Thông qua dạy học hợp tác hoạt động nhóm các em có thể tự tìm tòi, mạnh dạn đưa ra ý kiến của mình, các em có thể tham khảo ý kiến lẫn nhau, từ đó có thể học tập lẫn nhau, hình thành một
Trang 1NGUYỄN DUY KHÁNH
VẬN DỤNG DẠY HỌC HỢP TÁC VÀO DẠY HỌC CHƯƠNG “PHƯƠNG PHÁP TỌA ĐỘ TRONG MẶT
PHẲNG” HÌNH HỌC 10 – BAN NÂNG CAO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Nghệ An - 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN DUY KHÁNH
VẬN DỤNG DẠY HỌC HỢP TÁC VÀO DẠY HỌC
CHƯƠNG “PHƯƠNG PHÁP TỌA ĐỘ TRONG MẶT
PHẲNG” HÌNH HỌC 10 – BAN NÂNG CAO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn Toán
Mã số : 60 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học :
TS TỪ ĐỨC THẢO
Nghệ An – 2014
Trang 3LỜI CÁM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Từ Đức Thảo đã tận tình
hướng dẫn, hết lòng giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
để hoàn thành luận văn này
Tác giả xin chân thành cám ơn quý thầy giáo trong chuyên ngành Lý
luận và phương pháp dạy học bộ môn Toán, trường Đại Học Vinh đã nhiệt
tình giảng dạy và giúp đỡ tác giả trong quá trình thực hiện luận văn
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban chủ nhiệm cùng quý thầy cô khoa
Toán, phòng Đào tạo Sau Đại Học, trường Đại Học Vinh đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình học tập, thực hiện và hoàn thành
luận văn
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban giám hiệu Trường Đại Học Sài
Gòn và các thầy cô Trường Đại Học Sài Gòn đã tận tình giúp đỡ trong quá
trình học tập và nghiên cứu, thực hiện và hoàn thành luận văn
Nghệ An, tháng 6 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Duy Khánh
Trang 4PP Phương pháp PPDH Phương pháp dạy học THPT Trung học phổ thông SGK Sách giáo khoa
VD Ví dụ HTHT Học tập hợp tác DHHT Dạy học hợp tác
PT Phương trình
TN Thực nghiệm
ĐC Đối chứng
Trang 5MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1.1 Cơ sở lý luận của việc vận dụng phương pháp dạy học hợp
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc vận dụng dạy học hợp tác vào dạy
Chương 2 VẬN DỤNG DẠY HỌC HỢP TÁC TRONG DẠY
HỌC CHƯƠNG “PHƯƠNG PHÁP TỌA ĐỘ TRONG MẶT
2.1 Vấn đề học tập chương phương pháp tọa độ trong mặt
2.2 Định hướng tổ chức dạy học hợp tác ở trường THPT
2.3 Tổ chức dạy học hợp tác trong môn Toán ở trường THPT 44
2.4 Tổ chức một số tiết học hợp tác thông qua chương “phương
pháp tọa độ trong mặt phẳng” Hình học lớp 10 - ban nâng cao 54
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Mục tiêu của giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn
diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với
lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân
cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ tổ quốc (Điều 2 Luật giáo dục)
Để thực hiện được mục tiêu trên thì nội dung giáo dục phải đảm bảo tính
cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại và có hệ thống; coi trọng giáo dục tư
tưởng, ý thức công dân; kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn
hóa dân tộc Đặc biệt phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự
giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng năng lực tự học,
khả năng thực hành, lòng say mê học tập,
Dạy học Toán ở trường phổ thông không ngoài mục đích trên, dạy học
Toán phổ thông về thực chất là tổ chức để học sinh lĩnh hội được một hệ
thống khái niệm toán học phổ thông, rèn luyện cho học sinh các kỹ năng (kỹ
năng nghiên cứu toán học, kỹ năng tư duy và kỹ năng vận dụng tri thức toán
học vào thực tiễn) và bồi dưỡng thế giới quan khoa học cho học sinh
Phương pháp dạy học của giáo viên góp một phần quan trọng trong việc
hình thành nhân cách, tư tưởng cho học sinh Một giáo viên dạy giỏi không
chỉ đơn thuần là họ có kiến thức sâu rộng về chuyên môn mà quan trọng là
phương pháp dạy học của giáo viên đó làm thế nào mà người học sinh phát
huy được hết khả năng học tập của mình, học sinh không chỉ hiểu những kiến
thức giáo viên truyền thụ mà từ đó say mê khám phá ra những tri thức mới
Chính vì vậy mà những năm gần đây phương pháp dạy học phải tiếp cận theo
xu hướng mới “tư tưởng dạy học tập trung vào người học” (Learner centred
Trang 7teaching) tức là “dạy học vì học sinh và được thực hiện bởi học sinh” (học
sinh là mục đích và học sinh là chủ thể)
Dạy học hợp tác là một trong những phương pháp dạy học đáp ứng
được những yêu cầu trên Thông qua dạy học hợp tác (hoạt động nhóm) các
em có thể tự tìm tòi, mạnh dạn đưa ra ý kiến của mình, các em có thể tham
khảo ý kiến lẫn nhau, từ đó có thể học tập lẫn nhau, hình thành một thói quen
cùng nhau suy nghĩ, học tập, nghiên cứu, giúp các em có hứng thú trong học
tập và học tập một cách hiệu quả nhất HTHT đã thu hút sự quan tâm, nghiên
cứu của nhiều nhà giáo dục trên thế giới và được áp dụng thành công ở các
nước như Mỹ, Nhật, nh
Hình học là một bộ môn rất gần gũi với các em trong cuộc sống vì vậy
kiến thức về Hình học các em rất dễ tìm hiểu, nâng cao trình độ của mình nếu
các em biết cùng nhau học, khám phá, tìm tòi Trong chương trình toán phổ
thông, phương pháp tọa độ trong mặt ph ng là một chương của hình học 10
Khi học phần này các em sẽ thấy được mối quan hệ giữa hình học ph ng với
đại số và giải tích, thông qua áp dụng phương pháp tọa độ trong mặt ph ng để
giải các bài toán của hình học ph ng Với mong muốn góp phần đổi mới cách
dạy học Toán ở trường THPT chúng tôi đã chọn đề tài: Vận dụng dạy học
hợp tác vào dạy học chương: "phương pháp tọa độ trong mặt phẳng”
Hình học lớp 10- ban nâng cao
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu vận dụng dạy học hợp tác vào việc tổ chức dạy học chương
"phương pháp tọa độ trong mặt phẳng” Hình học lớp 10 ban nâng cao nhằm
phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và khả năng hợp tác của các em
trong quá trình dạy học bộ môn Toán
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng
Trang 8- Các hình thức tổ chức hợp tác có tác dụng nâng cao hiệu quả dạy và học
chương "phương pháp tọa độ trong mặt phẳng” hình học lớp 10 ban nâng cao
- Hoạt động dạy và học của GV và HS trong tiến trình tổ chức dạy học hợp tác
- Quá trình dạy học hợp tác trong môn Toán thông qua chủ đề hình học lớp 10
THPT ban nâng cao
b Phạm vi
Nghiên cứu vận dụng phương pháp dạy học hợp tác để dạy học chương
"phương pháp tọa độ trong mặt phẳng” hình học lớp 10- ban nâng cao
4 Giả thuyết khoa học
Nếu GV quan tâm đến việc xây dựng, lựa chọn nội dung phù hợp và biết tổ
chức các tình huống dạy học hợp tác thông qua dạy học hình học lớp 10 ban
nâng cao thì sẽ góp phần triển khai đổi mới dạy học Toán ở trường THPT theo
hướng tích cực hoá nhận thức người học, nâng cao hiệu quả dạy học toán ở
trường THPT
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy học hợp tác trong dạy học
Toán ở trường Trung học phổ thông
- Đề xuất cách vận dụng dạy học hợp tác vào giảng dạy hình học 10 THPT
- Tổ chức TNSP để kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của việc vận dụng
PPDH hợp tác vào dạy học hình học lớp 10 THPT
6 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp các tài liệu về PPDH
môn Toán trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài
- Quan sát: Quan sát thực trạng dạy và học môn Toán nói chung và môn Hình
học lớp 10 THPT ban nâng cao nói riêng ở một số trường THPT
- TNSP: Tổ chức TNSP để xem xét tính khả thi và hiệu quả của việc vận
dụng dạy học hợp tác vào dạy học chương "phương pháp tọa độ trong mặt
phẳng” Hình học lớp 10 ban nâng cao
Trang 97 Cấu trúc luận văn
Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
2 Mục đích nghiên cứu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4 Giả thuyết khoa học
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
6 Phương pháp nghiên cứu
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn
1.1 Cơ sở lý luận của việc vận dụng phương pháp dạy học hợp tác vào
dạy học Hình học lớp 10 ban nâng cao
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc vận dụng phương pháp dạy học hợp tác vào
dạy học Hình học lớp 10 ban nâng cao
Kết luận chương 1
Chương 2 Vận dụng dạy học hợp tác vào dạy học chương: "phương
pháp tọa độ trong mặt phẳng” hình học lớp 10 - ban nâng cao
2.1 Vấn đề học tập chương phương pháp tọa độ trong mặt ph ng trong nhà
trường THPT
2.2 Định hướng tổ chức dạy học hợp tác trong môn toán ở trường THPT
2.3 Tổ chức dạy học hợp tác trong môn Toán ở trường THPT
2.4 Tổ chức một số tiết học hợp tác thông qua chương “phương pháp tọa độ
trong mặt ph ng” Hình học lớp 10 - ban nâng cao
Trang 103.4 Đánh giá kết quả học tập của học sinh
3.5 Kết quả thực nghiệm sư phạm
Kết luận chương 3
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận của việc vận dụng phương pháp dạy học hợp tác vào
