TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH LÊ THỊ THANH ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ MẶN, MẬT ĐỘ VÀ NỀN ĐÁY ĐẾN TỶ LỆ SỐNG VÀ SINH TRƯỞNG CỦA NGHÊU BẾN TRE Meretrix lyrata TỪ GIAI ĐOẠN GIỐNG CẤP 1 LÊN GIAI ĐOẠN GIỐNG C
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THỊ THANH
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ MẶN, MẬT ĐỘ VÀ NỀN ĐÁY ĐẾN TỶ LỆ SỐNG VÀ SINH TRƯỞNG CỦA NGHÊU
BẾN TRE (Meretrix lyrata) TỪ GIAI ĐOẠN GIỐNG
CẤP 1 LÊN GIAI ĐOẠN GIỐNG CẤP 2
TRONG ĐIỀU KIỆN SẢN XUẤT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
NGHỆ AN – 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THỊ THANH
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ MẶN, MẬT ĐỘ VÀ NỀN ĐÁY ĐẾN TỶ LỆ SỐNG VÀ SINH TRƯỞNG CỦA NGHÊU
BẾN TRE (Meretrix lyrata) TỪ GIAI ĐOẠN GIỐNG
CẤP 1 LÊN GIAI ĐOẠN GIỐNG CẤP 2
TRONG ĐIỀU KIỆN SẢN XUẤT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Nuôi trồng thủy sản
Mã số: 60 62 03 01
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Văn Khôi
NGHỆ AN - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn Thạc sỹ “Ảnh hưởng của độ mặn, mật độ và nền đáy đến tỷ
lệ sống và sinh trưởng của nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata) từ giai đoạn
giống cấp 1 lên giống cấp 2 trong điều kiện sản xuất”, chuyên ngành nuôi trồng thủy sản là của riêng tôi Luận văn đã sử dụng thông tin từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, các thông tin có sẵn đã được trích rõ nguồn gốc
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu đã có được trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học
vị nào Mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn
và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được trích rõ nguồn gốc
Nghệ An, ngày 16 tháng 9 năm 2014
Tác giả
Lê Thị Thanh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp
đỡ của các tập thể, cá nhân Từ đáy lòng mình, tôi xin trân trọng cảm ơn những giúp đỡ quý báu đó:
Lời đầu tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn tới Lãnh đạo khoa Nông Lâm Ngư, Phòng đào tạo sau Đại học của Trường Đại học Vinh, Ban Lãnh đạo Phân Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản Bắc Trung Bộ, đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khoá học
Tôi xin trân trọng cảm ơn tới TS Lê Văn Khôi, người hướng dẫn khoa học, đã định hướng trong nghiên cứu, từ việc lập đề cương đến triển khai các thí nghiệm và hoàn thiện bản luận văn
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình triển khai thí nghiệm nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn
Nghệ An, ngày 16 tháng 09 năm 2014
Tác giả
Lê Thị Thanh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 T NG QUAN NGHI N CỨU 3
1.1 Đặc điểm sinh học của nghêu Bến Tre 3
1.1.1 Hệ thống phân loại 3
1.1.2 Sự phân bố của nghêu 3
1.1.3 Đ c điểm dinh dưỡng 4
1.1.4 Đ c điểm sinh trưởng 5
1.1.5 Sự phát triển của hệ thống tuyến sinh dục và sinh sản 6
1.1.6 Sự phát triển của phôi và ấu trùng 6
1.2 T nh h nh nghiên cứu về nhuy n thể hai mảnh v 8
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 8
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 17
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHI N CỨU 27
2.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 27
2.3 Phương pháp nghiên cứu 27
2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 27
2.3.2 Phương pháp xác định số liệu 31
2.3.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 31
Trang 6Chương 3 KẾT QUẢ NGHI N CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Ảnh hưởng của các độ mặn khác nhau đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của nghêu ở giai đoạn giống cấp 1 lên cấp 2 33
3.1.1 Các yếu tố môi trường trong thí nghiệm 33
3.1.2 Ảnh hưởng của độ m n đến tốc độ tăng trưởng của nghêu ở giai đoạn giống cấp 1 lên cấp 2 34
3.1.3 Ảnh hưởng của độ m n đến tỷ lệ sống của nghêu ở giai đoạn giống cấp 1 lên cấp 2 38
3.2 Ảnh hưởng của mật độ ương đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của nghêu ở giai đoạn giống cấp 1 lên cấp 2 40
3.2.1 Các yếu tố môi trường trong thí nghiệm 40
3.2.2 Ảnh hưởng của mật độ đến tốc độ tăng trưởng của nghêu 41
3.2.3 Ảnh hưởng của mật độ ương đến tỷ lệ sống của nghêu 44
3.3 Ảnh hưởng của nền đáy đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của nghêu ở giai đoạn giống cấp 1 lên cấp 2 46
3.3.1 Các yếu tố môi trường trong thí nghiệm 46
3.3.2 Ảnh hưởng của nền đáy đến tốc độ tăng trưởng của nghêu 47
3.3.3 Ảnh hưởng của nền đáy đến tỷ lệ sống của nghêu 49
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
Trang 7DANH MỤC KÍ HIỆU - VIẾT TẮT
ANOVA : Phân tích phương sai
AG : Tăng trưởng tuyệt đối
Trang 8của nghêu Bến tre giai đoạn giống cấp 1 lên giống cấp 2 41 Bảng 3.7 Ảnh hưởng của mật độ đến tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều
cao của nghêu Bến Tre giai đoạn giống cấp 1 lên giống cấp 2 43 Bảng 3.8 Ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống của nghêu Bến Tre giai
đoạn ương giống cấp 1 lên giai đoạn giống cấp 2 45 Bảng 3.9 Kết quả theo dõi các yếu tố môi trường trong thí nghiệm 46 Bảng 3.10 Ảnh hưởng của nền đáy đến tăng trưởng chiều cao của nghêu Bến
Tre giai đoạn ương giống cấp 1 lên giai đoạn giống cấp 2 47 Bảng 3.11 Ảnh hưởng của nền đáy đến tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều
cao của nghêu Bến Tre giai đoạn giống cấp 1 lên giống cấp 2 49 Bảng 3.12 Ảnh hưởng của nền đáy đến tỷ lệ sống của nghêu Bến Tre giai
đoạn ương giống cấp 1 lên giống cấp 2 50
Trang 9DANH MỤC HÌNH
H nh 1.1 Nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata, Sowerby 1851) 3
H nh 1.2 Các giai đoạn phát triển của Nghêu Bến Tre 7
H nh 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 27
Hình 2.2 Ảnh các xô pha nước dùng bố trí thí nghiệm 30
H nh 2.3 Đo kích thước nghêu 31
Hình 3.1 Ảnh hưởng của độ mặn đến tốc độ tăng trưởng chiều cao của nghêu Bến Tre giai đoạn giống cấp 1 đến giai đoạn giống cấp 2 35
Hình 3.2 Ảnh hưởng của độ mặn đến tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều cao của nghêu Bến Tre 37
