TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA SINH HỌC ------ RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LÀM VIỆC VỚI SÁCH GIÁO KHOA CHO HỌC SINH QUA DẠY HỌC PHẦN VI SINH VẬT SINH HỌC 10 THPT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH:
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Xác định hệ thống kĩ năng và biện pháp rèn luyện kĩ năng làm việc với sách giáo khoa cho học sinh qua dạy học phần Vi sinh vật, Sinh học 10 - THPT góp phần nâng cao hiệu quả dạy học.
NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu những cơ sở lí luận và thực tiễn về rèn luyện KN làm việc với SGK
- Điều tra, đánh giá thực trạng về KN làm việc với SGK của HS trong DH Sinh học ở trường THPT
- Xác định hệ thống các KN làm việc với SGK cho HS qua DH phần Vi sinh vật, Sinh học 10-THPT
- Xây dựng quy trình rèn luyện KN làm việc với SGK Sinh học cho HS
- Đề xuất các biện pháp rèn luyện KN làm việc với SGK Sinh học cho HS
- Thực nghiệm sƣ phạm nhằm đánh giá hiệu quả của qui trình và biện pháp
ĐỐI TƢỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
Các kĩ năng làm việc với sách giáo khoa và quy trình, biện pháp rèn luyện các kĩ năng đó qua dạy học phần Vi sinh vật, Sinh học 10 THPT
Học sinh lớp 10 - Trung học phổ thông.
GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu sử dụng các biện pháp rèn luyện cho học sinh kĩ năng làm việc với sách giáo khoa trong dạy học phần Vi sinh vật, Sinh học 10 THPT một cách hợp lí sẽ giúp HS nắm vững kiến thức và phát triển năng lực tự học.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu các tài liệu về đường lối giáo dục, các chủ trương, nghị quyết về tinh thần đổi mới giáo dục theo hướng tích cực hóa người học
- Nghiên cứu tổng quan các tài liệu lý luận dạy học có liên quan đến đề tài để xây dựng cơ sở lý thuyết cho việc vận dụng vào dạy học phần Vi sinh vật, Sinh học 10 THPT
- Nghiên cứu sách giáo khoa, sách giáo viên và các tài liệu khác
6.2 Phương pháp điều tra cơ bản Điều tra thực trạng dạy và học ở Trường THPT bằng phiếu điều tra (test) và trao đổi trực tiếp với giáo viên và học sinh
6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm sƣ phạm nhằm kiểm tra giả thuyết khoa học của đề tài
6.4 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu thu đƣợc trong thực nghiệm khảo sát và thực nghiệm sƣ phạm đƣợc xử lý bằng các tham số thống kê toán học trên phần mềm Microsoft Exel Sau đó phân tích kết quả định lƣợng bằng thống kê toán học để phân loại trình độ học sinh và đánh giá mức độ lĩnh hội của từng học sinh Các số liệu thu đƣợc của lớp TN và lớp ĐC đƣợc chấm theo thang điểm 10 và đƣợc xử lí bằng thống kê toán học theo các bảng và các tham số sau:
Trong đó: - n số học sinh TN (hoặc ĐC) hay tổng số bài kiểm tra
- n i số bài kiểm tra có điểm số là xi
- x i điểm số theo thang điểm 10
-X điểm trung bình của một tập hợp
- Các tham số đặc trƣng
+ Trung bình cộng ( X ): Đo độ trung bình của một tập hợp
(Công thức 3.1) Trong đó: - x i : giá trị của từng điểm số nhất định
- n i : số bài có điểm số đạt xi
+ Độ lệch chuẩn (s): Khi có hai giá trị trung bình nhƣ nhau nhƣng chƣa đủ để kết luận 2 kết quả trên là giống nhau mà còn phụ thuộc vào các giá trị của các đại lƣợng phân tán ít hay nhiều xung quanh hai giá trị trung bình cộng, sự phân tán đó đƣợc mô tả bởi độ lệch chuẩn theo công thức sau:
(Công thức 3.2) + Sai số trung bình cộng (m): m s
+ Hệ số biến thiên (Cv): Biểu thị mức độ biến thiên trong nhiều tập hợp có X khác nhau:
Trong đó: Cv: 0- 9%, Dao động nhỏ, độ tin cậy cao
Cv: 10-29%, Dao động trung bình
Cv: 30-100%, Dao động lớn, độ tin cậy nhỏ
+ Hiệu trung bình (dTN-ĐC): So sánh điểm trung bình cộng ( X ) của nhóm lớp TN và ĐC trong các lần kiểm tra đTN-ĐC = X TN - X ĐC (Công thức 3.5 )
Trong đó: X TN : X của lớp thực nghiệm
X ĐC : X của lớp đối chứng
+ Độ tin cậy (Td): Sai khác giữa 2 giá trị TB phản ánh kết quả của 2 phương án thực nghiệm (TN) và đối chứng (ĐC) với Sd = (Côngthức 3.7)
: là các điểm số trung bình cộng của các bài làm theo phương án TN và ĐC n 1 , n 2 là số bài làm trong mỗi phương án
Giá trị tới hạn của T là T tìm đƣợc trong bảng phân phối Student = 0,05, bậc tự do là f = n 1 + n 2 - 2
* Phương pháp đánh giá: Để đánh giá kết quả kiểm tra của lớp TN, lớp ĐC thông qua việc đánh giá định lƣợng và đánh giá định tính
- Đánh giá định lƣợng: So sánh giá trị T d với Tα (tìm đƣợc trong bảng phân phối Student):
+ Nếu T d < Tα thỡ sự sai khỏc giữa X TN và X DC là khụng cú nghĩa hay X TN không sai khác với X ĐC
+ Nếu T d > T α thỡ sự sai khỏc giữa X TN và X DC là cú nghĩa hay X TN sai khác với X ĐC
+ Mức độ lĩnh hội kiến thức đã học
+ Năng lực tƣ duy của học sinh
+ Kĩ năng vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn.