dạy học Hình học lớp 10 ban nâng cao
1.1.1 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học
1.1.1.1 Khái niệm phương pháp dạy học cần được hiểu như thế nào?
Là con đường, cách thức GV hướng dẫn, tổ chức chỉ đạo các hoạt động học
tập tích cực, chủ động của học sinh nhằm đạt các mục tiêu dạy học
Để hiểu rõ hơn cần nắm vững các mối quan hệ sau:
a, Quan hệ giữa dạy và học:
Thuật ngữ “dạy học” (dạy việc học, dạy cách học) vốn được dùng để
phản ánh hoạt động của người dạy Nhưng đối tượng của hoạt động dạy là
người học; người học vừa là đối tượng của hoạt động dạy lại vừa là chủ thể
của hoạt động học Nếu người học không chủ động học, không có cách học
tốt việc dạy học khó đạt được kết quả mong muốn Bởi vậy, phương pháp
dạy học bao gồm cả cách thức dạy của giáo viên và cách thức học của học
sinh Trong đó, thầy giữ vai trò chủ đạo, học sinh có vai trò chủ động
b, Quan hệ giữa mặt trong và mặt bên ngoài của phương pháp dạy học:
Mặt bên ngoài là trình tự hợp lý các thao tác hành động của giáo viên
và học sinh: giáo viên giảng giải, đặt câu hỏi, treo tranh biểu diễn thí
nghiệm Học sinh nghe, trả lời, quan sát giải thích điều đã quan sát
Mặt bên trong, là cách thức tổ chức nhận thức của học sinh là con
đường giáo viên dẫn dắt học sinh lĩnh hội nội dung dạy học: giải thích minh
hoạ, tìm tòi từng phần, đặt và giải quyết vấn đề
Mặt bên trong phụ thuộc một cách khách quan vào nội dung dạy học và
trình độ phát triển tư duy của học sinh Mặt bên ngoài tuỳ thuộc ở kinh
nghịêm sư phạm của giáo viên và chịu ảnh hưởng của phương tiện, thiết bị
dạy học Mặt bên trong qui định mặt bên ngoài của phương pháp Nếu chú
Trang 12trọng nhiệm vụ phát triển tư duy thì phải quan tâm mặt bên trong của phương
pháp dạy học
c, Quan hệ giữa phương pháp dạy học với các thành tố khác của quá trình
dạy học:
Quá trình dạy học- hiểu theo tiếp cận hệ thống, gồm 6 thành tố cơ bản
(mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức, đánh giá) tương tác
với nhau tạo thành một chỉnh thể, vận hành trong môi trường giáo dục của
nhà trường và môi trường kinh tế- xã hội của cộng đồng
Việc lựa chọn sử dụng, đổi mới phương pháp dạy học phải được đặt
trong mối quan hệ qua lại với những thành tố trên, đặc biệt với mục tiêu và
nội dung
1.1.1.2 Vì sao phải đổi mới phương pháp dạy học
Nghị quyết trung ương 4 khoá VII đã đề ra nhiệm vụ: “Đổi mới phương
pháp dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học” Nghị quyết trung ương 2 khoá
VIII nhận định: “Phương pháp giáo dục đào tạo chậm được đổi mới, chưa
phát huy được tính chủ động , sáng tạo của người học”
Tuy rằng trong trường phổ thông nói chung và THPT nói riêng đã thấy
xuất hiện ngày càng nhiều tiết học dạy tốt của các giáo viên giỏi theo hướng
tổ chức cho học sinh hoạt động tích cực, tự lực chiếm lĩnh tri thức mới
nhưng tình trạng phổ biến vẫn là thầy đọc, trò chép, hoặc giảng giải xen kẽ
vấn đáp, giải thích minh hoạ
Sự chậm đổi mới do các nguyên nhân sau:
- Các trường sư phạm chưa thay đổi cách đào tạo về phương pháp dạy
học
- Các cơ quan nghiên cứu chưa đi sâu vào hoạt động học để chỉ dẫn giáo
viên dạy theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập
- Đời sống giáo viên vẫn còn khó khăn, chưa thể tập trung thường xuyên
đổi mới phương pháp dạy học
Trang 13- Nhiều giáo viên còn lúng túng vì thiếu những mẫu cụ thể về phương
pháp dạy học mới
- Việc kiểm tra, đánh giá học sinh vẫn theo lối cũ, chưa khuyến khích
được cách học sáng tạo
1.1.1.3 Phương pháp dạy học cần được đổi mới theo những hướng nào?
- Nghị quyết trung ương 4 khoá VIII đã xác định phải khuyến khích tự
học “Phải áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho
học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực tự giải quyết vấn đề”
- Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII tiếp tục kh ng định phải đổi mới
phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện
thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương
pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều
kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh nhất là sinh viên đại
học”
Định hướng trên đã được pháp chế hoá trong luật giáo dục ( 2005),
điều 28-2, phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn
học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức
vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho
học sinh”
Chương trình cấp THPT quy định mục tiêu, kế hoạch giáo dục của cấp
học với các giải thích cần thiết; các định hướng về phương pháp tổ chức giáo
dục, đánh giá kết quả giáo dục, sự phát triển lôgic của các nội dung kiến thức
ở từng môn học, lớp học Chương trình cấp THPT còn đề cập tới những yêu
cầu về kiến thức, kỹ năng và thái độ trên các lĩnh vực học tập mà HS cần và
có thể đạt được sau khi hoàn thành cấp học
Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập
chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động
Trang 14Đổi mới PPDH ở trường phổ thông nên được thực hiện theo các định
hướng sau:
a Bám sát mục tiêu giáo dục phổ thông
b Phù hợp với nội dung dạy học cụ thể
c Phù hợp với đặc điểm lứa tuổi HS
d Phù hợp với cơ sở vật chất, các điều kiện dạy của nhà trường
e Phù hợp với việc đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả dạy - học
f Kết hợp giữa việc tiếp thu và sử dụng có chọn lọc, có hiệu quả
các PPDH tiên tiến, hiện đại với việc khai thác những yếu tố tích cực của các PPDH truyền thống
g Tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học, thiết bị dạy học và
đặc biệt lưu ý đến những ứng dụng của công nghệ thông tin
1.1.2 Vấn đề hợp tác học tập của HS
1.1.2.1 Cơ sở triết lí về cấu trúc của trí tuệ
Giống nhiều lĩnh vực khác trong tâm lí học, việc đưa ra các khái niệm
thường theo nhiều quan điểm triết lí khác nhau Vì vậy, khó có thể áp đặt một
định nghĩa chung cho mọi người Tuy nhiên, có thể khái quát một cách tương
đối các quan niệm đã có về trí tuệ thành ba nhóm chính:
a) Coi trí tuệ là khả năng hoạt động lao động và học tập của cá nhân;
b) Đồng nhất trí tuệ với năng lực tư duy trừu tượng của cá nhân;
c) Trí tuệ là năng lực thích ứng tích cực của cá nhân
Ngoài các nhóm quan niệm trên, còn nhiều cách hiểu khác về trí tuệ, do
hướng tiếp cận riêng của mỗi nhà nghiên cứu Các nhà tâm lí học Ghestan
quan tâm nhiều đến thành phần sáng tạo trong các thao tác trí tuệ của cá nhân
Các nhà trắc nghiệm học quan tâm nhiều tới hiệu quả thực hiện các bài tập do
nhà nghiên cứu đưa ra Vì vậy họ định nghĩa đơn giản, trí tuệ là cái mà trắc
nghiệm đo được Dĩ nhiên, do tính chất thực dụng của nó, loại định nghĩa này
không thể là định hướng lí luận trong nghiên cứu thực tiễn
Trang 15Cấu trúc trí tuệ theo L.X.Vưgôtxki: như chúng ta đã biết, quan điểm của
L.X.Vưgôtxki là nghiên cứu tâm lí, ý thức người nói chung, trí tuệ nói riêng
phải bắt đầu từ phân tích phạm trù hoạt động thực tiễn của con người Quá
trình nghiên cứu được xuất phát từ hai giả thuyết: giả thuyết thứ nhất nói về
tính chất gián tiếp của các chức năng tâm lí người thông qua công cụ kí hiệu
và giả thuyết thứ hai nói về nguồn gốc của các chức năng tâm lí cấp cao bên
trong từ hoạt động vốn lúc đầu ở bên ngoài Từ hai giả thuyết trên, sử dụng
phương pháp phân tích đơn vị và phương pháp công cụ vào việc tìm hiểu cấu
trúc trí tuệ người, L.X.Vưgôtxki đã tách ra hai mức trí tuệ với hai cấu trúc
khác nhau: trí tuệ bậc thấp và trí tuệ bậc cao
Trí tuệ bậc thấp: Phân tích hành vi “thông minh” của các loài vật, ta
thấy dù ở mức phản ánh trực tiếp với hình ảnh tri giác (của con gà) hay tới
mức có tính gián tiếp phương tiện – mục đích (của con khỉ) Chúng vẫn có
những điểm cơ bản giống nhau: Thứ nhất là những phản ánh trực tiếp, cụ thể,
tức thời, diễn ra trong trường tri giác của con vật Khi các sự vật đó không có
trước mặt chúng thì phản ứng sẽ không xảy ra Thứ hai là trong mọi trường
hợp, các hành vi có tính chất trí tuệ đó đều không có sự tham gia của ngôn
ngữ, của các kí hiệu Loài vật (trong điều kiện tự nhiên) không phản ứng với
các kích thích là kí hiệu và không sử dụng các kí hiệu làm phương tiện trung
gian giữa nó với đối tượng L.X.Vưgôtxki cho rằng: “hành vi trí tuệ là các
phản ứng trực tiếp và không có sự tham gia của kí hiệu ngôn ngữ là hành vi
trí tuệ bậc thấp Loại hành vi này có cả ở động vật và ở trẻ em”
Trí tuệ bậc cao: Theo L.X.Vưgôtxki, sự khác biệt giữa hành vi trí tuệ
của con người và con vật (hành vi trí tuệ bậc thấp và bậc cao) không phải là ở
mức độ phức tạp của các hành vi đó, mà là khác về chất Có hai dấu hiệu cơ
bản phân biệt trí tuệ bậc cao với trí tuệ bậc thấp, dấu hiệu thứ nhất đó là sự
xuất hiện và tham gia của ngôn ngữ và dấu hiệu thứ hai đó là vai trò của các
công cụ tâm lí trong các thao tác trí tuệ
Trang 16L.X.Vưgôtxki có quan điểm khác với các nhà nghiên cứu khác Ông
cho rằng, nếu ở động vật cấp cao hành vi trí tuệ thực hành và hành vi kí hiệu
độc lập với nhau thì ở con người chúng hợp thành hệ thống hoàn chỉnh Sự
hợp nhất này là đặc trưng của hành vi trí tuệ người Theo L.X.Vưgôtxki, trẻ
em ở giai đoạn tiền ngôn ngữ, thao tác công cụ trong hành vi trí tuệ của nó
hoàn toàn giống của khỉ Nhưng khi ngôn ngữ xuất hiện và các kí hiệu tượng
