĩ thuật sang khoa học giáo dục sẽ góp phần
Trang 19nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giáo viên Vì vậy một trong những xu hướng đổi mới phương pháp dạy học ở nước ta hiện nay cũng như trên thế giới là hình thành những công nghệ dạy học
1.1.2.4 Chuyển đổi chức năng từ thông báo - tái hiện sang tìm tòi – Ơrixtic
Ở mỗi thời đại, do thực tiễn xã hội và nền tảng kinh tế nên mục đích và chức năng nhà trường khác nhau Trong thời đại ngày nay, khi xã hội tiến vào thời đại
"siêu công nghiệp" thì toàn bộ công tác giáo dục phải phục vụ, đáp ứng yêu cầu của
xã hội xây dựng trên nền tảng tri thức Con người được giáo dục và đào tạo là con người có tri thức và phẩm chất trí tuệ cao, có năng lực giao tiếp Các phẩm chất này
có đặc trưng là nhanh, nhạy bén, linh hoạt, mềm dẻo và luôn luôn thích ứng cũng như tự điều chỉnh Các đặc trưng này được phản ánh vào quá trình giáo dục, đặc biệt là trong hệ phương pháp dạy học
Như vậy, chức năng và vai trò của giáo dục chuyển dần sang vai trò nhà tổ chức, giáo dục cho học sinh có được năng lực hoạt động và thích ứng với môi trường xã hội, giúp người học tự tìm được phương pháp tự học, tự sáng tạo lấy
hướng đi, hướng phát triển của mình trong đời sống và sự nghiệp
1.1.2.5 Cải tiến phương pháp kiểm tra đánh giá học sinh
Cần phải xác định rằng một trong những nguyên nhân làm cho chất lượng dạy và học chưa đáp ứng được với yêu cầu đổi mới của thực tiễn là do công tác kiểm tra và đánh giá chưa được hoàn chỉnh Vì vậy, việc xây dựng và hoàn chỉnh các phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập ở trường phổ thông đến nay vẫn
là một trong những vấn đề quan trọng nhất Có thể xem đây cũng là một khâu đột phá khởi động cho việc đổi mới phương pháp dạy học Dạy tốt chỉ có thể có ý nghĩa khi kết quả của nó dẫn đến đích là học tốt Do đó, muốn đánh giá "dạy tốt" thì trước hết phải kiểm tra đánh giá xem có "học tốt" không đã Chính nội dung và cách thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học sẽ chi phối mạnh mẽ, điều chỉnh ngay lập tức cách học của học sinh và cách dạy của thầy
Kiểm tra, đánh giá trong dạy học là một vấn đề hết sức phức tạp, luôn luôn chứa đựng nguy cơ không chính xác, dễ sai lầm Vì vậy đổi mới phương pháp dạy học thì nhất định phải đổi mới cách thức kiểm tra, đánh giá, sử dụng kỹ thuật ngày
Trang 20Trên đây, chúng tôi đã trình bày các xu hướng đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới và những định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở Việt Nam Đó là những cơ sở để đề xuất các mô hình đổi mới phương pháp dạy học mà chúng ta sẽ nghiên cứu tiếp sau đây
1.2 Một số phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực
Học sinh chỉ đạt kết quả cao trong học tập khi các em có ý thức về nhiệm vụ học tập của bản thân Vì vậy để giáo dục ý thức học tập, hình thành sự tích cực trong hoạt động chiếm lĩnh kiến thức của học sinh, giáo viên cần có phương pháp giảng dạy thích hợp
Không có phương pháp dạy học nào là không tích cực Mức độ tích cực đến đâu là tùy thuộc vào việc sử dụng đúng lúc, đúng chỗ hay không
1.2.1 Một số phương pháp dạy học cơ bản
PPDH hoá học rất đa dạng và ngày càng được sáng tạo thêm trong thực tiễn giảng dạy Trong giảng dạy hoá học chúng ta cũng cần bắt kịp trào lưu đổi mới phương pháp dạy học, chấm dứt tình trạng dạy và học theo lối giáo điều không có thí nghiệm, không có đồ dùng trực quan
Trong giảng dạy hoá học ở trường phổ thông giáo viên thường dùng các phương pháp dạy học cơ bản như: thuyết trình, trực quan, đàm thoại, nghiên cứu, bài tập hóa học Chúng ta hãy xem xét đặc điểm bản chất, cấu trúc của các phương pháp cơ bản này
Trang 21Phương pháp này chỉ cho phép HS đạt đến trình độ tái hiện của sự lĩnh hội
mà thôi, sự hoạt động của trò tương đối thụ động Lí luận khẳng định phương pháp thuyết trình vẫn là phương pháp thông dụng, tuy nhiên hiệu quả của nó sẽ được tăng lên rõ rệt khi ta thay đổi tính chất thông báo tái hiện của nó bằng tính chất nêu vấn
đề - Ơrixtic Trong dạy học hoá học, ngoài việc nghiên cứu những hiện tượng hoá học còn cần rèn kĩ năng thực hành, thí nghiệm giữ vai trò cơ bản trong việc thực hiện mục tiêu này trong nhà trường
1.2.1.2 hương pháp trực quan
Theo GS.TSKH Thái Duy Tuyên thì: Trực quan trong hoạt động dạy học, được hiểu là khái niệm dùng để biểu thị tính chất của hoạt động nhận thức, trong đó thông tin thu được từ các sự vật hiện tượng của thế giới bên ngoài nhờ sự cảm nhận trực tiếp của các cơ quan cảm giác con người [10]
Phương tiện trực quan là những công cụ mà thầy giáo và học sinh sử dụng trong quá trình dạy học nhằm tạo ra các biểu tượng, hình thành những khái niệm cho học sinh thông qua sự tri giác trực tiếp Ví dụ như các thí nghiệm hóa học, các vật tự nhiên cây, hoa quả, mô hình, biểu đồ, phim ảnh để dạy học