Những đóng góp mới của đề tài
- Điều tra, đánh giá thực trạng về kĩ năng làm việc với sách giáo khoa Sinh học của học sinh ở một số trường THPT hiện nay
- Xác định hệ thống các KN làm việc với sách giáo khoa cần rèn luyện cho học sinh trong dạy học phần vi sinh vật, Sinh học 10 THPT
- Xây dựng quy trình rèn luyện KN làm việc với sách giáo khoa cho học sinh và đề xuất một số biện pháp rèn luyện KN làm việc với sách giáo khoa cho học sinh trong dạy học phần vi sinh vật, sinh học 10 THPT
- Hệ thống giáo án mẫu cho việc cụ thể hóa quy trình rèn luyện các KN làm việc với sách giáo khoa
Ngoài phần mở đầu, kết luận và đề nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục Nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương II: Các biện pháp rèn luyện kĩ năng làm việc với sách giáo khoa cho học sinh qua dạy học phần Vi sinh vật, Sinh học 10 THPT
Chương III: Thực nghiệm sư phạm
CƠ SƠ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1 Sơ lƣợc về lịch sử nghiên cứu kĩ năng làm việc với sách giáo khoa
Phương pháp làm việc với SGK được các nhà nghiên cứu giáo dục tiến hành từ những năm 20 của thế kỉ XX tại Liên xô (cũ), điển hình là Crupxkaia với cuốn sách ”làm việc với SGK nhƣ thế nào”
Quan điểm sử dụng SGK trong dạy học cũng đã đƣợc đƣa vào các giáo trình lí luận dạy học đại cương và lí luận dạy học bộ môn chuyên biệt EI.Golan
(1957) đã cho rằng ”Việc nghiên cứu SGK một cách cơ bản ở các lớp 5 đến 10 đƣợc tiến hành không phải trong giờ lên lớp mà trong quá trình chuẩn bị bài tập ở nhà”
Không giống nhƣ EI.Golan, T.A.Ilina, Kharlamov (1979) đề cập việc tổ chức cho HS làm việc với SGK trong giờ lên lớp, coi đó nhƣ là cách thức tốt nhất để phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập, ông khẳng định rằng: ” Bản chất của việc độc lập nghiên cứu SGK là ở chỗ nắm vững kiến thức mới đƣợc thực hiện độc lập với từng học sinh thông qua đọc sách có suy nghĩ kĩ tài liệu nghiên cứu, thông qua hiểu biết các sự kiện, các ví dụ nêu ra trong sách và các kết luận khái quát hóa từ các sự kiện đó, ví dụ đó” Từ đó ông cũng đƣa ra các chỉ dẫn cụ thể và đề xuất các biện pháp các yêu cầu để thực hiên tốt phương pháp làm việc với SGK trong dạy học
Năm 1920, ở Liên xô (cũ) đã đề cập đến vấn đề tổ chức hoạt động độc lập của HS với SGK trong dạy học
Năm 1956 -1957, quan điểm sử dụng SGK đã xâm nhập vào lý luận dạy học bộ môn nhƣng khi sử dụng vẫn còn một số hạn chế
Tử năm 1990 ở Mỹ, việc rèn luyện ”kĩ năng đọc nghiên cứu” đã trở thành một trong những nhiệm vụ đào tạo quan trọng trong nhà trường, trong kì nghỉ hè và trong công tác bổ trợ học tập người ta thành lập rất nhiều trung tâm ”kĩ năng nghiên cứu” Ai đã từng tham gia trung tâm này đều rất ngạc nhiên và khẳng định đó là nơi HS đƣợc học tập nhiều cách thức đọc khác nhau
Nhƣ vậy có nhiều quan điểm khác nhau về SGK và rèn luyện KN làm việc với SGK nhƣng tất cả các nhà lí luận DH đều có điểm chung là nhấn mạnh vai trò quan trọng của SGK và việc sử dụng SGK trong DH Tuy nhiên vấn đề rèn luyện KN làm việc với SGK chƣa đƣợc đi sâu phân tích
Trong nghị quyết của Bộ chính trị về cải cách giáo dục (11/1/1979) đã viết: “Cần coi trọng việc bồi dưỡng hứng thú thói quen và phương pháp học cho học sinh, hướng dẫn học sinh biết cách nghiên cứu sách giáo khoa thảo luận chuyên đề, ghi chép tƣ liệu, tập làm thực nghiệm khoa học” Vấn đề SGK đã đƣợc ít nhiều đề cập trong các giáo trình và tài liệu lí luận DH bộ môn
Phan Trọng Ngọ (2005) đã cho rằng học qua đọc sách là một trong những phương pháp làm việc độc lập của học viên có sự trợ giúp của GV Tác giả đã nêu đề cập đến vai trò của sách, điểm mạnh và hạn chế của học qua đọc sách, các mức độ đọc sách, yêu cầu khi đọc sách, kỹ thuật đọc sách [14]
Việc nghiên cứu về SGK và rèn luyện KN làm việc với SGK rất quan trọng nhƣng thực tế vẫn chƣa đƣợc nghiên cứu nhiều thể hiện qua một số công trình nghiên cứu có liên quan
Trong luận án Phó tiến sĩ “Xây dựng và sử dụng bài toán nhận thức để nâng cao hiệu quả dạy học phần cơ sở vật chất và cơ chế di truyền trong chương trình Sinh học Phổ thông trung học” GS.TS Lê Đình Trung (1994) đã nghiên cứu và đề xuất biện pháp sử dụng bài toán nhận thức kết hợp với bài tập tự lực làm việc với sách giáo khoa để tổ chức hoạt động của học sinh Đặng Thị Dạ Thủy (1997), “Sử dụng công tác độc lập với sách giáo khoa để phát huy tính tích cực của học sinh trong khâu nghiên cứu tài liệu mới phần sinh thái học lớp 11- Cải cách giáo dục” Luận văn thạc sĩ giáo dục
Bùi Thúy Phƣợng (2001), “Sử dụng câu hỏi - bài tập để tổ chức học sinh tự lực nghiên cứu sách giáo khoa trong giảng dạy sinh thái học lớp 11” Luận văn thạc sĩ giáo dục
Phạm Thị Hằng (2002), “Sử dụng bài toán nhận thức kết hợp câu hỏi tự lực nghiên cứu tài liệu giáo khoa tổ chức dạy học các qui luật di truyền lớp 11- THPT” Luận văn thạc sĩ giáo dục
Hà Khánh Quỳnh (2007), “Rèn luyện năng lực tự học sách giáo khoa cho học sinh qua dạy học phần sinh học tế bào Sinh học 10-THPT” Luận văn thạc sĩ giáo dục
Hoàng Nguyên Văn (2007), “Các biện pháp hướng dẫn nghiên cứu SGK trong dạy học Sinh học 10 phân ban để rèn luyện một số kĩ năng đọc sách cho học sinh” Luận văn thạc sĩ giáo dục
Võ Thị Bích Thủy (2007), “Các biện pháp rèn luyện cho học sinh kĩ năng diễn đạt nội dung trong quá trình tổ chức hoạt động tự lực nghiên cứu sách giáo khoa Sinh học 11” Luận văn thạc sĩ giáo dục
CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Thực trạng của việc rèn luyện kĩ năng làm việc với sách giáo khoa ở trường THPT hiện nay
1.2.1.1 Phương pháp xác định thực trạng
- Điều tra qua phiếu: Chúng tôi đã dùng phiếu phỏng vấn để khảo sát 33
GV Sinh học đã và đang trực tiếp dạy học Sinh học THPT thuộc 4 trường THPT thành phố Ninh Bình, năm học 2013 - 2014 Chúng tôi tiến hành điều tra bằng phiếu trên đối tượng là học sinh khối 10 của 4 trường THPT tỉnh Ninh Bình: sử dụng 3 phiếu khảo sát, phiếu số 1 và 2 dành cho giáo viên, phiếu số 3 dành cho học sinh Điều tra một số KN làm việc với SGK trên đối tƣợng là HS khối 10 đang học phần Vi sinh vật tại 2 trường không có thực nghiệm sư phạm là trường THPT Nho Quan C, và trường THPT Ngô Thì Nhậm, Tỉnh Ninh Bình
- Quan sát qua dự giờ: Chúng tôi đã tham gia dự giờ của giáo viên dạy Sinh học ở cả 2 trường, tổng số dự được 17 giờ
* Vấn đề 1: Tình hình sử dụng phương pháp dạy học của giáo viên
Qua điều tra phỏng vấn 33 giáo viên Sinh học ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Ninh Bình Tình hình sử dụng phương pháp dạy học của giáo viên phổ
Bảng 1.1 Kết quả điều tra việc sử dụng phương pháp dạy học của giáo viên
Sử dụng không thường xuyên Không sử dụng
Số lƣợng % Số lƣợng % Số lƣợng %