H nh 3.3 Ảnh hưởng của độ mặn đến tỷ lệ sống của nghêu Bến tre giai đoạn giống cấp 1 lên giai đoạn giống cấp 2 39
Hình 3.4 Ảnh hưởng của mật độ ương đến tốc độ tăng trưởng chiều cao của nghêu Bến tre giai đoạn giống cấp 1 lên giống cấp 2 42
Hình 3.5 Ảnh hưởng của mật độ đến tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều cao của nghêu Bến Tre giai đoạn giống cấp 1 lên giống cấp 2 44
H nh 3.6 Ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống của nghêu Bến Tre giai đoạn ương giống cấp 1 lên giai đoạn giống cấp 2 46
Hình 3.7 Ảnh hưởng của nền đáy đến tăng trưởng chiều cao của nghêu Bến Tre giai đoạn ương giống cấp 1 lên giai đoạn giống cấp 2 48
Hình 3.8 Ảnh hưởng của nền đáy đến tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều cao của nghêu Bến Tre giai đoạn giống cấp 1 lên giống cấp 2 49
H nh 3.9 Ảnh hưởng của nền đáy đến tỷ lệ sống của nghêu Bến Tre giai đoạn ương giống cấp 1 lên giống cấp 2 50
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghêu Bến Tre (Meretrix lyrataSowerby, 1851) là đối tượng có giá trị
kinh tế cao do có thị trường xuất kh u và tiêu thụ nội địa khá lớn Kỹ thuật nuôi nghêu đơn giản, phù hợp với tr nh độ canh tác của người dân nên được xem là đối tượng nuôi trồng thủy sản chủ lực của nhiều địa phương ven biển Đến nay, diện tích nuôi nghêu ngao trên cả nước là 17.722 ha, sản lượng ước đạt 86.031 tấn [29] Trước xu thế phát triển và áp lực về nhu c u con giống ngày càng tăng cao nên t nh trạng khan hiếm con giống đã di n ra ở h u hết các địa phương có nghề nuôi nghêu phát triển, là yếu tố không bền vững đối với nghề nuôi nghêu
Ở Việt Nam, quy tr nh công nghệ sản xuất giống nghêu Bến Tre
(Meretrix lyrata Sowerby, 1851) mặc dù đã được nghiên cứu và bước đ u
thành công từ năm 2003, mở ra triển vọng trong việc phát triển nghề nuôi từng bước ổn định Tuy nhiên, quy tr nh công nghệ sản xuất giống hiện tại vẫn chưa ổn định và còn những tồn tại, hạn chế, c n có thêm đ u tư nghiên cứu, hoàn thiện Trong đó, giai đoạn ương con giống cấp 1 thành con giống cấp 2 có ý nghĩa rất quan trọng trong quá tr nh sản xuất giống và nuôi thương
ph m, nhưng đến nay chưa có nghiên cứu chi tiết nào về ương nuôi ở giai đoạn này Nghiên cứu về ảnh hưởng của mật độ ương và cấu trúc nền đáy đến
tỷ lệ sống và sinh trưởng ấu trùng nghêu Bến Tre được Chu Chí Thiết và Nguy n Thị Kim Anh (2012) tiến hành ở giai đoạn ấu trùng bơi tự do (D-Veliger) đến giai đoạn sau biến thái (post-metamorphosis) hoặc nghiên cứu của Ngô Thị Thu Thảo và Lâm Thị Quang Mẫn (2012) về ảnh hưởng độ mặn
và thời gian phơi bãi đến sinh trưởng của tỷ lệ sống của nghêu ở hai kích cỡ
14 mm và 24 mm [10] Do vậy, nghiên cứu t m ra độ mặn, mật độ, nền đáy phù hợp cho việc ương nghêu giống cấp 1 lên giống cấp 2 không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học, mà còn có ý nghĩa thực ti n rất lớn
Xuất phát từ nhu c u thực tế, nghiên cứu “Ảnh hưởng của độ mặn, mật độ và nền đáy đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của nghêu Bến Tre
(Meretrix lyrata Sowerby, 1851) từ giai đoạn giống cấp 1 lên giống cấp 2
trong điều kiện sản xuất” được đặt ra, góp ph n hoàn thiện quy tr nh công
nghệ sản xuất giống nghêu Bến tre và ổn định nghề nuôi nghêu thương ph m
ở Việt Nam
Trang 111 Mục tiêu nghiên cứu:
- Xác định được độ mặn, mật độ và nền đáy phù hợp để ương nghêu
Bến Tre (Meretrix lyrata Sowerby, 1851) từ giai đoạn giống cấp 1 lên giai
đoạn giống cấp 2
2 Nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các độ mặn khác nhau đến tỷ lệ sống và tăng trưởng của nghêu Bến Tre ương từ cấp 1 lên con giống cấp 2
- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương nghêu đến tỷ lệ sống và tăng trưởng của nghêu Bến Tre giống cấp 1 lên con giống cấp 2
- Ảnh hưởng của cấu trúc nền đáy đến đến tỷ lệ sống và tăng trưởng nghêu Bến Tre ương từ giai đoạn giống cấp 1 lên cấp 2
- Theo dõi một số yếu tố môi trường Nhiệt độ, Oxy hòa tan và pH trong các bể thí nghiệm
3 Giới hạn nghiên cứu:
Nghiên cứu được tiến hành ở kích cỡ nghêu giống cấp 1 (từ 0,8 đến 1,0mm) đến nghêu giống cấp 2 (ở kích cỡ từ 1,8 đến 2,0 mm) Các thí nghiệm trong nghiên cứu được thực hiện đồng thời do mùa vụ con giống ngắn và các hạn chế về thức ăn (tảo tươi) và trang thiết bị không cho phép
Trang 12Chương 1
T NG QUAN NGHIÊN CỨU TÀI LIỆU
1.1 Đặc điểm sinh h c của Nghêu Bến Tre
Loài: (Meretrix lyrata Sowerby, 1851)
Hình 1.1 Nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata, Sowerby 1851)
1.1.2 Sự phân bố của nghêu
Nghêu Bến Tre (M lyrata Sowerby, 1851) là loài động vật thâm mềm
nhiệt đới, phân bố phía Tây Thái B nh Dương từ Đài Loan đến Việt Nam, ở vùng có biên độ dao động lớn về độ muối (0÷34 0
/00) và nhiệt độ (15÷32 0
C) Theo nền đáy, nghêu phân bố tự nhiên ở vùng triều, từ vùng cao triều tới vùng triều dưới, nơi có nền đáy là cát và cát pha bùn (20% bùn và 80% cát) [6]
Ở Việt Nam, nghêu (Meretrix lyrata Sowerby, 1851) phân bố tự nhiên
chủ yếu ở vùng biển Nam bộ, thuộc các tỉnh như: Tiền Giang, Bến Tre, Trà
Trang 13Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau Vùng có sản lượng khai thác tự nhiên lớn nhất tập trung ở hai tỉnh Tiền Giang và Bến Tre [4], [6] Tuy nhiên, do sự
di chuyển giống của người nuôi, nên nghêu đã được di nhập và thích nghi tốt
trong điều kiện khí hậu miền Bắc V thế, vùng phân bố của nghêu M lyrata
đã được mở rộng trên h u khắp các bãi triều cửa sông ven biển Việt Nam
1.1.3 c i dinh d ng
Theo Nguy n Hữu Phụng (1996), khi nghiên cứu về đặc điểm sinh
học và kỹ thuật ương nuôi nghêu M lyrata đã phân tích được thành ph n
thức ăn chính của nghêu ở vùng Trà Vinh là mùn bã hữu cơ chiếm từ 75÷90%, tảo chiếm từ 10÷25% Trong thành ph n tảo th tảo silic chiếm 90÷95%, tảo giáp chiếm 3,3÷ 6,6%, còn lại là tảo lam, tảo lục, tảo vàng ánh chiếm 0,8÷1% [4]
Kết quả nghiên cứu của Trương Quốc Phú (1999) khi nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh hoá và kỹ thuật nuôi nghêu đã xác định được thành