Do tầm quan trọng của trực quan trong dạy học mà hệ thống thiết bị dạy học
ra đời ngày càng phong phú và hiện đại Tuy nhiên ngày nay khoa học hiện đại đã
đi vào nghiên cứu thế giới vi mô nên cũng cần hiểu về khái niệm trực quan cho phù hợp
Trực quan trong dạy học hóa học, quan trọng nhất là sử dụng thí nghiệm Thí nghiệm là mô hình đại diện cho hiện thực khách quan Nó là cơ sở, điểm xuất phát cho quá trình học tập, nhận thức của HS, từ đó xuất hiện quá trình nhận thức cảm tính của HS Thí nghiệm còn là cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn, là tiêu chuẩn đánh giá tính chân thực của kiến thức, hỗ trợ đắc lực cho tư duy sáng tạo và nó là phương tiện duy nhất giúp hình thành ở HS kĩ năng, kĩ xảo thực hành và tư duy kỹ thuật
Trong các hình thức thí nghiệm thì thí nghiệm biểu diễn của giáo viên là quan trọng nhất Thí nghiệm do giáo viên thực hiện sẽ là mẫu mực về thao tác cho
HS học tập, HS học được cách thức làm thí nghiệm Thí nghiệm có thể được sử
Trang 22viên được dùng trong các khâu như: nghiên cứu tài liệu mới, ôn tập, luyện tập, củng
cố hoàn thiện kiến thức và cả kiểm tra
Thí nghiệm của HS cũng được dùng ở các khâu trên của quá trình dạy học,
nó giúp cho HS tự lực cao trong quá trình lĩnh hội kiến thức Trong bài giảng, thí nghiệm là phương tiện trực quan, là nguồn kiến thức để người giáo viên có thể kết hợp với các phương pháp khác như đàm thoại với HS qua các hiện tượng thí nghiệm
1.2.1.3 hương pháp đàm thoại
Đàm thoại thực chất là phương pháp mà trong đó người giáo viên đặt ra một
hệ thống câu hỏi để trò lần lượt trả lời, đồng thời để trao đổi qua lại giữa thầy với trò hoặc trò với trò Qua hệ thống câu hỏi, câu trả lời giúp trò lĩnh hội được nội dung bài học Căn cứ vào tính chất sự nhận thức của HS, phương pháp đàm thoại có những nhóm cơ bản:
- Đàm thoại tái hiện
- Đàm thoại giải thích minh hoạ
- Đàm thoại Ơrixtic
Trong các phương pháp trên thì phương pháp đàm thoại Ơrixtic là được chú
ý và sử dụng nhiều trong giảng dạy Bản chất của đàm thoại Ơrixtic là phương pháp trong đó giáo viên tổ chức trao đổi, tranh luận giữa thầy với cả lớp, có khi giữa HS với nhau, thông qua đó mà đạt được mục đích dạy học Hệ thống câu hỏi của GV mang tính chất nêu vấn đề - Ơrixtic, buộc trò luôn luôn ở trạng thái có vấn đề, căng thẳng trí tuệ và tự lực tìm lời giải đáp
Hệ thống câu hỏi – lời đáp mang tính chất nêu vấn đề tạo nên nội dung trí dục chủ yếu của bài học; là nguồn kiến thức; là mẫu mực của cách giải quyết một vấn đề nhận thức Thông qua phương pháp này HS không những lĩnh hội được cả nội dung trí dục mà còn học được cả phương pháp nhận thức và cách diễn đạt tư tưởng bằng ngôn ngữ nói Trong phương pháp này hệ thống câu hỏi của giáo viên giữ vai trò chủ đạo có tính chất quyết định đối với chất lượng lĩnh hội của cả lớp, dẫn dắt HS bằng những câu hỏi liên tiếp, xếp theo một lôgíc chặt chẽ có dụng ý của giáo viên Hệ thống câu hỏi của giáo viên vừa là kim chỉ nam, vừa là bánh lái
Trang 23hướng tư duy của HS đi theo một lôgíc hợp lí, nó kích thích ở HS tích cực tìm tòi, trí tò mò khoa học và cả sự ham muốn giải đáp vấn đề
1.2.1.4 hương pháp nghiên cứu
Bản chất của phương pháp này là người giáo viên nêu lên vấn đề cần nghiên cứu, giải thích rõ mục đích cần đạt tới, có thể vạch ra phương hướng nghiên cứu, hướng dẫn tài liệu tham khảo rồi tổ chức cho HS tự lực nghiên cứu tài liệu đó, trong quá trình này người giáo viên theo dõi và giúp đỡ HS khi cần thiết
Phương pháp nghiên cứu có cấu trúc lôgíc, các bước tiến hành cụ thể, cấu trúc của phương pháp gồm 4 giai đoạn, mỗi giai đoạn lại chia thành một số bước nhất định:
- Giai đoạn1: Định hướng nghiên cứu, giai đoạn này được thực hiện bằng 2 bước là đặt vấn đề và phát biểu vấn đề:
Khi đặt vấn đề giáo viên thông báo về vấn đề cần nghiên cứu, nêu ra mục đích chung của việc nghiên cứu, hình thành động cơ ban đầu
Trong khi phát biểu vấn đề người giáo viên nêu ra những câu hỏi cụ thể Những vấn đề bộ phận cần giải quyết của đề tài, gây hứng thú, nhu cầu nhận thức của HS
- Giai đoạn 2: Lập kế hoạch, giai đoạn này thực hiện các bước đề xuất giả thuyết Giáo viên hướng dẫn HS dự đoán những phương án giải quyết vấn đề nêu ra, lập kế hoạch giải quyết tương ứng với các giả thuyết Giai đoạn này được coi là giai đoạn
dự đoán khoa học, làm việc với thí nghiệm, tư duy rất quan trọng để HS tìm cách giải quyết vấn đề
