1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách giáo dục của đài loan từ năm 1979 đến năm 2013

134 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 1,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những năm 70 của thế kỷ XX đến nay, Đài Loan đã và đang đề ra những chính sách và biện pháp phát triển giáo dục nhằm xây dựng nền giáo dục đẳng cấp quốc tế, đồng thời đáp ứng những nh

Trang 2

VŨ THỊ THẢO

CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC CỦA ĐÀI LOAN

TỪ NĂM 1979 ĐẾN NĂM 2013

Chuyên ngành: Lịch sử Thế giới

Mã số: 60.22.03.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học:

TS HẮC XUÂN CẢNH

NGHỆ AN - 2014

Trang 3

Luận văn này được thực hiện và hoàn thành dưới sự hướng dẫn của

TS Hắc Xuân Cảnh Nhân dịp này, tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính

trọng đến thầy giáo hướng dẫn - người đã dành nhiều thời gian, công sức giúp tôi hoàn thành luận văn này

Tôi bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô trong Khoa Lịch sử, Phòng Đào tạo Sau Đại học, Trường Đại học Vinh đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều cơ quan khác như Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á, Viện Nghiên cứu Trung Quốc, Thông tấn xã Việt Nam… trong việc tiếp cận các nguồn tài liệu có liên quan đến đề tài Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ đó

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến bạn bè và gia đình đã hết lòng giúp đỡ, tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành công việc của mình Cuối cùng tôi mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và bạn đọc để luận văn hoàn chỉnh hơn

Vinh, tháng 10 năm 2014

Tác giả

Vũ Thị Thảo

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6

4 Mục đích, nhiệm vụ 6

5 Nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của luận văn 8

7 Bố cục luận văn 9

NỘI DUNG 10

Chương 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH, MỤC TIÊU CỦA CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC ĐÀI LOAN TỪ 1979 ĐẾN 2013 10

1.1 Cơ sở hình thành 10

1.1.1 Truyền thống lịch sử, văn hóa 10

1.1.2 Tình hình giáo dục của Đài Loan trước năm 1979 14

1.1.3 Sự phát triển kinh tế - xã hội của Đài Loan giai đoạn 1979 - 2013 19

1.1.4 Xu thế toàn cầu hóa và nhu cầu hợp tác quốc tế về giáo dục 23

1.2 Những mục tiêu cơ bản của giáo dục Đài Loan giai đoạn 1979 - 2013 25

1.2.1 Mục tiêu tổng quát 25

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 26

Tiểu kết chương 1 30

Chương 2 QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC CỦA ĐÀI LOAN TỪ NĂM 1979 ĐẾN NĂM 2013 32

2.1 Xây dựng chính sách giáo dục 32

2.1.1 Giai đoạn 1979 - 1999 32

2.1.2 Giai đoạn 1999 - 2013 36

Trang 5

2.2.2 Linh hoạt hóa chương trình đào tạo; tăng cường kiểm tra,

giám sát chất lượng đào tạo 41

2.2.3 Cải cách chế độ thu hút chất xám và đào tạo nhân tài; nâng cao chất lượng giáo dục sư phạm 44

2.2.4 Tăng cường đầu tư khoa học - kĩ thuật, sử dụng công nghệ thông tin trong giáo dục 52

2.2.5 Tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục đào tạo 55

2.3 Hệ thống giáo dục Đài Loan hiện nay 60

2.3.1 Giáo dục bậc cơ sở 60

2.3.2 Giáo dục bậc trung 62

2.3.3 Giáo dục bậc cao 64

2.3.4 Giáo dục hồi lưu 65

Tiểu kết chương 2 67

Chương 3 NHẬN XÉT VỀ CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC CỦA ĐÀI LOAN GIAI ĐOẠN 1979 - 2013 VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM 69

3.1 Những kết quả đạt được trong quá trình thực hiện chính sách giáo dục của Đài Loan 69

3.2 Những vấn đề tồn tại trong quá trình xây dựng, thực hiện chính sách giáo dục và thách thức đặt ra đối với giáo dục Đài Loan 71

3.3 Tác động của chính sách giáo dục đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Đài Loan 72

3.4 Một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 76

3.4.1 Thứ nhất, đa dạng dạng hóa các loại hình đào tạo nhưng vẫn đảm bảo nâng cao chất lượng giáo dục 77

Trang 6

đáng để thu hút sinh viên vào các trường sư phạm 81

3.4.3 Kinh nghiệm thu hút chất xám và đào tạo nhân tài 84

3.4.4 Tăng cường đầu tư cho giáo dục và sử dụng ngân sách nhà nước dành cho giáo dục một cách hiệu quả 87

3.4.5 Đẩy mạnh cải cách giáo dục Đại học 90

Tiểu kết chương 3 91

KẾT LUẬN 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96 PHỤ LỤC

Trang 7

Chữ cái

viết tắt Tên tiếng Anh Tên tiếng Việt

Việt Nam

Assistance

Hỗ trợ phát triển chính thức

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Được mệnh danh là “Hòn ngọc biển Đông”, Đài Loan không chỉ được biết đến là hòn đảo xinh đẹp, đầy tiềm năng, mà còn là một trong những nền kinh tế năng động, với sự phát triển “thần kỳ” Sau khi vượt qua những khó khăn về kinh tế, xã hội, với sự phát huy nội lực và tranh thủ sự ủng hộ từ bên ngoài, từ những năm 60 của thế kỷ XX, Đài Loan đã từng bước chuyển mình

và đạt được những kỳ tích kinh tế đáng khâm phục Cũng từ đó, Đài Loan luôn được xem là mẫu hình về phát triển kinh tế cho nhiều nước, khu vực trên thế giới

Trong những năm gần đây, cùng với tăng trưởng kinh tế, Đài Loan đang từng bước khẳng định sự thành công trong việc giải quyết các vấn đề xã hội Nhiều vấn đề như: giáo dục, y tế, việc làm, an sinh và phúc lợi xã hội…

đã và đang được chính quyền Đài Loan giải quyết khá tốt, là động lực cho sự tăng trưởng và phát triển bền vững Từ những năm 70 của thế kỷ XX đến nay, Đài Loan đã và đang đề ra những chính sách và biện pháp phát triển giáo dục nhằm xây dựng nền giáo dục đẳng cấp quốc tế, đồng thời đáp ứng những nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội

Sự thành công của chính sách giáo dục mà chính quyền Đài Loan đã và đang thi hành đã chứng tỏ, phát triển giáo dục là yếu tố quan trọng hàng đầu đảm bảo cho sự tăng trưởng và phát triển bền vững Do vậy, nghiên cứu về chính sách giáo dục không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những thành tựu của giáo Đài Loan mà còn góp phần làm rõ hơn về nguyên nhân và động lực tạo nên sự “thần kỳ” của Đài Loan

Việt Nam là quốc gia đang phát triển, lại có nhiều điểm tương đồng với Đài Loan về văn hóa, lịch sử Bên cạnh đó, những năm gần đây, cùng với sự

Trang 9

phát triển nhanh chóng trên các lĩnh vực khác, quan hệ hợp tác văn hóa - giáo dục giữa Đài Loan và Việt Nam cũng có những bước tiến và đạt nhiều thành tựu đáng ghi nhận Vì thế, việc nghiên cứu về chính sách phát triển giáo dục của Đài Loan có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, nhất là trong bối cảnh Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam vừa thông qua nghị quyết về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế

Có thể nói, bài học kinh nghiệm từ Đài Loan trong việc giải quyết những vấn đề giáo dục là rất thực tiễn, vì những gì chúng ta đang thấy ở Việt Nam hiện nay rất giống với những gì xảy ra ở Đài Loan ba mươi năm trước Bên cạnh đó, nghiên cứu về chính sách giáo dục của Đài Loan còn góp phần đẩy mạnh hơn nữa quan hệ hợp tác văn hóa - giáo dục nói riêng và quan hệ Việt Nam - Đài Loan nói chung

Với những ý nghĩa khoa học và thực tiễn trên, chúng tôi chọn vấn đề

“Chính sách Giáo dục của Đài Loan từ năm 1979 đến năm 2013” làm đề

tài luận văn Thạc sĩ

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong những thập niên vừa qua, Hàn Quốc, Hồng Kông, Xingapo và Đài Loan được coi là những điểm sáng không thể không chú ý Thế giới nhìn nhận sự phát triển của các nước và khu vực này với thái độ ngưỡng mộ, bằng những cụm từ ca ngợi như: “Những nền kinh tế thần kì ở Châu Á”; “Ngôi sao mới” Xingapo; “Hòn ngọc phương Đông” Hồng Kông; “Ngọn gió thần” Hàn Quốc; “Kỳ tích kinh tế” Đài Loan Theo đó, thời gian gần đây, Đài Loan luôn thu hút sự quan tâm của không ít các nhà nghiên cứu trên thế giới Từ những góc độ khác nhau, hàng loạt công trình khoa học ra đời nhằm tìm hiểu, đánh giá về con đường phát triển của Đài Loan trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học - kĩ thuật, lịch sử

Trang 10

Vấn đề giáo dục ở Đài Loan được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu nhằm tìm thấy những nét đặc trưng nhất, những thành tựu tiêu biểu nhất của Đài Loan trong quá trình xây dựng một nền giáo dục văn minh, hiện đại, công bằng Cho đến nay, đã có một số công trình của các học giả Đài Loan nghiên cứu, làm nổi bật nhiều vấn đề về giáo dục Đài Loan, trong đó đáng chú ý là:

Lâm Ngọc Thể, Bốn mươi năm giáo dục Đài Loan (1949 - 1989), Nhà xuất bản Bộ văn hóa Đài Loan, 1989; Hà Thanh Khâm, Giáo dục Đài Loan sau

quang phục, Nhà xuất bản Phục Văn, Cao Hùng, 1980; Hoàng Chính Kiệt, Phương hướng chính sách cải cách giáo dục Đài Loan, Khoa Giáo Dục, Đại

học Sư phạm Công lập Đài Loan; Thống kê giáo dục Trung Hoa Dân quốc,

Bộ giáo dục Đài Loan phát hành năm 2002

Các công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập tương đối đầy đủ về các vấn đề giáo dục của Đài Loan như: bối cảnh, cơ sở, các chính sách và biện pháp phát triển giáo dục của chính quyền Đài Loan, hệ thống giáo dục Đài Loan Qua đó, chúng ta có thể thấy được bức tranh chung của nền giáo dục Đài Loan trong những thập kỷ vừa qua

