Lý do lựa chọn đề tài Biến đổi khí hậu BĐKH tiêu biểu là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng, các thiên tai hiện hữu và các hiện tượng khí hậu cực đoan gia tăng ở nhiều nơi đã đượ
Trang 1-
LÊ HỮU SƠN
TÊN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ TẠI
HUYỆN QUỲNH LƯU, NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
NGHỆ AN, 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-
LÊ HỮU SƠN
TÊN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ TẠI
HUYỆN QUỲNH LƯU, NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Kim Đường
NGHỆ AN, 2010
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu là của riêng cá nhân tác giả; các số liệu là trung thực, không sử dụng số liệu của các tác giả khác chƣa đƣợc công bố; các kết quả nghiên cứu của tác giả chƣa từng đƣợc công bố
Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Vinh, ngày 20 tháng 09 năm 2014
Tác giả
Lê Hữu Sơn
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Luận văn Thạc sỹ với đề tài: “Nghiên cứu tác động của BĐKH đến sản xuất
nông nghiệp và đề xuất các giải pháp ứng phó tại huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An”
đã được hoàn thành Để hoàn thành khóa luận này, ngoài sự nỗ lực của bản nhân,
tôi còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình từ các cơ quan, tổ chức và cá nhân
Đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn khoa học, Thầy giáo PGS TS Nguyễn Kim Đường là người đã nhiệt tình hướng dẫn, góp ý, sữa chữa và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, cán bộ Khoa Nông Lâm Ngư, Khoa Sau Đại Học, trường Đại học Vinh đã giảng dạy, truyền đạt kiến thức, tạo điều kiện và hướng dẫn tôi hoàn thành chương trình học tập và thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các cán bộ các phòng ban trong Ủy ban nhân dân Huyện Quỳnh Lưu và bà con các xã Huyện Quỳnh Lưu – những người đã cung cấp thông tin giúp tôi hoàn thiện luận văn này
Và cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới gia đình, bạn bè và những người luôn động viên, khích lệ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Vinh, ngày 20 tháng 09 năm 2014
Tác giả
Lê Hữu Sơn
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN ii
MỞ ĐẦU vi
1.1 Lý do lựa chọn đề tài 9
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 10
1.3 Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu 10
1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 11
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 12
1.1 Một số khái niệm 12
1.1.1 Biến đổi khí hậu 12
1.1.2 Biểu hiện chính của BĐKH 14
1.1.3 Tác động của BĐKH 14
1.1.3.1 Đánh giá chung 14
1.1.3.2 Tác động của biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu 17
1.1.3.3 Tác động của biến đổi khí hậu đến các lĩnh vực 18
1.2 Cơ sở thực tiễn 19
1.2.1 Tình trạng Biến đổi khí hậu toàn cầu, xu hướng trong thời gian qua và tình hình hiện nay 19
1.2.2 Biến đổi khí hậu ở Việt Nam 20
1.2.2.1 Các xu hướng của Biến đổi khí hậu tại Việt Nam 20
1.2.2.2 Tác động và hậu quả của BĐKH tại Việt Nam 24
1.2.2.3 Tác động và hậu quả của BĐKH tại Nghệ An 28
1.2.3 Chính sách và hành động của chính phủ về Biến đổi khí hậu 35
1.2.3.1 Các chính sách và chương trình chủ yếu về Biến đổi khí hậu 35
1.2.3.2 Các đàm phán quốc tế của Việt Nam về biến đổi khí hậu 38
1.2.4 Thích ứng 40
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 44
Trang 72.1 Đối tượng nghiên cứu 44
2.2 Nội dung nghiên cứu 44
2.3 Phương pháp nghiên cứu 44
2.4 Xử lý số liệu, thông tin 46
2.5 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 46
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 47
3.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 47
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 47
3.1.2 Điều kiện kinh tế-xã hội 48
3.1.2.1 Dân cư 48
3.1.2.2 Kinh tế 48
3.2 Tình hình cơ bản của nhóm hộ điều tra 50
3.2.1 Đặc điểm của các chủ hộ 50
3.2.2 Các nguồn thu nhập chính của nhóm hộ điều tra 51
3.3 Tác động của BĐKH đến sản xuất nông nghiệp 63
3.3.1 Tác động của BĐKH đến trồng trọt 64
3.3.2 Tác động của biến đổi khí hậu đến chăn nuôi 66
3.3.3 Tác động của BĐKH đến nuôi trồng thủy sản 67
3.3.4 Tác động của BĐKH đến sản xuất diêm nghiệp 69
3.5 Năng lực và ứng phó với biến đổi khí hậu của địa phương 74
3.5.1 Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH của huyện Quỳnh Lưu 74
3.5.2 Các biện pháp ứng phó với BĐKH của chính quyền địa phương 75
3.5.3 Nhận thức về Biến đổi khí hậu của người dân 77
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 77
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng Phát triển châu Á
BĐKH Biến đổi khí hậu
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
TNMT Tài nguyên môi trường
UNDP Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc
UNEP Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc
UNFCCC Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu
WB Ngân hàng Thế giới
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Mực nước biển dâng theo kịch bản phát thải thấp (cm) Error!
Bookmark not defined
Bảng 2: Mực nước biển dâng theo kịch bản phát thải trung bình (cm) Error!
Bookmark not defined
Bảng 3: Mức nước biển dâng theo kịch bản phát thải cao (cm)Error! Bookmark
not defined
Bảng 4 Chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa thập niên 1999-2008 và 29
Bảng 5 Số đợt nắng nóng xẩy ra ở Nghệ An trong những năm gần đây 30
Bảng 6: Số cơn bão ảnh hưởng trực tiếp từ 1980÷2010 31
Bảng 3.1 Thông tin chung về chủ hộ năm 2014 50
Bảng 3.2 Các nguồn thu nhập chính của các hộ ở 3 xã điều tra 51
Bảng 3.3 Đánh giá về các hiện tượng thời tiết cực đoan xẩy ra 53
Bảng 3.4 Tần số bão đổ bộ vào các vùng bờ biển Việt Nam (1961÷2013 ) 54
Bảng 3.5 Nhiệt độ trung bình tháng tại Quỳnh Lưu, Nghệ An 54
Bảng 3.6 Phân bố số tháng hạn trung bình nhiều năm (1965÷2009) 55
Bảng 3.7 Tổng lượng mưa tháng từ năm 1996 – 2013 tại Quỳnh Lưu, Nghệ An 56
Bảng 3.8 Phân bố số ngày mưa lớn <50 mm trung bình nhiều năm (1971÷2013) 57
Bảng 3.9 Thống kê số ngày mưa lớn trên 50 mm trung bình (1971÷2013) 57
Bảng 3.10 Diễn biến mưa bão tại huyện Quỳnh Lưu 2008÷2013 58
Bảng 3.11 Số đợt nắng nóng xẩy ra ở Nghệ An trong những năm gần đây 59
Bảng 3.12 Xếp hạng những hiện tượng thời tiết cực đoan theo cộng đồng 60
Bảng 3.13 Các loại thiên tai, thời tiết cực đoan thường xảy ra 61
Bảng 3.14 Thiệt hại ước tính do các loại thiên tai gây ra 62
Bảng 3.15 Kết quả đánh giá tác động do thiên tai đối với các ngành 62
Bảng 3.16 Tác động của mưa bão đến trồng trọt 2008÷2013 64
Bảng 3.17 Nguồn nước sử dụng cho sản xuất nông nghiệp trước năm 2000 65
Bảng 3.18 Nguồn nước sử dụng cho sản xuất nông nghiệp năm 2014 65
Trang 10Bảng 3.19 Tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan đến chăn nuôi
2008÷2013 66
Bảng 3.20 Tác động của mưa bão đến NTTS 2008÷2013 67