3 Vấn đáp thông báo tái hiện
4 Vấn đáp giải thích minh hoạ
5 Vấn đáp tìm tòi bộ phận
6 Đặt và giải quyết vấn đề
9 Làm việc với SGK, tài liệu tham khảo
Qua thống kê cho thấy trong giờ học GV chủ yếu sử dụng phương pháp trực quan Đặc biệt DH theo hướng vấn đáp tìm tòi, phương pháp sơ đồ hóa, đặt và giải quyết vấn đề đƣợc quan tâm và vận dụng nhiều hơn Nhƣ vậy, đã có chuyển biến trong việc tăng cường sử dụng các phương pháp DH tích cực với mức độ thường xuyên hơn, nhưng hiệu quả chưa cao Phương pháp làm việc với SGK vẫn chưa được GV sử dụng thường xuyên Nhiều GV vẫn còn nặng về thuyết trình các kiến thức trong SGK, ít chú ý tập cho HS khai thác kiến thức của sách giáo khoa Tuy trong tiết dạy, GV có sử dụng phương pháp đàm thoại nhưng chủ yếu theo kiểu vấn đáp thụ động, các câu hỏi loại tìm tòi, kích thích tƣ duy, phát huy đƣợc tính độc lập sáng tạo của HS còn rất hạn chế
Trên lớp, GV chưa chú ý tới khâu hướng dẫn HS cách làm việc độc lập với SGK, đồng thời cũng ít chú ý tới việc hướng dẫn tự học ở nhà cho HS Khâu đánh giá của GV về tình hình học của HS còn nặng về các câu hỏi tái hiện kiến thức, ít câu hỏi tìm tòi Tuy nhiên, cũng có những GV vận dụng sáng tạo các phương pháp tích cực như DH đặt và giải quyết vấn đề, sơ đồ hoá nhưng chủ yếu là trong các giờ thao giảng, các tiết thi GV dạy giỏi
* Vấn đề 2: Tình hình rèn luyện kĩ năng làm việc với sách giáo khoa cho học sinh trong dạy học Sinh học ở trường THPT
Kết quả điều tra về tình hình rèn luyện kĩ năng làm việc với SGK cho HS trong DH sinh học ở trường THPT được thể hiện qua bảng 1.2
Bảng 1.2 Kết quả điều tra về tình hình rèn luyện kĩ năng làm việc với
SGK cho HS trong DH sinh học ở trường THPT
TT Nội dung vấn đề
Rèn luyện thường xuyên Ít rèn luyện Không rèn luyện
I Rèn luyện kĩ năng làm việc với SGK trong bài lên lớp 1 3,03 23 69,70 9 27,27
Các kỹ năng làm việc với SGK đƣợc rèn luyện trong quá trình DH sinh học 1.KN xác định mối quan hệ giữa các nội dung 2 6,06 22 66,67 9 27,27
2 KN tìm ý chính, bản chất 14 42,42 11 33,33 8 24,24
7 KN khai thác thông tin từ kênh hình (tranh ảnh, bảng biểu, sơ đồ, đồ thị)
8 KN thực hiện các lệnh trong SGK 7 21,21 14 42,42 12 36,36
9 KN tìm ý trả lời câu hỏi
Kết quả điều tra trong bảng 1.2 cho thấy:
- Giáo viên chưa thường xuyên rèn luyện KN làm việc với SGK cho HS, phần lớn GV (69,70%) thỉnh thoảng rèn luyện và có tới 27,27 % GV không rèn luyện KN này cho HS
Trong các KN làm việc với SGK cho HS, phần lớn GV quan tâm rèn luyện KN tìm ý trả lời câu hỏi dựa vào thông tin đọc đƣợc từ SGK (39,39 %),
KN tìm ý chính (42,42%), KN khai thác thông tin kênh hình (30,30 %) Các KN này được các GV rèn luyện thường xuyên
Các KN diễn đạt nội dung SGK nhƣ KN lập sơ đồ, lập bảng GV ít khi rèn luyện cho HS Các sơ đồ thường là GV lập sẵn rồi HS chép lại và ghi nhớ, còn bảng cũng được GV lập sẵn dưới dạng phiếu học tập trong sẵn và HS điền thông tin vào bảng đó để thu nhận tri thức
Qua sự phân tích trên cho thấy phần lớn GV chƣa chú trọng rèn luyện KN làm việc với SGK cho HS Mặc dù qua trao đổi dự giờ hầu hết các GV đều cho rằng việc rèn luyện KN tự học với SGK cho HS là rất cần thiết nhằm phát huy tính tích cực của HS nhƣng do các nguyên nhân chủ quan và khách quan mà chƣa thực hiện đƣợc hoặc thực hiện nhƣng chƣa có hiệu quả
SGK chủ yếu đƣợc GV sử dụng trong khâu lên lớp để HS tự học các kiến thức đơn giản và dựa vào nội dung SGK để trả lời các câu hỏi của GV mà chƣa đƣợc phát huy hết vai trò của nó trong việc giúp HS khai thác nguồn thông tin thu đƣợc từ SGK
Ngoài SGK một số GV cũng đã khai thác các kiến thức từ các nguồn tài liệu khác để minh họa cho bài học nhưng vẫn không thường xuyên
Chúng tôi cũng đã điều tra, phỏng vấn các GV đang giảng dạy phần Vi sinh vật, Sinh học 10; có đến 72 % cho rằng chương Vi sinh vật rất thuận lợi để rèn luyện KN làm việc với SGK cho HS vì chương này rất phong phú về kênh chữ và kênh hình (12 tranh ảnh, bảng biểu, sơ đồ và đồ thị) Mặt khác nội dung chương mang tính thực tế rất gần gũi với đời sống, các lệnh hoạt động được tăng cường theo hướng phát huy tính tích cực của HS Tuy nhiên, các GV chưa rèn luyện các KN làm việc với SGK cho HS trong chương này vì nội dung các bài học tương đối dài và KN làm việc với SGK của HS còn yếu nên sợ mất thời gian
Trong chương này, các GV mới chỉ rèn luyện một số KN như KN khai thác thông tin từ tranh ảnh, sơ đồ, đồ thị, KN tìm ý chính, KN tìm ý trả lời CH dựa vào SGK nhƣng còn ở mức độ thấp; các KN đòi hỏi mức độ tƣ duy nhiều hơn nhƣ KN lập bảng, KN lập sơ đồ, KN tóm tắt vẫn chƣa đƣợc chú ý rèn luyện
Chúng tôi đã tiến hành điều tra bằng phiếu tại 2 trường ở thành phố Ninh Bình: THPT Nho Quan A (78 HS) và THPT Nho Quan B (81 HS) Tổng số 159 học sinh Các đề kiểm tra thuộc kiến thức của phần Vi sinh vật, Sinh học 10- THPT Một số KN mà chúng tôi tiến hành điều tra là:
(1) KN tách ra nội dung chính, bản chất từ nội dung đọc đƣợc của SGK (KN tìm ý chính)
(2) KN tóm tắt tài liệu đọc đƣợc từ SGK (KN tóm tắt)
(3) KN xác định mối quan hệ giữa các nội dung
(7) KN khai thác thông tin từ kênh hình (tranh ảnh, bảng biểu, đồ thị, đồ thị)
(8) KN thực hiện các lệnh trong SGK
(9) KN tìm ý trả lời câu hỏi dựa vào SGK
(Các mức độ (MĐ) của KN xác định ở phụ lục số 3)
Bảng 1.3 Kết quả điều tra về một số KN làm việc với SGK của HS trong phần Vi sinh vật, Sinh học 10- THPT
Xác định mối quan hệ giữa các nội dung 159 10 6,29 52 32,70 97 61,01
Khai thác thông tin từ kênh hình 159 37 23,27 42 26,42 80 50,31
Thực hiện các câu lệnh SGK 159 29 18,24 40 25,16 90 56,60
Tìm ý trả lời cho câu hỏi dựa vào SGK 159 21 13,21 41 25,79 90 56,60
Kết quả trong bảng 1.3 cho thấy:
- Số lƣợng HS có kết quả cao nhất về rèn luyện KN làm việc với SGK đạt
MĐ 2 và MĐ 3 thuộc về KN khai thác thông tin từ kênh hình (23,27%), KN lập sơ đồ (23,27%), KN lập bảng (18,24%), KN thực hiện các câu lệnh SGK (18,24%) Các KN còn lại đạt MĐ 2 và MĐ 3 còn thấp: KN xác định mối quan hệ giữa các nội dung(6,29%), KN tóm tắt (10,69%), KN lập dàn ý (9,43%)
- Qua việc phân tích từng bài kiểm tra và dự giờ thăm lớp, chúng tôi thấy rằng các KN làm việc với SGK của HS còn rất yếu Như vậy cần phải thường xuyên rèn luyện các KN này để từng bước nâng cao hiệu quả dạy học
Qua kết quả khảo sát cho thấy đa số HS (75,2%) chỉ coi môn học là nhiệm vụ, không chịu đầu tƣ thời gian, công sức vào tìm hiểu, chƣa thấy đƣợc ý nghĩa, tầm quan trọng về mặt khoa học và giáo dục của môn học nên thường chỉ học với thái độ đối phó mà không hứng thú, say mê môn học Chỉ có một phần nhỏ các em (6,7%) yêu thích môn học nhưng đa số không có phương pháp học nên chưa khai thác triệt để nội dung sách giáo khoa một cách chủ động, sáng tạo Điều này cho thấy nếu cải thiện đƣợc tình trạng dạy học hiện nay sẽ đem lại kết quả học tập môn sinh học tốt hơn