Ở Việt Nam, trong thời gian vừa qua, cùng với sự tăng lên các lĩnh vực hợp tác giữa Việt Nam và Đài Loan, nhất là việc hợp tác trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, việc nghiên cứu về giáo dục Đài Loan cũng được các nhà nghiên cứu ngày càng quan tâm hơn Cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về giáo dục Đài Loan của các học giả Việt Nam như:

Qúa trình phát triển nền giáo dục ở Đài Loan 1949 - 1999, Luận án tiến sĩ

của Vũ Thùy Dương, năm 1999; Qúa trình cải cách và phát triển nền giáo

dục Đài Loan giai đoạn 1980 - 1999 của Vũ Thùy Dương, Tạp chí Nghiên

cứu Trung Quốc, số 3, 2000; Những bài học kinh nghiệm về cải cách và phát

triển giáo dục của Đài Loan và mấy suy nghĩ bước đầu về sự đổi mới giáo dục của Việt Nam, của Vũ Thùy Dương,Đề tài cấp Viện, Viện Nghiên cứu

Trang 11

Trung Quốc, Hà Nội, năm 2005; Những chính sách và biện pháp phát triển

giáo dục của Đài Loan giai đoạn 1980 - 1999, của Vũ Thùy Dương, Nghiên

cứu Trung Quốc, số 3(61) - 2005, tr 76 - 82; Một số biện pháp cải cách và

nâng cao chất lượng giáo dục bậc cao ở Đài Loan trong thập niên 70 - 80 của thế kỷ XX, Vũ Thùy Dương, Nghiên cứu Trung Quốc, số 5(69) - 2006, tr

76 - 82; Xây dựng nguồn nhân lực, bồi dưỡng và sử dụng hiệu quả nguồn

nhân tài - kinh nghiệm từ Đài Loan, Vũ Thùy Dương, Nghiên cứu Trung

Quốc, số 6(94) - 2009, tr 64 - 72; Cải cách và phát triển giáo dục trong quá

trình phát triển chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đài Loan, Đỗ Tiến Sâm, Kỉ yếu

hội thảo khoa học, đề tài nghiên cứu cấp bộ, Hà Nội; Hệ thống giáo dục Đài

Loan sáng tạo trong cục diện toàn cầu hóa, Nguyễn Thanh Phong, Tạp chí

Phát triển và Hội nhập, số 7 - tháng 11 - 12 năm 2012; Phạm Thanh Bình,

Kinh nghiệm phát triển giáo dục Đài Loan, năm 2012; Trần Lê Bảo, Giao lưu

và hợp tác nhằm thúc đẩy phát triển việc giảng dạy và nghiên cứu Việt Nam học và Đài Loan học, Nghiên cứu Trung Quốc, số 11- 2010, tr 61 - 72; Cung

Hữu Khánh, Giáo dục Đài Loan hướng tới xây dựng một nền kinh tế tri thức, Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 2(84)-2-2008, tr 38 - 42; Cung Hữu Khánh, Giáo

dục Đài Loan: cải cách và thành tựu, Nghiên cứu Đông Bắc Á, số

6(100)-6-2009, tr 51 - 57

Có thể nói, những vấn đề về giáo dục Đài Loan mà các học giả tập trung nghiên cứu cũng là những vấn đề đang đặt ra đối với nền giáo dục Việt Nam Do vậy, các kết quả nghiên cứu trên đã cung cấp những tư liệu quan trọng, gợi mở nhiều vấn đề cần tham khảo để phát triển giáo dục Việt Nam

Bên cạnh là những công trình nghiên cứu trực tiếp về giáo dục, vấn đề

mà chúng tôi nghiên cứu còn được đề cập trong các công trình nghiên cứu về

những vấn đề về kinh tế, xã hội của Đài Loan, như: Bài viết “Sự phát triển

văn hóa và con người ở một số nước Đông Á trong quá trình hội nhập quốc

Trang 12

tế, chia sẻ thông tin và gợi mở những vấn đề cùng trao đổi”, của Đỗ Tiến

Sâm, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 3, 2009; Kỳ tích kinh tế Đài Loan, của Nguyễn Huy Qúy,Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1995; Bí quyết cất

cánh của bốn con rồng nhỏ, Ngụy Kiệt, Dạ Diệu, Nhà xuất bản Chính trị

Quốc gia, 1993; Qúa trình phát triển kinh tế - xã hội Đài Loan (1949 - 1996), Luận án tiến sĩ của Phùng Thị Huệ, năm1999; Quan hệ Đài Loan - Việt Nam

từ năm 1991 đến năm 2010, Luận án tiến sĩ của Hắc Xuân Cảnh, năm 2012

Mặc dù đề cập một cách khái quát, nhưng các công trình nghiên cứu nói trên cũng đã đưa ra một số nhận định về sự phát triển của giáo dục Đài Loan Đó

là những nguồn tư liệu để chúng tôi đi sâu nghiên cứu đề tài của mình

Như vậy, nhìn chung, sự phát triển của giáo dục Đài Loan đã được nghiên cứu khá toàn diện Kết quả nghiên cứu của những người đi trước là nguồn tư liệu quý giá để chúng tôi kế thừa cả về nội dung và phương pháp khi nghiên cứu đề tài này Trong số các công trình nghiên cứu mà chúng tôi tiếp

cận được đáng chú ý là Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Thùy Dương, Qúa trình

phát triển nền giáo dục ở Đài Loan (1949 - 1999) Đây là công trình nghiên

cứu một cách chuyên sâu về giáo dục Đài Loan Vì vậy, chúng tôi đã kế thừa một số kết quả nghiên cứu để đi sâu nghiên cứu đề tài của mình Mặc dù vậy, luận án của Vũ Thùy Dương mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu về quá trình phát triển của giáo dục Đài Loan đến năm 1999, mà chưa đề cập đến sự phát triển của giáo dục Đài Loan từ năm 2000 đến 2013 - giai đoạn quan trọng, có nhiều đổi mới trong sự phát triển của giáo dục Đài Loan Hơn thế nữa, theo chúng tôi được biết, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách

hệ thống, chuyên sâu về chính sách giáo dục Đài Loan từ 1979 đến 2013 theo cách tiếp cận từ góc độ lịch sử

Thực hiện đề tài này, chúng tôi mong muốn cung cấp bức tranh toàn cảnh

về nền giáo dục của Đài Loan từ thập niên 80 của thế kỉ XX đến những năm thập

Trang 13

kỉ đầu của thế kỉ XXI, và qua đó chúng ta hiểu rõ hơn về một trong những đối tác giáo dục, kinh tế quan trọng của Việt Nam, đó chính là Đài Loan

3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình xây dựng và thực hiện chính sách giáo dục của Đài Loan từ năm 1979 đến năm 2013

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Để làm rõ quá trình hình thành và triển khai chính sách

giáo dục của Đài Loan từ năm 1979 đến năm 2013, chúng tôi tập trung nghiên cứu những nội dung chính sau:

- Cơ sở hình thành và mục tiêu chính sách giáo dục của Đài Loan từ

Về thời gian: Chúng tôi lấy mốc năm 1979 làm mốc mở đầu quá trình

nghiên cứu vì đây là năm chính quyền Đài Loan ban hành Luật Giáo dục nghĩa vụ quốc dân, tạo nên sự chuyển biến mới trong chính sách giáo dục của hòn đảo này Năm 2013 là năm chúng tôi chọn làm mốc kết thúc việc nghiên cứu đề tài Do vậy, những sự kiện về chính sách giáo dục của Đài Loan chỉ dừng lại đến năm 2013

Ngoài những nội dung và thời gian nêu trên các vấn đề khác không

thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài

4 Mục đích, nhiệm vụ

4.1 Mục đích

Nghiên cứu chính sách Giáo dục của Đài Loan từ năm 1979 đến năm

2013, chúng tôi hướng đến làm rõ một số vấn đề sau:

Trang 14

Làm rõ những cơ sở để chính quyền Đài Loan tiến hành xây dựng và thực hiện chính sách Giáo dục

Làm rõ những mục tiêu cơ bản của Giáo dục Đài Loan trong giai đoạn

Dựng lại bức tranh tổng quát về quá trình xây dựng và thực hiện chính sách Giáo dục của Đài Loan từ 1979 đến 2013 thông qua các chính sách và biện pháp cụ thể trong từng giai đoạn để thấy được sự chuyển biến của chính sách giáo dục của Đài Loan

5 Nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tư liệu

Để thực hiện đề tài nghiên cứu, chúng tôi đã dựa trên những tài liệu gốc như các văn bản về chính sách giáo dục của Đài Loan được đăng tải trên

Trang 15

website của Bộ Giáo dục Đài Loan, Cụ Thống kê Đài Loan Tài liệu là công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đăng trên các tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, Nghiên cứu Đông Bắc Á, Nghiên cứu Đông Nam Á, Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, Phát triển và Hội nhập ; Các cuốn sách, công trình nghiên cứu do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Nhà xuất bản Thông tấn… của Việt Nam, Nhà xuất bản Đài Bắc, Nhà xuất bản Quang Hoa… (Đài Loan), các nhà xuất bản ở Trung Quốc và một số nước khác xuất bản; Tài liệu là các bài tham luận đăng trong kỷ yếu hội thảo về quan hệ Đài Loan - Việt Nam được tổ chức ở Việt Nam và Đài Loan… Đặc biệt chúng tôi

đã khai thác những Tài liệu tham khảo đặc biệt của Thông tấn xã Việt Nam, tài liệu do VPKT&VH Đài Bắc tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, VPKT&VH Việt Nam tại Đài Bắc cung cấp

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Với đặc trưng của khoa học lịch sử cũng như yêu cầu của việc nghiên cứu

đề tài, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp phân tích, tổng hợp, kết hợp với phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic để dựng lại bức tranh tổng thể về chính sách Giáo dục của Đài Loan từ 1979 đến 2013 Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu… để làm rõ những nhận định, đánh giá của mình Trong đó, phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic là hai phương pháp chính được sử dụng để nghiên cứu

Từ các nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu trên chúng tôi cố gắng khai thác, xử lý các thông tin một cách khái quát và trung thực nhất

6 Đóng góp của luận văn

Thực hiện đề tài này, chúng tôi có những đóng góp cơ bản sau:

Dựng lại bức tranh tổng thể về quá trình xây dựng và thực hiện chính sách Giáo dục của Đài Loan từ 1979 đến 2013

Trang 16

Đưa ra những đánh giá tác động của chính sách giáo dục đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Đài Loan, đồng thời nêu lên những bài học kinh nghiệm từ việc thực hiện chính sách Giáo dục của Đài Loan đối với quá trình cải cách giáo dục ở Việt Nam