Bảng 3.21 Mức độ tác động của BĐKH đến thu nhập của diêm dân 69
Bảng 3.22 Các nguồn thu nhập chính của các hộ ở 3 xã điều tra 73
Bảng 3.23 Mức độ thực hiện các cảnh báo về thiên tai 75
Bảng 3.24 Biện pháp để chủ động thích nghi và ứng phó với thiên tai 76
Bảng 3.25 Biện pháp hỗ trợ người dân trong quá trình thiên tai xảy ra 76
Bảng 3.26 Biện pháp hỗ trợ người dân sau khi xẩy ra thiên tai 77
Bảng 3.27 Kết quả điều tra xác định nguyên nhân gây ra các hiện tượng thiên tai 77 Bảng 3.28 Nguồn cung cấp thông tin về BĐKH cho nhân dân địa phương 78
Bảng 3.29 Số lần tập huấn về BĐKH tại Quỳnh Lưu 78
Bảng 3.30 Tần suất sử dụng các biện pháp thích ứng tại Quỳnh Lưu 79
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Sự gia tăng phát thải khí nhà kính trong thời gian gần đây 13
Hình 1.2 Dự đoán ảnh hưởng của BĐKH tới các lĩnh vực 15
Hình 1.3 Sự gia tăng số lượng và thiệt hại do thiên tai, các hiện tượng 17
Hình 1.4 BĐKH tác động tới mọi vùng, miền trên phạm vi toàn cầu 20
Hình 1.5 Mức tăng nhiệt độ trung bình năm giai đoạn 1930÷2000 22
Hình 1.6 Mực nước biển tăng khoảng 20 cm trong vòng 50 năm qua 22
Hình 1.7 Sơ đồ các đập thủy điện phía thượng nguồn sông Mê Kông (A) 34
Hình 3.1 Bản đồ Huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An 48
Hình 3.2 Cơ cấu thu nhập của các hộ điều tra 52
Hình 3.3 Các loại thiên tai, thời tiết cực đoan thường xảy ra tại các điểm nghiên cứu 61
Hình 3.4 Nguồn nước sử dụng cho sản xuất nông nghiệp năm 2014 65
Trang 12MỞ ĐẦU 1.1 Lý do lựa chọn đề tài
Biến đổi khí hậu (BĐKH) tiêu biểu là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng, các thiên tai hiện hữu và các hiện tượng khí hậu cực đoan gia tăng ở nhiều nơi đã được khẳng định là rõ ràng và chưa từng có, đang là mối lo ngại của các quốc gia trên thế giới Theo đánh giá của ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC – 2007; 3), nhiệt độ và mực nước biển trung bình toàn cầu sẽ tiếp tục tăng lên nhanh hơn trong thế kỷ 21 Trong đó, Việt Nam là 1 trong 5 quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất do BĐKH (Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh, Việt Nam, Indonesia); sau đó là Nhật Bản, Ai Cập, Hoa Kỳ, Thái Lan và Philippines
Theo cảnh báo của WHO và UNEP, nếu mực nước biển dâng cao 1m, Việt Nam sẽ mất hơn 12% diện tích đất canh tác và trên 65% diện tích rừng ngập mặn, đa dạng sinh học bị suy giảm, nhiều loại động-thực vật sẽ bị tuyệt chủng hoặc có nguy
cơ bị tuyệt chủng, 25% dân số (ước chừng khoảng 30 triệu người vào thời điểm đó)
sẽ bị mất nơi cư trú, dịch bệnh lan tràn không thể kiểm soát do nhịp sinh học bị thay đổi… Do vậy, tỷ lệ tử vong và số người nghèo đói sẽ tăng cao
Quỳnh Lưu là huyện ven biển của Nghệ An - có chiều dài bờ biển và diện tích đầm hồ khá lớn Sinh kế của người dân phần lớn là trồng trọt, nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản nên phụ thuộc rất lớn vào tự nhiên Nằm trong sự ảnh hưởng chung của BĐKH đến các tỉnh – thành phố ven biển miền Trung, nên Quỳnh Lưu cũng chịu ảnh hưởng rõ rệt của các hiện tượng BĐKH như: Elnino, nắng nóng, hạn hán, mưa bão và lũ
Trong nhiều năm gần đây, sản suất nông-lâm-ngư do thiên tai, khí hậu thời tiết thay đổi, lũ lụt triền miên nên năng suất và sản lượng không ổn định, cuộc sống sản xuất thiếu an toàn và thiếu bền vững Mặt khác, ngoại trừ Thị xã và Thị trấn có điều kiện về cơ sở hạ tầng khá phát triển; cơ sở hạ tầng của các xã còn lại kém phát triển, đê điều và rừng ngập mặn tại đây bị xuống cấp khá nghiêm trọng
Đó là một trong những nguyên nhân quan trọng làm đời sống người dân ở đây còn bấp bênh và khó phát triển Tỷ lệ hộ nghèo, nhất là hộ nghèo ở các xã ven
Trang 13biển còn khá cao, khả năng vượt nghèo thấp; đời sống sản xuất của các hộ nông dân dễ bị ảnh hưởng, rủi ro và tổn thương lớn nhất khi có thiên tai, bão lũ
Như vậy, Quỳnh Lưu là một huyện có mức độ tổn thương cao và nhạy cảm đối với những tác động của BĐKH Trước thực tế đó đòi hỏi phải có những nghiên cứu, đánh giá các tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp
và trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường khả năng phòng ngừa, giảm nhẹ, khắc phục và thích nghi với BĐKH cho huyện Quỳnh Lưu
Cho đến nay đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về BĐKH ở Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng, nhưng hầu hết các giải pháp đưa ra đều chưa được thực hiện đầy đủ hoặc rất khó để thực thi và vì thế các vấn đề về kinh
tế, xã hội, tài nguyên, môi trường càng trở nên bức xúc hơn Mặt khác, BĐKH là một vấn đề mới, các phương pháp luận về nghiên cứu đánh giá tác động do ảnh hưởng của BĐKH ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam đang trong giai đoạn
nghiên cứu Do vậy, việc tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tác động của
BĐKH đến sản xuất nông nghiệp và đề xuất các giải pháp ứng phó tại huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An” để thực hiện luận văn tốt nghiệp là hết sức cần thiết
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá tác động của BĐKH đến sản xuất nông nghiệp Trên cơ sở đó đề
xuất một số giải pháp ứng phó với BĐKH tại địa phương
1.3 Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Các biểu hiện và tác động của BĐKH; các hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân Huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An
b Phạm vi nghiên cứu
Các số liệu nghiên cứu được thu thập với mốc thời gian cách 15 năm
c Nội dung nghiên cứu
1 Nghiên cứu BĐKH đã, đang và sẽ xảy ra tại địa phương
2 Tìm hiểu các biểu hiện của sự tác động của BĐKH tới sản xuất nông nghiệp tại địa phương
Trang 143 Tìm hiểu các hoạt động thích ứng với BĐKH trong sản xuất nông nghiệp của địa phương hiện nay
4 Đánh giá các khả năng của địa phương trong ứng phó với BĐKH trong sản xuất nông nghiệp (con người, nhận thức, cơ sở vật chất, tài chính,…)
5 Tìm hiểu những hỗ trợ cho địa phương trong ứng phó với BĐKH (Chính sách, tài chính và kỹ thuật)
6 Đề xuất các biện pháp để ứng phó với BĐKH trong điều kiện của địa phương
1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài góp phần hệ thống hóa các tư liệu về BĐKH, các tác động của BĐKH đến sản xuất nông nghiệp và khả năng thích ứng của cộng đồng Cung cấp các tư liệu khoa học và thực tiễn về tác động của BĐKH đến sản xuất nông nghiệp và khả năng thích ứng của người dân tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An giúp cho các cơ quan chức năng cũng như người dân có những kế hoạch, biện pháp thích ứng với BĐKH kịp thời, phù hợp và hiệu quả hơn
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Biến đổi khí hậu
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam: “BĐKH là sự thay đổi của
hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại
và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo” [2]