ph n thức ăn trong dạ dày nghêu tại vùng biển Tân Thành cũng cho thấy hàm lượng mùn bã hữu cơ, chiếm 78,82÷90,38%, thực vật phù du chiếm tỷ lệ 9,62÷21,18%, với 44 loài khác nhau Trong thành ph n tảo, đa số là tảo silic Bacillariophyta (chiếm 93,18%) với một số giống thường gặp là Coscinodiscus, Cycltella, Nitzschia,… tảo giáp chiếm 2,27% và tảo lam chiếm 4,55% Tác giả này lý giải rằng, trên các bãi nghêu do tác động của sóng nền đáy bị khuấy động, phù sa từ các cửa sông đổ ra làm trong nước có nhiều mùn bã hữu cơ, vật chất lơ lửng, độ trong của nước thấp, tảo kém phát triển Chính v vậy mà thức ăn của nghêu ph n nhiều là mùn bã hữu cơ [6]
Nghêu bắt mồi chọn lọc theo kích cỡ hạt thức ăn Những hạt thức ăn quá to, những loài tảo có kích thước lớn, dạng sợi th nghêu khó bắt được
Cỡ hạt thức ăn mà nhóm Bivalvia có thể bắt được là 10÷100 μm [24] Kết quả phân tích cũng cho thấy nghêu bắt được hạt thức ăn cỡ tối đa là 150
μm Khi phân tích thành ph n động vật phù du, Trương Quốc Phú (1999)
Trang 14không t m thấy bất cứ nhóm nào trong dạ dày nghêu ngoại trừ tảo Tintinnopsis Có thể do Tintinnopsis có kích thước nh nên nghêu có thể bắt được, tuy nhiên t n suất xuất hiện của nhóm này rất thấp [6]
Trương Quốc Phú (1999), nghêu có tốc độ sinh trưởng khối lượng tương đối nhanh hơn tốc độ sinh trưởng chiều dài, đồng thời mối quan hệ chiều dài và khối lượng tương quan nhau rất chặt chẽ Nghêu là loài sinh trưởng cả v lẫn ph n thân mềm đồng thời nhau trong suốt quá tr nh sống của chúng Tốc độ sinh trưởng nghêu thay đổi theo mùa: sinh trưởng nhanh vào tháng 5÷9, sinh trưởng chậm vào tháng 10÷4 năm sau Nhân tố chính ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng là độ mặn, nhiệt độ, sóng gió và hàm lượng chất lơ lửng trong nước [6]
Nghêu sinh trưởng tốt nhất ở độ mặn 16÷25 0
/00 Bên cạnh đó, nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến sinh trưởng của nghêu, chúng thường sinh trưởng nhanh
ở nhiệt độ khoảng 23÷28 0C V vậy, việc thả giống c n lưu ý đến mùa vụ, thông thường được tiến hành vào tháng 8, 9 hoặc tháng 4 Nghêu thường sinh trưởng rất chậm vào mùa Đông, khi nhiệt độ xuống thấp Cá thể nghêu trưởng thành có thể chịu đựng được ở nhiệt độ cao, thậm chí đến 37 0
C [14]
Theo Jack và cs (2005), các loài nghêu khác nhau, phân bố ở ngoài môi trường tự nhiên hay trong môi trường nuôi dưỡng th có tốc độ sinh trưởng khác nhau Thời gian c n thiết để nghêu đạt kích thước thương ph m là một yếu tố giới hạn quan trọng trong nuôi thương ph m Một số loài nghêu có tốc
độ sinh trưởng tối đa đạt kích cỡ thương ph m trong 12 đến 24 tháng, th trong 10 đến 16 tháng đ u chúng sinh trưởng nhanh hơn, có thể đạt gấp 2 l n kích cỡ so với loài nghêu sinh trưởng chậm Tốc độ sinh trưởng có thể bị ảnh hưởng bởi kiểu gen hoặc yếu tố di truyền Ngoài ra, các yếu tố môi trường như nhiệt độ nước, thức ăn, độ mặn, chất lượng nước và chế độ thuỷ triều cũng ảnh hưởng tới tốc độ sinh trưởng của nghêu [22]
Trang 151.1.5 Sự phát tri n của hệ thống tuyến sinh dục và sinh sản
Nghêu Bến Tre (M lyrata) là loài phân tính, nhưng không phân biệt
được cá thể đực cái thông qua h nh dáng ngoài Có một tỷ lệ nh ngao trong qu n thể phát hiện là lưỡng tính Tuyến sinh dục chỉ phát triển mạnh trong mùa vụ sinh sản Xác định giới tính của ngao chỉ có thể được phân biệt bằng mắt thường sau khi mở v , ở giai đoạn thành thục nghêu đực có màu trắng sữa, nghêu cái có màu vàng nhạt Tuy nhiên, kiểm tra bằng kính hiển vi mới có thể khẳng định chính xác giới tính của ngao [6]
Sự thành thục sinh dục của nghêu tuỳ thuộc vào độ tuổi, kích thước
và địa lý phân bố Nghêu đạt kích thước khoảng 500 mm sẽ bắt đ u thành thục sinh dục và sau 12 tháng nuôi có thể tham gia sinh sản l n đ u Mùa
vụ sinh sản tự nhiên của nghêu di n ra vào thời gian cuối mùa Xuân tới hết mùa Hè (từ tháng 4 đến tháng 9) [6] Theo Quayle và Newkirk (1989) việc thay đổi một vài yếu tố môi trường như nhiệt độ nước, độ mặn sẽ kích thích
sự chín sinh dục của các loài nhuy n thể nói chung, trong đó có nghêu Vào mùa Xuân, khi nhiệt độ nước bắt đ u ấm d n lên, nó kích thích sự phát triển của buồng trứng [24]
1.1.6 Sự phát tri n của phôi và ấu trùng
Theo Jack và cs (2005), trứng trải qua thời kỳ phân chia giảm phân sau khi thụ tinh h nh thành hợp tử Cực động vật xuất hiện, tế bào bắt đ u phân chia trong vòng 30 phút sau khi thụ tinh [22]
Trứng và tinh trùng được phóng ra từ nghêu bố mẹ vào trong nước Thông thường, trong một qu n thể, nghêu đực phóng tinh trước, nó đóng vai trò giống hormon kích thích sự rụng trứng của nghêu cái Thời gian thụ tinh tiến hành trong nước Phôi xuất hiện 30 phút sau khi thụ tinh, phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường xung quanh Phân chia tế bào được tiến hành trong thời gian 24 giờ trước khi chuyển sang giai đoạn ấu trùng chữ
“D” - đỉnh v thẳng Ấu trùng nghêu trải qua giai đoạn phù du (giai đoạn
Trang 16bơi tự do) khoảng 8 đến 10 ngày, phụ thuộc vào nguồn thức ăn và nhiệt độ nước, trở thành ấu trùng xuống đáy [22]
Hình 1.2 Các giai đoạn phát triển của Nghêu Bến Tre
Ấu trùng hoàn thành giai đoạn biến thái trở thành nghêu giống với
h nh dạng tương tự nghêu trưởng thành, kích thước đạt 1 mm - nghêu cám hay nghêu giống cấp 1 (25÷30 ngày sau thụ tinh) và kích thước 2mm - giống cấp 2 (55÷60 ngày sau thụ tinh) [22]
Ấu thể nghêu lớn lên thành “nghêu cám” bé bằng nửa hạt gạo, v
m ng, dẹp, nặng 0,04÷0,07 g/con (15.000÷25.000 con kg) vùi sâu khoảng 1cm, nghêu cám theo triều lên kiếm ăn nên thường bị sóng cuộn và dòng triều đưa đi tương đối xa, có khi lên bờ phơi khô mà chết Khoảng hơn 1 tháng sau “nghêu cám” lớn thành nghêu giống, nặng 0,16÷0,20 g/con (5.000÷6.000 con kg), v đã tương đối cứng, có thể đem ương ở các bãi triều [22]
Trang 171.2 T nh h nh nghiên cứu về nhuy n thể hai mảnh v
1.2.1 nh h nh nghi n c u tr n Thế gi i
T nh h nh nuôi nhuy n thể hai mảnh v trên Thế giới:
Theo thống kê của FAO (2009) sản lượng nuôi trồng của ngao, nghêu nước mặn, lợ trên thế giới tăng nhanh hàng năm Năm 2000, tổng sản lượng ngao, nghêu nuôi trên thể giới đạt 27.742 tấn chiếm 70% tổng sản lượng nhuy n thể hai mảnh v , năm 2006 tăng lên 49.145 tấn, tăng gấp 1,78 l n nhưng chỉ chiếm 33% tổng sản lượng nhuy n thể hai mảnh v Giá trị thương mại thu được từ nuôi ngao, nghêu năm 2000 là 32.967,7 USD, năm 2006 là 56.867,7 USD 10 tháng đ u năm 2011, giá trị thương mại xuất kh u nhuy n thể 2 mảnh v đạt 66,7 triệu USD, có mặt tại 49 thị trường khác nhau trên thế giới, trong đó EU, Mỹ, Nhật là thị trường lớn nhập kh u nhuy n thể hai mảnh v của Việt Nam [30]
Nghêu Manila (Mercenaria mercenaria) được nuôi tại Nhật Bản hơn
một ngh n năm trước, trong khi đó nghề nuôi hàu mới được bắt đ u từ năm
1673, khi những người dân nuôi nghêu quyết định nuôi hàu bám vào các cọc xung quanh vùng nuôi nghêu của họ Nghề nuôi nghêu tiếp tục bằng việc sử dụng kỹ thuật đơn giản là di chuyển nghêu giống tự nhiên từ nơi có mật độ cao đến nơi có mật độ thấp hơn Kỹ thuật nuôi nghêu phát triển ở
tr nh độ cao hơn ở châu Âu và Bắc Mỹ [23]
Nghêu Meretrix meretrix là loài có giá trị kinh tế, được nuôi dọc theo
các vùng ven biển Nam và Đông Nam Á, bao gồm Trung Quốc, Hàn Quốc,
Nhật Bản và Ấn Độ [17] Nghêu Meretrix lusoria bắt đ u được nuôi tại Đài
Loan năm 1925 Sản lượng ngao nuôi đến năm 1978 là 12.867 tấn, đứng thứ 2 sau nuôi hàu tại quốc gia này [16]
Các nghiên cứu khác ở Đài Loan cho thấy ngao M lusoria được nuôi
chủ yếu ở trong ao thuộc vùng Tây Nam của hòn đảo này Phương pháp và
kỹ thuật nuôi khác nhau ở mỗi nơi khác nhau, đó là: duy tr độ mặn cao
Trang 18trong khoảng 25÷33 0
/00 bằng việc thay nước biển và duy tr ở độ mặn thấp hơn (15÷20 0
/00) bằng việc bổ sung nước ng m [18]
Nghêu Bến Tre Meretrix lyrata Sowerby, 1851phân bố ở vùng biển
ấm Tây Thái B nh Dương, từ Đài Loan đến Việt Nam [1] Tuy nhiên, các thông tin liên quan đến kết quả nghiên cứu về loài này h u như không t m thấy trên thế giới về cả lĩnh vực sản xuất giống và nuôi thương ph m
T nh h nh nghiên cứu sản xuất giống nhuy n thể hai mảnh v trên Thế giới:
Trên thế giới, có nhiều tài liệu được công bố liên quan đến kết quả nghiên cứu sản xuất giống và nuôi nhuy n thể hai mảnh v nói chung và ngao, nghêu nói riêng Các loài đã nghiên cứu thành công là h u Thái B nh
Dương (Crassostrea gigas), h u đá Sedney (Saccostrea commercialis), ngao d u (Meretrix meretrix), ngao mật (Meretrix lusoria), nghêu Manila (Mercenaria mercenaria), Tuy nhiên, hiện chưa t m thấy tài liệu công bố
liên quan đến kết quả nghiên cứu sản xuất giống đối với loài nghêu
Meretrix lyrata, chỉ t m thấy một vài tài liệu viết về hệ thống phân loại và
sự phân bố của nó
Các trại sản xuất giống nhuy n thể hai mảnh v xuất hiện tại châu
Âu, châu Úc và châu Mỹ từ những năm 1960 Khi có những hiểu biết về đặc điểm sinh học của các loài chủ yếu trong nuôi trồng thuỷ sản trên thế giới th công nghệ sử dụng để sản xuất chúng được phát triển và tiếp tục cải tiến Trại sản xuất giống nhuy n thể hai mảnh v được thiết kế linh hoạt, cách bài trí trại sản xuất rất đa dạng, tuỳ thuộc vào vị trí xây dựng, các loài được lựa chọn sản xuất, điều kiện địa lý, vốn đ u tư, sản lượng con giống dự kiến, Một số trại giống được thiết kế ở quy mô nh , con giống sản xuất chỉ phục vụ cho vùng nuôi của trang trại mà họ sở hữu Một số trại giống khác quy mô lớn hơn th có thể sản xuất ra con giống để bán hoặc nuôi một ph n, ph n còn lại sẽ bán cho các hộ nuôi khác Các
Trang 19trại giống có thể có hoặc không có hệ thống ương thu n hoá con giống trước khi nuôi thương ph m Hệ thống thu n hoá là bộ phận tách rời kh i trại giống, có thể được xây dựng cho người nuôi để họ chủ động ph n công việc này trước khi đem con giống ra vùng nuôi Các trại giống nhuy n thể hai mảnh v không chỉ thiết kế và xây dựng cho chỉ một loài nào đó, mà phục vụ cho mục đích sản xuất giống cho một nhóm loài, quy
mô thiết kế phụ thuộc vào sản lượng con giống mong muốn của nhà sản xuất Các trại giống kể trên được thiết kế lắp đặt đồng bộ mang tính cơ giới hoá và tự động hoá ngay từ việc lọc, sử lý nước ngọt, nước mặn, lưu giữ và nuôi sinh khối tảo giống đến nuôi vỗ con bố mẹ, ương nuôi ấu trùng và thu n hoá con giống trước khi nuôi thương ph m Trại sản xuất giống nằm ở vị trí không có nguồn nước thải công nghiệp, nông nghiệp, giao thông thuận tiện, có nguồn điện chủ động và thuận tiện trong việc trao đổi thông tin, liên lạc [15] Trong tính toán thiết kế, ngoài việc xây dựng trại giống hiệu quả kinh tế, thuận tiện trong vận hành sử dụng, người
ta cũng tính đến việc dự phòng để mở rộng, nâp cấp trại trong tương lai
Nghêu bắt đ u sinh sản vào cuối mùa xuân, khi nhiệt độ nước ấm
d n lên, sau thời gian tích luỹ dinh dưỡng và phát triển tuyến sinh dục ở mùa đông Đ u tiên, con đực phóng tinh ra ngoài môi trường, tinh dịch đóng vai trò là feromol kích thích con khác trong qu n thể phóng trứng và tinh theo, trứng được thụ tinh bên ngoài môi trường nước [22] Theo Quayle và cs (1989) việc biến đổi một số yếu tố môi trường theo mùa góp
ph n kích thích quá tr nh thành thục và sinh sản của nhuy n thể hai mảnh
v , yếu tố quan trọng là nhiệt độ và nồng độ muối Vào mùa xuân, nhiệt độ
ấm áp hơn, độ mặn có chiều hướng thay đổi đã thúc đ y quá tr nh phát triển của tuyến sinh dục V vậy, trong thực tế sản xuất, việc tạo sự thay đổi nhiệt độ nước, độ muối được mô ph ng theo tự nhiên là phương pháp đang
Trang 20sử dụng để kích thích quá tr nh phát triển, sự chín của tuyến sinh dục và kích thích sinh sản đối với các đối tượng nhuy n thể [24]
Đối với nghêu Manila, nghêu bố mẹ được lựa chọn những cá thể tăng trưởng nhanh (thể hiện qua gờ tăng trưởng trên v ), trong độ tuổi 2÷3 năm Chúng được nuôi vỗ tích cực ở nhiệt độ 18 0C trong thời gian từ 6 đến
9 tu n, với thức ăn được sử dụng là nguồn thức ăn tự nhiên và bổ sung hỗn
hợp các loài tảo Isochrysis galbana, Nanochloropsis oculata, Chaetoceros
gracilis, Tahitial isochrysis, với hàm lượng 1 lít 0,5 kg nghêu 1 giờ Tuy
nhiên, theo Whetstone và cs (2005), không giống như loài hàu Thái Bình
Dương (C.gigas), nghêu Manila không có lớp glycogen để chuyển hoá
thành tuyến sinh dục trong thời gian nuôi vỗ Số lượng và chất lượng trứng của chúng phụ thuộc vào số lượng và chất lượng tảo được sử dụng để nuôi