Luận văn cung cấp nguồn tư liệu tương đối phong phú, tin cậy về Giáo dục Đài Loan được khai thác từ các viện nghiên cứu, từ báo chí, từ các văn bản và các báo cáo chính thức của Đài Loan Đồng thời luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị trong việc tìm hiểu về quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Đài Loan từ 1979 đến nay, cũng như về mối quan hệ giữa Đài Loan và Việt Nam Đó là điều bổ ích trong hoàn cảnh Việt Nam còn khá thiếu thốn tư liệu và thông tin về Đài Loan một cách có hệ thống

7 Bố cục luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Nội dung

luận văn chia làm 3 chương

Chương 1: Cơ sở hình thành, mục tiêu của chính sách giáo dục Đài Loan từ 1979 đến 2013

Chương 2: Qúa trình xây dựng và thực hiện chính sách giáo dục của Đài Loan từ năm 1979 đến năm 2013

Chương 3: Nhận xét về chính sách giáo dục của Đài Loan từ 1979 đến

2013 và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Trang 17

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ HÌNH THÀNH, MỤC TIÊU CỦA CHÍNH SÁCH

GIÁO DỤC ĐÀI LOAN TỪ 1979 ĐẾN 2013

1.1 Cơ sở hình thành

1.1.1 Truyền thống lịch sử, văn hóa

Đài Loan là một hòn đảo lớn nhất trong số hơn 5.000 hòn đảo nằm ven biển phía Đông Trung Quốc với diện tích khoảng 36.000 km² Dân số Đài Loan tính đến năm 2011 là hơn 23 triệu người, trong đó 97% là người Hán, 3% là dân tộc Cao Sơn Đài Loan phía Bắc giáp với biển Đông, phía Đông Bắc giáp với quần đảo Lưu Cầu, phía Đông giáp với Thái Bình Dương, phía Nam giáp với biển Ba Sĩ, phía Tây đối diện với tỉnh Phúc Kiến và cách Phúc Kiến bởi eo biển rộng khoảng 130 km Địa hình Đài Loan chủ yếu là đồi núi (khoảng 2/3 diện tích của Đài Loan là đồi núi), chỉ có một vùng đồng bằng ven biển phía Tây kéo dài từ Nam lên Bắc

Theo sử sách Trung Quốc, vào năm 230, Chúa nước Ngô là Tôn Quyền

đã cử các tướng Vệ Ôn, Chư Cát Trực dẫn 10 nghìn thuỷ quân vượt biển đến Đài Loan, mở đầu quá trình cư dân lục địa khai phá Đài Loan Vào cuối thế

kỷ VI, đầu thế kỷ VII, vua nhà Tuỳ là Tuỳ Dạng Đế đã nhiều lần cử người đến để khai thác Đài Loan Tiếp đó, liên tục trong hơn 600 năm từ đời nhà Đường đến nhà Tống, cư dân các tỉnh Thuyền Châu, Phúc kiến đã đến Đài Loan để tiến hành công cuộc khẩn hoang hòn đảo này Năm 1335, nhà Nguyên chính thức đặt “Tuần Kiểm Tư” tại Bành Hồ để quản lý dân chính của Bành Hồ và Đài Loan Từ đó, Trung Quốc bắt đầu đặt cơ quan chính quyền chuyên trách tại Đài Loan

Từ đầu thế kỷ XVII, thực dân phương Tây đã bắt đầu quá trình xâm chiếm Đài Loan Năm 1624, thực dân Hà Lan xâm lược và chiếm đóng khu

Trang 18

vực phía Nam Đài Loan Sau đó hai năm, vào năm 1626, thực dân Tây Ban Nha chiếm đóng khu vực phía Bắc của Đài Loan Năm 1642, Hà Lan đã hất cẳng Tây Ban Nha để độc chiếm Đài Loan và đặt ách thống trị của mình trên toàn bộ hòn đảo này Kể từ khi thực dân phương Tây xâm lược và cai trị Đài Loan, nhân dân Trung Quốc đã liên tục tiến hành những cuộc đấu tranh để giành lại chủ quyền của hòn đảo này Năm 1661, Trịnh Thành Công đã dẫn một đạo quân ra giải phóng Đài Loan Sau một năm chiến đấu kiên cường, Trịnh Thành Công đã buộc thực dân Hà Lan ký văn bản đầu hàng vào ngày 13-12-1662, trao trả chủ quyền của Đài Loan cho Trung Quốc Có thể nói, việc thu phục Đài Loan của Trịnh Thành Công không những thể hiện tinh thần đấu tranh bất khuất của nhân dân Trung Quốc, mà còn thể hiện tình cảm của nhân dân Đại lục đối với Đài Loan, kết nối Đài Loan thành một thể với Đại lục Sự thu phục Đài Loan của Trịnh Thành Công có ảnh hưởng lâu dài đối với Trung Quốc

Vào thế kỷ XVIII, nhà Thanh đã tăng cường chính sách cai quản của mình trên đảo Đài Loan Năm 1727, nhà Thanh đã cải tổ lại các cơ quan hành chính trên đảo, thành lập cơ quan chính quyền Tổng Đài Loan và nhập hòn đảo này vào huyện Bành Hồ Từ đây hòn đảo này có tên gọi chính thức là Đài Loan Tiếp đó, năm 1885, Chính quyền nhà Thanh đã nâng cấp Đài Loan lên thành một tỉnh gồm 3 tổng, 1 tiểu khu với 11 quận và 5 phủ Lưu Minh Tuyền được cử làm Tỉnh trưởng đầu tiên của Đài Loan Kể từ thời kỳ này, Đài Loan

đã có những bước phát triển mạnh mẽ về kinh tế, văn hoá, xã hội…

Năm 1894, Nhật Bản tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Trung Quốc, triều đình nhà Thanh đã ký với Nhật Bản “Điều ước Mã Quan” Theo đó, Nhật Bản chiếm bán đảo Liêu Đông, chuỗi đảo Đài Loan, Bành Hồ và còn được bồi thường 20 triệu lạng bạc trắng Nhật Bản đã cai trị đảo Đài Loan cho đến khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai

Trang 19

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, nhân dân Trung Quốc đã có những

cố gắng to lớn trong cuộc đấu tranh để giải phóng Đài Loan khỏi ách thống trị của phát xít Nhật và đã được cộng đồng quốc tế ủng hộ Ngày 1-12-1943, Mỹ, Anh, Trung Quốc đã ra Tuyên bố Cairô, trong đó quy định Nhật Bản sẽ phải rút khỏi tất cả những hòn đảo ở Thái Bình Dương mà Nhật đã giữ hoặc chiếm đóng từ Chiến tranh thế giới lần thứ nhất và tất cả những lãnh thổ mà Nhật đã lấy của Trung Quốc như Mãn Châu Lý, Đài Loan và Bành Hồ Tiếp đó, ngày 26-7-1945, Mỹ, Anh, Trung Quốc và Liên Xô đã ra Tuyên bố Posdam, nhắc lại và cam kết thực hiện những điều khoản của Tuyên bố Cairô Ngày 15-8-

1945, Nhật tuyên bố đầu hàng và chấp nhận những điều khoản trong Tuyên

bố Posdam Ngày 25-10-1945, lễ tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật ở Đài Loan

đã diễn ra tại Đài Bắc Từ đây, Đài Loan đã thuộc chủ quyền quản lý của Trung Quốc

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, với âm mưu chống lại Đảng Cộng sản Trung Quốc, được sự giúp đỡ của Mỹ, Tưởng Giới Thạch đã phát động cuộc nội chiến Sau hơn 3 năm tiến hành nội chiến, Tưởng Giới Thạch đã phải chấp nhận thất bại, rút ra cố thủ ở Đài Loan Từ đây, sự phát triển của Đài Loan đặt dưới sự lãnh đạo của Quốc dân Đảng và các đảng phái dân chủ

Về văn hóa, giáo dục: nhìn chung, nền văn hóa Đài Loan mang đậm bản sắc của văn hóa Hán Bởi từ rất lâu đời, với số lượng ít và lạc hậu hơn, người dân bản địa Đài Loan dần dần bị Hán hóa, chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi phong tục, tập quán, nếp sống văn hóa và cả tôn giáo, tín ngưỡng của dân tộc Hán đến từ đại lục

Đài Loan là nơi hình thành và tồn tại tương đối nhiều hình thức tôn giáo, tín ngưỡng như Phật giáo, Đạo giáo, Hồi giáo, Thiên Chúa giáo, Hiên Viên giáo, Lý giáo, Thiên Địa giáo, Thiên Đế giáo… Trong đó, có Tôn giáo mang những nét Trung Hoa thuần túy, có tôn giáo được du nhập từ bên ngoài

Trang 20

vào qua quá trình giao lưu buôn bán, có tôn giáo là kết quả truyền đạo của các giáo sĩ từ phương Tây Ở Đài Loan, Phật giáo được coi là tôn giáo phổ biến,

có vai trò và ảnh hưởng lớn nhất trong đời sống tâm linh của người dân

Cùng với tư tưởng của Phật giáo, tư tưởng của Nho giáo có ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống tinh thần, đạo đức xã hội Đài Loan Hiện nay còn nhiều tranh canh cãi về những ảnh hưởng của Đạo Khổng trong đời sống kinh

tế, văn hóa, xã hội Đài Loan, cũng như thách thức và mức độ vận dụng nó trong hệ thống giáo dục đạo đức, kỷ cương cho con người Đài Loan Song nhiều quan điểm thống nhất cho rằng, Đạo Khổng có vai trò và tác dụng không nhỏ trong thành công của nền kinh tế và nền giáo dục Đài Loan Nho giáo với sự ra đời và tồn tại hơn 2000 năm qua, đã trở thành một đặc trưng văn hóa riêng của Trung Hoa và có vị trí khá quan trọng ngay cả trong đời sống hiện đại như ngày nay của người Đài Loan

Ngoài ảnh hưởng chủ yếu của Phật giáo và Nho giáo, người dân Đài Loan còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng tôn thờ các đấng siêu nhiên, thần thánh (người Đài Loan coi đây là một hình thức “Thần giáo”) và những tôn giáo từ phương Tây du nhập vào

Về ngôn ngữ: Ngôn ngữ truyền thống của người dân bản địa Đài Loan

là ngôn ngữ của các tộc người Cao Sơn, còn gọi là Đài ngữ Trong quá trình

di dân liên tục với số lớn của người Hán, ngôn ngữ bản địa dần dần mất địa vị độc tôn, nhường chỗ cho ngôn ngữ của dân tộc có trình độ văn minh cao hơn,

có số lượng người lớn hơn Đó cũng là quy luật tất yêu của quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ Từ năm 1949, sau đợt di chuyển của chính quyền Quốc dân Đảng ra Đài Loan, ngôn ngữ được sử dụng chính thức trong trường học, cũng là công cụ giao tiếp chủ yếu của mọi người dân trên đảo là tiếng quan thoại Bắc Kinh - người Đài Loan gọi là Quốc ngữ Tuy nhiên, trong giao tiếp dân gian, nhiều người (phần đông là những người cao tuổi) thường vẫn dùng Đài ngữ