trưng được đưa vào sử dụng thì thao tác với công cụ được đổi mới hoàn toàn
Trong hành vi trí tuệ ngôn ngữ, ngôn ngữ có hai chức năng quan trọng: lập kế
hoạch và tổ chức hành vi Nhờ các chức năng này, ngôn ngữ đã tạo ra sự cải
tổ hành vi trí tuệ trước đó của trẻ Như vậy, sự tham gia của ngôn ngữ đã làm
xuất hiện công cụ (phương tiện) tâm lí (công cụ kí hiệu) trong hành vi trí tuệ
ngôn ngữ
1.1.2.2 Sự phát sinh và phát triển trí tuệ theo lí thuyết của G.Piagie
Lí thuyết về tâm lí học phát sinh trừu tượng của G.Piagie là lí thuyết
đang được quan tâm rất nhiều và rộng rãi Do đó, ngay từ đầu chúng ta nên
tiếp cận những luận điểm xuất phát và những khái niệm công cụ của Ông
Trước khi là nhà tâm lí học, G.Piagie đã là nhà sinh vật học và được trang bị
kiến thức khoa học luận, đặc biệt là triết học và logic học Lĩnh vực nghiên
cứu sinh học là sự thích ghi của loài nhuyễn thể Vì vậy, mọi giải thích của
G.Piagie về sự phát sinh trí tuệ trẻ em chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của hai lĩnh
vực khoa học này Ngay trang đầu của cuốn “Tâm lí học trí khôn”, đã thể hiện
quan điểm xuất phát của Ông: “Mọi giải thích tâm lí học sớm hay muộn cuối
cùng cũng dựa vào sinh học hoặc logic học”
Theo G.Piagie, giải nghĩa trí tuệ dưới góc độ tâm lí học là nghiên cứu
thực thể trí tuệ, vạch ra sự phát triển của nó và những qui luật chi phối sự phát
triển đó Cụ thể là phải tạo dựng lại sự phát sinh và các bước hình thành trí
tuệ từ dạng đơn giản nhất đến mức trưởng thành G.Piagie đã sử dụng hai khái
niệm công cụ để phân tích sự phát sinh, phát triển trí tuệ trẻ em đó là thích ghi
Trang 17và cấu trúc Khái niệm thích ghi trí tuệ bắt nguồn từ thích ghi sinh học Tư
tưởng chủ đạo của G.Piagie coi sự phát triển trí tuệ là trường hợp riêng của sự
phát triển cá thể Nó là sự phát triển tiếp tục của các yếu tố sinh học Cả hoạt
động sinh học và hoạt động tâm lí không tách biệt với cuộc sống và cả hai đều
là bộ phận của hoạt động toàn bộ, mà đặc trưng của chúng là tổ chức kinh
nghiệm nhằm tạo ra sự thích ứng giữa cơ thể với môi trường Điều khác nhau
giữa thích ứng sinh học và thích ứng tâm lí trí tuệ là một bên thích ứng vật
chất còn bên kia là thích ứng chức năng
Để triển khai khái niệm thích ứng trí tuệ, G.Piagie đã sử dụng các khái
niệm có gốc sinh học: đồng hoá, điều ứng và cân bằng Theo G.Piagie, đồng
hoá sinh học (đồng hoá mang tính vật chất) là cơ thể tiếp nhận các chất dinh
dưỡng do môi trường bên ngoài cung cấp (thức ăn, không khí, nước, chất
khoáng, ) chế biến chúng thành chất dinh dưỡng của cơ thể Giống đồng hoá
sinh học, đồng hoá trí tuệ (đồng hoá chức năng) là não tiếp nhận thông tin từ
các kích thích bên ngoài, tiêu hoá chúng, biến thành cái có nghĩa cho bản thân
trong quá trình thích ứng với môi trường, cái có nghĩa đó chính là cấu trúc
Theo [24], G.Piagie coi sự nảy sinh của hệ thống liên đới của các thao
tác trí tuệ, giai đoạn quan trọng nhất trong sự hình thành lôgíc ở trẻ em, là sản
phẩm của sự cộng tác bên ngoài (“hợp tác”) nảy sinh trong điều kiện của đời
sống xã hội và sau chuyển vào bên trong G.Piagie làm nảy sinh một loạt khó
khăn cơ bản Một trong những khó khăn đó biểu hiện ở chỗ: Sự chuyển hóa
xã hội đang nói ở đây thực sự chỉ xuất hiện ở các giai đoạn phát triển tương
đối muộn của cá thể và chỉ có quan hệ với các quá trình cấp cao
Trên đây là một vài nét về sự phát sinh và phát triển trí tuệ theo lí
thuyết của G.Piagie Tiếp theo chúng tôi xin được trình bày đến vấn đề hợp
tác học tập của HS
1.1.2.3 Sự hợp tác của HS
Trang 18Học tập là công việc do chính HS thực hiện, chứ không phải điều được
làm sẵn cho các em Quá trình học tập không phải là một môn thể thao nào đó
có khán giả Nó đòi hỏi sự tham gia trực tiếp và tích cực của HS Giống như
những nhà leo núi, HS sẽ dễ dàng đạt đến kết quả hơn khi chính các em là
một bộ phận của nhóm học hợp tác nào đó Hợp tác ở đây có nghĩa là cùng
chung sức để đạt được những mục tiêu chung Trong các tình huống hợp tác,
cá nhân tìm kiếm những kết quả có ích cho họ và đồng thời cho cả các thành
viên của nhóm
Học hợp tác là việc sử dụng các nhóm để HS làm việc cùng nhau nhằm
tối đa hoá kết quả học tập của bản thân mình cũng như người khác Nó có thể
đối lập với kiểu học cạnh tranh (học cạnh tranh có nghĩa là HS tranh đấu với
nhau để đạt được một mục tiêu mà chỉ một hoặc vài người giành được) và học
hợp tác cũng đối lập với kiểu học cá nhân (học cá nhân có nghĩa là HS tự làm
việc để đạt được những mục tiêu học tập của mình, không liên quan đến mục
tiêu của người khác)
Trong kiểu học hợp tác và học cá nhân, GV đánh giá những nỗ lực của
HS trên cơ sở các tiêu chí, còn trong học tập cạnh tranh, HS được xếp loại
dựa vào các chuẩn được đề ra trước đó Tuy còn có những hạn chế trong việc
xác định xem khi nào và ở đâu thì có thể sử dụng hình thức học hợp tác hay
cá nhân một cách phù hợp, vẫn có thể xây dựng theo hướng hợp tác bất cứ
nhiệm vụ học tập nào trong bất kì môn học nào và ở chương trình giảng dạy
nào
1.1.3 Quan niệm về phương pháp dạy học hợp tác
1.1.3.1 Các quan niệm về dạy học hợp tác
Theo D.Johnson, R.Johnson và Holubec (1990): Học tập hợp tác là toàn
bộ những hoạt động học tập mà HS thực hiện cùng nhau trong các nhóm,
trong hoặc ngoài phạm vi lớp học Có 5 đặc điểm quan trọng nhất mà mỗi giờ
học hợp tác phải đảm bảo được là:
Trang 19Theo J.Cooper và các tác giả khác (1990): Học tập hợp tác là một chiến
lược học tập có cấu trúc, có chỉ dẫn một cách có hệ thống, được thực hiện
cùng nhau trong các nhóm nhỏ, nhằm đạt được nhiệm vụ chung
Hai anh em David W.Johnson và Roger T.Johnson đã đưa ra quan điểm
rằng: khi nghiên cứu đưa ra một PPDH người ta cần phải quan tâm đến cấu
trúc mục tiêu, quá trình học tập và kết quả dạy học Hai Ông đã đứng trên
quan điểm triết học với sự tồn tại khách quan của các qui luật sống còn trong
xã hội loài người để đưa ra tính tất yếu của việc sử dụng PPDH hợp tác Khi
đó PPDH hợp tác được coi như là cách thức để phát triển sự phụ thuộc lẫn
nhau tích cực giữa các mối quan hệ người – người nhằm đạt được mục tiêu xã
hội là loài người ngày càng phát triển theo chiều hướng tốt đẹp
Năm 1983, D.Johnson và R.Johnson đã phát biểu: “Nơi nào thực sự áp