Theo quan điểm của Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO), BĐKH là sự vận động bên trong hệ thống khí hậu, do những thay đổi kết cấu hệ thống hoặc trong mối quan hệ tương tác giữa các thành phần dưới tác động của ngoại lực hoặc do hoạt động của con người
Biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập
kỷ hoặc dài hơn Ví dụ, ấm lên hay lạnh đi Sự biến đổi về trạng thái khí hậu đó xảy ra do các quá trình tự nhiên hoặc do con người gây ra đối với các thành phần khí quyển
Biến đổi khí hậu mà trước hết là sự nóng lên toàn cầu và nước biển dâng hiện nay, là thách thức nghiêm trọng nhất đối với nhân loại trong thế kỷ XXI BĐKH đã thực sự tác động đến mọi lĩnh vực, bao gồm tài nguyên thiên nhiên, môi trường, kinh tế-xã hội và sức khỏe con người Thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan và các hiện tượng khí hậu cực đoan như là hệ quả của BĐKH hiện đang hoành hành ngày càng nhiều và khốc liệt ở khắp mọi nơi trên thế giới BĐKH tác động trực tiếp tới các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ và được coi là
thách thức lớn cho phát triển bền vững
Thời tiết là trạng thái khí quyển tại một thời điểm và một địa điểm nhất định
được xác định bằng tổ hợp các yếu tố: nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, tốc độ gió, mưa, mây,
Khí hậu: Đã được Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO) định nghĩa là trung bình
theo thời gian của thời tiết (thường là 30 năm)
Trang 16Khả năng bị tổn thương do tác động của BĐKH là mức độ mà một hệ thống
(tự nhiên, xã hội, kinh tế) có thể bị tổn thương do BĐKH, hoặc không có khả năng
thích ứng với những tác động bất lợi của BĐKH
Ứng phó với BĐKH là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm
nhẹ ảnh hưởng của BĐKH
Thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người
đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao động và biến đối khí hậu hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng
các cơ hội do nó mang lại
Giảm nhẹ BĐKH là các hoạt động nhằm giảm mức độ hoặc cường độ phát thải
khí nhà kính
Nguyên nhân của BĐKH
Biến đổi khí hậu có thể do hai nguyên nhân: các quá trình tự nhiên và sự tác động của con người BĐKH xảy ra trong quá khứ là do các nguyên nhân tự nhiên nhưng BĐKH hiện nay là do con người
H»ng ngµy cã 60 million tÊn CO 2 th¶i vµo khÝ quyÓn
có sự nhất trí cao và cho rằng trong những thập kỷ gần đây, những hoạt động phát triển kinh tế-xã hội với nhịp điệu ngày một cao trong nhiều lĩnh vực như năng lượng, công nghiệp, giao thông, nông-lâm nghiệp và sinh hoạt đã làm tăng nồng độ các khí gây hiệu ứng nhà kính (N2O, CH4, H2S và nhất là CO2) trong khí
Trang 17quyển, làm Trái đất nóng lên, làm biến đổi hệ thống khí hậu và ảnh hưởng tới môi trường toàn cầu (Al Gore, 2006)[22]
Tóm lại, nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu Trái đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác Nhằm hạn chế sự BĐKH, Nghị định thư Kyoto nhằm hạn chế và ổn định sáu loại khí nhà kính chủ yếu bao gồm: CO2, CH4,
N2O, HFCs, PFCs và SF6
- CO2 phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và là nguồn khí nhà kính chủ yếu do con người gây ra trong khí quyển CO2 cũng sinh
ra từ các hoạt động công nghiệp như sản xuất xi măng và cán thép
- CH4 sinh ra từ các bãi rác, lên men thức ăn trong ruột động vật nhai lại, hệ thống khí, dầu tự nhiên và khai thác than
- N2O phát thải từ phân bón và các hoạt động công nghiệp
- HFCs được sử dụng thay cho các chất phá hủy ôzôn (ODS) và HFC-23 là sản phẩm phụ của quá trình sản xuất HCFC-22
- PFCs sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm
- SF6 sử dụng trong vật liệu cách điện và trong quá trình sản xuất magiê
1.1.2 Biểu hiện chính của BĐKH
Biểu hiện của BĐKH rất phức tạp, bao gồm các biểu hiệu chính như sau:
- Nhiệt độ trung bình, tính biến động và dị thường của thời tiết và khí hậu tăng lên;
- Lượng mưa thay đổi
- Mực nước biển dâng lên do sự tan băng ở các Cực và các đỉnh núi cao;
- Các thiên tai và hiện tượng thời tiết cực đoan (nắng nóng, giá rét, bão,
lũ lụt, hạn hán, ) xảy ra với tần suất, độ bất thường và có thể cả cường độ
Trang 18vi toàn cầu Tuy nhiên, mức độ tác động của BĐKH có khác nhau: nghiêm trọng ở các vùng có vĩ độ cao và ít hơn tại các vùng khác, sẽ lớn hơn ở các nước nhiệt đới, nhất là các nước đang phát triển công nghiệp nhanh ở châu Á Trong đó, những người nghèo, những người ít góp phần gây ra BĐKH nhất thì lại phải chịu những thiệt hại sớm nhất và nghiêm trọng nhất về phát triển con người do BĐKH gây ra (Crutzen, 2005)
Hình 1.2 Dự đoán ảnh hưởng của BĐKH tới các lĩnh vực
theo sự gia tăng của nhiệt độ (Stern, 2007) Theo dự đoán, nhiều thành phố của các quốc gia ven biển đang đứng trước nguy cơ bị nước biển nhấn chìm do mực nước biển dâng - hậu quả trực tiếp của sự tan băng ở Bắc và Nam Cực Trong số 33 thành phố có quy mô dân số 8 triệu người vào năm 2015, ít nhất 21 thành phố có nguy cơ cao bị nước biển nhấn chìm toàn bộ hoặc một phần và khoảng 332 triệu người sống ở vùng ven biển và đất trũng sẽ bị mất nhà cửa vì ngập lụt.Mức độ rủi ro cao về lãnh thổ bị thu hẹp do nước biển dâng theo thứ tự là Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh, Việt Nam, Indonesia, Nhật Bản, Ai Cập, Hoa Kỳ, Thái Lan và Philippin
Nước biển dâng lên còn kèm theo hiện tượng xâm nhập mặn vào sâu hơn trong nội địa và sự nhiễm mặn của nước ngầm, tác động xấu tới sản xuất nông nghiệp và tài nguyên nước ngọt
Tài nguyên nước và sản xuất nông nghiệp cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng Theo dự đoán, đến năm 2080, sẽ có thêm khoảng 1,8 tỷ người phải đối mặt với
Trang 19sự khan hiếm nước, khoảng 600 triệu người sẽ phải đối mặt với nạn suy dinh dưỡng do nguy cơ năng suất trong sản xuất nông nghiệp giảm
Bên cạnh đó còn có khuynh hướng làm giảm chất lượng nước, sản lượng sinh học và số lượng các loài động, thực vật trong các hệ sinh thái nước ngọt, làm gia tăng bệnh tật, nhất là các bệnh mùa hè do vectơ truyền (IPCC, 1998) Trong thời gian 20÷25 năm trở lại đây, có thêm khoảng 30 bệnh mới xuất hiện Tỷ lệ bệnh nhân, tỷ lệ tử vong của nhiều bệnh truyền nhiễm gia tăng, trong đó sẽ có thêm khoảng 400 triệu người phải đối mặt với nguy cơ bị bệnh sốt rét (Al Gore,
2006, Stern, 2007)[22]
Số lượng và tổn thất do thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan gây ra tăng liên tục trong những thập kỷ vừa qua Theo số liệu thống kê, thiệt hại về kinh tế do thay đổi thời tiết và lũ lụt đã tăng gấp 10 lần trong vòng 50 năm qua Số nạn nhân của
lũ lụt do ảnh hưởng của BĐKH trong 5 năm 1983-1987 là 31 triệu người, tăng lên đến
130 triệu người trong 5 năm của thập kỷ sau 1993-1997 (WWC, 2003; Hotz, 2006) Riêng cơn bão Mitch (1999) đã làm chết 11.000 ở Trung Mỹ; cơn bão Katrina (2005)
đã làm chết hơn 1.800 người ở hai bang ven biển phía Nam của Hoa Kỳ và gây tổn thất lên tới 300 tỷ USD