Trang 21

Do nền văn hóa Đài Loan mang bản sắc văn hóa Trung Hoa, nên hầu hết các phong tục, tập quán truyền thống của Đài Loan cũng tương tự như các vùng khác trên lục địa Chẳng hạn, người Đài Loan cũng tổ chức các ngày lễ tết truyền thống theo âm lịch như Tết nguyên đán (đầu tháng giêng); Tết thanh minh (đầu tháng ba); Tết đoan ngọ (mồng 5 tháng 5); Rằm tháng bảy; Tết trung thu (rằm tháng tám)… Cách tổ chức và tục lễ trong các ngày lễ tết này cũng tương tự như Trung Quốc lục địa, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên Ngoài ra, người Đài Loan cũng tuân theo những tập tục ăn mặc, cưới xin, ma chay… giống như người đại lục

Tóm lại, Đài Loan là một lãnh thổ không mấy giàu có về tài nguyên khoáng sản, đất đai phần nhiều lại khô cằn, kém màu mỡ, gây không ít khó khăn trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế Bù lại Đài Loan có một vị trí địa lý khá thuận lợi để du nhập các luồng văn hóa tiến bộ từ bên ngoài, và xây dựng nền kinh tế theo mô hình biển đảo - mở rộng ngoại thương, phát triển các ngành sản xuất hàng xuất khẩu Dù trải qua quãng thời gian dài dưới chế độ thống trị của các thế lực nước ngoài, song Đài Loan vẫn giữ được nét văn hóa Trung Hoa đặc trưng của mình Những đặc điểm địa lý, đặc điểm dân tộc và tình hình cư dân như đã trình bày là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến những bước phát triển sau này của nền kinh tế và nền giáo dục Đài Loan

1.1.2 Tình hình giáo dục của Đài Loan trước năm 1979

Kể từ khi xác lập chủ quyền ở Đài Loan, cùng với việc du nhập các giá trị văn hóa, chính quyền phong kiến Trung Quốc đã áp đặt nền giáo dục Nho học ở hòn đảo này Tiếp đó, trong thời kỳ thống trị Đài Loan từ năm 1885 đến năm 1945, Nhật Bản đã đưa ra nhiều biện pháp cải cách giáo dục ở đây như tiến hành quy hoạch toàn diện và cơ bản, xây dựng nhiều trường học với quy

mô lớn hơn trước Các chuyên gia hàng đầu của Nhật cũng được đưa sang Đài Loan tham gia công tác giảng dạy, hoặc làm cố vấn trên nhiều lĩnh vực khác

Trang 22

nhau Trong thời kì chiếm đóng Đài Loan, Nhật Bản đã xây dựng 4 trường sư phạm (2 ở Đài Bắc, 1 ở Đài Trung, 1 ở Đài Nam) và 2 phân khoa sư phạm đặt tại Tân Trúc và Bình Đông Người Nhật đã đầu tư vốn và công nghệ để nâng cao chất lượng giáo dục tại Đài Loan, và kết quả đem lại rất khả quan

Về khách quan mà nói, những chính sách Giáo dục của Nhật Bản ở Đài Loan đã góp phần đem lại diện mạo mới cho nền giáo dục của hòn đảo này, đồng thời có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của giáo dục Đài Loan sau này

Từ sau khi thiết lập chính quyền ở Đài Loan vào năm 1949, chính quyền Quốc dân Đảng đã có nhiều biện pháp tích cực để thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa và giáo dục ở đây Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu do trình độ dân trí ở Đài Loan (cũng giống như nhiều quốc gia khác trong khu vực) còn ở mức thấp, nên người dân chưa nhận thức được vai trò quan trọng của giáo dục trong đời sống kinh tế - xã hội Vì vậy, nhiều người không muốn cho con em mình đến trường, bởi họ nghĩ là không cần thiết, hoặc bắt con em mình nghỉ học sớm để đi làm… Chính vì thế, chính quyền Đài Loan đã phải

đề ra chính sách vừa mang tính động viên người dân đưa trẻ đến trường, vừa mang tính nghĩa vụ như “ban hành “Biện pháp cưỡng học đối với thiếu niên nhi đồng” Theo đó, quy định tất cả trẻ em từ 6 đến 11 tuổi đều có quyền và nghĩa vụ phải đi học, người nào cố tình vi phạm quy chế đều bị xử lý theo trình tự trong điều 16 của “Biện pháp cưỡng chế” Quy chế quy định các mức

cụ thể là:

Khuyến cáo: động viên, khuyến khích cha mẹ hoặc người nuôi dưỡng

trẻ thực hiện chế độ giáo dục phổ cập

Cảnh cáo: trong vòng 7 ngày từ khi thông báo, nếu trẻ không đến

trường sẽ bị ghi tên, cảnh cáo công khai

Phạt tiền cha mẹ: qúa 7 ngày, người bị cảnh cáo vẫn không chịu thực

hiện quy định sẽ bị phạt 14 NT và vẫn hạn định thời gian phải đến trường của trẻ

Trang 23

Trừ lương của cha mẹ: những người không có khả năng nộp phạt bằng

tiền mặt sẽ bị trừ lương theo tỉ lệ ngày phạt và vẫn hạn định thời gian trẻ phải đến trường

Bên cạnh việc thực thi những biện pháp hành chính nói trên, điều 14 trong “Biện pháp cưỡng chế” cũng ghi rõ những ưu đãi về học phí, tiền trợ cấp, học bổng, đồ dùng học tập… đối với những trường hợp có hoàn cảnh thực sự khó khăn Điều 15 cũng cho phép những người đang ốm đau, bệnh tật hay phát triển không bình thường về trí tuệ sẽ được tạm hoãn hay miễn học” [24; tr 154 - 155]

Thực tế cho thấy, các biện pháp trên ít phải sử dụng ở Đài Loan, bởi

đa số người dân đều nhận thấy sự cần thiết phải cho con em mình đi học Bên cạnh đó, từ những năm 50 của thế kỷ XX, cùng với sự tăng trưởng kinh

tế, thu nhập của từng gia đình được nâng cao, chế độ trợ cấp xã hội nói chung, trợ cấp giáo dục nói riêng được Đài Loan thực hiện đúng đối tượng

và khá tích cực đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc đưa trẻ em trong độ tuổi đến trường

Bằng những chính sách và biện pháp tích cực nói trên, nền giáo dục Đài Loan đã có những chuyển biến nhanh chóng, tỉ lệ người biết chữ tăng lên đáng đáng kể: “Năm 1950 là 56,01%; năm 1956: 62,88%; năm 1961: 74,13%; năm 1966: 76,84%; năm 1976: 87,84% Tỉ lệ học sinh tiểu học năm 1950: 41,36%; năm 1956: 47,70%; năm 1966: 54,78%; năm 1971: 56,64%” [11] Cùng với tỷ lệ người biết chữ và trẻ em đến trường ngày càng cao, chính quyền Đài Loan rất chú trọng đến việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên Bên cạnh những trường sư phạm được xây dựng dưới thời kỳ Nhật chiếm đóng, chính quyền Đài Loan đã “mở thêm các lớp sư phạm tại các trường trung học và trường trung học nữ sinh Sau này, do khối lượng học sinh ngày càng đông, nhất là học sinh hệ giáo dục nghĩa vụ 9 năm, Đài Loan

Trang 24

phải thành lập tiếp một số trường đại học, học viện sư phạm Những cơ sở đào tạo giáo viên trung học bao gồm Đại học sư phạm Đài Loan (Đài Bắc), Học viện sư phạm Cao Hùng, Học viện sư phạm Chương Hoa… lần lượt được ra đời Các học viện và các khoa đào tạo giáo viên trong một số trường đại học cũng được hưởng chế độ đãi ngộ bình đẳng với trường Đại học sư phạm Đài Loan Bên cạnh đó, vì rất coi trọng khâu giáo dục học sinh tiểu học nên ngoài các trường, học viện sư phạm ra, Đài Loan còn xây dựng 9 “Học viện sư phạm” chuyên phụ trách đào tạo giáo viên tiểu học ở Đài Bắc (2 cơ sở), Tân Trúc, Đài Trung, Gia Nghĩa, Đài Nam, Bình Đông, Hoa Liên và Đài Đông” [24; tr 156] Chính vì vậy, tỉ lệ sinh viên cao đẳng chuyên nghiệp và đại học trở lên không ngừng tăng: “Năm 1956 tỉ lệ sinh viên cao đẳng là 0,68%, đại học trở lên là 0,98%; năm 1961 tương ứng là 0,85% và 1,1%; năm 1971: 1,95% và 2,16%; năm 1976: 2,65% và 2,92%” [24]

Trong những năm 70 của thế kỷ XX, chính quyền Đài Loan còn đề ra một số chính sách nhằm phát triển giáo dục như: “miễn học phí cho học sinh trong độ tuổi giáo dục phổ cập; các cấp chính quyền tăng quỹ học bổng hỗ trợ cho những học sinh có năng lực nhưng không có điều kiện học lên; các vùng sâu, vùng xa, vùng có kinh tế khó khăn được chính quyền trung ương hỗ trợ kinh phí phát triển kinh tế giáo dục; kinh phí dành cho công tác văn hóa, khoa học và giáo dục không được thấp hơn 15% tổng dự toán cấp “trung ương”, 25% tổng dự toán “cấp tỉnh, thành phố”, 35% tổng dự toán “cấp huyện, thị”; chính quyền cần đảm bảo chính sách cho những người làm công tác văn hóa, khoa học và giáo dục, tìm cách không ngừng nâng cao mức sống của họ theo

đà phát triển chung của nền kinh tế quốc dân; chính quyền xét cấp học bổng hoặc hỗ trợ tài chính cho những người có phát minh khoa học kĩ thuật và người làm công tác lâu năm trong ngành giáo dục đạt thành tích xuất sắc Chính quyền Đài Loan cũng thường xuyên tăng nguồn kinh phí đầu tư cho

Trang 25

giáo dục Chẳng hạn như chi phí giáo dục cho mỗi học sinh tiểu học từ 144

NT năm 1952 đã tăng lên 332NT năm 1971 Nghĩa là chi phí cho giáo dục tiểu học từ 1952 - 1971 tăng 13,6% Tương tự như vậy, kinh phí giành cho các trường cao đẳng và các học viện chuyên nghiệp: 10,6% trong thời kì 1952

bổ túc, các lớp học ngoại ngữ cho học sinh miền núi; tổ chức công tác tuyên truyền giáo dục, giúp các gia đình thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ đến trường của trẻ em