- Giai đoạn 3: Thực hiện kế hoạch giải, được thực hiện ở các bước thực hiện các phương án giải quyết vấn đề nêu ra ở trên, đánh giá việc thực hiện kế hoạch giải, tương ứng với mỗt giả thuyết nêu ra ta thực hiện một kế hoạch giải và có sự nhận xét đánh giá cách làm đó Nếu xác định giả thuyết là đúng ta chuyển sang bước phát biểu kết luận và cách giải Nếu phủ nhận giả thuyết thì quay trở lại bước 3, xây dựng lại giả thuyết và cách giải khác
- Giai đoạn 4: Kiểm tra và đánh giá cuối cùng (kết luận) Thể nghiệm ứng dụng kết luận của kế hoạch giải, ta kết thúc việc nghiên cứu Khi đề tài được giải quyết trọn vẹn Nếu sau khi giải quyết đề tài ta thấy xuất hiện vấn đề mới thì tuỳ theo mức độ
Trang 24của nó mà chuyển lên các giai đoạn đầu Vậy có thể vận dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp với thí nghiệm sẽ nâng cao hiệu quả giờ hoá học
1.2.1.5 hương pháp sử dụng bài tập trong dạy học hóa học
Giải bài tập hóa học là lúc HS hoạt động tự lực để trao dồi kiến thức hóa học của mình Bài tập hóa học cung cấp cho HS cả kiến thức và con đường giành lấy kiến thức, niềm vui sướng của sự phát triển kiến thức Do vậy, bài tập hóa học vừa
là mục đích, vừa là nội dung, lại vừa là PPDH hiệu nghiệm
Một số dạng bài tập có tác dụng tích cực hóa người học:
- Bài tập có thao tác tư duy so sánh: So sánh là thiết lập sự giống và khác nhau giữa các chất và hiện tượng với nhau và giữa những khái niệm phản ánh chúng So sánh phải kèm theo phân tích và tổng hợp để xem xét so sánh chúng dưới nhiều góc độ khác nhau Như vậy, so sánh không những phân biệt và chính xác hóa khái niệm,
mà còn giúp hệ thống hóa kiến thức
- Bài tập dùng phép qui nạp để hình thành các phán đoán: Phép qui nạp là cách phán đoán dựa trên sự nghiên cứu nhiều sự vật hiện tượng đơn giản nhất để đi đến kết luận chung, tổng quát về những tính chất, những mối quan hệ và tương quan bản chất nhất Ví dụ qua nghiên cứu về tính chất hóa học cơ bản của bazơ học sinh có thể rút ra tính chất hóa học của từng bazơ cụ thể
- Bài tập dùng phép suy diễn để hình thành phán đoán: Trong phương pháp này nhận thức đi từ một nguyên lí chung đúng đắn tới một trường hợp riêng lẻ nhất Ví
dụ sau khi HS thấy được qui luật biến thiên tuần hoàn tính chất các nguyên tố hóa học, HS có thể suy diễn ra tính chất hóa học cụ thể của từng nguyên tố
- Bài tập dùng phép qui nạp và suy diễn để hình thành phán đoán: khi biết kết hợp đúng lúc hai phương pháp qui nạp và suy diễn thì kết quả thu được sẽ tốt hơn Ví dụ sau khi dạy phần hiđrocacbon no và không no, HS nắm được qui luật tính chất chung của hiđrocacbon (mối quan hệ giữa cấu tạo và tính chất); khi dạy phần hiđrocacbon thơm, giáo viên hướng dẫn học sinh suy diễn tính chất và cuối cùng dùng phép qui nạp tổng kết chung về mối quan hệ giữa cấu tạo và tính chất của các chất
Trang 25- Bài tập dùng phép loại suy để hình thành phán đoán: Loại suy là phép phán đoán
đi từ cái riêng biệt này đến các riêng biệt khác để tìm ra những đặc tính chung và những mối quan hệ có tính qui luật của các chất và hiện tượng
- Bài tập dùng thao tác tư duy khái quát hóa: Khái quát hóa là tìm ra những cái chung và bản chất trong số những dấu hiệu, tính chất và những mối quan hệ thuộc
về một loại vật thể và hiện tượng
1.2.2 Một số phương pháp dạy học phức hợp
Như chúng ta đã biết, mỗi một phương pháp giảng dạy dù cổ điển hay hiện đại đều nhấn mạnh lên một khía cạnh nào đó của cơ chế dạy - học hoặc nhấn mạnh lên mặt nào đó thuộc về vai trò của người giáo viên Chúng tôi cho rằng, cho dù các phương pháp thể hiện hiệu quả như thế nào thì nó vẫn tồn tại một vài khía cạnh mà người học và người dạy chưa khai thác hết Chính vì thế mà không có một phương pháp giảng dạy nào được cho là lí tưởng
Mỗi một phương pháp đều có ưu điểm và hạn chế của nó Do vậy, giáo viên nên xây dựng cho mình một phương pháp riêng phù hợp với mục tiêu, bản chất của vấn đề cần trao đổi, phù hợp với thành phần nhóm lớp học, các nguồn lực, công cụ dạy - học sẵn có, phù hợp với đối tượng học sinh và phù hợp với sở thích của mình
Đó là phương pháp dạy học có sự tổ hợp nhiều phương pháp dạy học cơ bản và phương tiện dạy học, liên kết chặt chẽ với nhau, tương tác với nhau
Dưới đây là một số mô hình dạy học phức hợp:
1.2.2.1 hương pháp nêu vấn đề - Ơrixtitc
Nét đặc trưng cơ bản của phương pháp này là sự lĩnh hội tri thức thông qua đặt và giải quyết các vấn đề
Bản chất của dạy học nêu vấn đề là giáo viên đặt ra trước học sinh các vấn đề khoa học mở ra cho các em những con đường giải quyết vấn đề đó Dạy học nêu vấn đề - Ơrixtic là một tổ hợp các phương pháp dạy học, tức là một tập hợp nhiều phương pháp dạy học liên kết với nhau chặt chẽ, trong đó phương pháp xây dựng bài toán Ơrixtic giữ vai trò trung tâm chủ đạo, gắn kết với các phương pháp dạy học khác trong một hệ thống toàn vẹn Phương pháp nêu vấn đề - Ơrixtic có những đặc trưng sau:
Trang 26- Giáo viên đặt ra trước học sinh một loạt các bài toán chứa đựng những mâu thuẫn giữa cái đã biết với cái cần phải tìm, chúng được cấu trúc lại một cách sư phạm, gọi
là bài toán nêu vấn đề Ơrixtic
- Học sinh tiếp nhận mâu thuẫn của bài toán Ơrixtic như mâu thuẫn của nội tâm mình và được đặt vào tình huống có vấn đề, tức là trạng thái có nhu cầu bên trong bức thiết muốn giải quyết bằng được bài toán đó Trong cách giải và cách tổ chức giải bài toán Ơrixtic mà học sinh lĩnh hội một cách tự giác, tích cực cả kiến thức, cả cách thức giải Với điều đó, học sinh có được niềm vui sướng của sự nhận thức sáng tạo
Bài toán nêu vấn đề - Ơrixtic trong giảng dạy hoá học được xây dựng bằng các kiểu cơ bản: tình huống nghịch lý, tình huống bế tắc, tình huống lựa chọn và tình huống nhân quả, có những vấn đề trong hoá học nhất là trong lĩnh vực định luật
và học thuyết chủ đạo có thể chứa đựng đồng thời cả 4 tình huống trên Khi học sinh tự lực thực hiện toàn bộ qui trình của dạy học nêu vấn đề Đó là phương pháp nghiên cứu Ơrixtic
Như vậy việc sử dụng phương pháp nêu vấn đề - Ơrixtic tuỳ thuộc vào khả năng của giáo viên, trình độ nhận thức của HS mà chọn mức độ nào cho thích hợp, khi đó hiệu quả của phương pháp mới được phát huy
1.2.2.2 hương pháp dạy học theo nhóm
Dạy học theo nhóm là một hình thức xã hội của dạy học, trong đó học sinh của một lớp học được chia thành các nhóm nhỏ trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở được phân công và hợp tác làm việc Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp Khi không phân biệt giữa hình thức và phương pháp dạy học cụ thể thì dạy học nhóm trong nhiều tài liệu cũng được gọi là phương pháp dạy học nhóm Trong đó có tổ hợp các phương pháp dạy học hóa học cơ bản như đàm thoại, nghiên cứu, thí nghiệm hóa học, thuyết trình
Dạy học nhóm còn được gọi bằng những tên gọi khác nhau như dạy học hợp tác, dạy học theo nhóm nhỏ Dạy học nhóm không phải một phương pháp dạy học
cụ thể mà là một hình thức tổ chức, hay là hình thức hợp tác của dạy học Cũng có
Trang 27tài liệu gọi đây là một hình thức tổ chức dạy học Tùy theo nhiệm vụ cần giải quyết trong nhóm mà có những phương pháp làm việc khác nhau được sử dụng
Để giúp người học tham gia vào đời sống xã hội một cách tích cực, tránh tính thụ động, ỷ lại thì việc sử dụng phương pháp này trong nhà trường có một vai trò rất
to lớn Dạy học theo nhóm đang là một trong những phương pháp tích cực nhằm hướng tới mục tiêu trên Với phương pháp này, người học được làm việc cùng nhau theo các nhóm nhỏ và mỗi một thành viên trong nhóm đều có cơ hội tham gia vào nhiệm vụ đã được phân công sẵn Hơn nữa với phương pháp này người học thực thi nhiệm vụ mà không cần sự giám sát trực tiếp, tức thời của giảng viên
Một nhiệm vụ mang tính cộng tác là nhiệm vụ mà người học không thể giải quyết một mình mà cần thiết phải có sự cộng tác thực sự giữa các thành viên trong nhóm tuy nhiên vẫn phải đảm bảo tính độc lập giữa các thành viên Hơn nữa, người dạy cần phải có yêu cầu rõ ràng và tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác giữa người học Chúng tôi sử dụng thuật ngữ ―hợp tác‖ nhằm nhấn mạnh đến công việc
mà người học tiến hành trong suốt quá trình thực thi nhiệm vụ Trong quá trình hợp tác, công việc thường được phân công ngay từ đầu cho mỗi thành viên Cần chú ý rằng tầm quan trọng của nhiệm vụ được phân công và vai trò của nhiệm vụ sẽ quyết định động cơ học tập của người học Người học sẽ có động cơ thực hiện nhiệm vụ của mình nếu họ biết rõ được vai trò của các nguồn thông tin ban đầu, của các nguồn lực sẵn có, biết được ý nghĩa của vấn đề, của các yếu tố đầu vào
1.2.2.3 hương pháp Grap dạy học
Graph nội dung của bài lên lớp là hình thức cấu trúc hóa một cách trực quan, khái quát và súc tích nội dung của tài liệu giáo khoa đưa ra dạy học trong bài lên lớp Nói một cách chính xác và thực chất hơn, graph nội dung là tập hợp những yếu
tố thành phần của một nội dung trí dục và mối liên hệ bên trong giữa chúng với nhau và diễn tả cấu trúc logic của nội dung dạy học đó bằng một ngôn ngữ trực quan, khái quát đồng thời rất súc tích
Bản chất của graph là một sơ đồ, một mạng hay một mạch thể hiện các kiến thức cơ bản Tuy nhiên chúng ta cũng cần lưu ý đến điều kiện để lập một graph nội dung, nên có sự lựa chọn chứ không phải tất cả các bài hóa học trong chương trình đều áp dụng được phương pháp này Chỉ nên sử dụng sử dụng phương pháp graph
Trang 28để dạy những bài học có nhiều kiến thức, phức tạp, gây khó khăn cho sự lĩnh hội tri thức của người học
Ưu điểm của graph thể hiện ở những điểm sau: tính khái quát, tính trực quan, tính hệ thống và tính súc tích