vỗ V thế, c n thiết phải bổ sung một lượng lớn hỗn hợp các loài tảo vào trong nguồn nước tự nhiên để nuôi vỗ nghêu [22]
Theo Jones và cs (1993), một số giai đoạn quan trọng trong quy tr nh sản
xuất và thiết kế, vận hành trại sản xuất giống nghêu Manila (M mercenaria)
như sau [23]:
- Hệ thống nuôi vỗ nghêu bố mẹ: được thiết kế với 2 lựa chọn là hệ
thống nước chảy và hệ thống nước tĩnh, mỗi hệ thống đều có tính ưu việt riêng Đối với hệ thống nước chảy: nghêu được nuôi trong điều kiện tu n hoàn nên môi trường sạch hơn, dòng chảy của nước là một trong những nhân tố kích thích đến sự chín của tuyến sinh dục nên nghêu có thời gian thành thục nhanh hơn Tuy nhiên, trong hệ thống nước tĩnh, việc theo dõi nhằm loại b những cá thế sinh sản không mong muốn d dàng hơn, việc duy tr nhiệt độ và quản lý thức ăn và các thao tác kỹ thuật khác cũng d
dàng hơn Như đã đề cập, không giống như hàu Thái B nh Dương (C
gigas), nghêu Manila không có lớp glycogen để chuyển hoá thành mô
tuyến sinh dục trong điều kiện nuôi vỗ Chất lượng, số lượng của trứng và
Trang 21tinh trùng liên quan trực tiếp tới chất lượng và hàm lượng tảo cho ăn trong nuôi vỗ Kết quả thu được sẽ rất tốt nếu trong quá tr nh nuôi vỗ cung cấp được lượng tảo tự nhiên kết hợp với các loài tảo sản xuất được trong trại sản xuất, bởi v tính đa dạng về thức ăn sẽ tạo nên sự đa dạng về nguồn dinh dưỡng cho nghêu phát triển tuyến sinh dục
- Hệ thống ương ấu trùng: nước cấp vào hệ thống ương ấu trùng
được lắng, sau đó qua thiết bị lọc cát và lọc tinh 5 m Ấu trùng nghêu Manila được ương trong điều kiện độ mặn tối ưu là 25 0
/00 và nhiệt độ tối
ưu 230C, nhưng có thể tồn tại trong khoảng 18 đến 28 0C Hiện tại, có hai phương pháp ương ấu trùng tồn tại cùng 2 hệ thống bể ương, đó là: (1) ấu trùng được ương trong hệ thống nước chảy và (2) ấu trùng được ương trong
hệ thống nước tĩnh Cũng như nuôi vỗ bố mẹ, hệ thống ương nước tĩnh với chế độ thay nước 100% trong 2 ngày l n, thao tác kỹ thuật đơn giản, chi phí lắp đặt, vận hành thấp hơn so với hệ thống nước chảy liên tục
Cho ấu trùng ăn từ ngày thứ 2, ấu trùng chuyển hoàn toàn sang giai đoạn đỉnh v thẳng (chữ D-veliger) Thức ăn cho ấu trùng là hỗn hợp các
loài tảo: Nanochloropsis oculata, Tahitian isochrysis, Isochrysis galbana
và Chaetoceros calcitrans cho ấu trùng kích thước nh hơn 150 m và bổ
sung thêm loài Chaetoceros gracilis cho ấu trùng cỡ lớn hơn 150 m Trong điều kiện thức ăn và các yếu tố môi trường phù hợp, ấu trùng nghêu Manila thường tăng trưởng b nh quân10 m ngày Trong khoảng 10÷14 ngày ương nuôi, ấu trùng nghêu Manila đạt kích cỡ 180÷210 m chuyển sang giai đoạn biến thái (ấu trùng pediveliger)
- Hệ thống thu ấu trùng xuống đáy: ấu trùng nghêu đến giai đoạn
biến thái (pediveliger) xuất hiện chân đào được lọc và thu bằng rây lọc có mắt lưới 150 m, được chuyển qua hệ thống xuống đáy, được thiết kế giống cái bàn đựng nước với hệ thống khay lưới ở đáy, tạo mặt thoáng để
Trang 22ấu trùng có thể bò trên bề mặt hoặc bơi lội tự do Nước biển đã qua xử lý cấp trực tiếp vào hệ thống rây, từ phía trên miệng khay và thoát qua đáy khay (Downwelling system), hoặc nước được cấp vào khay từ dưới đáy và thoát ra ngoài ở phía trên miệng khay (Upwelling system) Nền đáy không ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của ấu trùng nghêu ở giai đoạn này, khay có nền đáy cho kết quả tương tự như khay không có nền đáy (đáy trơ) Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả xuống đáy của ấu trùng là:
+) Mật độ ấu trùng trong khay: giao động 150÷200 ấu trùng cm2đáy khay
+) Nhiệt độ: tương đương với nhiệt độ trong bể ương Đối với nghêu Manila, nhiệt độ dao động trong khoảng 20÷24 0
C
+) Phát sinh vi khu n có hại và các chất b n: trong qúa tr nh biến thái, ấu trùng tăng sự trao đổi chất, làm phát sinh các chất b n là môi trường thuận lợi cho vi khu n có hại phát triển nhanh V thế, việc thay nước và vệ sinh ấu trùng trong khi ương phải được lưu ý nhằm giảm tỷ lệ chết của chúng
+) Thức ăn (tảo) và chế độ cho ăn: cho ăn lượng thức ăn đủ về số lượng và dinh dưỡng sẽ tăng tỷ lệ sống của ấu trùng giai đoạn này Nếu dư thừa thức ăn sẽ làm cho môi trường ương nuôi bị ô nhi m, tạo điều kiện thuận lợi cho m m bệnh phát triển
- Hệ thống thuần hoá con giống spat: hệ thống này có thể nằm tách
rời kh i trại sản xuất Nó được thiết kế đa dạng, trên nguyên tắc vận hành của hai hệ thống giống như thu ấu trùng xuống đáy là Downwelling system
và Upwelling system và có thể được lắp đặt trong trại sản xuất hoặc ngoài
ao ương Nguyên lý hoạt động của hệ thống này là việc thay đổi một cách
từ từ điều kiện ương nuôi để cho con giống quen d n với môi trường bên ngoài và cuối cùng là sử dụng hoàn toàn bằng thức ăn tự nhiên Đây là công đoạn hết sức quan trọng trước khi chuyển con giống từ trại sản xuất ra
Trang 23vùng nuôi thương ph m, bời v con giống sẽ bị stress nếu chúng bị thay đổi môi trường đột ngột, đặc biệt là từ môi trường được kiểm soát sạch sẽ sang môi trường ít sạch hơn
Ảnh hưởng của mật độ, thức ăn và độ mặn đến sinh trưởng vả tỷ
lệ sống của ấu trùng:
Liu và cs (2006) đã thí nghiệm nhằm xác định mật độ ấu trùng nghêu
M meretrix phù hợp trong ương nuôi Thí nghiệm đã tiến hành ở các mật
độ 5, 10, 20, 40 và 60 ấu trùng ml, trong 8 ngày, từ giai đoạn ấu trùng chữ D-veliger đến ấu trùng chuyển giai đoạn xuống đáy (pediveliger) Kết quả cho thấy, tại mỗi thời điểm thu mẫu, ấu trùng ương ở mật độ cao nhất th có kích thước nh nhất và ngược lại Sự sai khác này có ý nghĩa thống kê bắt
đ u từ ngày ương nuôi thứ 2 Thời gian xuống đáy kéo dài và kích thước ấu trùng khi xuống đáy nh hơn theo tỷ lệ nghịch với mật độ ương Tuy nhiên,
tỷ lệ sống (từ 74,8÷79,1%) lại không phụ thuộc vào mật độ ương nuôi ấu trùng Trong thí nghiệm này, ở mật độ cao có thể phù hợp với ương nuôi ấu trùng Nhưng nếu xét về hiệu quả kinh tế và mức độ an toàn th tác giả khuyến cáo nên sử dụng mật độ 10 đến 20 ấu trùng ml trong sản xuất ở quy
mô lớn [20]
Một số kết quả nghiên cứu của Yan và cs (2006) đã được tiến hành
trên nghêu Ruditapes philippinarum nhằm đánh giá sự ảnh hưởng của thức