Có thể nói, việc áp dụng đa dạng các hình thức giáo dục là yếu tố thiết thực giúp nhiều người có thêm cơ hội trang bị và nâng cao kiến thức như lớp học bổ túc ban đêm, ngoài giờ làm việc; hình thức đào tạo từ xa; các lớp bổ túc ngắn hạn… Điều cần nhấn mạnh là chế độ giáo dục đặc biệt ở Đài Loan được coi là một biện pháp quan trọng đem lại quyền lợi cũng như tính công bằng trong giáo dục Đây là mối quan tâm thực sự của xã hội đến những người thiệt thòi về mặt này hay mặt khác bằng con đường giáo dục Vì thế, nhiều người khuyết tật hay kém phát triển trí tuệ ở Đài Loan vẫn được trang

bị những kiến thức văn hóa nhất định giúp họ có điều kiện góp sức vào công cuộc xây dựng kinh tế - xã hội chung Điều đáng nói là, tất cả các hình thức

Trang 26

giáo dục nêu trên đều được đảm bảo rất nghiêm ngặt về chất lượng, khiến chúng trở thành những hình thức có tác dụng thực sự trong mục tiêu đào tạo con người và phát triển sự nghiệp giáo dục ở Đài Loan

Như vậy, nhìn chung, trong thời kì từ cuối những năm 40 của thế kỉ XX đến năm 1979, Đài Loan đã không ngừng đưa sự nghiệp giáo dục đi lên Sau một thời gian không dài lắm, Đài Loan đã xây dựng được hệ thống trường sở khang trang với trang thiết bị vật chất khá hoàn thiện và hiện đại “Năm học

1952 - 1953, cả Đài Loan mới có 1.769 trường học các cấp với 22.938 lớp học Hai chục năm sau, số trường học tăng lên thành 4.155 với 87.047 lớp học” [24; tr 159] Với những thành quả đạt được, ngành Giáo dục Đài Loan

đã góp phần rất quan trọng vào công cuộc xây dựng kinh tế - xã hội Đó chính

cơ sở hàng đầu để chính quyền Đài Loan tiếp tục đề ra những chính sách phát

triển giáo dục trong các thời kỳ tiếp theo

1.1.3 Sự phát triển kinh tế - xã hội của Đài Loan giai đoạn 1979 - 2013

Về kinh tế: theo các nhà nghiên cứu, một trong những nét nổi bật của

quá trình phát triển kinh tế Đài Loan từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai là

“không câu nệ mô thức cố định Khi gặp khó khăn và cản trở có thể kịp thời

đề xuất ứng biến và điều chỉnh” [39; tr 31] Chính sách linh hoạt nói trên đã

tạo điều kiện cho Đài Loan đạt được những thành tựu kinh tế quan trọng

“Sau khi vượt qua những khó khăn trong thời kì khôi phục kinh tế, từ những năm 1953 - 1982, Đài Loan đã liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh

tế cao (khoảng 9%) Đây cũng là thời kì Đài Loan đã thực hiện thành công những chiến lược kinh tế quan trong như chiến lược “Lấy nông nghiệp nuôi công nghiệp, lấy công nghiệp phát triển công nghiệp” và chiến lược “Mở rộng xuất khẩu, thay thế nhập khẩu” lần thứ hai” [8; tr 41 - 42]

Có thể nói, việc thực hiện chiến lược “Mở rộng xuất khẩu, thay thế nhập khẩu” đã tạo nên sự chuyển hướng chiến lược có ý nghĩa quan trọng đối

Trang 27

với quá trình phát triển kinh tế Đài Loan Từ đó, phát triển hướng ngoại trở thành yếu tố tất yếu, và là yếu tố quan trọng đưa Đài Loan trở thành “một con rồng Châu Á” Bên cạnh đó, việc thực hiện chiến lược đối ngoại đã mở ra một

thời kì mới trong quá trình phát triển kinh tế đối ngoại của Đài Loan

Cùng với việc thực hiện chiến lược “Mở rộng xuất khẩu, thay thế nhập khẩu”, từ đầu những năm 80 của thế kỉ XX, Đài Loan thực hiện chính sách khuyến khích đầu tư vào các ngành kĩ thuật cao Tuy nhiên, trong thời gian này, các xí nghiệp sản xuất ở Đài Loan phải đối mặt với nhiều vấn đề nan giải như: giá thành nhà xưởng tăng cao, giá nhân công đắt đỏ… Điều đó làm cho môi trường đầu tư tại chỗ của các xí nghiệp Đài Loan gặp nhiều khó khăn, hạn chế Một yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với các xí nghiệp Đài Loan, nhất là các xí nghiệp vừa và nhỏ là phải nhanh chóng mở rộng quy mô, cải tiến trang thiết bị và công nghệ, đồng thời chuyển giao những kĩ thuật, công nghệ dã cũ sang các thị trường khác Trong bối cảnh đó, nhiều xí nghiệp vừa và nhỏ của Đài Loan đã quyết định đầu tư ra bên ngoài

Ngoài ra, thành công của việc thực hiện những chiến lược và chính sách phát triển đã tạo đà để Đài Loan đạt được những “kì tích” về kinh tế “Từ năm 1986 đến năm 2000, bằng việc thực hiện thành công 4 kế hoạch 4 năm, Đài Loan đã trở thành một nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng khá cao, với mức tăng bình quan hàng năm là 6,5%” [5; tr 127] “Trong giai đoạn 2002 - 2007, tăng trưởng kinh tế của Đài Loan thường giao động từ 3,5% đến 6,2%, tốc độ tăng trưởng trung bình là 4,1%/năm Năm 2008, do tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu, tốc độ tăng trưởng của kinh tế Đài Loan giảm sút đáng kể, chỉ đạt mức 0,73% Tuy nhiên, từ năm 2009, kinh tế Đài Loan đã có sự tăng trưởng lại và đạt 10,47% vào năm 2010 - mức cao nhất kể từ năm 1987” [8; tr 42] Cùng với tốc độ tăng trưởng tương đối cao, sau mấy thập kỉ phát triển, Đài Loan cũng đã tích lũy được một khối lượng vốn khá lớn Trong 3 thập kỉ

Trang 28

gần đây, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Đài Loan không ngừng tăng lên Nếu như “năm 1980 GDP của Đài Loan mới đạt mức 42,2 tỉ USD thì đến năm 1986 là 77,6 tỉ USD, năm 1991: 184,8 tỉ USD, năm 2000: 326 tỉ USD, năm 2010 là 430,1 tỉ USD; năm 2011 là 466,4 tỉ GDP trung bình của Đài Loan giai đoạn 1980 - 2010 là 231,66 tỉ USD” [71] Bên cạnh đó, tỉ lệ dự trữ trên GNP của Đài Loan từ những năm 70 của thế kỉ trước đến nay luôn đạt khoảng 30% và dự trữ ngoại tệ cũng tăng lên đáng kể: năm 1980 đạt 2,2 tỉ USD, năm 1985 đạt 22,5 tỉ USD, năm 1990: 72,4 tỉ USD, năm 1995: 90,3 tỉ USD, năm 2001: 122,2 tỉ USD [57] Từ năm 1951 đến năm 2012, GDP thực

tế hàng năm của Đài Loan tăng xấp xỉ 73 lần, từ 6,4 tỉ USD đến 473 tỉ USD [62] Năm 2013, GDP của Đài Loan là 498,132 tỉ USD [53]

Về xã hội: cũng giống như bất kì quốc gia, khu vực nào, xây dựng một

nền kinh tế phát triển và một xã hội văn minh, hiện đại luôn là hai mục tiêu lớn hoà quyện vào nhau trong suốt mấy thập kỉ qua ở Đài Loan Do vậy, “giải quyết việc làm; nâng cao thu nhập và mức sống của người dân, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo và những cách biệt giữa nông thôn với thành thị; giải quyết vấn đề phúc lợi xã hội; đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục; xây dựng đời sống xã hội trật tự, công bằng và ổn định… là những mục tiêu nhất quán xuyên suốt toàn bộ tiến trình xây dựng kinh tế - xã hội ở Đài Loan” [24; tr 121] Đây cũng được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của bất kì chính quyền nào ở Đài Loan

Trong hơn 60 năm qua, để xây dựng một xã hội ổn định và phát triển, những người đứng đầu chính quyền Đài Loan đã và đang đề ra nhiều chính sách tích cực như: tiến hành cải cách ruộng đất nhằm thực hiện mục tiêu người cày có ruộng; thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội; thực hiện chế độ phúc lợi xã hội đối với trẻ em, người già, người tàn tật…; tạo việc làm ổn định nhằm rút ngắn khoảng cách giàu nghèo bằng cách xây dựng các xí

Trang 29

nghiệp vừa và nhỏ, cải thiện điều kiện lao động và nâng cao tố chất người lao động; từng bước xây dựng xã hội văn minh, hiện đại bằng cách đẩy mạnh giáo dục, chú trọng đầu tư nghiên cứu khoa học

Bằng những chính sách và biện pháp nói trên, Đài Loan đã và đang đạt được những thành quả quan trọng trong việc xây dựng một xã hội công bằng, văn minh, hiện đại Trong đó, “thành công lớn nhất của Đài Loan là xây dựng được một xã hội tương đối công bằng trên nhiều lĩnh vực: công ăn việc làm, thu nhập kinh tế, chính sách xã hội, giáo dục, y tế…” [24; tr 172]

Cho đến nay, xã hội Đài Loan đã trải qua nhiều lần biến đổi và ngày càng tiến bộ, hoàn thiện hơn Từ chỗ là một xã hội thấp kém, lạc hậu về trình

độ văn hóa, rối ren về xã hội vào những năm 50 của thế kỉ trước, đến nay Đài Loan đã xây dựng được một xã hội ổn đinh, có trật tự Bên cạnh đó, Đài Loan cũng là một trong số rất ít quốc gia và vùng lãnh thổ đã và đang giải quyết tốt mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và xây dựng xã hội Cùng với sự phát triển kinh tế, Đài Loan đã khá thành công trong việc cải thiện, nâng cao đời sống của nhân dân, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo cũng như thu hẹp những cách biệt giữa thành thị và nông thôn

Cùng với thành công trong việc xây dựng một xã hội khá ổn định, Đài Loan rất chú trọng vấn đề phát triển giáo dục, nâng cao trình độ văn hóa cho người dân Có thể nói, từ những năm 1950 đến nay “giáo dục được coi là một trong những nhân tố hàng đầu tạo nên mọi thành công của Đài Loan cả trong hai lĩnh vực kinh tế và xã hội” [24; tr 168]