CÁC BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LÀM VIỆC VỚI SÁCH GIÁO KHOA CHO HỌC SINH QUA DẠY HỌC PHẦN VI
Nhóm kĩ năng làm việc với kênh chữ
2.1.1.1 Kĩ năng đọc hiểu nội dung sách giáo khoa
Bước 1: Xác định mục đích đọc sách
Học sinh cần có KN định hướng thu nhận thông tin khi đọc SGK Xác định mục tiêu đọc sách là trả lời câu hỏi: “đọc để giải quyết vấn đề gì, đọc nhƣ thế nào và đọc đến mức độ nào? ” Mục tiêu đọc sách quy định tính chất và phương hướng đọc, nội dung và trình tự đọc, giúp cho chủ thể tập trung chú ý vào những vấn đề chủ yếu cần khai thác Từ mục tiêu học tập cụ thể, HS mới định hướng tìm kiếm thông tin khi làm việc với tài liệu: đọc chương, mục nào, cái gì? Nhờ định hướng đúng, HS nhanh chóng giải quyết được mục tiêu học tập với chất lƣợng cao, tiết kiệm đƣợc thời gian
Bước 2: Khảo sát Đọc lướt qua phần nội dung cần đọc, lưu ý đến tính hệ thống của nội dung Đặc biệt đối với SGK hiện nay có phần tóm tắt cuối mỗi bài học, cần đọc lướt phần này để thấy rõ nội dung cô đọng nhất, những kết luận chính của bài
Bước 3: Đọc kỹ có phân tích, nhận xét, đánh giá Để lĩnh hội đƣợc những tri thức cần thiết, đạt đƣợc mục đích đọc sách, cần phải đi sâu nghiên cứu cuốn sách Công việc này đòi hỏi phải có kỹ thuật đọc tức là năng lực chiếm lĩnh tri thức và trình độ KN đọc của người đọc Kỹ thuật đọc phụ thuộc vào mục đích đọc, thể hiện ra bằng cách đọc Khi làm việc với SGK cần có các kỹ thuật đọc cơ bản nhƣ: đọc có trọng điểm (hay đọc từng phần, đọc nghiền ngẫm nội dung cuốn sách, đọc chủ động, đọc sâu)
Cuối mỗi phần, mỗi chương, bài, mục và tiểu mục cần dừng lại và chốt các điểm chính bằng cách ghi chép
Sau khi đọc xong toàn bộ nội dung cần đọc lại để kiểm tra, đánh giá xem mình đã thu đƣợc gì sau quá trình đọc, đặc biệt chú ý đến cách bố cục của nội dung
GV hướng dẫn HS đọc hiểu bài 22 “Dinh dưỡng, chuyển hóa vật chất và năng lƣợng ở Vi sinh vật”
+ Xác định mục đích đọc sách: Vì đây là bài đầu tiên mở đầu cho phần Vi sinh vật nên GV cần cho HS thấy rõ nội dung và tính logic của bài học, vừa là sự phát triển kế thừa của các phần trước vừa là nền tảng cho các nội dung kiến thức sau nó GV đưa ra các câu hỏi hướng dẫn nhằm giúp HS định hướng được mục đích học tập
+ Hãy chỉ rõ những đặc điểm của Vi sinh vật? (kích thước nhỏ, là cơ thể đơn bào nhân sơ hoặc nhân thực hoặc tập hợp đơn bào, hấp thụ và chuyển hóa chất dinh dưỡng, sinh trưởng, sinh sản nhanh, phân bố rộng )
+ Với những đặc điểm trên thì VSV có thể sống trong những môi trường nào? (tự nhiên và nhân tạo )
+ Với những đặc điểm đó, có thể sống trong những môi trường như thế, vậy VSV có các kiểu dinh dƣỡng nào? (quang tự dƣỡng, hóa tự dƣỡng, quang dị dƣỡng, hóa dị dƣỡng)
+ Căn cứ vào tiêu chí nào người ta chia thành các kiểu dinh dưỡng như thế? (nguồn cacbon và nguồn năng lƣợng )
- Khảo sát: Đọc lướt nội dung bài để xác định các vấn đề chính bằng cách đọc tên các mục của bài, sau đó dừng lại ở phần khung tóm tắt trang 90
- Đọc kỹ có phân tích, nhận xét, đánh giá: Để thực hiện bước này cần đọc kỹ nội dung, đặc biệt là trong quá trình đọc cần phải chú ý tới khung tóm tắt và hệ thống câu hỏi, bài tập cuối bài để xác định nội dung trọng tâm Nội dung trọng tâm của bài 22 là các kiểu dinh dƣỡng của Vi sinh vật
- Chốt lại: HS ghi chép lại những ý chính trong mỗi mục (ghi theo cách hiểu của bản thân)
- Kiểm tra: Trong khâu này, GV có thể yêu cầu HS trình bày bằng lời nội dung các em đã đọc hoặc đƣa ra hệ thống câu hỏi để kiểm tra mức độ thu nhận kiến thức của HS hoặc HS tự đặt ra các câu hỏi và trả lời về các vấn đề mình còn thắc mắc
(1) Cho biết Vi sinh vật quang tự dƣỡng khác với Vi sinh vật hóa dị dƣỡng nhƣ thế nào?
(2) Các loại môi trường dùng để nuôi cấy VSV trong phòng thí nghiệm đƣợc phân biệt nhƣ thế nào?
*Yêu cầu của kĩ năng:
- Phải có mục đích đọc sách rõ ràng và cụ thể vì mục đích đọc sách sẽ chi phối toàn bộ quá trình đọc sách
- Tích cực tƣ duy khi đọc: tích cực tƣ duy khi đọc là luôn hình dung những ý tưởng trong sách thành những biểu tượng, hình ảnh trong đầu; đối chiếu, so sánh chúng với nhau và với những hiểu biết đã có Cần tránh lối đọc một chiều, lười suy nghĩ, lười ghi chép; đọc thụ động, chấp nhận tất cả, học thuộc máy móc
- Phải tập trung chú ý cao độ khi đọc sách nghĩa là nỗ lực, cố gắng định hướng toàn bộ tâm trí một cách liên tục vào việc đọc nhằm suy nghĩ thấu đáo, tư duy tích cực và ghi nhớ nhanh những điều rút ra khi đọc Khi gặp vấn đề khó hiểu cần cố gắng suy nghĩ hoặc ghi lại để tìm hiểu sau
2.1.1.2 Kĩ năng tách ra nội dung chính, bản chất từ nội dung đọc được của sách giáo khoa Đây là kĩ năng quan trọng nhất mà HS cần phải có và thường được sử dụng trong khâu hình thành kiến thức mới Kĩ năng này là cơ sở của các kĩ năng làm việc với SGK khác
- Đọc lướt toàn bộ nội dung của SGK cần tách ý chính, bản chất để xác định nội dung đó đề cập vấn đề gì Nội dung có thể là một bài, một đoạn hay một mục nào đó
- Phân tích nội dung để tìm ý chính, bản chất
- Tách các ý chính, bản chất của nội dung và sắp xếp chúng theo trình tự logic
*Các ví dụ minh hoạ:
Khi đọc bài 25 “Sinh trưởng của Vi sinh vật” để tách nội dung chính, HS phải thực hiện các hoạt động sau:
- Đọc lướt toàn bộ nội dung bài 25, xác định nội dung của bài đề cập 2 nội dung là khái niệm sinh trưởng và sự sinh trưởng của quần thể vi khuẩn
Nhóm kĩ năng làm việc với kênh hình trong sách giáo khoa
2.1.2.1 Kĩ năng khai thác thông tin từ tranh ảnh, hình vẽ sách giáo khoa
HS khai thác thông tin từ tranh ảnh để lĩnh hội hiệu quả kiến thức chứa đựng trong tranh ảnh, biết cách diễn đạt nội dung từ tranh ảnh, rèn luyện kĩ năng quan sát, kĩ năng tư duy cho HS như phân tích, so sánh, tưởng tượng, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa Hoạt động này còn làm tăng tính hứng thú học tập, khám phá giáo dục, tính cẩn thận, tính thẩm mĩ
- Quan sát tổng thể tranh ảnh để biết chủ đề của tranh, ảnh
- Phân tích tranh ảnh: quan sát kĩ để xác định các chi tiết trong hình về số lƣợng kiểu dáng, màu sắc…
- Tổng hợp các chi tiết của tranh, ảnh : tìm mối quan hệ giữa đơn vị trong tranh, ảnh để mô tả và rút ra kết luận cần thiết
Khai thác thông tin từ tranh ảnh và mô tả cấu trúc chung của virut
Hình 2.2 So sánh cấu tạo virut trần và virut có vỏ (hình 29.1 trang 115)
Quan sát hình trên để biết đây là tranh mô tả cấu trúc của virut
Phân tích tranh: học sinh đi tìm câu trả lời cho các câu hỏi:
2 hình có những thành phần nào chung
Chức năng của các thành phần đó?
Có sự khác nhau ở những thành phần nào?
nghĩa của sự khác nhau đó?