Nguyên tắc xây dựng:
Dựa vào nội dung dạy học (khái niệm, định luật, học thuyết, bài học…), chọn những kiến thức chốt (kiến thức cơ bản cần và đủ về cấu trúc, ngữ nghĩa), đặt chúng vào đỉnh của graph Nối các đỉnh với nhau bằng những cung logic dẫn xuất, tức là theo sự phát triển bên trong nội dung đó Đỉnh diễn tả kiến thức chốt của nội dung, còn cung diễn tả mối liên hệ dẫn xuất giữa các kiến thức chốt, cho thấy logic phát triển của nội dung Vậy graph nội dung dạy học là sơ đồ phản ánh trực quan tập hợp những kiến thức chốt (cơ bản, cần và đủ) của một nội dung dạy học và cả logic phát triển bên trong của nó Trong các dạng graph nội dung dạy học, graph của bài học là dạng quan trọng nhất
Các bước thiết lập:
Việc lập grap nội dung dạy học bao gồm các bước cụ thể sau đây:
- Tổ chức các đỉnh: gồm các công việc chính như chọn kiến thức chốt tối thiểu, cần
và đủ; mã hóa chúng thật súc tích, có thể dùng kí hiệu để qui ước; và đặt chúng vào các đỉnh trên mặt phẳng
- Thiết lập các cung: Thực chất là nối các đỉnh với nhau bằng các mũi tên để diễn tả mối liên hệ phụ thuộc giữa nội dung và các đỉnh với nhau, làm sao để phản ánh được logic phát triển của nội dung
- Hoàn thiện graph: làm cho graph trung thành với nội dung được mô hình hóa về cấu trúc logic, nhưng lại giúp HS lĩnh hội dễ dàng nội dung đó, và nó phải đảm bảo tính mĩ thuật về mặt trình bày
1.2.2.4 hương pháp dạy học theo dự án
Học theo dự án là phương pháp học tập mang tính xây dựng, trong đó người học hoàn toàn chủ động tham gia hoạt động dưới sự hướng dẫn của người dạy, để tạo ra một sản phẩm hay vận dụng các kiến thức đã học để tìm hiểu, thực hành nghiên cứu một vấn đề trong học tập hay giải quyết một vấn đề trong cuộc sống
Trang 29người học tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực học tập và áp dụng một cách sáng tạo vào thực tế cuộc sống Quá trình học theo dự án giúp người học củng cố kiến thức, xây dựng các kỹ năng hợp tác, giao tiếp và học tập độc lập, chuẩn bị hành trang học tập suốt đời cho người học, đặc biệt là thế hệ trẻ và đối mặt với thử thách trong cuộc sống Học theo dự án là hoạt động tìm hiểu sâu về một chủ đề cụ thể với mục tiêu tạo cơ hội để người học thực hiện nghiên cứu vấn đề thông qua việc kết nối các thông tin, phối hợp nhiều kỹ năng giá trị và thái độ nhằm xây dựng kiến thức, phát triển khả năng
Dạy học theo dự án có thể áp dụng ở các bài mang tính tổng hợp của môn học hoặc liên môn Trong dạy học hóa học, dạy học theo dự án phù hợp với các dạng bài mang tính khai thác khả năng nghiên cứu tư liệu của người học, mang tính liên môn hay những vấn đề tổng hợp của nhiều nội dung, vấn đề có tính hiện thực cuộc sống và những nội dung gắn kết giữa lý thuyết với thực hành, xâm nhập thực
tế cuộc sống để phát triển nhận thức, tư duy, kích thích khám phá, sáng tạo
Các bước tiến dạy học theo dự án:
- Lựa chọn chủ đề
- Lập kế hoạch: dự kiến các nhiệm vụ cần nghiên cứu và thời gian thực hiện
- Xử lí thông tin: sàng lọc, sắp xếp, bố cục lại các nguồn tư liệu thu thập theo hệ thống của nội dung đề tài
- Báo cáo kết quả: lựa chọn hình thức báo cáo như thuyết trình, trình chiếu, diễn kịch, trình diễn thời trang, kể chuyện
- Nhìn lại quá trình thực hiện dự án: xuất phát từ định hướng đổi mới trong dạy học,
mà đổi mới phương pháp dạy học là một trong những yếu tố then chốt của quá trình dạy học, đồng thời, nhằm đáp ứng nhu cầu năng động của xã hội, các phương pháp dạy học trên có tác dụng gắn lí thuyết với thực tiễn cuộc sống, hình thành ở người học ý thức tự học, tự nghiên cứu, phân hóa được trình độ, năng lực người học ở các nội dung học tập cụ thể, nhằm phát huy tối đa khả năng học tập, phát triển tư duy sáng tạo và khoa học, hình thành kỹ năng giải quyết vấn đề trong cuộc sống của người học Điều này hoàn toàn phù hợp và hiệu quả trong dạy học nghệ thuật của hệ thống giáo dục hiện nay
Trang 301.3 Sơ đồ tư duy
1.3.1 Nguồn gốc sơ đồ tư duy
Sắp xếp ý tưởng, lập cấu trúc và phân loại theo kiểu tuần tự, ổn định cho một hoạt động hoàn toàn không ổn định, đây có thể là những vấn đề xưa cũ nhất của nhân loại Bản chất của tư duy là luôn vận động và không theo tuần tự Một ý tưởng mới nảy sinh từ một mạng lưới, từ những mối quan hệ chằng chịt với tập hợp các ý tưởng trước đó Một khái niệm mới nhất thiết phải bắt nguồn từ nhiều khái niệm trước đó
Socrate (469 – 399, TCN) đã hiểu được những vấn đề này nhưng lại từ chối viết bất cứ tác phẩm nào về nó Bởi vì theo ông, việc sắp xếp các đoạn ý tưởng theo tuần tự sẽ làm suy nghĩ nghèo nàn đi Điều này giống như cuộc sống hàng ngày, ta ghi chú một vấn đề, rồi nhận ra rằng những ghi chú đó quá ít thông tin so với những