Trong hai thập kỉ gần đây, những cải cách giáo dục của Đài Loan đang hướng tới mục tiêu cao nhất là “nuôi dưỡng tài năng trong tất cả các lĩnh vực sáng tạo và tầm nhìn toàn cầu” [60] Bộ Giáo dục Đài Loan cũng rất chú trọng việc phát triển giáo dục ra bên ngoài bằng cách thực hiện chính sách “ngoại giao giáo dục” nhằm tăng cường quan hệ hợp tác trong lĩnh vực giáo dục với các nước trong khu vực và trên thế giới

Trang 30

Từ năm 2008, sau khi lên nắm chính quyền, Mã Anh Cửu đã đưa ra nhiều chính sách và biện pháp để nâng cao khả năng cạnh tranh của giáo dục của Đài Loan cũng như ở khu vực và trên thế giới Ngoài việc coi đổi mới hệ thống giáo dục là cơ sở để nâng cao khả năng cạnh tranh, Mã Anh Cửu cũng nêu lên mục tiêu của giáo dục Đài Loan là “một nề giáo dục mới có cá tính mạnh mẽ và tinh thần vì mọi người, và được trang bị để tham gia học tập suốt đời” [63] Ông cũng cho rằng giáo dục Đài Loan phải được xây dựng trên tinh thần “nhân văn, dân chủ, đa dạng, công nghệ, tập trung, và quốc tế” [63]

Để thực hiện những mục tiêu của chính sách Giáo dục mới, chính quyền Đài Loan rất coi trọng việc phát triển giáo dục ra bên ngoài, mà trước hết là tăng cường hợp tác về giáo dục với các nước Đông Nam Á Ông Mã Anh Cưủ cho rằng cần phải đưa giáo dục Đài Loan trở thành trung tâm của giáo dục Đông Nam Á, và mong muốn xây dựng Đài Loan trở thành trung tâm đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao cho khu vực này Do vậy, trong những năm gần đây, chính quyền Đài Loan đã và đang tiến hành nhiều biện pháp đẩy mạnh hợp tác giáo dục với các nước Đông Nam Á như: mở rộng chiêu sinh, tăng cường giao lưu, trao đổi về giáo dục giữa các trường đại học của Đài Loan với các trường đại học của các nước Đông Nam Á; thành lập các tổ chức, trung tâm giáo dục của Đài Loan tại các nước Đông Nam Á…

1.1.4 Xu thế toàn cầu hóa và nhu cầu hợp tác quốc tế về giáo dục

Có thể nói, toàn cầu hóa là một xu thế khách quan của sự phát triển lịch

sử Sự phát triển của nó đã và đang làm gia tăng sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trên thế giới Toàn cầu hóa mà nội dung chính là toàn cầu hóa kinh tế diễn ra với tốc độ nhanh chóng, cùng với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đặt ra một yêu cầu khách quan đối với tất cả các nước, các nền kinh tế là phải mở cửa hội nhập để duy trì sự ổn định

và phát triển Hơn nữa, toàn cầu hóa kinh tế cũng góp phần tạo nên sự chuyển

Trang 31

dịch vốn đầu tư và chuyển giao công nghệ từ những nền kinh tế phát triển sang những nền kinh tế kém phát triển hơn Bên cạnh đó, dưới tác động của toàn cầu hoá kinh tế, làn sóng tập hợp các quốc gia, khu vực thành những thị trường rộng lớn trên cơ sở hình thành những khu vực mậu dịch tự do đang diễn ra mạnh mẽ ở hầu hết các châu lục…

Song song với toàn cầu hóa kinh tế, xu thế tăng cường giao lưu và hợp tác trên lĩnh vực văn hóa giữa các quốc gia, các nền văn hóa không chỉ thúc đẩy các nền văn hóa xích lại gần nhau mà còn làm thay đổi các quan niệm truyền thống về văn hóa, gia đình…

Thực tiễn những năm cuối thế kỉ XX, thập niên đầu thế kỉ XXI cho thấy rằng toàn cầu hóa đang lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, nó vừa

có mặt tích cực và có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh Theo

đó, thế giới đứng trước nhiều vấn đề toàn cầu mà không một quốc gia riêng lẻ nào có thể tự giải quyết nếu không có sự hợp tác đa phương Trong xu thế chung đó, sự hội nhập quốc tế về giáo dục càng trở nên cấp thiết Bởi vì, trong thời đại hiện nay khi mối quan hệ quốc tế được mở rộng trên toàn thế giới, cách mạng khoa học - công nghệ phát triển như vũ bão, tác động trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội thì việc giáo dục con người, với mục tiêu cung cấp nhân lực cho lao động sản xuất, càng trở nên cấp thiết và cần thiết Hơn thế nữa, sự thúc đẩy của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đang ngày càng lôi kéo các quốc gia, khu vực, các nền văn hóa xích lại gần nhau, đồng thời cũng tạo điều kiện để đa dạng hóa các hoạt động hợp tác về văn hóa, giáo dục giữa các quốc gia, khu vực

Trong xu thế ngày càng tăng lên về nhu cầu hợp tác giáo dục, Đài Loan

có ưu thế là có nền giáo dục trải qua quá trình cải cách kéo dài nhiều năm, có chương trình đào tạo mang tính mềm dẻo và môi trường học tập tốt, trang bị thiết bị kĩ thuật phục vụ hoạt động dạy học hiện đại, nội dung bài học cải cách

Trang 32

theo hướng thực dụng, gắn liền với thực tế cuộc sống, chuyên nghiệp hóa đội ngũ thầy cô giáo, xây dựng một xã hội học tập suốt đời sẽ có điều kiện thuận lợi để đề ra những chiến lược nhằm tăng sức cạnh tranh trong quá trình hợp tác quốc tế về giáo dục Nắm bắt được điều này, hiện nay, ngành Giáo dục Đài Loan đang triển khai cuộc vận động “Đài Loan sáng tạo trong cục diện toàn cầu”, nền giáo dục tích cực thực hiện 4 mục tiêu trọng tâm: “Quốc dân hiện đại, chủ thể Đài Loan, tầm nhìn toàn cầu, quan tâm xã hội” [30]; chú trọng nâng cao trình độ ngoại ngữ của toàn dân, xây dựng môi trường học tập

số hóa, nâng cao tố chất chuyên nghiệp của thầy cô giáo, đẩy mạnh giáo dục môi trường, giáo dục thẩm mĩ và bồi dưỡng phẩm chất công dân toàn cầu cho học sinh; hỗ trợ cho đối tượng thiệt thòi, tăng cường giáo dục đối tượng di dân mới, khích lệ phần tử trí thức tinh anh các nước sang du học, hỗ trợ cho các trường đại học tốp trên phát triển… Với những chủ trương đó, Đài Loan đang tiến tới hoàn thiện nền giáo dục tiên tiến, nâng cao tố chất con người và

vị thế bản thân trên trường quốc tế

1.2 Những mục tiêu cơ bản của giáo dục Đài Loan giai đoạn 1979 - 2013

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

Có thể nói, từ những năm 60 của thế kỷ XX đến nay, để xây dựng nền giáo dục tiên tiến, hiện đại, chính quyền Đài Loan luôn luôn coi trọng việc xác định các mục tiêu giáo dục phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng thời kỳ Theo đó, trong thời kỳ 1968 - 1979, để phù hợp với mục tiêu thực hiện chiến lược kinh tế mới từ “thay thế nhập khẩu” sang “hướng về xuất khẩu”, nền giáo dục Đài Loan đã có những cải cách lớn, trong đó, chính quyền rất chú trọng đến việc đào tạo ngành nghề Từ năm 1979 đến năm

2013, mục tiêu tổng quát của giáo dục Đài Loan được thể hiện qua 2 giai đoạn như sau:

Giai đoạn 1979 - 1999: để hòa nhịp với sự biến đổi nền kinh tế toàn cầu, Đài Loan cũng phải điều chỉnh để thích ứng nhu cầu của thời kì “tăng

Trang 33

trưởng kinh tế mới” Trong giai đoạn này, Đài Loan rất coi trọng việc phát triển các ngành nghề đòi hỏi trình độ khoa học - kĩ thuật cao Do vậy, trong chính sách phát triển giáo dục, chính quyền Đài Loan đã rất tích cực trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, đặc biệt là giáo dục khoa học - kĩ thuật cao nhằm đáp ứng mục tiêu nâng cấp, chuyển đổi ngành nghề [12; tr 7]

Giai đoạn 1999 - 2013: Đài Loan chú trọng phát triển hệ thống giáo dục theo hướng chuyên nghiệp hóa và quốc tế hóa hướng dến đào tạo những chuyên gia tầm cỡ quốc tế Mục tiêu giáo dục của Đài Loan là “nhìn ra thế giới” Với những chủ trương đó, Đài Loan đang tiến tới hoàn thiện nền giáo dục tiên tiến, nâng cao tố chất con người và vị thế trên trường quốc tế [30; tr 91]

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

Để thực hiện các mục tiêu tổng quát, đồng thời nhằm triển khai những biện pháp giáo dục sát thực, chính đã xác định các mục tiêu cụ thể qua các năm Có thể thấy, mục tiêu cụ thể của giáo dục Đài Loan thông qua các điều luật và chính sách giáo dục do chính quyền Đài Loan ban hành qua các năm

Cụ thể như sau:

Năm 1979, chính quyền Đài Loan đã cho ban hành “Luật giáo dục nghĩa vụ”, quy định mọi trẻ từ 6 đến 15 tuổi đều phải học 6 năm tiểu học và 3 năm sơ trung Theo đó, mục tiêu giáo dục được xác định là “nhằm thực hiện mục tiêu thúc đẩy sự phát triển cân bằng cả 5 bộ môn: đức - trí - thể - quần -

mĩ của giáo dục tiểu học, và thực hiện quyền được đi học của trẻ” [13]

Đến năm 1982, Bộ giáo dục Đài Loan lại cho ban hành “Điều lệ cưỡng bức đi học”, với mục tiêu siết chặt yêu cầu đối với những học sinh trong độ tuổi đến trường

Năm 1983, chính quyền cho thực thi “Phương án giáo dục quốc dân kéo dài, lấy giáo dục ngành nghề làm trọng tâm”, nhằm đáp ứng yêu cầu của việc thực hiện chiến lược kinh tế mới từ “thay thế nhập khẩu” sang “hướng về

Trang 34

xuất khẩu” Theo đó, mục tiêu cơ bản của giáo dục được xác định là tăng cường việc đào tạo ngành nghề