Kết luận: HS biết đƣợc cấu tạo của virut trần và virut có vỏ Chức năng của mỗi thành phần So sánh đƣợc sự khác biệt trong cấu trúc của 2 loại virut
*Yêu cầu của hoạt động khai thác thông tin từ tranh ảnh:
- HS phải quan sát tranh ảnh từ tổng thể đến chi tiết để hiểu sâu về bản chất của sự vật, hiện tƣợng
- Khai thác đầy đủ thông tin từ tranh ảnh
2.1.2.2 Kĩ năng khai thác thông tin từ sơ đồ trong sách giáo khoa
Sơ đồ trong SGK có tác dụng thể hiện mối quan hệ thứ bậc, tổng thể, bộ phận, cấu tạo, chức năng, hệ thống khái niệm hoặc thể hiện các quy trình của hoạt động sống Nhƣ vậy sơ đồ có tác dụng trực quan hóa nội dung học tập Học sinh phải biết cách đọc mới lĩnh hội đƣợc hết nội dung trong sơ đồ
Hoạt động khai thác thông tin từ sơ đồ trong SGK làm tăng hiệu quả lĩnh hội kiến thức chứa đựng trong sơ đồ của HS HS biết cách diễn đạt nội dung từ sơ đồ, rèn luyện kĩ năng lập sơ đồ, rèn luyện KN quan sát, KN tƣ duy cho HS như phân tích, so sánh, tưởng tượng, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa Hoạt động này tăng sự hứng thú học tập, khám phá, giáo dục tính cẩn thận, thẩm mĩ
- Đọc lướt qua sơ đồ: Xác định sơ đồ thể hiện nội dung gì?
- Đọc kĩ sơ đồ: Đọc đỉnh và cung nối để xác định mối quan hệ giữa các đỉnh Đọc từ đỉnh gốc đến đỉnh ngọn hoặc từ đỉnh xuất phát đến đỉnh kết thúc Đọc thêm chú thích khác có trên sơ đồ để rút ra kết luận
- Diễn đạt kết luận cần thiết rút ra từ sơ đồ
*Ví dụ minh hoạ: Khai thác thông tin từ sơ đồ qua các bước:
- Xác định nội dung sơ đồ đề cập: Quá trình nhân lên của virut
- Xác định mối quan hệ giữa các đỉnh: Bắt đầu từ hấp phụ và kết thúc là sự phóng thích
- Kết luận: Quá trình nhân lên của virut gồm 5 giai đoạn :
Hấp phụ: Virut bám lên thụ thể bề mặt tế bào
Xâm nhập: Enzim lizoxom phá hủy thành tế bào để bơm axit nuclêic vào tế bào chất, vỏ nằm ở ngoài
Sinh tổng hợp: Tổng hợp axit nucleic và protein cho riêng mình
Lắp ráp: Lắp axit nucleic vào protein để tạo axit hoàn chỉnh
Phóng thích: Virut phá vỡ tế bào chui ra ngoài
*Yêu cầu của kĩ năng khai thác thông tin từ sơ đồ:
- HS đọc sơ đồ theo logic phát triển của sơ đồ
- Khai thác đầy đủ thông tin từ sơ đồ
2.1.2.3 Kĩ năng khai thác thông tin từ đồ thị trong sách giáo khoa Đồ thị trong SGK là một loại kênh hình dùng để biểu diễn mối quan hệ tương quan giữa các đại lượng, yếu tố hay các quá trình liên quan đến sinh vật Hoạt động này sẽ giải mã kiến thức cần thiết chứa đựng trong đồ thị Rèn luyện kĩ năng quan sát, so sánh, phân tích và kĩ năng khai thác thông tin từ đồ thị
- Xác định chủ đề của đồ thị
- Xác định đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc giữa các đại lƣợng, yếu tố hay đại lƣợng nào?
- Xác định giá trị của các đại lƣợng, yếu tố hoặc quá trình đó lên các trục tọa độ
- Xác định đặc điểm của đồ thị và nội dung quan sát đƣợc
Khai thác thông tin từ sơ đồ sau:
Hình 2.4 Đường cong sinh trưởng của vi khuẩn trong nuôi cấy không liên tục
Chủ đề của đồ thị: Sinh trưởng của quần thể vi khuẩn trong nuôi cấy không liên tục
Số lƣợng tế bào phụ thuộc vào thời gian (các pha của quá trình)
Đồ thi có sự thay đổi lớn giữa các pha
Kết luận: Sinh trưởng của quần thể vi khuẩn trong nuôi cấy liên tục gồm 4 pha Đặc điểm từng pha, môi trường, số lượng tế bào trong từng pha là khác nhau
2.1.2.4 Kĩ năng khai thác thông tin từ bảng trong sách giáo khoa
Bảng là một hình thức diễn đạt nội dung học tập cô đọng, súc tích và đƣợc
“định vị” ở những tọa độ nhất định
Thông qua hoạt động này HS sẽ khai thác hiệu quả kiến thức chứa đựng trong các bảng, rèn luyện kĩ năng lập bảng, kĩ năng quan sát, kĩ năng phân tích, so sánh… kĩ năng khai thác kiến thức từ bảng giúp cho HS thu nhận thông tin và xử lý thông tin được mã hóa dưới dạng bảng hiệu quả hơn để giải thích, minh họa, mở rộng nội dung học tập
- Xác định chủ đề bằng cách đọc tiêu đề và đọc lướt nội dung của bảng
- Xác định tiêu chí của chủ đề đó bằng cách đọc tiêu đề đầu mỗi cột và hàng của bảng
- Đọc nội dung trong các ô, khi đọc phải chú ý đói chiếu với tiêu chí trong hàng, cột tương ứng để đảm bảo đọc đúng tọa độ
- Dùng biện pháp đối chiếu theo cột dọc, hàng ngang tùy theo mục đích để rút ra kết luận cần thiết và giải quyết nhiệm vụ học tập
*Ví dụ minh hoạ: Khai thác thông tin từ bảng “một số chất hoá học thường được dùng để ức chế sự sinh trưởng của vi sinh vật” bài 27 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của vi sinh vật, trang 106
Bảng 2.1 Một số chất hóa học thường dùng để ức chế sự sinh trưởng của vi sinh vật (bảng trang 106 bài 27)
Các chất hóa học Cơ chế tác động ứng dụng
Các hợp chất phênol Biến tính các loại protein Khử trùng phòng thí nghiệm
Các loại cồn (êtanol, isopropanol, 70-80%)
Thay đổi khả năng cho đi qua của lipit ở màng sinh chất
Thanh trùng trong y tế, phòng thí nghiệm
Iot, rƣợu iot (2%) ôxi hóa các thành phần tế bào
Diệt khuẩn trên da, tẩy trùng trong bệnh viện
Sinh ôxi nguyên tử có tác dụng oxi hóa mạnh
Thanh trùng nước máy, nước các bể bơi, công nghiệp thực phẩm
Các hợp chất kim loại nặng (thủy ngân, bạc)
Gắn vào nhóm SH của protein làm cho chúng bất hoạt
Diệt bào tử đang nảy mầm, các thể sinh dƣỡng
(phoocmanđêhit 2%) Bất hoạt các protein Sử dụng rộng rãi trong thanh trùng Các loại khí etilen ôxit
Oxi hóa các thành phần tế bào
Khử trùng các dụng cụ nhựa, kim loại
Các chất kháng sinh Diệt khuẩn có tính chọn lọc Dùng trong y tế, thú y
Đọc lướt nội dung bảng, chủ đề của bảng là các chất hóa học dùng để ức chế sinh trưởng của VSV
Tiêu chí của bảng là các chất, cơ chế tác động và ứng dụng
Đọc các ô thành phần và đối chiếu theo ô và cột
So sánh theo chiều ngang và dọc để biết các chất khác nhau có cơ chế tác động và ứng dụng khác nhau.