gì chúng ta nghe thấy Nó cũng tương tự như bản đồ thế giới được vẽ trên mặt phẳng, bản đồ đó không thể hiện hết Trái đất
Aristote (384 – 332, TCN) người đầu tiên có ý tưởng phân loại – một ý tưởng
có tính đột phá Theo một trường phái triết học ứng dụng và là người sẵn sàng thỏa hiệp, ông đề xuất một hệ thống logic làm cơ sở của tư duy, đồng thời quan tâm đến các giải pháp phân lớp tư duy Dựa vào khái niệm ―giống‖ và ―loài‖ – hai thành phần luôn có mặt trong một định nghĩa, ông đã vẽ nên những sơ đồ đầu tiên của hoạt động tư duy Ngay từ thời đó, chúng ta đã có cơ sở để phân loại vật chất, chất lượng, nơi chốn…Và kể từ đó, các nhà khoa học đều tuân thủ theo chuẩn mực tư tưởng của Aristonte
Như Buffon, người muốn sắp xếp lại thế giới vạn vật Đến Kant (1724 – 1804), người đặt ra câu hỏi con người có thể biết những gì, đều dùng khoa học phân loại Ngay cả Medeleve (1834 – 1907), cha đẻ của bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học, cũng thừa nhận mục tiêu đầu tiên của bảng tuần hoàn là giải quyết vấn đề phân loại
Quá trình 50 năm nhiên cứu về khái niệm ―phức tạp‖, về các khoa học nhận thức hay lĩnh vực điều khiển học đã chứng minh sự cần thiết của phương pháp tiếp cận chính thể luận Phương pháp này xem xét các yếu tố cấu thành sự vật và các
Trang 31mối liên kết giữa chúng Cho đến nay, người ta đã có nhiều đề xuất về việc sắp xếp các ý tưởng
Trí tưởng tượng nảy sinh thật nhiều ý tưởng Hai bán cầu não có thể nhận định những ý tưởng đúng và sắp xếp những ý tưởng Có thể nói sơ đồ tư duy nằm giữa ranh giới hai bán cầu não, nó vừa là phương tiện kết hợp khả năng hai bán cầu não, vừa là công cụ tách biệt rạch ròi khi cần, vừa là phương tiện kỹ thuật sáng tạo
mà cũng thể hiện sự chặt chẽ trong tư duy
1.3.2 Khái niệm sơ đồ tư duy
Sơ đồ tư duy là biểu hiện của tư duy mở rộng, nó có chức năng tự nhiên trong tư duy Đó là một kỹ thuật họa hình đóng vai trò chiếc chìa khòa vạn năng để khai phá tiềm năng của bộ não Nó được áp dụng trong mọi mặt của cuộc sống, qua
đó cải thiện hiệu quả học tập và khả năng tư duy mạch lạc, nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động
Sơ đồ tư duy (Mind Map) là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Sơ đồ tư duy có bốn đặc điểm chính sau:
- Đối tượng quan tâm được kết tinh thành một hình ảnh trung tâm
- Từ hình ảnh trung tâm, những chủ đề chính của đối tượng tỏa rộng thành các nhánh
- Các nhánh đều được cấu tạo từ một hình ảnh chủ đạo hay từ khóa trên một dòng liên kết Những vấn đề phụ cũng được biểu thị bởi các nhánh gắn kết với những nhánh có thứ bậc cao hơn
- Các nhánh tạo thành một cấu trúc nút liên kết với nhau
1.3.3 Qui tắc thiết kế sơ đồ tư duy
Mục tiêu của các qui tắc trong sơ đồ tư duy là tự do tư duy chứ không kìm hãm tư duy Như vậy điều quan trọng là không nên nhầm lẫn giữa trật tự và cứng nhắc, tự do và hỗn độn Chúng ta thường có quan niệm tiêu cực, xem trật tự là cứng nhắc, kìm hãm; và chúng ta cũng nhầm lẫn sự hỗn độn thiếu cấu trúc là tự do Tự do
tư duy thực sự là khả năng xây dựng trật tự từ hỗn độn Những qui tắc trong sơ đồ
tư duy giúp chúng ta làm điều này Có thể chia làm hai nhóm qui tắc là: qui tắc kỹ thuật và qui tắc bố trí
Trang 321.3.3.1 Qui tắc kỹ thuật
a) Nhấn mạnh
Như chúng ta thấy, nhấn mạnh là quan trọng vì nó có tác dụng tăng trí nhớ
và đẩy mạnh sáng tạo Mọi kỹ thuật để nhấn mạnh đều có thể được dùng để liên kết,
và ngược lại Muốn đạt hiệu quả nhấn mạnh trong sơ đồ tư duy, chúng ta áp dụng các qui tắc sau:
- Luôn dùng một hình ảnh trung tâm, vì hình ảnh thu hút sự tập trung của mắt và não kích thích vô số liên kết đồng thời giúp trí nhớ hiệu quả hơn
- Dùng hình ảnh ở mọi nơi trong sơ đồ tư duy giúp cân bằng sự hưng phấn giữa các
kỹ năng thị giác và ngôn ngữ của não
- Mỗi ảnh trung tâm dùng ít nhất ba màu Màu sắc kích thích trí nhớ và sáng tạo, tránh sự đơn điệu
- Kích cỡ trong các ảnh và xung quanh các từ Hình ảnh không gian ba chiều hay chữ viết nổi có hiệu ứng nhấn mạnh các phần tử quan trọng trong sơ đồ tư duy
- Sử dụng sự tương tác ngũ quan là sự vận dụng tối đa ngũ quan cũng như cảm giác vận động thân thể trong các từ và hình ảnh
- Thay đổi kích cỡ ảnh, chữ in và dòng chữ chạy Có tác dụng nhấn mạnh tầm quan trọng tương đối giữa các thành phần cùng cấp Kích cỡ lớn có tác dụng nhấn mạnh
- Tổ chức dòng giúp phân cấp được rõ ràng
b) Liên kết
Liên kết có vai trò tăng trí nhớ và sáng tạo nên cũng rất quan trọng Trong não, liên kết chính là công cụ tích hợp giúp ta nắm bắt những cảm nghiệm của thế giới vật chất Một khi chúng ta đã xác định ảnh trung tâm và ý chủ đạo thì khả năng liên kết của não sẽ giúp ta đi sâu vào thế giới ý tưởng