ăn, mật độ ương nuôi ấu trùng, các yếu tố môi trường đến sinh trưởng, tỷ lệ sống và biến thái của ấu trùng Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: tảo
Chlorella sp có thể thay 50% tảo Isochrysis spp trong việc sử dụng làm
thức ăn cho ấu trùng nghêu mà không ảnh hưởng đến sinh trưởng, tỷ lệ sống và tỷ lệ biến thái của chúng Nghiên cứu về mật độ ương nuôi ấu trùng cho thấy, ở khoảng mật độ từ 5÷10 con ml, ấu trùng phát triển bình thường Nghiên cứu về chế độ chiếu sáng chỉ ra rằng: trong điều kiện che mát một ph n (cường độ ánh sáng từ 1000÷5000 lx) và che mát toàn ph n
Trang 24(cường độ ánh sáng < 500 lx) ấu trùng phát triển nhanh hơn dưới điều kiện ánh sáng tự nhiên Chế độ thay nước trong ương nuôi với tỷ lệ 50% bể sau
2 ngày l n là điều kiện tối ưu cho sự phát triển của ấu trùng nghêu và ấu trùng phát triển nhanh hơn trong điều kiện nước không qua lọc cát Nhưng nền đáy ảnh hưởng đáng kể đến biến thái của ấu trùng nghêu Tuy nhiên,
h nh dáng và kích thước hạt cát làm giá thể không ảnh hưởng đến tỷ lệ biến thái của chúng [25]
Độ mặn của nước trong quá tr nh sản xuất giống cũng hết sức quan trọng, mặc dù bản thân nghêu có thể điều chỉnh được áp suất th m thấu để thích nghi với môi trường Đối với nghêu Manila, trong khoảng độ mặn 20÷30 ‰ là khoảng phù hợp với chức năng sinh lý của chúng Trong khoảng độ mặn này, tốc độ lọc, thu nhận, hấp thụ thức ăn và các hoạt động khác của chúng di n ra một cách tối đa nhất [10] Tốc độ biến thái của ấu
trùng ngao M meretrix lại liên quan đến nhiệt độ nước theo hàm số mũ
Tuy nhiên, mối liên hệ giữa tốc độ biến thái của nghêu với nhiệt độ không chặt chẽ bằng nó với trọng lượng tươi của nghêu [27]
Theo Zhuang và cs (2004), tốc độ lọc (CR) và tốc độ tiêu hoá (IR)
của ngao M meretrix theo hàm số mũ đối với kích thước cơ thể (W) của
chúng, theo công thức CR=0,47 W0,63
và IR=0,95 W0,60 Kích thước cơ thể nghêu không ảnh hưởng tới hiệu quả lọc ở nhiệt độ 10, 16 và 220C, nhưng trong khoảng nhiệt độ này, hiệu suất lọc tăng theo sự tăng của nhiệt độ Nền đáy cũng ảnh hưởng đến tốc độ lọc, tốc độ tiêu hoá thức ăn của ngao
M meretrix Ngao nuôi ở bể có nền đáy cát, tốc độ lọc, tốc độ tiêu hoá thức
ăn cao hơn 2÷3 l n so với chúng nuôi ở nơi đáy trơ (đáy bể) Ngao M
meretrix nuôi trong bể có đáy cát ở nhiệt độ 22 0C, th tốc độ lọc và tiêu thụ thức ăn là cao nhất [26]
Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn tới sinh trưởng và tỷ lệ
sống của ngao Meretrix meretrix đã được tiến hành bởi Tang và cs (2006),
Trang 25với việc sử dụng 5 loài tảo khác nhau làm thức ăn đơn và phối hợp với
nhau Kết quả thí nghiệm cho thấy, ấu trùng ngao M meretrix sinh trưởng tốt nhất với việc chỉ sử dụng một loài tảo Isochrysis galbana làm thức ăn
Giá trị dinh dưỡng của các loài tảo khác được nghiên cứu đối với ấu trùng
ngao M meretrix thể hiện qua tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ biến thái được xếp theo thứ tự Dunaliella sp >Phaeodactylum tricornutum >Platymonas
subcordiformis >Pavlova viridis Đối với hỗn hợp các loài dinh dưỡng l n
lượt là 50% I.galbana/50% Dunaliella sp, 50% I.galbana/P.tricornutum và
50% I.galbana/P.subcordiformis đối chứng là sử dụng loài I.galbana [20]
Baojun và cs (2004) cũng đã tiến hành thí nghiệm b đói ấu trùng
ngao M meretrix trong thời gian dài để theo dõi sinh trưởng bù từ giai đoạn
bắt đ u của phát triển, ở 25 0C Kết quả chỉ ra rằng ngao M meretrix có thể
sống trong thời gian dài không cho ăn, thậm chí chúng còn sống đến giai đoạn biến thái, mặc dù sự “b đói” rất ảnh hưởng đến sinh trưởng Kết quả
này có thể khẳng định rằng ngao M meretrix có khả năng chịu “b đói”
thông qua việc sử dụng nguồn năng lượng khác Như vậy, sinh trưởng, tỷ lệ
sống và tỷ lệ biến thái của ngao M meretrix còn bị ảnh hưởng bởi nhiều
yếu tố khác bên cạnh chất lượng và số lượng thức ăn [26]
Như vây, các nghiên cứu về sinh sản nhân tạo ngao, nghêu trên thế giới đã được tiến hành một cách bài bản, có hệ thống từ việc thiết kế, vận hành trại sản xuất giống đến các khâu kỹ thuật như tuyển chọn, nuôi vỗ con
bố mẹ; lưu giữ và nuôi sinh khối tảo; kích thích sinh sản; ương nuôi ấu trùng trôi nổi; thu ấu trùng xuống đáy và ương con giống cấp 1 lên cấp 2
Mặc dù các thông tin về loài nghêu M lyrata nghiên cứu còn ít, nhưng
những thông tin tổng quan về công nghệ sản xuất giống các loài nhuy n thể 2
mảnh v , đặc biệt là các loài nghêu trong giống Meretrix rất có ý nghĩa, là cơ
sở khoa học và thực ti n để áp dụng vào các nội dung nghiên cứu của đề tài
Trang 261.2.2 nh h nh nghi n c u ở iệt a
T nh h nh nuôi nghêu tại Việt Nam:
Ở Việt Nam, nghề nuôi nhuy n thể xuất hiện từ những năm 1960 nhưng được phát trển mạnh mẽ trong vòng hơn 10 năm qua, đã mang lại nguồn thu lớn, không chỉ góp ph n cải thiện sinh kế cho cộng đồng cư dân nghèo mà còn thúc đ y sự phát triển kinh tế cho các địa phương Các đối
tượng nuôi là hàu Thái B nh Dương (Crassostrea gigas), hàu cửa sông (Crassostrea rivularis), tu hài (Lutraria philippinarum), vẹm xanh (Perna
viridis) trai ngọc (Pinctada sp), trai ngọc nước ngọt (Hyriopsis sp), ngao
d u (Meretrix meretrix) và nghêu (Meretrix lyrata) ở miền Bắc Ở miền Nam, chủ yếu nuôi 3 đối tượng là nghêu (Meretrix lyrata) ở Bến Tre, Tiền Giang và sò huyết (Anadara granosa) ở Kiên Giang và hàu tròn Belcheri (Crassostrea belcheri) ở C n Giờ, Đồng Nai, Vũng Tàu [8]
Theo Trương Quốc Phú (1999), nghề nuôi nghêu tại Việt Nam đ u tiên xuất hiện ở Bến Tre và Tiền Giang từ những năm 1970, xuất phát từ việc thu gom, lưu giữ nghêu ngoài tự nhiên để tiêu thụ d n, phục vụ nhu
c u thực ph m của người dân trong vùng Những năm sau 1975, nghêu bắt
đ u được tiêu thụ nhiều hơn tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận Đặc biệt, năm 1982, nghêu được xuất kh u ra nước ngoài đã thúc đ y phát triển vùng nuôi mạnh mẽ, thu hút được nhiều nguồn đ u tư từ các doanh nghiệp tư nhân và hợp tác xã tham gia [6]
Hiện nay, nghêu M lyrata được xem là đối tượng nuôi trồng thuỷ