Nhóm kĩ năng vận dụng thông tin đọc đƣợc từ sách giáo khoa
2.1.3.1 Kĩ năng thực hiện các lệnh ở sách giáo khoa
Các lệnh có trong SGK là các yêu cầu bắt buộc HS phải thực hiện đƣợc vì đây là những câu hỏi cơ bản, gắn liền với nội dung kiến thức SGK thường thì các lệnh này sẽ giúp HS khai thác thông tin bài học một cách nhanh hơn, trọng tâm hơn
Các lệnh có trong SGK có thể là giải đáp các thắc mắc của HS đối với kiến thức bài học hoặc mở rộng kiến thức để HS áp dụng những cái đã học vào thực tế
- Đọc qua câu lệnh để biết đƣợc câu lệnh yêu cầu khai thác thông tin kiến thức ở phần nào trong bài
- Đọc những cụm từ khóa để có thể dựa vào đó tìm ra phần kiến thức cần tìm hiểu
- Khoanh tròn phần thông tin liên quan đến câu lệnh
- Rút ra kết luận giải quyết nhiệm vụ học tập
*Ví dụ minh hoạ: khi học bài 27 “các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của
Vi sinh vật” mục I.1 “Chất dinh dƣỡng” với câu hỏi lệnh vì sao có thể dùng vi sinh vật khuyết dƣỡng (ví dụ E.coli tryptophan âm) để kiểm tra thực phẩm có tryptophan hay không?
Đọc qua câu lệnh thì thấy ở đây đề cập đến ứng dụng của VSV khuyết dƣỡng
Tìm khái niệm VSV khuyết dƣỡng có trong bài học
Phân tích đặc điểm VSV khuyết dƣỡng (VSV khuyết dƣỡng với chất nào thì phải bổ sung vào môi trường chất đó để VSV có thể sinh trưởng bình thường)
Kết luận: Do VSV khuyết dƣỡng tryptophan âm nên không tự tổng hợp
Nếu để nuôi trong thực phẩm mà VSV này vẫn phát triển chứng tỏ môi trường đã cung cấp cho VSV tryptophan Nhƣ vậy trong thực phẩm sẽ có tryptophan
2.1.3.2 Kĩ năng tìm ý trả lời cho câu hỏi dựa vào sách giáo khoa Đây là kĩ năng cơ bản mà trong quá trình tổ chức HS sử dụng SGK cần phải thực hiện đƣợc Vì chính việc trả lời những câu hỏi do GV hay HS đặt ra đòi hỏi
HS phải thực hiện các thao tác tƣ duy nhƣ phân tích, tổng hợp, so sánh… để đi đến kết luận khoa học bản chất của câu hỏi là một câu nghi vấn dùng để hỏi, muốn trả lời đƣợc câu hỏi tốt HS cần phải biết cách phân tích, tìm ý trả lời
- Đọc toàn bộ câu hỏi để tìm hiểu xem câu hỏi đề cập đến nội dung nào
+ Khoanh tròn các từ hoặc cụm từ then chốt (thường là động từ) cho biết phải làm gì
+ Gạch dưới đối tượng của các động từ Ví dụ, so sánh cái gì? Chứng minh nhƣ thế nào?
+ Xác định nghĩa của động từ đã khoanh
+ Nhận định các công việc phải hoàn thành
+ Định hướng tìm nguồn thông tin và tìm các thành phần sẽ được sử dụng + Liệt kê các ý chính
+ Sắp xếp các ý này theo một trình tự logic
Diễn đạt thành câu trả lời hoàn chỉnh
*Ví dụ minh hoạ: sau khi học xong bài 26 “Sự sinh sản của vi sinh vật” GV có thể đặt câu hỏi: sinh sản nảy chồi và sinh sản phân đôi giống và khác nhau ở điểm nào?
HS phân tích câu hỏi: Hoạt động cần làm là so sánh, đối tƣợng cần so sánh là sinh sản nảy chồi và sinh sản phân đôi Đọc thông tin SGK để tìm ra các ý trả lời cho câu hỏi
- Giống nhau: cả hai đều là hình thức sinh sản vô tính
- Khác nhau: cách tạo cơ thể mới của hai hình thức diễn ra khác nhau
*Yêu cầu của kĩ năng:
- Câu trả lời bao hàm đƣợc tất cả nội dung cần đạt mà câu hỏi đƣa ra
- Câu trả lời phải ngắn gọn, súc tích, logic.
Quy trình rèn luyện kĩ năng làm việc với sách giáo khoa
2.2.1 GĐ xác định hoạt động làm việc với SGK
Mục tiêu này phải nằm trong chương trình mục tiêu của chương trình môn học do Bộ giáo dục và đào tạo quy định Nhưng mục tiêu chương trình thường bao quát và rộng Trong khi đó từng bài học phải có những mục tiêu cụ thể Hay nói cách khác mục tiêu của từng hoạt động làm việc với SGK là cụ thể hóa mục tiêu chương trình phù hợp với nội dung dạy học trong SGK
Nhƣ vậy sự xác định mục tiêu cho các hoạt động dạy học trong bài chịu sự chi phối nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất là mục tiêu chương trình và nội dung dạy học trong SGK Tuy nhiên, không phải nội dung nào đƣợc trình bày trong SGK cũng trở thành mục tiêu dạy học Trong trường hợp này GV cần phải bổ sung thông tin để thuận lợi cho quá trình lĩnh hội của HS và hoàn thành mục tiêu dạy học
- Mục tiêu phải định rõ mức độ hoàn thành công việc của HS
- Mục tiêu phải nói rõ mức độ “đầu ra” của bài học chứ không phải là tiến trình dạy học
- Mỗi mục tiêu chỉ nên phản ánh một đầu ra để thuận tiện cho việc đánh giá kết quả bài học
- Mỗi đầu ra của mục tiêu nên đƣợc diễn đạt bằng một động từ đƣợc lựa chọn để xác định rõ mức độ học sinh phải đạt bằng hành động
Ví dụ: trước khi tổ chức HS làm việc với SGK để dạy học nội dung bài 22
“Dinh dƣỡng, chuyển hóa vật chất và năng lƣợng ở Vi sinh vật” GV phải xác định đƣợc các mục tiêu
Sau khi học xong bài 22 HS cần phải:
- Trình bày đƣợc các kiểu dinh dƣỡng của VSV dựa theo nguồn cacbon và năng lƣợng
- Nêu đƣợc 3 loại KN phân tích, so sánh và khái quát hóa kiến thức
Thái độ: Thấy đƣợc sự đa dạng của VSV trong đời sống
Phân tích nội dung dạy học
Phân tích nội dung cần phải giải quyết đƣợc các nhiệm vụ sau:
- Đặc điểm về nội dung:
+ Xác định nội dung kiến thức cơ bản, trọng tâm của bài học Khi dạy học cần phải tổ chức các hoạt đông nào để HS lĩnh hội đƣợc các kiến thức trọng tâm, cơ bản
+ Xác định dạng kiến thức đó ở dạng thông tin nào?
+ Xác định nội dung thuộc loại kiến thức Sinh học nào?
+ Mối quan hệ giữa nội dung dạy học với những kiến thức Sinh học mà HS đã biết Biết đƣợc các kiến thức mà HS đã có để tổ chức HS thực hiện các hoạt động trên cơ sở kế thừa, phát triển các kiến thức đó mà không lặp lại; hoặc sử dụng kiến thức cũ để tổ chức HS khai thác kiến thức mới khi làm việc với SGK
Ví dụ: khi tổ chức HS làm việc với bài 22 SGK GV cho HS quan sát bảng các kiểu dinh dƣỡng của VSV để so sánh giữa các kiểu dinh dƣỡng về tiêu chí phân loại cũng như các đại diện của chúng Đồng thời GV hướng dẫn HS xác định mối quan hệ của các phần trong SGK bằng những câu dẫn tạo mối quan hệ
Xác định hoạt động làm việc với SGK Để đạt đƣợc mục tiêu dạy học đã xác định, HS phải thực hiện các hoạt động học tập dưới sự hướng dẫn, tổ chức, điều khiển của GV trong đó có các hoạt động làm việc với SGK
- Nếu nội dung trình bày trong SGK là kênh chữ thì GV phải tổ chức hoạt động: tìm ý chính, tóm tắt, lập dàn ý, lập sơ đồ, lập bảng…Nghĩa là chúng ta phải buộc HS thu nhận và xử lý thông tin ban đầu bằng các thao tác tƣ duy và diễn đạt kết quả đó thành các dạng khác nhau
- Nếu nội dung trình bày trong SGK là kênh hình thì GV phải tổ chức HS khai thác thông tin trong kênh hình đó, đó là các hoạt động khai thác thông tin từ tranh ảnh, khai thác thông tin từ sơ đồ, đồ thị
Thiết kế câu hỏi, bài tập
CH, BT được mã hóa từ nội dung dạy học đã xác định ở bước 2 nhằm đạt mục tiêu dạy học đã xác định ở bước 1 CH, BT phải đảm bảo yêu cầu sau: CH,
BT là biện pháp đòng thời định hướng cho hoạt động làm việc với SGK của HS Mỗi hoạt động làm việc với SGK sẽ có 1 hoặc một vài CH, BT tương ứng
Lập kế hoạch tổ chức hoạt động
- Xác định thời điểm HS thực hiện hoạt động: thực hiện ở lớp hay ở nhà, trước, trong hay sau khi lên lớp?