Bão Katrina ở miền nam nước Mỹ năm 2005 gây thiệt hại 108 tỷ USD và giết chết khoảng 1.200 người Cơn bão có tên đầu tiên của năm 2008 tại khu vực Bắc Ấn Độ Dương, bão Nargis tại đồng bằng châu thổ Irrawaddy, Myanma đã làm hơn 60.000 người chết (dự đoán có thể lên tới 100.000 người), 1.400 người bị thương và 37.000 người mất tích Gần đây, Siêu bão Sandy đã quét qua bờ Đông nước Mỹ đem theo mưa lớn, gió to và nước biển dâng cao có nơi tới 4 mét, tràn vào hệ thống tàu điện ngầm tại thành phố New York, làm một trạm điện bị phát nổ, hỏa hoạn cũng đã thiêu rụi 50 căn ngôi nhà Từ 50 đến 60 triệu người dân Mỹ bị ảnh hưởng của bão, trong đó hơn 1 triệu người ở các vùng đất thấp hoặc ven biển đã phải sơ tán Giao thông công cộng đã bị tê liệt ở nhiều bang Theo phân tích của công ty IHS Global Insight, với mức thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 20 tỷ USD cộng với 10 đến 30 tỷ USD thiệt hại về kinh doanh làm ăn, bão Sandy có thể đi vào lịch sử
là cơn bão gây thiệt hại nhất cho nước Mỹ
Theo Nicolas Stern (2007)-nguyên chuyên gia kinh tế hàng đầu của Ngân hàng Thế giới, thì trong vòng 10 năm tới, chi phí thiệt hại do BĐKH gây ra cho toàn thế giới ước tính khoảng 7.000 tỷ USD; nếu chúng ta không làm gì
để ứng phó thì thiệt hại mỗi năm sẽ chiếm khoảng 5÷20% GDP, còn nếu
Trang 20chúng ta có những ứng phó tích cực để ổn định khí nhà kính ở mức 550 ppm tới năm 2030 thì chi phí chỉ còn khoảng 1% GDP
Hình 1.3 Sự gia tăng số lượng và thiệt hại do thiên tai, các hiện tượng
thời tiết cực đoan trong 4 thập kỷ vừa qua (Nicolas Stern (2007)
1.1.3.2 Tác động của biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu
a) Tác động đến hệ vật lý
Từ 1970 đến nay, có thể do tác động của biến đổi về nhiệt độ toàn cầu đã gây nên biến đổi sau đây đến hệ vật lý:
- Gia tăng và mở rộng các hồ băng
- Gia tăng phần đất nện trên các khu vực băng vĩnh cửu và - tuyết lở ở các vùng núi
- Gia tăng dòng chảy và dòng chảy sớm đạt đỉnh trên các dòng sông băng vào mùa xuân
- Các sông, hồ nóng lên và do đó thay đổi cơ chế nhiệt và cả chất lượng nước b) Tác động đến hệ sinh thái
Do tác động của biến đổi khí hậu hệ sinh thái có những biến đổi sau đây: Chỉ thị vật hậu mùa xuân đến sớm hơn
Lục hóa trong mùa xuân đến sớm hơn
Gia tăng các quần cư động vật trôi nổi trên các biển vĩ độ cao và các hồ trên cao Các loài cá di trú sớm hơn trên các sông
Trang 21Với mức tăng nhiệt độ 1,5÷2,50C dự kiến có những biến đổi phổ biến về cấu trúc và chức năng của các loài di trú sinh thái các đới địa lý cùng với những hậu quả tiêu cực khác
Quá trình a xít hóa đại dương chắc chắn tác động tiêu cực đến tổ chức và cấu trúc của các rặng san hô
c) Một số tác động khác
- Nồng độ CO2 trong khí quyển tăng lên dẫn đến độ a xít hóa của đại dương tăng lên Độ pH trung bình của nước biển gần mặt giảm đi 0,1 đơn vị kể từ thời
kỳ tiền công nghiệp
- Nhiệt độ tăng ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nông-lâm nghiệp ở các vĩ
độ cao và các vấn đề chăm sóc y tế châu Âu
- Nước biển dâng tác động đến vùng đất ngập nước, rừng ngập mặn và gây
ra ngập lụt bờ biển trên một số khu vực
1.1.3.3 Tác động của biến đổi khí hậu đến các lĩnh vực
c) Tác động đến công nghiệp và cư dân
- Nhiều khu công nghiệp, khu cư dân ven biển trên châu thổ các sông đặc biệt nhạy cảm với sự gia tăng thời tiết cực đoan do BĐKH
- Nhiều cộng đồng nghèo, đặc biệt ở những vùng nhiều thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan, có thể gặp nhiều rủi ro và tổn thất nghiêm trọng
d) Tác động đến sức khỏe
Trang 22Tình trạng sức khỏe của hàng triệu dân sa sút, thậm chí sa sút nghiêm trọng Biến đổi khí hậu tuy mang lại một vài lợi ích cho một số vùng ôn đới, chẳng hạn giảm bớt tử vong do lạnh, song phổ biến vẫn là ảnh hưởng tiêu cực, do nhiệt độ tăng lên
- Biến đổi nhiệt độ và lượng mưa dẫn tới những biến đổi dòng chảy Dòng chảy giảm 10÷40 % vào giữa thế kỷ ở các vùng vĩ độ cao và nhiệt đới
ẩm ướt, bao gồm những vùng đông dân ở Đông Á, Đông Nam Á và giảm 10÷30 % ở các khu vực khô ráo vĩ độ trung bình và nhiệt đới do lượng mưa giảm và cường độ bốc thoát hơi tăng Diện tích các vùng hạn hán tăng lên, tác động đến nhiều lĩnh vực liên quan: Nông nghiệp, cung cấp nước, sản xuất và sức khỏe
- Sẽ có sự gia tăng đáng kể trong tương lai về các tai biến do mưa nhiều trên một số khu vực, kể cả những khu vực được dự kiến là lượng mưa trung bình giảm Nguy cơ lụt lội gia tăng chắc chắn là thách thức đối với các vấn đề
xã hội, hạ tầng cơ sở và chất lượng nước Có đến 20 % dân cư phải sống ở những vùng lụt lội gia tăng vào thập kỷ 2080 Chắc chắn sự gia tăng về tần số
và mức độ nghiêm trọng của lũ lụt cũng như hạn hán sẽ tác động tiêu cực đến
Trang 23hạn hán… đang xảy ra với cường độ, tần suất, độ bất thường và độ khốc liệt ngày càng gia tăng[9]
Hình 1.4 BĐKH tác động tới mọi vùng, miền trên phạm vi toàn cầu
(Nguồn: Trương Quang Học (chủ biên), 2012 Việt nam, thiên nhiên,
môi trường và phát triển bền vững)
1.2.2 Biến đổi khí hậu ở Việt Nam
1.2.2.1 Các xu hướng của Biến đổi khí hậu tại Việt Nam
Các số liệu khoa học đã cho thấy rằng Việt Nam là quốc gia đặc biệt dễ bị tổn thương bởi các ảnh hưởng tiêu cực của BĐKH (UN Vietnam, 2009) Để ứng phó một cách phù hợp với những ảnh hưởng đó, điều quan trọng là phải hiểu được tình hình BĐKH tại Việt Nam trong một quãng thời gian dài, từ quá khứ đến hiện tại và
tương lai
BĐKH ngày càng hiện hữu rõ nét tại Việt Nam Biến đổi khí hậu, mà
biểu hiện của nó là sự nóng lên toàn cầu và nước biển dâng, là một trong những thách thức lớn nhất của nhân loại trong thế kỷ 21 Sự tăng lên của nhiệt độ trung bình, lượng mưa, mực nước biển và các hiện tượng khí hậu cực đoan khác đang ngày càng rõ rệt tại Việt Nam
Trang 24Nhiệt độ đã liên tục tăng lên Trong quãng thời gian 1900÷2000, mỗi thập
kỷ nhiệt độ trung bình năm lại tăng 0,10C Mùa hè đang trở nên nóng hơn với nhiệt độ trung bình tăng khoảng 0.1÷0.30C mỗi thập kỷ (UNDP, 2007) Nhiệt độ trung bình sẽ tăng nhanh hơn ở miền Bắc so với ở miền Nam; mùa đông thì nhiệt
độ trung bình sẽ tăng nhanh hơn và tăng nhiều hơn so với mùa hè (MONRE, 2009) Số liệu trên cho thấy xu hướng ấm nóng lên của Việt Nam Trong vòng 70 năm qua, nhiệt độ trung bình năm đã tăng khoảng 0.5oC[4],[25]
Lượng mưa trung bình năm trong mùa mưa đã tăng lên, và sẽ tiếp tục tăng, trong khi lượng mưa mùa khô được dự đoán là sẽ giảm xuống Theo
Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), những thay đổi về lượng mưa là khá phức tạp và đặc thù theo mùa và theo khu vực Lượng mưa trung bình tháng đã giảm xuống trên khắp phạm vi cả nước trong tháng 7 và tháng 8 (tương ứng mùa khô)
và tăng lên trong khoảng từ tháng 9 đến tháng 11 (mùa mưa) Sự biến đổi về lượng mưa cũng không giống nhau tại các vùng: lượng mưa trung bình năm đã
giảm ở miền Bắc trong khi lại tăng lên ở miền Nam[4]