Dùng mũi tên để chỉ mối liên hệ cùng nhánh, hoặc khác nhánh
Dùng màu sắc để làm ký hiệu hay phân vùng trong sơ đồ tư duy
Dùng ký hiệu giúp ta dễ dàng tìm được mối liên hệ giữa các bộ phận trên sơ
đồ tư duy, nó giúp ta tiết kiệm thời gian
c) Mạch lạc
Mỗi dòng chỉ có một từ khóa
Trang 33Vạch liên kết và từ luôn cùng độ dài
Các vạch liên kết nối liền nhau và các nhánh chính luôn nối với ảnh trung tâm
Vạch liên kết trung tâm phải dùng nét đậm
Đường bao ôm sát các nhánh
Ảnh vẽ thật rõ ràng
SĐTD luôn nằm theo chiều ngang
Luôn viết in thẳng đứng
d) Tạo phong cách riêng
Tất cả chúng ta đều là những cá thể độc đáo riêng biệt Sơ đồ tư duy phải phản ánh được các mạng lưới và lối tư duy độc đáo trong mỗi con người
Trang 34- Chủ đề cần được làm nổi bật cho dễ nhớ
- Có thể bổ sung thêm từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng
Bước 2: Vẽ thêm các tiêu đề phụ
- Tiêu đề phụ nên được vẽ gắn liền với trung tâm
- Tiêu đề phụ nên được vẽ chéo góc (chứ không nằm ngang) để nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ tỏa ra một cách dễ dàng
Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ, vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ
1.3.4 Phạm vi nghiên cứu và ứng dụng của sơ đồ tư duy trong dạy học
Ngoài việc giúp học trò của mình làm quen với lí thuyết và thực hành về sơ
đồ tư duy, người thầy còn có thể sử dụng sơ đồ tư duy theo nhiều cách để làm cho việc dạy học dễ dàng và lý thú hơn
Soạn ghi chú cho bài giảng: dùng sơ đồ tư duy làm ghi chú cho bài giảng là một trong những cách hữu hiệu So với cách viết ra thì soạn bài giảng bằng sơ đồ tư duy nhanh hơn nhiều và có ưu điểm lớn là cả giáo viên lẫn học sinh lúc nào cũng có được cái nhìn tổng quát về vấn đề Một bài giảng theo sơ đồ tư duy dễ dàng cập nhật theo thời gian và các chi tiết trong bài giảng không bị xáo trộn Nhờ có những đặc tính hỗ trợ trí nhớ, sơ đồ tư duy cho phép người giáo viên chỉ cần xem lướt qua trước khi lên lớp là có thể nắm bắt trọng tâm Vì kiến thức của giáo viên mỗi ngày càng phong phú hơn nên cùng một sơ đồ tư duy sẽ hình thành nhiều bài giảng khác nhau Điều đó giúp giáo viên tránh được sự tẻ nhạt của các ghi chú quá cũ mà không tốn nhiều công sức Nhờ thế việc dạy học trở nên sinh động và hấp dẫn hơn đối với cả giáo viên và học sinh
Trang 35Hoạch định cho năm học: giáo viên dùng sơ đồ tư duy để có cái nhìn tổng quát về chương trình học của cả năm, bao gồm các học kỳ và kiến thức của mỗi bài học
Trong giờ chủ nhiệm lớp: giáo viên và học sinh có thể cùng thực hiện một sơ
đồ tư duy về các công việc phải làm vào tuần sau như trực nhật, ôn bài, lao động,…
Bài học và cách trình bày: giáo viên có thể sử dụng bảng lớn, bảng giấy, máy overheat, máy tính để vẽ các phần tương ứng của sơ đồ tư duy trong khi đang giảng bài Cách biểu thị qui trình tư duy như thế sẽ làm rõ cấu trúc bài học, đồng thời duy trì dược sự chú ý của HS, giúp các em nhớ và hiểu bài dễ dàng hơn Cũng
có thể cho HS tự hoàn chỉnh các sơ đồ tư duy dạng khung hoặc chỉ để các em tô màu
Kiểm tra đánh giá: Với mục tiêu của kiểm tra đánh giá là kiểm tra kiến thức
và mức độ hiểu bài chứ không phải khả năng viết của học sinh thì việc sử dụng sơ
đồ tư duy là một giải pháp hữu hiệu Nó giúp giáo viên thấy ngay học sinh có bao quát được chủ đề hay không, cũng như các mặt mạnh, mặt yếu của mỗi học sinh Ngoài ra sơ đồ tư duy còn cho thấy những chuỗi liên kết ý tưởng của học sinh Do vậy, việc sử dụng sơ đồ tư duy giúp giáo viên đánh giá được khách quan về mức độ hiểu biết của học sinh mà không làm ảnh hưởng bởi cảm nhận về những kĩ năng trong các lĩnh vực khác như ngữ pháp Đồng thời việc sử dụng sơ đồ tư duy còn giúp học sinh có thể tự đánh giá bản thân
Tóm lại việc sử dụng sơ đồ tư duy trong giáo dục có thể mang lại những lợi ích sau:
- Sư đồ tư duy gợi hứng thú cho người học một cách tự nhiên, nhờ đó giúp người học tiếp thu nhiều hơn và tích cực hơn trong giờ học
- Sơ đồ tư duy làm cho bài học cũng như cách trình bày ngẫu hứng, sáng tạo và lí thú hơn đối với cả giáo viên và học sinh
- Với sơ đồ tư duy, việc ghi chú bài giảng của giáo viên trở nên linh hoạt, tùy biến, giáo viên dễ dàng bổ sung, làm mới bài giảng một cách nhanh chóng để phù hợp với sự phát triển của thời đại
- Sơ đồ tư duy biểu thị nội dung thích hợp dưới hình thực rõ ràng và dễ nhớ nên người học có khuynh hướng đạt điểm cao hơn trong các kỳ kiểm tra
Trang 36- Sơ đồ tư duy không những biểu thị các sự kiện mà còn cho thấy mối liên kết giữa các sự kiện ấy, nhờ đó giúp người học hiểu sâu hơn về chủ đề