- Sắp xếp các hoạt động làm việc với SGK của HS phù hợp với logic nhận thức, logic khoa học của nội dung học tập
- Dự kiến thời gian dành cho từng hoạt động
2.2.2 Giai đoạn tổ chức cho học sinh hoạt động làm việc với SGK
GV định hướng học sinh hoạt động bằng cách thực hiện các công việc sau:
- Giới thiệu mục tiêu của hoạt động
- Giao hệ thống CH, BT đã thiết kế cho HS và hướng dẫn thực hiện
- Thông báo các yêu cầu khác cho HS biết hình thức tổ chức, cách thức trình bày
HS tự định hướng qúa trình hoạt động làm việc với SGK
HS chuyển định hướng của GV sang nội dung tự định hướng cho cá nhân Hành động này nhằm tránh sự hình thức, cảm tính trong quá trình thực hiện các hoạt động làm việc với SGK Bước này yêu cầu HS phải:
- Xác định hoạt dộng phải thực hiện
- Xác định mục tiêu của hoạt độngác định nội dung SGK cần khai thác, thu nhận, xử lý, để đạt đƣợc mục tiêu đó
- Xác định kế hoạch thực hiện
Kết quả: Hình thành đƣợc bản kế hoạch làm việc với SGK của HS
HS làm việc với SGK
GV: trong bước này hoạt động của GV được ẩn đi vì các nội dung định hướng ở bước 1 đã được HS chuyển sang nội dung tự định hướng cho việc tự nghiên cứu ở bước này, dù rằng vai trò của GV vẫn là hướng dẫn, định hướng hoạt động của HS Do đó bước này là do HS tự làm việc với SGK
HS: Tự nghiên cứu, HS tự lực làm việc với SGK để thực hiện các hoạt động đã được GV định hướng Đây là quá trình nhận thức, phương pháp học thông qua con đường thu nhận, xử lý và thu nhận thông tin HS phải thực hiện các hoạt động theo các bước tương ứng dành cho từng loại hoạt động mà HS đã biết Mỗi loại hoạt động có các bước thực hiện riêng
Kết quả: Kết quả làm việc với SGK của cá nhân HS Đó là tri thức và kĩ năng mang tính cá nhân
GV: tổ chức điều khiển hoạt động thảo luận cho HS Ở đây GV là người đóng vai trò tổ chức đồng thời là người trọng tài, cố vấn cho hoạt động học tập, hợp tác của HS theo đúng mục tiêu
HS: tự thể hiện kết quả hoạt động cá nhân và hoạt động với tập thể nhóm, lớp Quá trình này diễn ra theo các bước:
- Cá nhân trình bày sản phẩm và cách làm ra sản phẩm
- Thảo luận giữa các HS trong nhóm
- Thảo luận của HS toàn lớp
Các nguyên tắc rèn luyện kĩ năng làm việc với sách giáo khoa
Mục tiêu dạy học là sự diễn đạt của mục đích Mỗi một phần, một chương đều có mục tiêu chung, các mục tiêu đó đƣợc cụ thể hơn nữa trong mỗi bài học và cái cụ thể hơn nữa là mục tiêu cho từng mục trong bài mức độ cụ thể của mục tiêu phụ thuộc lớn vào nội dung bài học
Xét trong cấu trúc hệ thống mục tiêu là một yếu tố đơn vị trong hệ thống của quá trình dạy học gồm: mục tiêu, phương pháp, nội dung, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học, kiểm tra đánh giá Trong đó mối quan hệ giữa mục tiêu, phương pháp và nội dung dạy học là vấn đề đầu tiên và có ý nghĩa quyết định đối với việc xây dựng và sử dụng phương pháp dạy học
Với quan điểm đó, khi tổ chức cho HS làm việc với SGK trong dạy học Sinh học chúng tôi xem việc quán triệt mục tiêu dạy học là nguyên tắc đầu tiên
Vì xét cho cùng thì mọi hoạt động dạy học đều xuất phát từ mục tiêu dạy học và nhằm đạt mục tiêu dạy học Trong nghiên cứu của chúng tôi, ngoài mục tiêu nhận thức và mục tiêu tình cảm của quá trình dạy học, chúng tôi đặc biệt coi trọng mục tiêu kĩ năng hoạt động đặc biệt là kĩ năng làm việc với SGK Sinh học
2.3.2 Bổ sung thêm tài liệu tham khảo để tăng cường nhận thức của HS
Trong dạy học hiện đại, ngoài SGK cần cung cấp thêm cho HS các nguồn thông tin khác phục vụ cho công việc học Nhƣng nguồn thông tin chủ yếu trong dạy học Sinh học ở THPT hiện nay là SGK Muốn hình thành và phát triển kĩ năng làm việc với các nguồn thông tin khác thì trước hết ngay trong nhà trường phải rèn luyện kĩ năng làm việc với SGK Đó vừa là đối tượng vừa là phương tiện để GV tổ chức hoạt động học tập của HS Vì vậy, để dạy học hiệu quả cần ƣu tiên tổ chức HS hoạt động với SGK trong suốt quá trình dạy học SGK là nguồn thông tin chính, tuy nhiên trong một số trường hợp khi dạy học GV có thể tổ chức HS sử dụng, khai thác thông tin bổ sung để phục vụ hoạt động học tập một cách hợp lí và hiệu quả
2.3.3 Đảm bảo hình thành kĩ năng làm việc với SGK tương ứng với hoạt động đã tổ chức
Bên cạnh tổ chức HS tực hiện các hoạt động làm việc với SGK để lĩnh hội tri thức cần phải có biện pháp để HS biết cách thực hiện các hoạt động Nghĩa là khi tổ chức cho HS thực hiện hoạt động học tập nào đó đều phải đồng thời lĩnh hội được tri thức và kĩ năng học tập tương ứng Như khi tổ chức HS khái quát hóa nội dung học tập từ SGK thành sơ đồ, ngoài việc lĩnh hội tri thức từ quá trình khái quát đó còn phải hình thành cho học sinh kĩ năng lập sơ đồ Đây là vấn đề cốt lõi của việc dạy học Bởi vì khi HS nắm đƣợc kĩ năng, chủ động thao tác đƣợc nó thì có thể thực hiện việc học một cách tối ƣu Nhiệm vụ của GV không chỉ tổ chức các hoạt động làm việc với SGK mà còn hướng dẫn, chỉ dẫn cho HS quy trình các thao tác để thực hiện hoạt động đó hiệu quả hơn Đó chính là biện pháp hình thành và rèn luyện kĩ năng làm việc với SGK
2.3.4 Đảm bảo phát huy tính tích cực và tăng cường hoạt động tự lực của HS
Tổ chức hoạt động học tập của HS dựa trên quan điểm học tập trong hoạt động Muốn kết quả mang lại hiệu quả học tập cao thì bản thân người học phải tích cực, chủ động và sáng tạo trong quá trình hoạt động Phương pháp làm việc với SGK là HS trực tiếp làm việc với SGK dưới sự hướng dẫn, tổ chức điều khiển của GV Do đó, GV không để HS làm việc với SGK một cách thụ động, thiếu hứng thú hay quá hình thức GV phải kích thích, tạo động cơ để HS tự lực tìm kiếm, khám phá tri thức từ SGK một cách chủ động, sáng tạo Các hoạt động luôn đặt HS vào tình huống có vấn đề tạo những mâu thuẫn trong nhận thức, kích thích HS hoạt động để giải quyết vấn đề, lĩnh hội tri thức và kĩ năng học tập tương ứng
2.3.5 Kết hợp hài hòa giữa phương pháp làm việc với SGK với các phương pháp dạy học khác một cách hiệu quả
Quá trình dạy học là sự vận động của cả hệ thống bao gồm các yếu tố: mục tiêu, nội dung, phương tiện dạy học, phương pháp dạy học Trong một bài dạy học không đơn thuần sử dụng một phương pháp dạy học duy nhất, mà tùy theo mục tiêu, đặc điểm nội dung, đối tượng dạy học để ưu tiên sử dụng phương pháp nào đó cùng với các phương pháp khác Vì vậy, trong khi tổ chức HS làm việc với SGK, nếu có sử dụng phương pháp dạy học khác thì GV phải xác định cách kết hợp hài hòa nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng phương pháp làm việc với SGK để nâng cao hiệu quả dạy học.