Số lượng các đợt không khí lạnh đã giảm đáng kể trong vòng 2 thập kỷ qua Trong thời kỳ 1994÷2007, mỗi năm có khoảng 15÷16 đợt không khí lạnh,
tương đương 56% giá trị trung bình của nhiều năm trước đây Sự bất thường của không khí lạnh hiện nay còn dẫn đến những đợt rét đậm rét hại khủng khiếp như đợt lạnh kéo dài đến 38 ngày liên tiếp trong tháng 1 và tháng 2 năm 2008 Điều này đã gây thiệt hại đáng kể đến sản xuất nông nghiệp[26]
Trạm đo Hà Nội
Trang 25Trạm đo Đà Nẵng
Trạm đo Tân Sơn Nhất
Hình 1.5 Mức tăng nhiệt độ trung bình năm giai đoạn 1930÷2000
Thời gian (năm)
DHmax DHmean DHmin Linear (DHmax) Linear (DHmean) Linear (DHmin)
Hình 1.6 Mực nước biển tăng khoảng 20 cm trong vòng 50 năm qua
(Bộ TNMT, 2009)
Trang 26Hình thái bão đang thay đổi và bão với cường độ lớn đang xuất hiện ngày càng nhiều ở Việt Nam Số lượng các cơn bão đổ bộ vào Việt Nam đã tăng lên
trong khoảng những năm 1950 và những năm 1980 song lại giảm đáng kể trong các năm thập niên 90 của thế kỷ trước (UNDP, 2007) Tháng có nhiều bão nhất đã chuyển dịch từ tháng 8 vào những năm 1950 đến tháng 11 vào những năm 1990 Đường đi của bão đã dịch chuyển dần xuống phía nam và rất nhiều cơn bão có
đường đi bất thường (Bộ TNMT, 2003)[2],[25]
Áp thấp nhiệt đới đã, đang và sẽ xuất hiện thường xuyên hơn, với cường
độ mạnh hơn tại Việt Nam Người ta dự toán rằng bão và áp thấp nhiệt đới với tốc
độ gió lớn sẽ xuất hiện nhiều hơn và kéo dài thời gian lâu hơn Các cơn bão tần suất
30 năm mới xảy ra một lần thì nay có thể sẽ xuất hiện với tần suất nhanh hơn,
khoảng 10 năm một lần (Văn phòng Chính phủ và Bộ TNMT, 2009)
Một số nghiên cứu đã chứng minh mực nước biển dâng lên tại Việt Nam Mực nước biển đã dâng lên khoảng 20cm trong giai đoạn 1958÷2007 (Bộ
TNMT, 2009) và đang đang lên với tốc độ khoảng 3mm mỗi năm trong giai đoạn 1993÷2008 Điều này phù hợp với xu hướng chung trên toàn cầu Xói lở bờ biển cũng đã xảy ra, ví dụ như tại Huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau đã bị xói lở 600 ha
đất, có nơi lở mất dải đất dài tới 200m (UNDP, 2007)[25]
Kịch bản biến đổi khí hậu tại Việt Nam
Năm 2011, kịch bản BĐKH và nước biển dâng tại Việt Nam được ban hành
lần thứ 2 ( Bộ TN & MT, 2011)[5]
Nhiệt độ trung bình năm (dT vào 2100 so với 1980÷1999)
tích cả nước, nơi có mức tăng cao nhất là khu vực từ Hà Tĩnh đến Quảng Trị với mức tăng trên 3,10C Một phần diện tích Tây Nguyên và Tây Nam Bộ có mức tăng thấp nhất, từ 1,6÷1,90
C
Nhiệt độ cực trị năm (dT vào 2100 so với 1980÷1999)
C trung bình tăng 2,2÷3,5 0C Khu vực Đông Bắc Bộ, Đồng bằng Bắc Bộ và Nam Tây Nguyên là những nơi có nhiệt độ cực trị tăng nhanh hơn so với những nơi khác của nước ta Số ngày nắng nóng tăng 10÷20 ngày trên phần lớn diện tích cả
nước, khu vực núi phía Bắc và Tây Nguyên có mức tăng ít hơn 5÷10 ngày
Trang 27Lượng mưa mùa (dR vào 2100 so với 1980÷1999)
Kịch bản phát thải trung bình:
- Mùa đông: Lượng mưa tăng ở phía Bắc và giảm ở phía Nam
- Mùa xuân: Lượng mưa giảm trên phạm vi cả nước
- Mùa hè: Lượng mưa tăng nhiều ở phía Bắc, tăng ít ở phía Nam
- Mùa thu: Lượng mưa tăng ít ở Bắc Bộ và tăng nhiều hơn từu Nghệ An trửo vào, đặc biệt là ở khu vực Nam Trung Bộ
Mức tăng phổ biến của lượng mưa năm trên lãnh thổ Việt Nam từ từ 2÷7% Tây Nguyên là khu vực có mức tăng thấp hơn so với các khu vực khác trên cả nước, với mức tăng khoảng từ dưới 1 đến gần 3% Ở một vài nơi thuộc ven biển Trung Bộ có lượng mưa năm tăng gần 10%
Lượng mưa ngày lớn nhất ở Bắc Bộ có thể tăng khoảng 50% so với thời kỳ 1980-1999 và khoảng 20% ở Bắc Trung Bộ Ngược lại, lượng mưa ngày lớn nhất giảm ở khu vực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ, với mức giảm vào khoảng 10÷30% Tuy nhiên, ở các khu vực khác nhau lại có thể xuất hiện lượng
mưa ngày dị thường với lượng mưa gấp đôi so với kỷ lục hiện nay
Mực nước biển dâng (dR vào 2100 so với 1980÷1999)
Kịch bản phát thải thấp: Mực nước biển dâng cao nhất ở khu vực từ Cà
Mau đến Kiên Giang (54÷72 cm); Thấp nhất ở khu vực Móng Cái (42÷57 cm)
Trung bình toàn Việt Nam: 49÷64 cm
Kịch bản phát thải trung bình: Mực nước biển dâng cao nhất ở khu vực từ
Cà Mau đến Kiên Giang (62÷82 cm); Thấp nhất ở khu vực Móng Cái (49÷64
cm) Trung bình toàn Việt Nam: 57÷73 cm
Kịch bản phát thải cao: Mực nước biển dâng cao nhất ở khu vực từ Cà Mau
đến Kiên Giang (85-105 cm); Thấp nhất ở khu vực Móng Cái (66÷85 cm) Trung bình toàn Việt Nam: 78÷95 cm
1.2.2.2 Tác động và hậu quả của BĐKH tại Việt Nam
Cũng giống như bức tranh chung trên toàn cầu, ở Việt Nam, trong khoảng
50 năm qua, nhiệt độ trung bình hàng năm tăng khoảng 0,5 oC, mực nước biển đã dâng khoảng 20 cm Hiện tượng El-Nino, La-Nina ngày càng tác động mạnh mẽ đến Việt Nam BĐKH thực sự đã làm cho các thiên tai, các hiện tượng thời tiết
cực đoan, đặc biệt là bão, lũ, hạn hán ngày càng ác liệt (Bộ TNMT, 2003)[2]
Trang 28a Đánh giá chung
Việt Nam, theo dự đoán, là một trong số ít nước sẽ phải chịu hậu quả tác động nặng nề nhất của BĐKH
Mực nước biển dâng (dR vào 2100 so với 1980÷1999)
Bảng 1: Mực nước biển dâng theo kịch bản phát thải thấp (cm)
Bảng 2: Mực nước biển dâng theo kịch bản phát thải trung bình (cm)
Bảng 3: Mức nước biển dâng theo kịch bản phát thải cao (cm)
(Nguồn: Bộ TN & MT, 2011) Đối với nước ta, mực nước biển dâng sẽ làm mất đi một vùng đất thấp rộng lớn-các hệ sinh thái đất ngập nước của các đồng bằng lớn nhất cả nước–nơi ở của các cộng đồng dân cư lâu đời, cái nôi của nền văn minh lúa nuớc, vùng có tiềm năng sản xuất nông nghiệp lớn nhất và các sinh cảnh tự nhiên của nhiều loài bản địa bao gồm cả các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu dự trữ sinh quyển
Trang 29BĐKH còn ảnh hưởng đến các thủy vực nội địa (sông, hồ, đầm lầy, ) do sự thay đổi nhiệt độ nước và mực nước, thay đổi thời tiết (mưa, bão, hạn hán, ), tới lưu lượng, đặc biệt là tần suất và cường độ của những trận lũ và hạn hán làm giảm sản lượng sinh học bao gồm cả các cây trồng nông, công và lâm nghiệp, và
sự diệt vong của nhiều loài động, thực vật bản địa, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế
Bão, lũ lụt, rét hại, nắng nóng, hỏa hoạn và những thay đổi điều kiện sinh thái khác sẽ dẫn tới các thảm họa chết người, ốm đau, thương tích, suy dinh dưỡng và các bệnh dịch mới, nhất là các bệnh do côn trùng truyền có tỷ lệ tử vong cao (Trương Quang Học, Trần Đức Hinh, 2008)[10]
Đối với các lĩnh vực, cũng như tình hình chung trên thế giới, đối với Việt Nam, BĐKH tác động tới tất cả các vùng, miền, các lĩnh vực về tài nguyên, môi trường và KT-XH, trong đó tài nguyên nước, nông nghiệp, y tế-sức khỏe, an ninh môi trường và vùng ven biển sẽ chịu tác động mạnh mẽ nhất
● Xu thế biến đổi về bão
Trong cuối thế kỷ XX (1951÷2000) có 335 cơn bão và áp thấp nhiệt đới (gọi chung là bão) ảnh hưởng tới Việt Nam, trung bình mỗi năm có 6,7 cơn bão Biến đổi về bão có một số đặc điểm sau:
Có 24 năm bão ít hơn trung bình (chuẩn sai âm) và 26 năm bão nhiều hơn trung bình (chuẩn sai dương)