Tiếp đó, năm 1989, Viện trưởng Viện hành chính Đài Loan, Lý Hoán

đề xuất ý tưởng kéo dài thời gian giáo dục nghĩa vụ lên thành 12 năm, để phù hợp với xu hướng chung của thế giới lúc bấy giờ là kéo dài thời gian giáo dục nghĩa vụ, nhằm mục tiêu bồi dưỡng và nâng cao hơn nữa chất lượng của người học

“Năm 1990, Bộ giáo dục Đài Loan bắt đầu soạn thảo “Phương án học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở tự nguyện vào trung học phổ thông”, nhằm thực hiện mục tiêu công bằng trong phát triển giáo dục và khuyến khích học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở học tiếp lên trung học phổ thông để nâng cao trình độ dân trí Đến năm 1993, Viện hành chính đã thông qua “Kế hoạch phát triển và cải tiến chương trình giáo dục kĩ thuật ở trường trung học cơ sở thực hiện giáo dục nghĩa vụ 10 năm”, từ năm học 1993 bắt đầu làm thử 3 năm dự định từ năm 1996 sẽ thực thi toàn diện giáo dục nghĩa vụ 10 năm” [12; tr 9]

Kế hoạch này nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng nguồn nhân lực có hàm lượng kĩ thuật cao để đáp ứng nhu cầu phát triển của thị trường trong nước và quốc tế

“Từ năm 1997, dựa vào “Chính sách công nghệ thông tin” mà Viện hành chính công bố, Bộ giáo dục đã tiến hành xây dựng hạ tầng cần thiết nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc giảng dạy vi tính trong các trường tiểu học và trung học cơ sở Năm 1998, theo chính sách “Kích cầu trong nước” của Viện hành chính, Bộ giáo dục đã đầu tư 6,47 tỉ Đài tệ nâng cao chất lượng máy tính và truy cập Internet tại các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân Cho đến nay, tất cả các trường tiểu học và trung học cơ sở đều có ít nhất một phòng máy tính Theo đó, mục tiêu của Bộ giáo dục Đài Loan là tiếp tục đầu

tư các trang thiết bị phục vụ giáo dục công nghệ thông tin, trang bị máy tính trong lớp học và tạo mọi điều kiện để học sinh được sử dụng máy tính” [12]

Trang 35

“Năm 1999, Chính quyền Đài Loan đã công bố “Luật Giáo dục cơ bản”, trong đó quy định giáo dục cơ bản phải kéo dài theo nhu cầu phát triển của xã hội Bộ giáo dục căn cứ vào “Luật Giáo dục cơ bản” đã cho thành lập “Uỷ ban quy hoạch thời gian giáo dục cơ bản kéo dài” với mục đích tư vấn cho những vấn đề liên quan đến việc kéo dài thời gian giáo dục nghĩa vụ” [13; tr 77]

Đến cuối những năm 90 của thế kỉ XX, Chính quyền Đài Loan đã quyết đinh lấy những ngành công nghiệp có hàm lượng kĩ thuật cao làm then chốt Trên cơ sở chủ trương phát triển kinh tế đó, trong chương trình giáo dục bậc cao, chính quyền Đài Loan rất quan tâm công tác nghiên cứu khoa học, đặc biệt là tăng cường công tác nghiên cứu khoa học công nghệ cao trong các trường đại học và viện nghiên cứu Đây là lực lượng chủ lực đi đầu trong phát triển công nghệ, phát triển kinh tế theo những ngành mũi nhọn để thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Để phát triển công tác nghiên cứu khoa học trong các trường đại học, Bộ giáo dục Đài Loan đề ra “Phương án triển khai học thuật đại học” và đã trích kinh phí 13 tỉ Đài tệ trong Dự toán kinh phí năm 2000 - 2003, để hỗ trợ kế hoạch nghiên cứu quy mô lớn theo hướng hàn lâm Như vậy, có thể thấy, mục tiêu của giáo dục Đài Loan trong những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ XX là tập trung vào phát triển hệ thống đào tạo bậc cao và tăng cường nghiên cứu khoa học

Năm 2011, Bộ Giáo dục Đài Loan đưa ra “Kế hoạch cắm rễ khu vực Đông Nam Á”, một kế hoạch giới thiệu nền giáo dục đại học của Đài Loan tới các nước Đông Nam Á, với hy vọng đến năm 2014 sẽ chiêu sinh được 17.500 học sinh từ các nước ở khu vực này và sẽ mang lại khoảng 4,5 tỉ NT/năm từ học phí và phí sinh hoạt của các sinh viên Đông Nam Á Theo đó, mục tiêu của giáo dục Đài Loan là trở thành trung tâm đào tạo đại học lớn ở khu vực Đông Nam Á và giáo dục đại học của Đài Loan sẽ chuyển từ “phục vụ nhu cầu trong nước” thành “cạnh tranh và giao lưu với nước ngoài”

Trang 36

“Hiện nay, ngành giáo dục Đài Loan đang triển khai cuộc vận động

“Đài Loan sáng tạo trong cục diện toàn cầu”, nền giáo dục tích cực thực hiện

4 mục tiêu trọng tâm: “Quốc dân hiện đại, chủ thể Đài Loan, tầm nhìn toàn cầu, quan tâm xã hội” [30; tr 91] Đài Loan đang tiến tới hoàn thiện nền giáo dục tiên tiến, nâng cao tố chất con người, đó là chìa khóa cốt lõi để Đài Loan đạt được những thành công và vượt qua những thách thức, khó khăn trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay

Qua việc ban hành các chính sách giáo dục và mục tiêu giáo dục hàng năm, có thể thấy, trong những thập niên gần đây, chính quyền Đài Loan đã xác định rõ ràng những mục tiêu cụ thể mà nền giáo dục Đài Loan hướng tới

đó là:

Thứ nhất, xây dựng các trường đại học đẳng cấp thế giới, tăng cường

liên kết, mở rộng giao lưu học tập qua eo biển, tích cực thúc đẩy đổi mới giáo dục một cách linh hoạt để khuyến khích các trường đại học cải thiện chất lượng giảng dạy và nghiên cứu, tạo sức cạnh tranh quốc tế [75]

Thứ hai, chú trọng giáo dục kỹ thuật và dạy nghề để đào tạo nguồn

nhân lực kỹ thuật chất lượng cao, rút ngắn thời gian học phù hợp với nhu cầu ngành công nghiệp tương ứng; xây dựng mô hình phát triển đại học khoa học

và công nghệ để nâng cao năng lực cạnh tranh của giáo dục kỹ thuật và dạy nghề [76]

Thứ ba, nâng cao chất lượng giáo viên tiểu học và trung học, chất

lượng đào tạo giáo viên, tạo điều kiện để giáo viên phát triển chuyên môn; thực hiện đảm bảo chất lượng đồng đều giữa các giáo viên trường công lập và

tư nhân [76]

Thứ tư, tăng cường hệ thống học tập suốt đời, ủng hộ các hành động

học tập suốt đời, thực hiện giáo dục gia đình, tăng cường hoạt động gia đình; xây dựng và đa dạng hóa trong hệ thống học tập đáp ứng với quá trình lão hóa dân số [78]

Trang 37

Thứ năm, cải thiện môi trường giảng dạy và tích cực tham gia tổ chức

văn hóa và giáo dục quốc tế nhằm thúc đẩy hợp tác khoa học quốc tế và trao đổi giáo dục, khuyến khích nghiên cứu ở nước ngoài và mở rộng dạy tiếng Trung Quốc ở nước ngoài, giáo dục đại học và mở rộng tuyển sinh du học sinh Trung Quốc, sinh viên ngoài nước, phát triển Đài Loan thành một trung tâm của giáo dục đại học ở Đông Á… [77]

Có thể nói, những mục tiêu trên đây đã được chính quyền Đài Loan đề cập nhiều lần trong các chính sách giáo dục hàng năm Đó là những mục tiêu

cơ bản mà giáo dục Đài Loan hướng tới nhằm xây dựng một nền giáo dục hiện đại, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế hiện nay Để thực hiện những mục tiêu chung cũng như những mục tiêu cụ thể qua các năm, chính quyền Đài Loan đã đề ra nhiều biện pháp phù hợp

Tiểu kết chương 1

Từ một hòn đảo nghèo nàn, lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề… trải quan hơn 60 năm phát triển, Đài Loan đã trở thành một trong những nền kinh tế đứng đầu Châu Á và là quốc gia có chất lượng giáo dục được thế giới đánh giá cao Người Đài Loan đã khéo léo lợi dụng và phát huy những tiền đề thuận lợi cho giáo dục của mình như: những giá trị văn hóa Nho - Khổng truyền thống trong đó tư tưởng “trọng sĩ” luôn được đề cao, cơ sở giáo dục

“nền móng” mà người Nhật Bản để lại… Nói cách khác, người Đài Loan đã biết kết hợp nhuần nhuyễn giữa quá khứ và hiện tại, giữa văn hóa truyền thống phương Đông và những giá trị văn hóa phương Tây Có thể khẳng định rằng, chính do sự kết hợp giữa nhân tố “bên ngoài” với sự vận động “nội tại” đan xen giá trị văn hóa truyền thống đã hình thành một nền giáo dục tương đối hoàn chỉnh, từng bước đáp ứng được nhu cầu học tập của người dân

Bước sang những năm 80 của thế kỉ XX và thập kỉ đầu của thế kỉ XXI, bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều chuyển biến quan trọng ảnh hưởng đến

Trang 38

sự phát triển của tất cả các quốc gia, khu vực, vùng lãnh thổ nói chung và Đài Loan nói riêng Trước những thách thức của thế kỉ XXI, khi nền kinh tế tri thức và toàn cầu hóa kinh tế đang trở thành một xu thế khách quan của thế giới, thì vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trở nên quan trọng

và cấp bách hơn bao giờ hết Nguồn nhân lực của mọi quốc gia sẽ cần phải được chuẩn bị tốt hơn mới có thể cạnh tranh nổi trong nền kinh tế mới, giáo dục phải đảm bảo phải đưa ra một đội ngũ vừa có tri thức vừa có tay nghề, năng động và sáng tạo, linh hoạt trước những biến động của tình hình thế giới Bối cảnh đó đưa Đài Loan đến những thời cơ mới nhưng cũng đặt hòn đảo này đững trước những thử thách rất lớn trong việc hoạch định các chính sách phát triển kinh tế, xã hội…nói chung, và chính sách phát triển giáo dục nói riêng