dụng học hợp tác, nơi đó HS học được nhiều hơn, nhà trường dường như tốt
hơn, HS thân thiện với nhau hơn, tự trọng hơn và học các kĩ năng xã hội có
hiệu quả hơn” Theo tài liệu “Learning together and alone” (học cùng nhau và
học một mình) của David W.Johnson và Roger T.Johnson, Nxb Prentice Hall,
1961: trong mỗi lớp học, GV có thể xây dựng bài học sao cho HS làm việc
một cách hợp tác trong các nhóm nhỏ, bảo đảm mọi thành viên nắm vững tài
liệu được giao; gắn với một cuộc đua tranh thắng thua xem ai nhất; làm việc
một cách độc lập với mục tiêu học tập riêng, với bước đi và nhịp điệu riêng
nhằm đạt các tiêu chí được đặt ra từ trước ở mức độ xuất sắc
Theo Francis Parker: “Các thúc đẩy mạnh mẽ việc học tập cũng như
dạng hoạt động khác là tinh thần giúp đỡ lẫn nhau” Ở đây, dạy học hợp tác là
Trang 20một chiến lược dạy học nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống, trong đó các
thành viên tham gia hoạt động và học tập cùng nhau trong những nhóm nhỏ
và giữa các nhóm với nhau nhằm mục đích phát triển sự hiểu biết và rèn luyện
phong cách sống cho HS Qua sự phát triển của loài người chúng ta nhận
thấy: hợp tác là phương thức tất yếu không thể thiếu cho sự tồn tại của xã hội
Xã hội loài người tồn tại được là do sự hợp tác giữa các con người với nhau
Về cơ bản, xã hội là một tổ chức hợp tác, một tổ chức được tạo ra nhằm duy
trì mối quan hệ giữa người với người Chính vì vậy, dạy học hợp tác cho HS
nhằm tạo tiền đề và phát triển khả năng hợp tác của con người nhằm tạo nên
một xã hội ngày càng phát triển văn minh, hiện đại Dạy học hợp tác không
chỉ nhằm mục đích giúp HS lĩnh hội kiến thức, mà còn đạt được mục đích cao
hơn, đó là dạy cách sống cho HS Đặc điểm của dạy học hợp tác là nó tạo nên
sự chấp nhận, tôn trọng, liên kết và tin tưởng lẫn nhau giữa các đối tượng
trong giáo dục Dạy học hợp tác kh ng định tầm quan trọng của sự ủng hộ về
mặt xã hội Trong học tập hợp tác, sức ép thành tích luôn đặt ra phù hợp và
cân bằng với mức độ của sự ủng hộ về mặt xã hội, tức là thách thức và sự ủng
hộ được duy trì ở thế cân bằng Mỗi khi sự tăng cường học tập đòi hỏi cao thì
cũng là lúc phải phát triển sự ủng hộ nhau một cách tích cực
Để đạt được thành tích trong học tập, các HS cần cùng nhau tìm kiếm
và khai thác thông tin Việc học tập hợp tác sẽ giúp HS làm được điều đó
Chúng ta vẫn thường nói: “học tập thành công, rèn luyện thành công”, “thành
công” có thể coi là động lực, động cơ của tất cả mọi người Trong học tập hợp
tác, khả năng thành công và ý nghĩa của thành công lớn hơn rất nhiều, bởi vì
HS thực sự coi thành công như một phần thưởng tinh thần bên trong hơn là
phần thưởng bên ngoài cho thành tích đạt được Người tham gia học tập hợp
tác có khuynh hướng vươn lên theo động lực nội tại của mình, vì vậy mà sự
xuất hiện xúc cảm, tình cảm tích cực sẽ mạnh hơn các hình thức học cá nhân
và học tranh đua
Trang 21Điều mà các nhà giáo dục quan tâm là kết quả học tập của HS
Uốt-đơ râu Uyn-sơn đã kh ng định: “hình thức tối cao của tính hiệu quả là sự hợp
tác tự nguyện giữa những người tự do” Như vậy để mang lại thành tích và
sản phẩm tốt nhất thì việc làm cùng nhau nhằm đạt đến mục tiêu chung là một
trong những nguyên lí quan trọng nhất của tâm lí học quản lí và tâm lí học xã
hội Học tập hợp tác sẽ kh ng định rõ điều đó khi có các mục tiêu học tập
quan trọng, đòi hỏi sự thông thạo kiến thức, kỹ năng và khả năng ghi nhớ dài
lâu Đặc biệt khi nhiệm vụ học tập phức tạp, thì đòi hỏi mỗi thành viên phải
có lòng quyết tâm, sự kiên trì, bền bỉ và gắn kết chặt chẽ để từ đó phải xây
dựng nên nhiều cách suy nghĩ khác nhau, các cách lập luận khác nhau, đồng
thời qua đó phát triển khả năng tư duy phê phán
Chúng tôi quan niệm dạy học hợp tác là một PPDH, trong đó, trong
một nhóm có các thành viên là các HS cùng học tập, các HS trong nhóm có sự
cộng tác học tập, giữa các nhóm cũng có sự cộng tác để đạt được mục tiêu
chung Trong PPDH hợp tác, vai trò của GV là người tổ chức, thiết kế, điều
khiển việc học của HS thông qua học hợp tác bằng việc thiết kế các giờ, các
tiết học hợp tác, vai trò của HS là người học tập, trau dồi kiến thức trong sự
hợp tác Do đó hợp tác chính là phương tiện, là mục tiêu dạy học
Hoạt động trong giờ dạy học hợp tác bao gồm ba kiểu hợp tác: hợp tác
giữa các HS trong cùng một nhóm; hợp tác giữa các nhóm khác nhau và hợp
tác giữa GV với HS
Hợp tác giữa các HS trong cùng một nhóm: bao gồm ba bước:
Bước 1: Cá nhân tự nghiên cứu (hoạt động tư duy độc lập);
Bước 2: Thảo luận trong nhóm (hoạt động tư duy hội thoại có phê phán);
Bước 3: Trình bày kết quả của nhóm (hoạt động tư duy tổng hợp)
Hợp tác giữa các nhóm khác nhau: bao gồm hai bước:
Bước 1: Hoạt động ghép các kết quả học tập (đồng nhất hoá các kết quả
học tập);
Trang 22Bước 2: Phát động phong trào học tập lẫn nhau giữa các nhóm (sử dụng tư
duy tổng hợp có phê phán)
Hợp tác giữa GV với HS: bao gồm bốn bước:
Bước 1: Hoạt động phân tích;
Bước 2: Hoạt động tổng hợp;
Bước 3: Hợp thức hoá kiến thức;
Bước 4: Đánh giá và tự đánh giá
Như vậy, PPDH hợp tác là một nhân tố quan trọng trong quá trình dạy
học nói chung và trong quá trình dạy học bộ môn toán nói riêng Chúng ta có
thể khai thác và sử dụng hiệu quả PPDH hợp tác trong nhiều tình huống dạy
học bộ môn toán dạy học hợp tác có những ý nghĩa to lớn như sau: khi HS
tham gia vào các nhóm học tập sẽ thúc đẩy quá trình học tập, không khí học
tập và tạo nên hiệu quả cao trong học tập, tăng tính chủ động tư duy, sự sáng
tạo và khả năng ghi nhớ của HS trong quá trình học tập, tăng thêm hứng thú
học tập đối với người học, giúp HS phát triển các kĩ năng giao tiếp bằng ngôn
ngữ, phát triển tư duy hội thoại, nâng cao lòng tự trọng, ý thức trách nhiệm và
sự tin tưởng của người học, giúp thúc đẩy những mối quan hệ cạnh tranh
mang tính tích cực trong học tập Chúng ta có thể nói rằng: dạy học hợp tác là
một PPDH tích cực, có tính xã hội cao và phát huy được tối đa mục tiêu đặt ra
đối với người học
1.1.3.2 Cơ sở khoa học về PPDH hợp tác và các dấu hiệu của PPDH hợp
tác
a Cơ sở khoa học về PPDH hợp tác
PPDH hợp tác được xây dựng trên cơ sở của thuyết làm việc đồng đội,
thuyết dạy lẫn nhau, thuyết giải quyết mâu thuẫn và thuyết hợp tác tập thể