Có 7 năm bão rất ít (không quá 3 cơn) và 7 năm bão rất nhiều (10 cơn trở lên) Thập kỷ 1971÷1980 có nhiều bão nhất, trong đó năm 1978 là năm nhiều bão của nửa cuối thế kỉ 20 (13 cơn bão) Song cũng trong thập kỉ này, vào năm 1976 không có bão đổ bộ vào Việt Nam
Ba thập kỷ liên tiếp 1961÷1970, 1971÷1980, 1981÷1990, bão tăng lên rõ rệt so với nhiều thập kỉ trước đó Song đến thập kỉ 1991÷2000 bão có phần ít
đi Nói cách khác xu thế tăng của bão không thể hiện vào những năm cuối thế
kỷ 20[6]
Vào những năm gần đây, quỹ đạo bão dịch dần vào phía Nam và mùa bão lui dần vào các tháng cuối năm
Trang 30● Xu thế biến đổi về số đợt phơ rông lạnh
Ảnh hưởng của phơ rông lạnh đối với nước ta (thường được gọi là gió mùa Đông Bắc và gọi tắt là gió mùa) chủ yếu ở Bắc Bộ Vì vậy biến đổi của phơ rông lạnh thực chất là biến đổi về phơ rông lạnh qua Hà Nội
Trung bình mỗi năm có 30 đợt Phơ rông lạnh, theo số liệu kỳ 1955÷2000 Biến đổi phơ rông lạnh có những đặc điểm sau:
- Có 12 năm phơ rông lạnh nhiều hơn trung bình (chuẩn sai dương) và 20 năm phơ rông lạnh ít hơn trung bình (chuẩn sai âm)
- Có 5 năm phơ rông lạnh nhiều hơn trung bình rõ rệt (≥ 34 đợt) và 5 năm phơ rông lạnh ít hơn trung bình rõ rệt (≤ 26 đợt)
Nói chung, tần số phơ rông lạnh khá đồng đều giữa các thập kỉ trong nửa cuối thế kỉ[6]
● Xu thế biến đổi về nhiệt độ
Biến đổi nhiệt độ có một số đặc điểm sau đây:
- Biến đổi nhiệt độ tương đối lớn vào các tháng mùa đông, lớn nhất vào các tháng chính đông (XII,I,II) tương đối bé vào các tháng mùa hạ, bé nhất vào các tháng chính hạ (VI,VII,VIII) Biến đổi bé nhất là nhiệt độ trung bình năm, phổ biến có độ lệch tiêu chuẩn là 0.3÷0.6ºC
- Mức độ biến đổi phụ thuộc vào khu vực địa lý và điều kiện cụ thể của từng mùa Về mùa đông, các khu vực có độ lệch tiêu chuẩn khoảng 1÷2 ºC, giảm từ Bắc vào Nam Về mùa hè biến đổi ít và khá đồng đều trên các khu vực, khoảng 0.4÷0.8 ºC
- Biến đổi nhiệt độ không khác biệt đáng kể giữa các vùng núi cao và các vùng núi thấp, giữa hải đảo và vùng đất kế cận
Xu thế biến đổi nhiệt độ có những đặc điểm sau đây:Nói chung nhiệt độ cả năm của 4 thập kỉ gần đây (1961÷2000) cao hơn 4 thập kỷ trước đó
- Trong các mùa xu thế biến đổi nhiệt độ không hoàn toàn như nhau:
+ Nhiệt độ mùa hè thể hiện xu thế tăng lên trong 3÷4 thập kỷ gần đây
+ Nhiệt độ mùa đông chỉ có xu thế tăng lên trong thập kỷ 1991÷2000
Trang 31+ Theo nhận định sơ bộ, mức tăng trung bình của nhiệt độ trong thời gian qua là 0.007÷0.15 ºC mỗi thập kỷ
● Xu thế biến đổi về lượng mưa
Về biến đổi lượng mưa có những đặc điểm sau đây:
- Trong cùng thời gian biến đổi về lượng, nơi mưa nhiều ít hơn nơi mưa ít
- Trên cùng một địa điểm, biến đổi lượng mưa của tháng mưa nhiều lớn hơn các tháng mưa ít Biến đổi lượng mưa năm vượt xa biến đổi của lượng mưa tháng xét về trị số tuyệt đối
- Biến đổi của mùa mưa rõ rệt hơn nhiều so với biến đổi mùa nhiệt
- Không hiếm năm lượng mưa trong một số tháng mùa khô có thể dao động trong phạm vi 3÷4 tháng hoặc đến 5÷6 tháng như ở duyên hải Trung Bộ
-Thời gian cao điểm của mùa mưa có thể có là một trong 5÷6 tháng mùa mưa, từ tháng 5÷9 ở Bắc Bộ, Nam Bộ, và hạn hẹp hơn đôi chút ở ven biển duyên hải Trung Bộ
-Lượng mưa trung bình giữa các thập kỉ khác nhau rất rõ, về trị số năm cũng như về trị số tháng hay mùa
1.2.2.3 Tác động và hậu quả của BĐKH tại Nghệ An
Nghệ An có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt: mùa nóng (từ tháng V đến tháng X) chịu ảnh hưởng của gió mùa tây nam và mùa lạnh (từ tháng XI đến tháng IV) chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 23÷25 0C, có những ngày nhiệt độ lên tới 42
0C Lương mưa trung bình hàng năm: 2.310 mm Cân bằng bức xạ: 100÷120 Kcal/cm2, số giờ nắng trung bình: 1.800÷2.000 giờ/năm Cũng như các tỉnh thuộc Bắc Trung Bộ, Nghệ An hứng chịu hầu như tất cả các loại thiên tai khắc nghiệt: bão, mưa lớn, lũ lụt, lũ quét, sạt lở đất, gió tây khô nóng và hạn hán…
BĐKH đã biểu hiện rõ ở Nghệ An qua diễn biến của nhiệt độ (bảng 3) Từ bảng 3 ta thấy, so với thập niên 1979÷1988, nhiệt độ không khí trung
bình thập niên 1999÷2008 cao hơn, rõ rệt nhất là vào các tháng chuyển tiếp (tháng IV và tháng X):
Trang 32Bảng 4 Chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa thập niên 1999-2008 và
1979-1988 của các tháng I, IV, VII, X, thời kỳ chính đông (tháng XII-II),
(Nguồn: Phạm Đức Thi và Nguyễn Thu Bình)
- Nhiệt độ trung bình năm phổ biến cao hơn 0,3÷0,6oC;
- Nhiệt độ trung bình các tháng mùa đông tăng cao hơn so với mức độ
tăng các tháng mùa hè Trong 3 tháng chính đông (tháng XII-II), nhiệt độ
trung bình phổ biến cao hơn 0,5÷0,7 oC, trong khi các tháng chính hè
(tháng VI-VIII), nhiệt độ trung bình phổ biến cao hơn 0,2÷0,4 oC Điều đó
cũng được thể hiện ở hai tháng tiêu biểu của mùa đông (tháng I) và mùa hè
(tháng VII);
- Trong các tháng chuyển tiếp, nhất là tháng IV, nhiệt độ tăng rõ rệt, phổ
biến 1,0÷1,4 o
C
Bức tranh trên phù hợp với khảo sát của Tổ chức Khí tượng thế giới
(WMO): quãng thời gian 10 năm từ năm 2000÷2009 là thập kỷ nóng nhất kể từ
khi giới khoa học bắt đầu đo nhiệt độ Trái đất vào năm 1850
Nhiệt độ tăng trong những năm gần đây ở Việt Nam cũng như Nghệ An phản
ánh xu thế chung: hoạt động của không khí lạnh trong mùa đông giảm, trong khi các
đợt gió tây khô nóng tăng cường Như ở Nghệ An, nắng nóng trong những năm đầu
của thế kỷ 21 diễn ra nhiều hơn so với những năm trước đây Liên tiếp trong 2 năm
2009, 2010 diễn ra 10, 11 đợt nắng nóng (Bảng 4)
Trang 33Bảng 5 Số đợt nắng nóng xẩy ra ở Nghệ An trong những năm gần đây
(Nguồn: Đài Khí tượng Thủy văn Bắc Trung Bộ, 2011)
Theo đánh giá của Tổ chức Khí tượng Thế giới, do ảnh hưởng của hiện tượng
El Nino, năm 2010 là năm nóng kỷ lục trong vòng 100 năm qua
Ngược với xu thế tăng của nhiệt độ, theo số liệu của Đài Khí tượng Thủy
văn Bắc Trung Bộ, lượng mưa ở Nghệ An trong 3 thập kỷ cuối thế kỷ 20 có xu
thế chung là giảm dần Tại trạm khí tượng Vinh và Quỳnh Lưu, lượng mưa trung bình năm ở thập kỷ 70 lần lượt là 16.685 mm và 20.257 mm nhưng đến năm thập
kỷ 90 đã giảm còn 15.402 mm và 18.657 mm
Số lượng cơn bão đổ bộ vào bờ biển Nghệ An giảm dần trong những thập
kỷ gần đây (Bảng 5) Đó là do ảnh hưởng của BĐKH đường đi của bão có xu hướng lệch xuống phía nam Tuy nhiên, ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới đối với KT-XH, dân sinh, nhất là nghề cá của Nghệ An là rất lớn Mặt khác, dù bão và áp thấp nhiệt đới còn hoạt động ngoài khơi Biển Đông với trung bình hàng năm là 11÷12 cơn, cũng ảnh hưởng lớn đến các hoạt động khai thác hải sản của ngư dân Theo bà con ngư dân, gần như năm nào cũng có ngư dân bị thiệt mạng, tầu thuyền bị chìm do bão, tố lốc
Trang 34Bảng 6: Số cơn bão ảnh hưởng trực tiếp từ 1980÷2010
Thập kỷ Ảnh hưởng đến Bắc Trung bộ Vào bờ biển Nghệ An
(Nguồn: Đài Khí tượng Thủy văn Bắc Trung Bộ, 2011)