Có thể thấy, những điều kiện lịch sử, nền tảng văn hóa - giáo dục cùng với những thành tựu đạt được trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu hợp tác quốc tế là những cơ sở quan trọng để Đài Loan đề ra và thực hiện các chính sách giáo dục trong những năm 1979 - 2013

Trang 39

Chương 2 QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC

CỦA ĐÀI LOAN TỪ NĂM 1979 ĐẾN NĂM 2013

2.1 Xây dựng chính sách giáo dục

2.1.1 Giai đoạn 1979 - 1999

Có thể nói, một trong những nguyên nhân quan trọng đưa tới sự thành công trong quá trình phát triển kinh tế của Đài Loan là luôn có sự kết hợp chặt chẽ giữa chiến lược phát triển kinh tế với các kế hoạch phát triển giáo dục Đồng thời, việc xây dựng các chính sách giáo dục cũng luôn dựa trên những yêu cầu mà nền kinh tế đòi hỏi

Năm 1979, để nâng cao trình độ cho người dân, chính quyền Đài Loan

đã ban hành “Luật Giáo dục nghĩa vụ quốc dân” Theo luật này, mọi trẻ em từ

6 đến 15 tuổi đều bắt buộc phải học 6 năm tiểu học và 3 năm sơ trung Bên cạnh đó, Luật còn xác định mục tiêu của giáo dục tiểu học là phải thúc đẩy sự phát triển cân bằng cả 5 nội dung: đức - trí - thể - quần - mĩ

Việc ban hành “Luật Giáo dục nghĩa vụ quốc dân” có ý nghĩa quyết định trong việc xây dựng nền giáo dục toàn dân ở Đài Loan Chính vì vậy, Chính quyền vừa phải đảm bảo tạo “cơ hội giáo dục cơ bản” cho toàn dân, vừa thực hiện điều lệ cưỡng bức đi học, yêu cầu mọi người cùng tiếp nhận giáo dục nghĩa vụ Để thực hiện được điều đó, chính quyền Đài Loan đã đưa

ra nhiều biện pháp quy hoạch và quản lý giáo dục một cách hợp lý Theo đó, các trường trung học cơ sở công lập được mở rộng, đồng thời chuyển những trường tiểu học và sơ trung dân lập thành các trường công lập, tạm ngừng mở trường tư thục… Trong chương trình giáo dục trung học cơ sở, theo quy định, mọi người dân đều có quyền lợi và trách nhiệm tiếp nhận giáo dục nghĩa vụ Tiếp đó, năm 1982, Bộ giáo dục Đài Loan lại cho ban hành “Điều lệ cưỡng

Trang 40

bức đi học”, một lần nữa siết chặt yêu cầu đối với những học sinh trong độ tuổi đến trường

Vào thập niên 80 - 90 của thế kỉ XX, nền kinh tế Đài Loan đã có sự biến chuyển mạnh mẽ Để đáp ứng nhu cầu của thời kì “tăng trưởng kinh tế mới” và việc chuyển đổi mô hình kinh tế, nhất là yêu cầu đào tạo đội ngũ lao động, năm 1983, chính quyền Đài Loan cho thực thi “Phương án giáo dục quốc dân kéo dài, lấy giáo dục ngành nghề làm trọng tâm” Theo đó, trong thời gian này nhiệm vụ trọng tâm của ngành giáo dục Đài Loan là giáo dục nghề nghiệp, đặc biệt là các ngành nghề đòi hỏi trình độ kĩ thuật cao Do vậy, chính sách giáo dục, cũng được điều chỉnh theo hướng tập trung vào việc nâng cao chất lượng giáo dục khoa học - kĩ thuật cao, nhằm đáp ứng mục tiêu nâng cấp, chuyển đổi ngành nghề trong giai đoạn này

Năm 1989, Viện trưởng Viện hành chính Đài Loan, Lý Hoán đề xuất ý tưởng kéo dài thời gian giáo dục nghĩa vụ lên thành 12 năm Đến năm 1990,

Bộ giáo dục bắt đầu soạn thảo “Phương án học sinh tốt nghiệp trung học cơ

sở tự nguyện vào trung học phổ thông”

Năm 1993, Viện hành chính đã thông qua “Kế hoạch phát triển và cải tiến chương trình giáo dục kĩ thuật ở trường trung học cơ sở, thực hiện giáo dục nghĩa vụ 10 năm”, từ năm học 1993 bắt đầu làm thử 3 năm dự định từ năm 1996 sẽ thực thi toàn diện giáo dục nghĩa vụ 10 năm

Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, chính quyền Đài Loan đã ban hành nhiều chính sách giáo dục khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Các chính sách nói trên có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình phát triển của nền giáo dục Đài Loan

Ngoài việc ban hành những chính sách nhằm tăng cường ý thức trách nhiệm của người học, chính quyền Đài Loan còn rất quan tâm đến việc đưa công nghệ thông tin vào giảng dạy ngay trong chương trình giáo dục phổ

Ngày đăng: 09/09/2021, 20:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Trần Lê Bảo (2008), “Khu vực học và nhập môn Việt Nam học”, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khu vực học và nhập môn Việt Nam học
Tác giả: Trần Lê Bảo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
[2]. Trần Lê Bảo (2010), “Giao lưu và hợp tác nhằm thúc đẩy phát triển việc giảng dạy và nghiên cứu Việt Nam học và Đài Loan học”, Nghiên cứu Trung Quốc, số 11 - 2010, tr 61 - 72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao lưu và hợp tác nhằm thúc đẩy phát triển việc giảng dạy và nghiên cứu Việt Nam học và Đài Loan học
Tác giả: Trần Lê Bảo
Năm: 2010
[3]. Báo nhịp cầu đầu tư. http://nhipcaudautu.vn/article.aspx?id=10846-cong-nghe-thong-tin-goc-nhin-tu-dai-loan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo nhịp cầu đầu tư
[4]. Báo Kinh tế và đô thị (11/2010), “Một số kinh nghiệm phát triển công nghệ cao của Đài Loan”,http://canbotre.danang.vn/home/view.php?t=2698 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kinh nghiệm phát triển công nghệ cao của Đài Loan
[5]. Ngô Xuân Bình (CB), (2007), “Hợp tác kinh tế Việt Nam - Đài Loan trong bối cảnh hội nhập kinh tế Đông Á”, NXB Lao động - Xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tác kinh tế Việt Nam - Đài Loan trong bối cảnh hội nhập kinh tế Đông Á
Tác giả: Ngô Xuân Bình (CB)
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội Hà Nội
Năm: 2007
[6]. Phạm Thanh Bình (2012), “Kinh nghiệm phát triển giáo dục Đài Loan”,http://dangcongsan.vn/cpv/Modules/NewsDetail.aspx?co_id=30231&n_id=543533 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm phát triển giáo dục Đài Loan
Tác giả: Phạm Thanh Bình
Năm: 2012
[7]. Hắc Xuân Cảnh (2011), “Chính sách ngoại giao của Đài Loan thờ kì sau Chiến tranh lạnh”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 10 (139), tr 22 - 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách ngoại giao của Đài Loan thờ kì sau Chiến tranh lạnh
Tác giả: Hắc Xuân Cảnh
Năm: 2011
[8]. Hắc Xuân Cảnh (2012), “Quan hệ Đài Loan - Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2010”, Luận án Tiến sĩ sử học, Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Đài Loan - Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2010
Tác giả: Hắc Xuân Cảnh
Năm: 2012
[9]. Chien Liu, J. Michael Armer (1993), “Ảnh hưởng của giáo dục đến tăng trưởng kinh tế của Đài Loan”, NXB Đại học Chicago, 1993, tr 319 - 320 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của giáo dục đến tăng trưởng kinh tế của Đài Loan
Tác giả: Chien Liu, J. Michael Armer
Nhà XB: NXB Đại học Chicago
Năm: 1993
[10]. Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2001 - 2010. http://www.mofa.gov.vn:8080/we.../77b2911f928e16dc7256bb0014aa09?opendocumen Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2001 - 2010
[11]. Vũ Thùy Dương (1999), “Quá trình phát triển nền giáo dục ở Đài Loan 1949 - 1999”, Luận án Tiến sĩ Sử học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình phát triển nền giáo dục ở Đài Loan 1949 - 1999”
Tác giả: Vũ Thùy Dương
Năm: 1999
[12]. Vũ Thùy Dương (2004), “Quá trình cải cách và phát triển giáo dục Đài Loan giai đoạn 1980 - 1999”, Nghiên cứu Trung Quốc, Đề tài cấp Viện, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình cải cách và phát triển giáo dục Đài Loan giai đoạn 1980 - 1999
Tác giả: Vũ Thùy Dương
Năm: 2004
[13]. Vũ Thùy Dương (2005), “Những chính sách và biện pháp phát triển giáo dục của Đài Loan giai đoạn 1980 - 1999”, Nghiên cứu Trung Quốc, số 3 (61) - 2005, tr 77 - 80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những chính sách và biện pháp phát triển giáo dục của Đài Loan giai đoạn 1980 - 1999
Tác giả: Vũ Thùy Dương
Năm: 2005
[26]. Hồ sơ thị trường (2012), Ban Quan hệ quốc tế VCCI, Báo Mới. http://www.baomoi.com/Cong-nghe-thong-tin-Goc-nhin-tu-Dai-Loan/45/7459516.epi Link
[55]. Council of Agriculture, Executive Yuan, R.O.C. (Taiwan) http://www.cepd.gov.tw Link
[56]. CEPD-Taiwan Statistical Data Book, http://www.cepd.gov.tw/encontent/m1.aspx?sNo=0000062 Link
[61]. Industrial Development in Taiwan, R.O.C 2012. http://www.moeaibd.gov.tw Link
[63]. Ma Ying-jeou (2010), New trends in education, http://english.president.gov.tm/Default.aspx?tabid=1155 [64]. Ministry of the Interior. Republic of Chinahttp:/www.moi.gov.tw/english Link
[67]. Taiwan Economic and Trade Developmen, http://www.roc- taiwan.org/public/Attachment/29616103671.pdf Link
[68]. Taiwan Retailing Services Industry Analysis & Investment http://www.yumpu.com/en/document/view/15384995/taiwan-retailing-services-industry-analysis-investment Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Tổng ngân sách chi cho giáo dục ở tất cả các cấp của Đài Loan giai đoạn 1991 - 2010  - Chính sách giáo dục của đài loan từ năm 1979 đến năm 2013
Bảng 2 Tổng ngân sách chi cho giáo dục ở tất cả các cấp của Đài Loan giai đoạn 1991 - 2010 (Trang 113)
Một số hình ảnh về Đài Loan - Chính sách giáo dục của đài loan từ năm 1979 đến năm 2013
t số hình ảnh về Đài Loan (Trang 130)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w