*) Thuyết làm việc đồng đội (tức là học tập mang tính xã hội): thuyết
này có tư tưởng chính là khi các cá nhân làm việc cùng nhau và hướng tới
một mục tiêu chung thì sự phụ thuộc lẫn nhau sẽ thúc đẩy họ hoạt động tích
Trang 23cực hơn Từ đó sẽ giúp nhóm và giúp chính cá nhân trong nhóm đạt đến thành
công Để cùng thành công, nhóm thường tìm cách giúp đỡ những thành viên
đặc biệt, mọi người đều có xu hướng vươn tới sự thống nhất và coi trọng
thành viên của nhóm mình Thuyết này đã được nhiều nhà Giáo dục học trên
thế giới áp dụng thực nghiệm trong các nhà trường bằng các hình thức học tập
như: học cùng nhau; tổ học tập; tổ hỗ trợ cá nhân Các thực nghiệm đã chứng
tỏ các mô hình học tập hợp tác xây dựng trên thuyết này có tính chất xã hội và
mang lại kết quả vượt xa các cách học truyền thống
*) Thuyết dạy lẫn nhau (còn gọi là thuyết khoa học nhận thức mới):
Palincsar và Brown đã xây dựng và phát triển phương pháp dạy lẫn nhau này
Theo phương pháp này thì GV và HS thay phiên nhau đóng vai trò người dạy
(sau khi cùng nghiên cứu tài liệu học tập) GV làm mẫu đưa ra cách thức nêu
ra các vấn đề, đặt ra các câu hỏi, cách trả lời các câu hỏi đó, cách bình luận,
cách tìm ngôn ngữ để diễn đạt chính xác, thích hợp nội dung kiến thức Khái
quát và rút ra các kết luận HS học cách làm của GV và áp dụng vào trong
nhóm học tập của mình Vai trò của từng thành viên được luân phiên thay đổi
*) Thuyết giải quyết mâu thuẫn (còn gọi là thuyết G.Piaget)
Theo G.Piaget, để thúc đẩy sự phát triển trí tuệ cho HS, GV nên đưa
HS vào những tình huống làm xuất hiện những quan điểm mâu thuẫn với
nhau Sau đó GV tổ chức HS vào các nhóm để thảo luận, lập luận, suy nghĩ
trao đổi, tư duy hội thoại có phê phán, cho đến khi có sự nhất trí trong nhóm
hoặc có câu trả lời chung thì đi đến kết luận về bài học Sau khi HS đã thống
nhất kiến thức, GV tiến hành kiểm tra riêng từng em Kết quả cho thấy những
em khi đầu còn kém về một vài vấn đề nào đó thì bây giờ có thể tự mình giải
quyết nội dung bài học một cách đúng đắn Với quan điểm sự giải quyết mâu
thuẫn, HS còn có cơ hội học cách giải quyết đúng đắn một vấn đề, thông qua
việc chứng kiến cách lập luận của bạn và cách suy nghĩ của mình, HS học
Trang 24cách tìm ra những nguyên nhân của sự mâu thuẫn, từ đó tìm ra được phong
cách tự học có tác dụng phát triển tư duy độc lập, sáng tạo
*) Thuyết hợp tác tập thể
L.X.Vưgôtxki cho rằng: “mọi chức năng tâm lí cao cấp đều có nguồn
gốc xã hội và xuất hiện đầu tiên ở cấp độ liên cá nhân, sau đó mới được
chuyển vào trong và tồn tại ở cấp độ nội cá nhân” L.X.Vưgôtxki kh ng định:
“trong sự phát triển của trẻ, mọi chức năng tâm lí cao cấp đều xuất hiện hai
lần: lần thứ nhất như là một hoạt động tập thể, một hoạt động xã hội, nghĩa là
như một chức năng liên tâm lí; lần thứ hai như là một hoạt động cá nhân, như
là một chức năng tâm lí bên trong”
L.X.Vưgôtxki đã đưa ra khái niệm và xây dựng lí thuyết về vùng phát
triển gần nhất, Ông thấy rằng: dạy học chỉ có hiệu quả đối với việc thúc đẩy
sự phát triển khi tác động của nó nằm ở vùng phát triển gần nhất của HS Quá
trình chuyển vào trong và hoạt động bên trong của đứa trẻ chỉ xảy ra trong
phạm vi mối quan hệ với những người xung quanh và sự hợp tác với bạn bè
Các quá trình nội tại này sẽ tạo nên những kết quả bên trong của bản thân đứa
trẻ Nhiệm vụ của người GV là phải tìm phương án để kích thích và làm thức
tỉnh quá trình chuyển vào trong và hoạt động bên trong của HS với quan
điểm: “điều trẻ em làm cùng với nhau hôm nay, chúng sẽ tự làm được vào
ngày mai”
b Các dấu hiệu của PPDH hợp tác
Có năm dấu hiệu để thể hiện và nhận biết dạy học hợp tác
Dấu hiệu 1: Sự phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực: thể hiện mối
quan hệ khăng khít dẫn đến cùng nhau thành công hoặc thất bại, sự phụ thuộc
này khuyến khích các HS làm việc cùng nhau để tất cả các HS học tập tốt
hơn
Sự phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực thể hiện ở những điểm sau:
Trang 25+ Các thành viên trong nhóm phấn đấu vì lợi ích chung, qua đó tất cả
các thành viên trong nhóm đều tiến bộ Ở đây sự nổ lực của mỗi thành viên
trong nhóm là hết sức cần thiết và không thể thiếu đối với sự thành công của
nhóm Sự đóng góp cá nhân này xuất phát từ khả năng của mỗi người hoặc từ
vai trò và trách nhiệm của người đó đối với công việc chung
+ Các thành viên trong nhóm cùng chia sẻ số phận chung khi tất cả
cùng thắng hoặc thua dựa trên nền tảng vì thành tích chung
+ Sự phụ thuộc lẫn nhau của các thành viên trong nhóm là thành tích
Trong một nhóm hợp tác, mỗi thành viên có trách nhiệm giúp đỡ, hỗ trợ các
thành viên khác, đồng thời phải có trách nhiệm và nghĩa vụ ngược lại Mỗi
thành viên là một nhân tố đem lại hiệu quả cho nhóm, do đó hiệu quả học tập
của mỗi HS có được là nhờ nỗ lực và khả năng của từng thành viên cùng với
sự nỗ lực và khả năng của các HS khác trong nhóm
+ Tính đồng đội: mỗi HS là một thành viên của một đội, do đó tính
đồng đội được phát huy và chia sẻ sẽ kết hợp các thành viên cùng hợp tác một
cách có tình cảm
+ Sự phân công hài hoà và thích hợp: mỗi HS được tham gia và hoàn
thành công việc phù hợp với năng lực của bản thân, không xảy ra sự chồng
chéo công việc giữa các thành viên trong nhóm Sự phân công hợp lí sẽ giúp
nhóm gặt hái được thành công trong sự nỗ lực phấn đấu của từng cá nhân và
thành công đó không phải là thành tích của một người, mà đó là kết quả của
sự hợp tác HS có thể nói với nhau rằng: “Đây là công việc rất khó khăn”
nhưng “Chúng ta có thể giải quyết được”
+ Sự cảm nhận hương vị chiến thắng: đôi khi cần có những lúc để HS
cảm nhận được hương vị chiến thắng cũng như những xúc cảm khi chưa
thành công Qua đây sẽ mang đến cảm giác thân thiện, phụ thuộc, niềm tự
hào,
Trang 26Dấu hiệu 2: Sự tương tác trực tiếp tác động đến sự thành công của
nhau
Trong học tập hợp tác, HS dành cho nhau những sự hỗ trợ, cộng tác có
ý nghĩa và hiệu quả, trao đổi thông tin, kiến thức cũng như cách lập luận về
kiến thức có hiệu quả hơn HS dành cho nhau sự phản hồi để tiếp tục nâng cao
khả năng thể hiện của mình trước nhiệm vụ được giao HS được thử thách các
lí lẽ và kết luận của nhau nhằm đưa ra được các kết luận đúng đắn và thấu