Nhìn chung, Nghệ An là một trong các tỉnh được đánh giá là chịu nhiều ảnh hưởng do BĐKH toàn cầu Đất đai bị bạc màu; đa dạng sinh học giảm mạnh; diện tích đất bị xâm nhập mặn, đất bị khô hạn, nhiễm phèn ngày càng tăng; nhiệt
độ không khí tăng cao và hạn hán bất thường, mưa bão, lũ lụt không theo quy luật; nhiều dịch bệnh mới hình thành, … đã đe dọa đến các hoạt động KT-XH trong tỉnh Những thiệt hại lớn do thiên tai gây ra trong những năm vừa qua tại Nghệ An được liệt kê dưới đây là minh chứng
b Đối với một số lĩnh vực
♠ Tài nguyên nước
Dưới tác động của BĐKH, khi nhiệt độ trung bình tăng, độ bất thường của thời tiết, khí hậu và thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan gia tăng sẽ ảnh hưởng rất lớn tới tài nguyên nước ngọt ở các khía cạnh sau:
- Nhu cầu nước sinh hoạt cho con người, nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, năng lượng, giao thông, đều tăng Bên cạnh đó, lượng bốc hơi nước của các vực nước (hồ ao, sông, suối, ) cũng tăng Hậu quả dẫn đến là sự suy thoái tài nguyên nước cả về số lượng và chất lượng sẽ trở nên trầm trọng hơn
- Những thay đổi về mưa sẽ dẫn tới những thay đổi về dòng chảy của các con sông và cường độ các trận lũ, tần suất và đặc điểm của hạn hán, lượng nước dưới đất
- Khi băng tuyết ở các Cực và đỉnh núi cao (Himalya) tan sẽ làm tăng dòng chảy ở các sông và làm tăng lũ lụt Khi các băng trên núi cạn, lũ lụt sẽ giảm đi nhưng khi đó các dòng chảy cũng giảm đi, thậm chí cạn kiệt Nạn thiếu nước sẽ
Trang 35trầm trọng hơn Điều này rất đặc trưng cho các nước châu Á với nguồn nước sông ngòi phụ thuộc nhiều vào nước thượng nguồn
- Một hậu quả nghiêm trọng khác của BĐKH tới tài nguyên nước là hạn hán gia tăng Hạn hán không những dẫn tới hậu quả làm giảm năng suất mùa màng, thậm chí mất trắng, mà còn là nguy cơ dẫn tới hoang mạc hóa, làm tăng nguy cơ cháy rừng gây thiệt hại to lớn về nhiều mặt
- Nước cần cho sự sống (cho bản thân con người và thế giới sinh vật) cho phát triển nông nghiệp, công nghiệp, v.v Vì vậy, sự suy thoái tài nguyên nước
sẽ là yếu tố rất quan trọng tác động trực tiếp tới đời sống con người và sự phát
triển kinh tế-xã hội nói chung
♠ Nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp của chúng ta hiện nay còn phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết Khi nhiệt độ, tính biến động và dị thường của thời tiết và khí hậu tăng sẽ ảnh hưởng rất lớn tới sản xuất nông nghiệp, nhất là trồng trọt, làm tăng dịch bệnh, dịch hại, giảm sút năng suất mùa màng
Sự gia tăng của thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan và các hiện tượng cực đoan của thời tiết, khí hậu như bão, lũ lụt, hạn hán, giá rét sẽ ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ tới sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy hải sản Trong thời gian qua, ở nhiều địa phương, mùa màng đã bị mất trắng do thiên tai, các
hiện tượng thời tiết cực đoan (lũ lụt và hạn hán, rét hại, )
♠ Đối với sức khỏe
BĐKH gây ra chết chóc và bệnh tật thông qua:
- Hậu quả của các dạng thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan như sóng nhiệt (nắng nóng), bão, rét hại, bão, lũ lụt, hạn hán
- Do nhiều bệnh sẽ gia tăng dưới tác động của sự thay đổi nhiệt độ và hoàn cảnh, nhất là các bệnh truyền qua vật trung gian như sốt rét (do muỗi truyền), sốt xuất huyết (muỗi), viêm não (muỗi), qua môi trường nước (các bệnh đường ruột)
và các bệnh khác (suy dinh dưỡng, bệnh về phổi, ) Những bệnh này đặc biệt ảnh hưởng lớn tới các vùng kém phát triển, đông dân và có tỷ lệ đói nghèo cao
Trang 36Ở Việt Nam có 9 bệnh đã được bộ Y tế xác định có liên quan đến BĐKH gồm: Bệnh cúm A(H1N1) hiện đang xảy ra; Bệnh cúm A(H5N1): xảy ra từ tháng 12/2003÷tháng 9/2008; Bệnh sốt xuất huyết; Bệnh sốt rét; Bệnh tả: xảy ra vào các năm 2004, 2007, 2008; Bệnh thương hàn; Bệnh tiêu chảy; Bệnh viêm não do virut; Bệnh viêm đường hô hấp cấp tính (SARC năm 2003)
♠ Tác động của BĐKH tới cơ sở hạ tầng
Nhìn một cách khái quát, tác động của BĐKH tới cơ sở hạ tầng thể hiện ở hai góc độ, quy hoạch xây dựng và thiết kế công trình
Quy hoạch xây dựng: bao gồm không chỉ quy hoạch đô thị, nông thôn, các khu dân cư, các cụm công nghiệp mà còn cả các công trình giao thông vận tải, thủy lợi, y tế, giáo dục, du lịch và dịch vụ Những quy hoạch xây dựng bao giờ cũng được tính toán một cách phù hợp với phân bố không gian và điều kiện khí hậu của từng vùng, từng địa phương, từng loại công trình Vì vậy, BĐKH sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới các quy hoạch này, nhất là khi mực nước biển dâng và thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan gia tăng
Thiết kế công trình: Bao giờ cũng được tính toán phù hợp với tải trọng khí tượng, trong đó tải trọng gió và tải trọng nhiệt là quan trọng nhất đối với các nước nhiệt đới như Việt Nam
BĐKH, trước hết là nước biển dâng, nhiệt độ tăng, sự bất thường về khí hậu
và gia tăng thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan sẽ gây ra ngập lụt và tác động tới tính tiện nghi, tính hữu dụng, sức chịu tải, độ bền, độ an toàn của các công trình được thiết kế trước đó khi không được xem xét tới yếu tố BĐKH
Vì vậy, đánh giá tác động của BĐKH cho từng loại cơ sở hạ tầng đã có trong
từng địa phương cụ thể để có các giải pháp thích ứng phù hợp là điều quan trọng
♠ Tác động của BĐKH tới an ninh môi trường và an ninh quốc gia tập
trung ở những vấn đề sau:
- Sử dụng chung nguồn nước: Việt Nam có khoảng hai phần ba tổng lượng nước là từ bên ngoài lãnh thổ chảy vào Việc sử dụng nước phía thượng nguồn, việc xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện của các quốc gia trên thượng nguồn các sông lớn, như sông Hồng, sông Cửu Long (hiện đã có khoảng gần 50
Trang 37đập, Hình 1.7) sẽ là một khó khăn rất lớn cho chúng ta trong sử dụng nguồn nước
và bảo vệ môi trường BĐKH sẽ làm suy thoái tài nguyên nước, khi đó nhu cầu dùng nước của các quốc gia đều tăng lên, làm tăng các bất đồng và xung đột có thể
có trong sử dụng chung nguồn nước
- Tỵ nạn môi trường/khí hậu (trong nước và quốc tế) do mất nơi ở hoặc do bệnh tật và nghèo đói: Có những cảnh báo cho rằng vấn đề tị nạn khí hậu không chỉ đơn thuần là vấn đề xã hội, kinh tế mà có thể còn là vấn đề chính trị, chiến tranh (Nobber, 2007) Các đô thị, trong đó có Hà Nội sẽ là những mục tiêu cho làn sóng tị nạn
- An ninh sinh thái do sự nhiễu loạn của nhiều HST, sự xâm lấn của các sinh vật
lạ và sinh vật biến đổi gen (theo Nguyễn Đình Hòe và Nguyễn Ngọc Sinh, 2008)
Hình 1.7 Sơ đồ các đập thủy điện phía thượng nguồn sông Mê Kông (A)
và mực nước sông Hồng vào mùa mưa, 2008) (B)
c Biến đổi khí hậu làm cho các dạng thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan trầm trọng hơn
Dưới tác động của BĐKH, các dạng thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan (bão lụt, hạn hán, trượt lở, lốc, rét hại, nắng nóng, ) có thể sẽ gia tăng về cường