sản chủ lực ở Việt Nam, bởi nó là đối tượng có giá trị kinh tế cao, thị trường xuất kh u rộng lớn do đã đáp ứng được tiêu chu n HACCP (Hazard Analysis Critical Control Point) và chứng chỉ MSC của Hội đồng Biển Quốc tế (Marine Stewardship Council) Bên cạnh đó, kỹ thuật nuôi nghêu đơn giản, phù hợp với tr nh độ canh tác của người dân Các nghiên cứu g n đây cho thấy, nghêu là đối tượng ăn lọc, có khả năng làm sạch môi trường
Trang 27và sinh trưởng tốt trong điều kiện ao đ m, nơi không chịu ảnh hưởng bởi chế độ thuỷ triều Đây là cơ sở thúc đ y sự phát triển, mở rộng diện tích vùng nuôi đối với đối tượng này trong thời gian tới, nhằm mục đích nâng cao sản lượng, cũng như góp ph n làm sạch môi trường ao nuôi Đến nay, tổng diện tích nuôi ngao, nghêu trên cả nước là 17.722 ha, sản lượng ước đạt 86.031 tấn [35]
Nghêu Bến Tre (M lyrata) là một trong những đối tượng thuỷ sản
có giá trị kinh tế cao ở Việt Nam Ở phía Nam, vùng khai thác và phân
bố tự nhiên của nghêu khoảng 12.000 ha kéo dài dọc theo vùng ven biển
từ huyện C n Giờ (Thành phố Hồ Chí Minh) tới Cà Mau, tập trung nhất
là vùng ven biển thuộc tỉnh Tiền Giang (Gò Công Đông), Bến Tre (B nh Đại, Ba Tri, Thạnh Phú) và Trà Vinh (C u Ngang, Duyên Hải) Nghêu được xuất kh u và ưa chuộng trên nhiều thị trường thế giới, đặc biệt là thị trường Châu Âu (Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Italia) với kích cỡ nghêu từ 40÷60, 50÷70 và 60÷80 con kg Nghêu Bến Tre được nuôi và khai thác trong khu vực được quản lý chặt chẽ, sản ph m nghêu ngày càng được người tiêu dùng thế giới ưa chuộng không chỉ bởi giá trị dinh dưỡng trong con nghêu mà còn bởi đây là sản ph m sạch, đạt tiêu chu n
an toàn vệ sinh thực ph m của EU - thị trường nhập kh u nghêu lớn nhất của Việt Nam (chiếm 73,8% thị ph n xuất kh u) Theo số liệu của Tổng cục Hải quan Việt Nam, 1/1÷15 11 2009, xuất kh u nghêu của cả nước đạt 17.624 tấn, trị giá trên 37,2 triệu USD, tăng 49,6% về sản lượng và 50,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2008 Giá xuất kh u trung b nh đạt 2,11 USD/kg [28], [34]
Năm 2010, các tỉnh Bến Tre, Tiền Giang, Trà Vinh, Kiên Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng do nguồn nghêu giống tự nhiên giảm, nên vùng nuôi tại khu vực cửa sông bị thu hẹp, hiện chỉ còn 19.500 ha, giảm 1.193 ha so với năm 2008 Do vậy, các tỉnh hiện đang ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản
Trang 28xuất, phấn đấu đạt năng suất ít nhất 7 tấn ha, sản lượng nghêu đạt 114.500 tấn, sò huyết đạt 25.500 tấn Bên cạnh đó là nhân rộng mô h nh “nuôi nghêu bền vững” sang những vùng có nguồn lợi nghêu phong phú; thực hiện các dự án nghiên cứu khoa học về sản xuất nhân tạo giống nghêu, nhằm đáp ứng đủ nhu c u phát triển của toàn vùng cũng như cung cấp cho các tỉnh khác trong nước trong những năm tới [31]
Theo Nguy n Kim Long (2010), nhằm từng bước giúp cho nghề nuôi nghêu của Bến Tre phát triển ổn định bền vững, đồng thời hỗ trợ cho việc duy tr , phát huy lợi thế của thương hiệu nghêu Bến Tre được chứng nhận MSC Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành Quyết định số
20 2010 QĐ-UBND ngày 07 tháng 7 năm 2010 quy định về sản xuất giống, ương giống, khai thác nghêu giống tự nhiên và nuôi nghêu thương ph m trên địa bàn tỉnh Bến Tre Ví dụ: Các cơ sở sản xuất giống chỉ được bố trí giới hạn trong phạm vi các xã Thừa Đức, Thới Thuận và Thạnh Phước huyện B nh Đại; các xã Bảo Thuận, Bảo Thạnh, Tân Thủy và An Thủy huyện Ba Tri Khu vực ương nghêu giống chỉ được bố trí giới hạn trong vùng quy hoạch nuôi thuỷ sản nước mặn, nước lợ thuộc 03 huyện B nh Đại, Ba Tri, Thạnh Phú Nghêu giống khai thác tự nhiên trong tỉnh phải đạt trọng lượng tối thiểu là 0,2 g con (5.000 con kg) Trường hợp đặc biệt có thể khai thác nghêu giống có trọng lượng từ 0,01 g con (100.000 con kg) đến dưới 0,2 g con (5.000 con kg) nhưng phải được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho phép và nếu nghêu giống có trọng lượng nh hơn 0,01 g con (100.000 con kg) phải được sự cho phép của Ủy ban nhân dân
tỉnh Việc xuất bán nghêu giống khai thác từ tự nhiên phải có giấy chứng
nhận xuất xứ nguồn gốc do Hợp tác xã nghêu hoặc Ủy ban nhân dân xã sở tại cấp, đồng thời phải khai báo với cơ quan thú y tỉnh để được kiểm dịch trước khi xuất bán [28]
Trang 29Nghêu bắt đ u được di nhập ra phía Bắc từ năm 1996, khi những nỗ lực của một số ngư dân Nam Định t m kiếm một loài nuôi mới chống chịu với điều kiện thời tiết, khí hậu khắc nghiệt hơn so với loài bản địa Diện tích vùng nuôi và sản lượng nghêu nuôi tăng nhanh sau những đó và h u
hết các vùng nuôi đã chuyển sang nuôi nghêu M lyrata thay v ngao bản địa M meretrix và M lusoria Hiện nay, tính từ Quảng Ninh đến Hà Tĩnh,
tổng diện tích vùng nuôi ngao, nghêu ước trên 5.000 ha Trong đó, Nam Định có 2.500 ha, Thái B nh 800 ha, Hải phòng 600 ha và Quảng Ninh 450
ha, Thanh Hoá 200 ha Năng suất nuôi ngao, nghêu nuôi trung b nh đạt 8÷10 tấn ha, sản lượng toàn vùng đạt 70.000÷120.000 tấn năm [7]
Nghề nuôi nghêu ở miền Bắc đang góp ph n cải thiện sinh kế, tạo công ăn việc làm cho ngư dân địa phương Theo báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam (4 8 2010) xã Hải Lộc, một xã tiêu biểu của huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá có 205 ha nuôi ngao nghêu, với trên 100 hộ tham gia Sáu tháng đ u năm 2010, sản lượng nuôi ngao ước đạt 2.300 tấn, trong đó ngao giống 300 tấn, ngao thịt 2.000 tấn, đã tạo việc làm và thu nhập cho từ 800 đến 1.000 lao động địa phương Một số hộ nuôi cũng đang d n h nh thành phương thức kinh doanh mới, như thành lập công ty, tổ thu mua ngao để cung cấp cho các địa phương khác [29]
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn th hiện nay Nam Định là địa phương có diện tích nuôi ngao lớn nhất miền Bắc, với hơn 2.500 ha bãi triều thuộc hai huyện Giao Thủy và Nghĩa Hưng Riêng xã Giao Xuân (Giao Thuỷ) có hơn 100 hộ khoanh nuôi ngao, rộng trên 250 ha ở vùng bãi triều ven biển, năng suất thường đạt
20 tấn ngao thương ph m ha, tổng thu đạt khoảng hơn 40 tỷ đồng năm Nhờ nuôi và khai thác ngao mà các xã vùng ven biển Giao Thủy và Nghĩa Hưng được thay da đổi thịt [32]