suốt hơn về những nội dung học tập đang được quan tâm HS cùng nhau ủng
hộ những quyết định đúng đắn, tác động lẫn nhau, phấn đấu cho mục tiêu
chung HS được hành động trong sự hợp tác và cảm thấy ở các bạn khác có sự
tin tưởng đối với mình, được thôi thúc phấn đấu để cùng có lợi Đặc biệt HS
không còn cảm thấy trạng thái lo âu và căng th ng trong học tập mà được
sống trong bầu không khí chân tình, cởi mở, hợp tác giúp đỡ nhau Sự tương
tác trực tiếp thể hiện thông qua việc chia sẻ tri thức của mình cho những
người khác trong nhóm, thảo luận nội dung đang học với tư duy hội thoại có
phê phán Thông qua sự tương tác này, HS được tự kiểm tra sự hiểu biết của
mình, được giải thích bằng lời cách thức giải quyết vấn đề của mình Trong
quá trình tương tác không tránh khỏi những ý kiến đối lập, song qua thảo
luận, những ý kiến đối lập dễ dàng tìm được tiếng nói chung Sự tương tác
trong nhóm HS đòi hỏi sự trao đổi qua lại tích cực giữa các HS trong nhóm
Tương tác trực tiếp có tác động tốt đối với HS như: tăng cường động cơ học
tập, kích thích sự giao tiếp, tăng cường bản năng xã hội như thái độ, cách biểu
đạt, khích lệ các thành viên tham gia phát triển mối quan hệ gắn bó, quan tâm
đến nhau
Dấu hiệu 3: Trách nhiệm của cá nhân và tập thể
Đây là dấu hiệu rất cơ bản của học tập hợp tác Mỗi cá nhân phải hết
sức nỗ lực để đóng góp công sức nhằm đạt mục tiêu chung của nhóm Khi mà
cá nhân và tập thể không thống nhất quan điểm với nhau thì hợp tác chỉ là
Trang 27hình thức và sớm hay muộn sẽ bị tan rã sự hợp tác đó Để đảm bảo cho việc
kết hợp trách nhiệm cá nhân và tập thể đạt kết quả tốt, mỗi thành viên trong
nhóm cần được phân công thực hiện một vai trò nhất định (được luân phiên
trong các hoạt động học tập khác nhau) và mỗi thành viên phải hiểu rằng:
không thể dựa dẫm vào người khác mà mọi người đều phải học, phải đóng
góp phần mình vào công việc chung và thành công của nhóm Có thể quan
tâm một số biện pháp qua các nghiên cứu của một số tác giả khi thử nghiệm
dạy học hợp tác như [25]
Biện pháp 1: Giữ qui mô của nhóm ở mức độ vừa phải Kích thước
nhóm càng nhỏ thì trách nhiệm cá nhân càng lớn, nhưng kích thước nhóm nhỏ
quá thì tính hợp tác lại giảm đi Vì vậy phải chọn kích thước nhóm phù hợp
với từng nội dung học tập;
Biện pháp 2: Mỗi HS có phiếu học tập riêng để thể hiện năng lực của
mình;
Biện pháp 3: Bất ngờ kiểm tra bằng cách gọi một HS bất kì trong nhóm
trình bày công việc và kết quả của nhóm;
Biện pháp 4: GV quan sát từng nhóm, quan tâm đến mức độ đóng góp
của mỗi cá nhân để có cách hướng dẫn, nhắc nhở, điều chỉnh nhóm;
Biện pháp 5: Hướng dẫn nhóm trưởng cùng các thành viên kiểm tra
chéo nhau về việc lĩnh hội kiến thức và cách trình bày, lập luận để sẵn sàng
đại diện cho nhóm;
Biện pháp 6: Tạo điều kiện để HS dạy lại những gì đã được học cho
người khác
Dấu hiệu 4: Kỹ năng giao tiếp trong nhóm
Trong các trường hợp hợp tác, các năng lực và kỹ năng xã hội có xu
hướng được nâng cao Hoạt động cùng nhau để hoàn thành công việc sẽ đòi
hỏi ở HS tính tổ chức, sự xây dựng và duy trì không khí tin tưởng lẫn nhau,
Trang 28kỹ năng giao tiếp có hiệu quả, cách giải quyết mâu thuẫn trên tinh thần xây
dựng Đó là năng lực tư duy hội thoại có phê phán
Trong học hợp tác, HS càng có nhiều các kỹ năng xã hội, GV càng
quan tâm và động viên khen thưởng việc sử dụng kỹ năng đó thì thành tích
đạt được sẽ cao hơn, những nghiên cứu thực nghiệm dài hạn về học hợp tác
của Lew, Mesch, Johnson những năm 1986-1988 đã kh ng định rằng: “việc
hợp tác phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực, sự nỗ lực của tất cả các thành
viên trong nhóm, cũng như việc sử dụng các kỹ năng xã hội đã đưa thành tích
học tập lên mức cao nhất” Các kỹ năng xã hội đó là: kỹ năng lãnh đạo, kỹ
năng quyết đoán, kỹ năng tạo lòng tin, kỹ năng giải quyết các bất đồng như:
biết cách lắng nghe, biết cách kiềm chế, biết cách lập luận cho quan điểm của
mình một cách thuyết phục
Dấu hiệu 5: Rút kinh nghiệm nhóm
Nhận xét nhóm được hiểu như việc rút kinh nghiệm hoạt động của
nhóm để lần sau đạt kết quả tốt hơn Có ba bước nhận xét nhóm như sau:
Bước 1: Tự nhận xét trong nhóm;
Bước 2: Tiếp thu sự nhận xét và hướng dẫn góp ý của GV;
Bước 3: Tham khảo ý kiến nhận xét của các nhóm khác, rút kinh
nghiệm từ sự thành công và điểm còn hạn chế của nhóm khác
1.1.4 Quá trình dạy học hợp tác
1.1.4.1 Những điều kiện tổ chức học tập hợp tác
Học tập hợp tác là một trong những xu thế học tập mới đang được phát
triển mạnh mẽ ở nhiều nước, quá trình học tập hợp tác sẽ có hiệu quả khi đáp
ứng được một số điều kiện sau:
a) Mục đích học tập được xác định rõ ràng;
b) Các thành viên tham gia có ý thức trách nhiệm cao;
c) Có sự phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực giữa các thành viên;
d) Hình thành được động cơ hợp tác;
Trang 29e) Sự phân nhóm hợp lí;
f) Sự phân chia nhiệm vụ phù hợp cho mỗi thành viên trong nhóm,
giữa các nhóm (có sự phối hợp giữa các nhiệm vụ)
1.1.4.2 Những hình thức tổ chức học hợp tác
a Thi trò chơi theo đội
Hình thức này đã được David De Vries, Keith Edward và Robect
Slavin – làm việc ở trung tâm các tổ chức xã hội trường học của trường Đại
học Johns Hopkin – nghiên cứu thực hiện Ví dụ: trò chơi giải ô chữ về các
Nhà Toán học
b Thi kiến thức theo đội
Hình thức này đòi hỏi sự nỗ lực học tập, hợp tác giữa các nhóm cao
hơn việc thi trò chơi HS có thể được thi kiến thức trong giờ học hoặc trong
một thời gian nhất định, có tổng kết thi đua và xếp hạng giữa các nhóm để
động viên thi đua Ví dụ: Thi giải nhanh các phương trình logarit, phương
trình lượng giác,…
c Học ghép (Jugsaw)
Đây là sự kết hợp giữa học tập cá nhân và học hợp tác Mỗi cá nhân
trong nhóm được nghiên cứu một phần trong nhiệm vụ của nhóm, sau đó hợp
lại để tổng kết thành kiến thức chung Mỗi thành viên có một trách nhiệm học
toàn bộ nội dung đã được các thành viên khác trình bày Ví dụ: mỗi HS
nghiên cứu một số phương pháp giải phương trình vô tỷ, sau đó ghép lại
thành các phương pháp giải phương trình vô tỷ
d Kiểm tra theo nhóm: Nhằm mục đích đặt HS trong nhóm học hợp tác và
tự kiểm tra kiến thức của nhau (Sharan & Hertz – Lararowitz, 1980)
e Hợp tác – hợp tác (Kagan, 1985)