Các biện pháp rèn luyện kỹ năng làm việc với sách giáo khoa
2.4.1 Sử dụng câu hỏi - bài tập
Hỏi: Là nêu ra điều mình muốn người khác trả lời về một vấn đề nào đó
CH: Theo Aristotle – người đầu tiên phân tích CH dưới góc độ logic: “CH là một mệnh đề trong đó chứa đựng cả cái đã biết và cái chƣa biết CH đó là những bài làm mà khi hoàn thành chúng, HS phải tiến hành hoạt động tái hiện, bất luận là trả lời miệng, trả lời viết hoặc có kèm theo thực hành hoặc xác minh bằng thực nghiệm” [7]
Theo GS Trần Bá Hoành: CH kích thích tư duy tích cực là CH đặt ra trước
HS một nhiệm vụ nhận thức, khích lệ và đòi hỏi họ cố gắng trí tuệ cao nhất, tự lực tìm ra câu trả lời bằng cách vận dụng các thao tác tƣ duy so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá qua đó lĩnh hội kiến thức mới và được tập dượt phương pháp nghiên cứu, phương pháp giải quyết vấn đề có được niềm vui của sự khám phá [9]
Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (2000) thì BT là bài ra cho
HS làm để vận dụng những điều đã học đƣợc [8]
Theo Nguyễn Ngọc Quang: BT là bài ra cho HS làm để vận dụng những điều đã học nhằm hình thành kiến thức mới, củng cố, hoàn thiện nâng cao kiến thức đã học
Theo các nhà LLDH Liên Xô cũ thì BT là một dạng gồm những bài toán, những CH hoặc đồng thời cả bài toán hoặc CH mà trong khi hoàn thành chúng
HS nắm đƣợc một tri thức mới hay một kĩ năng nhất định hoặc hoàn thiện chúng Khái niệm bài toán ở đây đƣợc coi là một dạng BT đó là BT định lƣợng Trong Sinh học, ở nước ta thường dùng khái niệm BT trong đó có BT định lượng và BT định tính
Có thể khái quát một số ý nghĩa cơ bản thể hiện vai trò của CH, BT nhƣ sau:
+ CH, BT là phương tiện để mã hoá nội dung DH nói chung và mã hoá nội dung SGK nói riêng, biến nội dung đƣợc mô tả sang dạng nêu những điều kiện đã biết và điều cần tìm mà hoạt động tìm câu trả lời là hoạt động “giải mã” Khi đó chúng là nguồn động lực tạo ra tri thức mới, có nghĩa là động lực cho quá trình “giải mã”
+ CH, BT có tác dụng kích thích định hướng nhận thức tri thức mới, phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo trong học tập của HS, khắc phục lối DH truyền thụ một chiều
+ CH, BT giúp HS tự lĩnh hội đƣợc kiến thức một cách có hệ thống
+ CH, BT là phương tiện để rèn luyện kĩ năng làm việc với SGK và các nguồn tài liệu khác CH, BT có vai trò định hướng nghiên cứu tài liệu, SGK Lúc này SGK đóng vai trò là nguồn tƣ liệu để HS phân tích và tìm lời giải; HS tìm đƣợc lời giải chính là đã tự tìm ra kiến thức mới
+ CH, BT là công cụ để phát triển các thao tác tƣ duy Khi tìm lời giải, người học phải phân tích, xác định mối quan hệ, so sánh, đối chiếu những điều đã cho và những điều cần tìm, đòi hỏi phải suy luận logic, người học phải luôn luôn suy nghĩ, do đó tƣ duy đƣợc phát triển
+ CH, BT giúp củng cố, hoàn thiện kiến thức một cách có hệ thống
+ CH, BT giúp kiểm tra đánh giá và tự đánh giá mức độ nắm vững kiến thức cho HS
Như vậy, CH, BT vừa là nội dung, vừa là phương tiện, phương pháp, biện pháp tổ chức quá trình DH, giúp kiểm tra đánh giá kết quả đạt đƣợc của mục tiêu và điều chỉnh quá trình tiến tới mục tiêu DH Vì CH, BT có thể cấu tạo một cách linh hoạt bằng việc thêm bớt các điều kiện nên có thể áp dụng một cách mềm dẻo với từng đối tƣợng HS, với các mức độ nhận thức khác nhau Điều này cho phép cá thể hoá việc học một cách tối ưu, tạo điều kiện cho HS tự học và rèn luyện phương pháp học, phương pháp nghiên cứu khoa học Để hướng dẫn HS rèn luyện KN làm việc với SGK thì CH, BT cần được thiết kế cho mỗi khâu trong quá trình DH Trong giới hạn của luận văn, tác giả sẽ chỉ tập trung chủ yếu vào các CH, BT sử dụng trong khâu nghiên cứu SGK để hình thành kiến thức mới Các CH, BT sử dụng trong khâu này đƣợc lựa chọn theo những tiêu chuẩn sau:
+ Mỗi CH, BT phải định hướng rõ vấn đề cần nghiên cứu mà nội dung tri thức có ở SGK, ví dụ nhƣ yêu cầu HS nghiên cứu sự vật, hiện tƣợng, cơ chế, quá trình nào đó đƣợc trình bày ở một bài, một mục có trong SGK
+ Mỗi CH, BT phải nêu ra đƣợc nhiệm vụ cần giải quyết nhƣ tìm hiểu thông tin, lập bảng so sánh, tổng hợp, khái quát hoá kiến thức…
+ Mỗi CH, BT phải chứa đựng cách thức tổ chức các hoạt động tự lực của
HS khi làm việc với SGK, để khi HS trả lời CH, BT sẽ hình thành và phát triển các KN làm việc với SGK
+ Mỗi CH, BT phải hàm chứa một lƣợng kiến thức để khi tổ chức HS trả lời
CH hoặc giải BT sẽ lĩnh hội đƣợc kiến thức mới có hệ thống theo mục tiêu bài học
+ Các CH, BT phải đƣợc sắp xếp có hệ thống, trong đó những CH, BT nêu ra một vấn đề lớn có tính khái quát đƣợc đƣa ra đầu tiên, sau đó là các CH, BT nêu ra các gợi ý, hướng dẫn nhằm giải quyết từng phần nhiệm vụ của CH, BT lớn
*Ví dụ 1: Sử dụng CH, BT để rèn luyện KN tìm ý chính, bản chất từ nội dung đọc đƣợc từ SGK
1 GV giao CH, BT cho HS, từng HS tự nghiên cứu SGK ở nhà để hoàn thành CH, BT và đề xuất thắc mắc dưới dạng các CH
2 GV tổ chức cho HS thảo luận nhóm hoặc thảo luận trên toàn lớp để thống nhất phương án trả lời CH, BT; giải quyết thắc mắc cá nhân và chỉ ra các vấn đề chƣa giải quyết đƣợc cần có sự hỗ trợ của GV
3 GV hướng dẫn, chỉ đạo giải quyết các vấn đề còn tranh luận bằng cách ra thêm các CH định hướng hoặc các tài liệu bổ sung cho HS nghiên cứu.GV hướng dẫn HS rút ra kết luận, chính xác hoá kiến thức.
4 Vận dụng kiến thức mới thu nhận đƣợc
Khi dạy bài 25 mục II.1- Nuôi cấy không liên tục GV yêu cầu HS tự lực nghiên cứu thông tin SGK trang 100 và tách nội dung chính, bản chất Để rèn luyện KN này cho HS GV cần định hướng bằng các câu hỏi sau:
+ Môi trường nuôi cấy không liên tục là gì?
+ Đường cong sinh trưởng của quần thể vi khuẩn trong nuôi cấy không liên tục gồm mấy pha? Đó là những pha nào?
+ Đặc điểm của mỗi pha trong nuôi cấy không liên tục là gì?
+ Tại sao trong môi trường đất, nước thì pha Log không xảy ra?
+ Để thu đƣợc số lƣợng vi sinh vật tối đa thì nên dừng ở pha nào?