Trang 30Bên cạnh những thuận lợi, nghề nuôi nghêu cũng đang đứng trước những khó khăn, thách thức, đó là: di n biến thất thường khí hậu, bệnh dịch bùng phát làm cho nghêu nuôi chết hàng loạt, gây thiệt hại rất lớn về kinh tế Theo UBND huyện Gò Công Đông, đ u tháng 4 2010, diện tích nuôi nghêu
bị thiệt hại trên 70% là 927,62 ha với sản lượng thiệt hại ước khoảng 11.925 tấn, giá trị thiệt hại tại thời điểm kê khai ước khoảng 238,5 tỷ đồng Đối với các trường hợp bị thiệt hại 50÷70 % th diện tích bị thiệt hại là 185,15 ha với sản lượng thiệt hại ước khoảng 1.056 tấn, giá trị thiệt hại tại thời điểm kê khai là 21,12 tỷ đồng Nguyên nhân nghêu chết đã được Phân viện nghiên cứu Thủy sản Minh Hải xác định tại khu vực biển Tân Thành là trong 100% mẫu thu được (7 mẫu) đều có sự hiện diện của ký sinh trùng đơn bào nội ký
sinh Perkinsus sp, là loại ký sinh trùng thường gây chết trong điều kiện nhiệt
độ và độ mặn cao Mặt khác, t nh h nh thời tiết đ u năm nắng nóng, nhiệt độ
và độ mặn tăng cao, gió chướng thổi mạnh liên tục kéo dài,… cũng là nguyên nhân góp ph n làm nghêu nuôi bị chết hàng loạt [33]
T nh h nh nghiên cứu sản xuất giống nghêu tại Việt Nam:
Ở Việt Nam, kỹ thuật sinh sản nhân tạo ngao, nghêu (Meretrix sp)
được Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I và Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II tiến hành từ năm 2003 , dựa trên việc nghiên cứu thành công kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo tu hài, vẹm xanh, hàu cửa sông, điệp, Nhưng sản lượng con giống sản xuất được còn ít, giá thành sản
ph m cao, chưa đáp ứng được yêu c u của nghề nuôi thương ph m Một vài kết quả nghiên cứu được t m thấy về đối tượng nghêu: Kỹ thuật nuôi ngao, nghêu, sò huyết, trai ngọc; Đặc điểm sinh học và kỹ thuật ương nuôi
nghêu Meretrix lyrata; Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh hoá và
kỹ thuật nuôi nghêu Meretrix lyrata (Sowerby) đạt năng suất cao; Nuôi
nghêu thương ph m ở đồng bằng Sông Mêkông Việt Nam và tài liệu kỹ
thuật sản xuất giống nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata Sowerby, 1851) [4],
Trang 31[5], [6], [9] Các tài liệu này cung cấp những thông tin, kiến thức cơ bản làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo về sinh học sinh sản, công nghệ sản xuất giống và nuôi thương ph m,… đặc biệt sẽ áp dụng vào nghiên cứu hoàn thiện quy tr nh sản xuât giống ở quy mô đại trà như mục tiêu đề ra trong đề tài
Theo Trương Quốc Phú (1999), nghêu M lyrata phân tính, đực cái
riêng biệt Trong qu n thể tự nhiên, tỷ lệ đực cái của nghêu thay đổi theo thời gian Số cá thể đực tăng trong mùa sinh sản, nhưng số cá thể cái lớn hơn nhiều trong thời gian trước và sau mùa sinh sản Nguyên nhân của sự thay đổi tỷ lệ giới tính cũng như tỷ lệ tuyến sinh dục lưỡng tính theo thời gian có thể là do sự khác nhau về tốc độ phát triển của tuyến sinh dục đực
và cái Thường th tuyến sinh dục cái có thời gian phát triển dài hơn do phải tích luỹ vật chất dinh dưỡng cho quá tr nh tạo noãn hoàng, trong khi tuyến sinh dục đực không phải tích luỹ nhiều vật chất dinh dưỡng nên thời gian phát triển nhanh hơn Đây là hiện tượng phát triển lệch pha ở các qu n thể
có số lượng cá thể lớn, đặc biệt trong thời gian sớm của mùa vụ sinh sản Ngoài ra, trong qu n thể cũng xuất hiện một số cá thể không xác định được giới tính (6,82% số mẫu phân tích), tỷ lệ này giảm trong mùa sinh sản và ngược lại Cũng theo Trương Quốc Phú (1999), nghêu kích thước 1,6 cm (500 mg) sau 12 tháng nuôi đạt trung b nh 3,5 cm, có thể thành thục và tham gia sinh sản đ u tiên Sức sinh sản tuyệt đối của nghêu đạt từ 2.747.000 đến 4.031.000 trứng cá thể [6]
Theo Nguy n Hữu Phụng (1996), khi nghiên cứu về đặc điểm sinh
học và kỹ thuật ương nuôi nghêu M lyrata đã phân tích được thành ph n
thức ăn chính của nghêu vùng Trà Vinh là mùn bã hữu cơ chiếm 75÷90%, tảo chiếm 10÷25% Trong thành ph n tảo th tảo silic chiếm 90÷95%, tảo giáp chiếm 3,3÷6,6%, còn lại là tảo lam, tảo lục, tảo vàng ánh chiếm 0,8÷1% Kết quả nghiên cứu của Trương Quốc Phú (1999) khi nghiên cứu
Trang 32về đặc điểm sinh học, sinh hoá và kỹ thuật nuôi nghêu đã xác định được thành ph n thức ăn trong dạ dày nghêu tại vùng biển Tân Thành cũng cho thấy hàm lượng mùn bã hữu cơ, chiếm 78,82÷90,38%, thực vật phù du chiếm tỷ lệ 9,62÷21,18%, với 44 loài khác nhau Trong thành ph n tảo, đa
số là tảo silíc Bacillariophyta (chiếm 93,18%) với một số giống thường gặp
là Coscinodiscus, Cycltella, Nitzschia,… tảo giáp chiếm 2,27% và tảo lam
chiếm 4,55% [4], [6] Đây là thông tin quan trọng, là cơ sở để nghiên cứu loại thức ăn và dinh dưỡng phù hợp cho nghêu trong việc nghiên cứu xuất giống, đặc biệt là công nghệ sản xuất ở quy mô đại trà
Năm 2005 - 2006, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản II đã thực hiện đề tài cấp Bộ về “Nghiên cứu các giải pháp bảo vệ và phát triển nguồn
lợi nghêu Bến Tre Meretrix lyrata” Đề tài thực hiện tại 3 tỉnh Bến Tre,
Tiền Giang và Thành phố Hồ Chí Minh Kết quả đề tài đã (i) đánh giá hiện trạng kinh tế xã hội ảnh hưởng đến biến động nguồn lợi nghêu trong vùng nghiên cứu; (ii) xác định vị trí phân bố nghêu giống, nghêu bố mẹ và đặc điểm vùng phân bố; (iii) đặc điểm sinh học cơ bản nghêu giống và nghêu
bố mẹ; và (iv) phối hợp với một số đơn vị khác xây dựng mô h nh quản lý vùng nghêu và bản đồ GIS vùng phân bố Cho đến nay, chưa có thêm công
tr nh nghiên cứu nào được công bố tại Việt Nam liên quan đến kết quả
nghiên cứu về sinh sản nhân tạo giống nghêu M lyrata
Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I đã và đang triển khai một số
đề tài, dự án nghiên cứu thuộc lớp động vật thân mềm hai mảnh v , là cơ
sở khoa học và thực ti n để hoàn thành các nội dung của đề tài này, đó là các nghiên cứu: Đề tài KC06-14NN nghiên cứu sản xuất giống và nuôi
thương ph m hàu cửa sông (C rivularis) năm 2001 - 2004; Dự án tiếp nhận công nghệ sản xuất giống hàu Thái B nh Dương (C gigas) từ Australia, năm 2002 - 2004; Dự án nhập công nghệ sản xuất giống ngao lụa (Paphia
undulata) trong ao đất từ Trung Quốc, năm 2007 - 2008 Các dự án đang