Trong học dạy học, sơ đồ tư duy có thể phát huy tối đa khả năng tư duy cho học sinh, đặc biệt là tư duy hệ thống, giúp người học rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm, học tập hợp tác, dễ dàng nắm bắt nội dung kiến thức mới theo hướng dạy học tích cực
1.4 Thực trạng sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học hóa học ở trường THCS
1.4.1 Thực trạng sử dụng PPDH sơ đồ tư duy
Thông qua phiếu tham khảo ý kiến của 50 giáo viên của các trường THCS – THPT, hầu hết các thầy cô đều cho rằng việc sử dụng sơ đồ tư duy là rất cần thiết với nhiệm vụ chính là củng cố khắc sâu và mở rộng kiến thức cho HS Với một hay hai tiết luyện tập trong một chương là quá ít đối với bộ môn, tuy nhiên ở một số trường có tạo điều kiện tăng thêm tiết cho môn Hóa nên GV có thể đầu tư thêm cho giờ học nhằm nâng cao chất lượng dạy học thông qua việc sử dụng các loại sơ đồ tư duy đã được biên soạn, chọn lọc
Tuy nhiên, một số GV còn có quan niệm giảng dạy bằng sơ đồ tư duy làm tốn thời gian nhưng hiệu quả đem lại chưa chắc đã tốt như phương pháp truyền thống Việc sử dụng phiếu học tập, tổ chức hoạt động nhóm cho HS, hay sử dụng Grap, sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học còn xa lạ và ít được sử dụng Giờ học hay luyện tập GV thường sử dụng để kiểm tra bài HS, gọi HS lên làm các bài tập hay hướng dẫn đề cương ôn tập cho bài kiểm tra theo kiểu dọn sẵn từng món cho HS, không phát huy được tính độc lập, sáng tạo trong học tập của HS HS ít được hoạt động trong giờ học, ít động não, không chủ động lĩnh hội kiến thức do đó kiến thức đọng lại không sâu, không chắc chắn, có thể trả lời đúng các câu hỏi chỉ yêu cầu học bài, lúng túng nếu phải trả lời những câu hỏi so sánh, tổng hợp hay liên quan đến vấn đề thực tiễn Tiết học chưa thể hiện hết nhiệm vụ là cung cấp kiến thức, củng cố, khắc sâu và mở rộng kiến thức, chưa tạo điều kiện cho HS hoạt động tích cực, tìm tòi sáng tạo, chưa chú ý rèn luyện tư duy logic – biện chứng, tính tự lực và trách nhiệm, năng lực làm việc công tác do vậy chưa phát triển năng lực phương pháp, năng lực xã hội cho HS
Trang 37Phương pháp sơ đồ tư duy là một trong những phương pháp dạy học hiện đại,
là công cụ hữu ích trong giảng dạy và học tập ở bậc trung học cơ sở, trung học phổ thông và đại học, cũng như các bậc học cao hơn vì chúng giúp người dạy lẫn người học có thể hệ thống lại kiến thức, trình bày ý tưởng rõ ràng, kích thích sự sáng tạo, tăng cường khả năng ghi nhớ, tìm ra nhiều ý tưởng mới Do vậy, khi được tiếp xúc với sơ đồ tư duy thì hầu hết GV và HS đều ủng hộ Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học, tạo nên trào lưu sử dụng sơ đồ tư duy làm công cụ học tập
1.4.2 Thực trạng điều tra
1.4.2.1 Mục đ ch điều tra
Tìm hiểu về thực trạng sử dụng sơ đồ tư duy ở các trường trung học cơ sở
1.4.2.2 Đối tượng điều tra
Tiến hành thăm dò ý kiến 50 GV tại 16 trường THCS ở 6 quận của thành phố
Hồ Chí Minh
Bảng 1.1: Tổng hợp phiếu thăm dò thực trạng
Quận 10 TP.Hồ Chí Minh
Trang 38Bảng 1.2 Tổng số phiếu điều tra thống kê tỉ lệ thâm niên giảng dạy
Thâm niên giảng dạy 1 – 10 năm 11 - 20 năm 21 – 30 năm Trên 30 năm
1.4.2.3 Kết quả điều tra
Bảng 1.3 Mức độ sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học hóa học
Thỉnh thoảng
Thường xuyên
Qua bảng 1.3, cho thấy việc sử dụng sơ đồ trong dạy học môn hóa học được quan tâm và sử dụng nhiều Có 42% GV thường xuyên sử dụng
Bảng 1.4 Mục đ ch sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học hóa học
Bảng 1.4, cho thấy việc sử dụng sơ đồ trong dạy học môn hóa học được GV
sử dụng với nhiều mục đích khác nhau Đặc biệt là được dùng nhiều để biểu diễn quá trình chuyển hóa các chất (100%) và xây dựng bài tập hóa học (100%) Một số mục đích khác thì được sử dụng ít hơn như kiểm tra, đánh giá kiến thức học sinh (96,36%) Ngoài ra còn có một số ý kiến khác như:
- Dùng để củng cố bài học
- Dùng để dẫn dắt học sinh vào bài mới
- Tạo tình huống có vấn đề trong dạy học
- Lập phương pháp giải toán hóa học nhanh
Trang 39Ưu điểm và hạn chế của sơ đồ tư duy trong dạy học SL %
Tất cả GV đều thống nhất việc sử dụng sơ đồ giúp trình bày ngắn gọn, cô động được nội dung kiến thức (100%), nhưng không thể mô hình hóa tất cả nội dung (100%) Tuy nhiên, nó cũng thể hiện được nhiều ưu điểm như giúp học sinh
dễ nhớ bài, rèn luyện khả năng tư duy của học sinh
Bảng 1.6 Mức độ hiểu biết và sử dụng SĐTD của giáo viên
Có nghiên cứu về mặt lý thuyết nhưng chưa thực hành xây
Qua bảng 1.6, cho thấy GV một số trường ở Thành phố Hồ Chí Minh còn rất
xa lạ về sơ đồ tư duy, đa số là có nhìn gặp nhưng không lưu tâm đến ―Sơ đồ tư duy‖ (32%) hoặc có nghe nói nhưng chưa bao giờ sử dụng (30%) Có rất ít giáo viên sử dụng SĐTD trong dạy học (4%)
Bảng 1.7 Mức độ sử dụng các DH theo hướng tích cực
Thỉnh thoảng
Thường xuyên