độ, độ bất thường và trầm trọng hơn
Trang 381.2.3 Chính sách và hành động của chính phủ về Biến đổi khí hậu
1.2.3.1 Các chính sách và chương trình chủ yếu về Biến đổi khí hậu
Là một quốc gia có khí hậu nhiệt đới gió mùa với bão và lũ lụt khá phổ biến trong mùa mưa ở nhiều vùng trên cả nước, Việt Nam đã sớm xây dựng và ban hành cách kế hoạch, chương trình có liên quan đến phòng tránh thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan ngay từ những năm 1970 của thế kỷ trước mà những chính sách này chỉ tập trung vào đối phó với bão và lũ lụt
Vào đầu những năm 2000, khi vấn đề BĐKH thu hút sự quan tâm ngày càng nhiều trên trường quốc tế, thì Việt Nam đã tham gia vào một số các hoạt động về BĐKH nhằm thực hiện Công ước khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH (UNFCCC) và Nghị định thư Kyoto-với Bộ tài nguyên và Môi trường là cơ quan đầu mối quốc gia của UNFCCC đồng thời là cơ quan thẩm quyền quốc gia về Cơ chế Phát triển Sạch (CDM) Các hoạt động chính trong giai đoạn khởi đầu này là việc soạn thảo Báo cáo Ban đầu của quốc gia, xây dựng các dự án và qui trình quốc gia liên quan đến CDM Trong những năm gần đây, nhiều chính sách quốc gia đã lồng ghép BĐKH vào như quản lý môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học
và các chính sách liên ngành khác như chính sách giảm nghèo hay vì sự tiến bộ của phụ nữ
Một số chính sách và chương trình chủ yếu về BĐKH của Việt Nam được trình bày dưới đây:
Báo cáo Ban đầu của Quốc gia cho UNFCCC (Bộ TNMT, 2003) là văn bản
có tính chất chính sách đầu tiên của Việt Nam về BĐKH Tuy nhiên, Báo cáo này chỉ xem xét đến các tác động của BĐKH và các biện pháp thích ứng cần thiết một cách sơ bộ và định tính (UNDP, 2007)[25]
Tháng 12 năm 2008, Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Ứng phó với BĐKH đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và ban hành Chương trình này nhằm đưa các quan tâm về BĐKH vào Chiến lược Phát triển Kinh tế Xã hội (giai đoạn 2011÷2020) cũng như vào các chính sách về giảm nhẹ thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan, quản lý ven biển, cung cấp và sử dụng năng lượng (UNDP, 2009) Kế hoạch hành động đến năm 2015 cho từng ngành cũng như từng
Trang 39địa phương sẽ được xây dựng dựa trên khuôn khổ Chương trình Mục tiêu Quốc gia Chương trình này còn hỗ trợ cho các nghiên cứu, các chương trình nâng cao nhận thức và việc điều phối thực hiện chương trình Chương trình Mục tiêu Quốc gia cũng khuyến khích tăng cường hợp tác quốc tế nhằm thu hút được nguồn vốn nước ngoài hỗ trợ cho công tác ứng phó với BĐKH sao cho đạt được 50% tổng kinh phí dự kiến cho toàn Chương trình (tức là khoảng 1000 tỷ đồng Việt Nam hay 53,3 triệu USD, tính theo tỷ giá qui đổi năm 2010)
Kế hoạch thực hiện Chiến lược Quốc gia phòng chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020 được ban hành năm 2009, đã đề ra khuôn khổ quốc gia cho quản
lý thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan Chiến lược này ưu tiên việc nâng cao nhận thức và sự tham gia của cộng đồng, giảm tthiểu thiệt hại về người và của, và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chung sống với lũ Những hoạt động quan trọng khác của chiến lược này bao gồm: xây dựng các trung tâm cảnh báo thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan; xây dựng hành lang an toàn lũ ở miền Nam; tăng cường vai trò của trường học và các phương tiện thông tin đại chúng trong việc nâng cao nhận thức; đề xuất lập một quỹ quốc gia về phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan, v.v
Kế hoạch Hành động về Giảm thiểu và Ứng phó với BĐKH của ngành Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn là một chính sách quan trọng nhằm đạt được sự phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững Chiến lược này đã được
Bộ NN và PTNT ban hành tháng 9 năm 2008 Kế hoạch đã tập trung vào: (a) đảm bảo an toàn và ổn định cho người dân ở các vùng khác nhau, đặc biệt là vùng ĐBSCL, đồng bằng sông Hồng, các khu vực miền trung và miền núi; (b) đảm bảo sản xuất ổn định và an toàn lương thực; và (c) đảm bảo duy trì hệ thống
đê điều và các hạ tầng cơ sở khác nhằm đáp ứng yêu cầu của phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan Kế hoạch này thậm chí còn có một nghiên cứu về tác động của BĐKH đến sản xuất muối và an toàn muối ở Việt Nam Điều đặc biệt cần lưu ý ở đây là Kế hoạch hành động của Bộ NN và PTNT đã được
Bộ Trưởng Bộ NN và PTNT phê chuẩn và ban hành trước khi Chương trình Mục tiêu Quốc gia ra đời Điều này cho thấy một thực tế rằng ngành Nông-Lâm-Ngư
Trang 40nghiệp và các vùng nông thôn là những nơi chịu sự tác động mạnh mẽ của BĐKH
Do đó Bộ NN và PTNT không đợi chính sách quốc gia mà đã sớm chủ động xây dựng Kế hoạch của ngành mình nhằm ứng phó với BĐKH[1]
Ngoài một số chính sách quan trọng nêu trên, còn có rất nhiều các văn bản pháp qui, các chiến lược, kế hoạch và chương trình quốc gia trong đó chứa đựng những nội dung đáng kể liên quan đến BĐKH Ví dụ như Chiến lược Bảo vệ Môi trường đến năm 2010 (2003), Chương trình Nghị sự 21 (2004) về phát triển bền vững, Luật bảo vệ Môi trường (2005), Chiến lược Toàn diện về Tăng trưởng và Xóa đói Giảm nghèo (2002), Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Giảm nghèo, Chương trình quốc gia về chống sa mạc hóa giai đoạn 2006÷2010 và hướng tới năm 2020 (2006), Chương trình Nâng cao Nhận thức Cộng đồng về Quản lý Thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan dựa vào Cộng đồng (2009), đặc biệt từ 2011÷2012 Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trong chính sách và chương trình liên quan đến BĐKH như: Chiến lược Quốc gia về BĐKH, Chương trình Khoa học công nghệ ứng phó với BĐKH, Kế hoạch hành đông quốc gia ứng phó với BĐKH, Kịch bản BĐKH & Nước biển dâng (chi tiết hơn các kịch bản trước), Chiến lược tăng trưởng xanh, Khung ma trận chính sách BĐKH, v.v Mặc dù số lượng về các chính sách và chương trình có liên quan đến BĐKH
ở Việt Nam là khá nhiều song vẫn còn có những bất cập Hệ thống văn bản pháp qui hiện nay về ứng phó với BĐKH còn chưa đồng bộ Một số chương trình được ban hành song thiếu cơ sở pháp lý cần thiết để có thể triển khai mọi hoạt động Bên cạnh đó, còn thiếu cơ chế điều phối cụ thể, rõ ràng giữa các Bộ, ngành và các địa phương, cũng như cơ chế hợp tác giữa mọi thành phần trong xã hội, giữa các cộng đồng với nhau nhằm thực thi các chương trình ứng phó với BĐKH
Nghiên cứu của Trung tâm Phát triển Nông thôn và tổ chức ActionAid Việt Nam (2008) đã phát hiện ra rằng nhiều chính sách đề cập đến người trồng lúa song lại rất ít chính sách nhằm bảo vệ những ngư dân hay nông dân nuôi trồng thủy sản Về góc độ vùng, các chính sách và chương trình đã tập trung nhiều hơn vào vùng ven biển và ĐBSCL trong khi vùng miền núi chưa được quan tâm thích đáng[23]