Chiến lược này giúp HS có phương pháp học tập, học được cách học
hợp tác Các cuộc trao đổi nhóm giúp kích thích sự ham hiểu biết của HS HS
được phân theo nhóm không đồng nhất, phân chia bài học theo các chủ đề và
Trang 30phân công cho từng đội Trong mỗi đội lại phân công cho từng cá nhân làm
việc độc lập, sau đó trình bày cho nhóm Nhóm lại tổng kết để trình bày trước
lớp Việc đánh giá thực hiện theo ba trình độ:
*)Các thành viên nhóm đánh giá các phần trình bày của từng cá nhân;
*)HS trong lớp đánh giá phần trình bày của các nhóm;
*)GV đánh giá công việc và kiến thức của từng cá nhân
g Chia sẻ theo cặp
GV đặt câu hỏi, HS nghe, suy nghĩ tìm câu trả lời, sau đó từng cặp HS
ngồi cạnh nhau có thể thảo luận câu trả lời rồi chia sẻ với nhóm học tập hoặc
cả lớp Chiến lược này được phát triển nhờ công lao của nhà Giáo dục học
Frank Lyman tại trường Đại học tổng hợp Maryland Như vậy, dựa vào đặc
điểm môn học và bài học cụ thể, cùng toàn bộ chương trình giảng dạy ta có
thể lựa chọn nội dung dạy học và hình thức tổ chức học hợp tác thích hợp
nhất
h Hợp tác tích hợp trong dạy học Toán
Đây là sự kết hợp giữa chương trình giảng dạy môn hình học, chương
trình vi tính tương tác và nhóm học hợp tác Nội dung kiến thức được đưa vào
máy vi tính HS được chia thành các nhóm hợp tác 4 người, sau đó thành 2
cặp sử dụng máy tính Hai HS cùng nhau tương tác với máy tính bằng cách
tập hợp giả thiết rồi đưa ra những phỏng đoán và kết luận tổng quát của định
lí Sau khi làm việc với máy tính theo 2 cặp HS về nhóm (4 người) thảo luận
những điều tìm được Nhóm hợp tác nuôi dưỡng, tạo điều kiện dễ dàng cho
những khám phá Toán học, giải quyết vấn đề, khuyến khích lối tư duy có phê
phán và việc chia sẻ các ý tưởng, cũng như trợ lực cho lòng tin Toán học
Trong nhóm hợp tác, HS hình thành những phán đoán bằng chính ngôn từ và
từ kinh nghiệm của bản thân Sau đó HS viết các chứng minh cho những phán
đoán của mình dưới hình thức một đoạn hay tường thuật
Trang 31i Hợp tác tích cực giữa đọc và viết luận
Đây là sự kết hợp của sự tương tác hợp tác và cấu trúc giải thưởng cá
nhân Nó bao gồm nội dung chương trình giảng dạy để giúp HS biết cách đọc
sách và tổng hợp các kiến thức đã đọc được Lớp học được chia thành 2 nhóm
đọc hiểu từ 10 đến 15 thành viên Một nhóm tập trung vào việc rèn luyện kỹ
năng đọc hiểu tài liệu Nhóm còn lại tập trung vào các kỹ năng suy diễn ý
nghĩa của nội dung viết trong tài liệu HS được chia thành cặp trong nhóm
đọc hiểu của mình sau đó bắt cặp với HS trong nhóm đọc khác Điểm của HS
trong tất cả các cuộc thi kiến thức, bài luận và báo cáo đóng góp cho điểm của
cả đội Mỗi HS được cho điểm dựa vào công việc cá nhân
k Học tập theo dự án
Ở đây người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp với tính tự
lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, như việc xác định mục đích, lập kế
hoạch đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết
quả thực hiện Trong dạy học dự án, HS phải tham gia tích cực và tự lực vào
quá trình học tập, GV đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn , giúp đỡ Học tập dự án
đòi hỏi sự cộng tác làm việc theo nhóm Mỗi HS cần được rèn luyện tính sẵn
sàng và kỹ năng cộng tác làm việc giữa các thành viên tham gia trong dự án
Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc môn học khác
nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp
1.1.5 Quá trình dạy học hợp tác
1.1.5.1 Lập kế hoạch
Để tổ chức học tập cho HS theo kiểu dạy học hợp tác, GV cần đưa ra
mục tiêu cụ thể của từng bài học GV cần xác định rõ mục tiêu trước khi tiến
hành giờ học hợp tác Có thể đưa ra hai mục tiêu như sau: thứ nhất là mục tiêu
về kiến thức bao gồm: kiến thức, kĩ năng, thái độ; thứ hai là mục tiêu về kĩ
năng hợp tác
Trang 32Với cách thức sau có thể giúp GV lập kế hoạch một bài dạy, làm cho
HS học tập hợp tác một cách có ý thức
+) Thảo luận có trọng tâm (bước thảo luận đầu tiên): GV tạo ra những
câu hỏi mà bài học cần làm rõ Các câu hỏi nên chuẩn bị công phu, rõ ràng
trên giấy 4, viết lên bảng hoặc dùng đèn chiếu để HS có thể thấy rõ Cho HS
thảo luận câu hỏi theo từng nhóm Mục đích là tăng cường tổ chức trước
những ý tưởng của HS về đề tài sẽ trình bày và thiết lập những mong muốn
hay kỳ vọng mà bài giảng sẽ đề cập đến
+) Thảo luận thông qua trao đổi với bạn: Chia bài học ra thành từng
phần nhỏ khoảng 10 đến 15 phút Chuẩn bị nhiệm vụ cho một thảo luận ngắn
cho từng nhóm HS sau mỗi phần của bài học Nhiệm vụ thảo luận phải ngắn
gọn để HS có thể hoàn thành trong vòng 3 hoặc 4 phút, với mục đích là đảm
bảo rằng mọi HS đều tư duy một cách tích cực về vấn đề sẽ được trình bày
Nhiệm vụ của thảo luận có thể là: tóm tắt câu trả lời cho những vấn đề được
thảo luận, phản hồi những lí thuyết, khái niệm, nội dung hay thông tin được
trình bày Mô tả chi tiết tài liệu được trình bày Dự đoán vấn đề sẽ được trình
bày tiếp theo Nỗ lực giải quyết những mâu thuẫn Giả định câu trả lời cho
những vấn đề đặt ra Tiếp cận kiến thức mới Tìm qui trình giải bài
toán,…Mỗi nhiệm vụ thảo luận cần phải có 4 phần: trình bày câu trả lời, chia
sẻ câu trả lời, lắng nghe câu trả lời và đưa ra câu trả lời mới, hoàn chỉnh hơn
câu trả lời ban đầu HS cần nắm được những kinh nghiệm trong thảo luận để
có kỹ năng thực hiện nhiệm vụ trong thời gian ngắn
+) Thảo luận có trọng tâm (bước thảo luận cuối cùng): GV chuẩn bị
nhiệm vụ để tóm tắt lại những kiến thức HS học được từ bài học Giúp HS
gắn được những kiến thức vừa được học vào vốn kiến thức đã có, hoặc chỉ ra
cho HS thấy nhiệm vụ ở nhà sẽ đề cập tới vấn đề gì, có liên hệ như thế nào
với bài sau Giờ học có thể được tiến hành như sau:
Trang 33- Tạo ra các nhóm HS tự nguyện và ngẫu nhiên, thường là những người
ngồi gần nhất GV có thể sắp xếp chỗ ngồi khác nhau trong từng giờ học để
HS được gặp gỡ và trao đổi với nhiều bạn khác trong lớp
- Phân công cho mỗi nhóm hoàn thành nhiệm vụ ban đầu
- Thực hiện phần đầu của bài học Đưa ra nhiệm vụ thảo luận cho mỗi
nhóm từ 3 đến 4 phút để hoàn thành Sử dụng cách thức: trình bày/chia
sẻ/lắng nghe/đưa ra câu trả lời mới Chọn ngẫu nhiên 2 hoặc 3 HS trình bày
tóm tắt phần thảo luận của mình
- Thực hiện phần hai của bài giảng và đưa ra nhiệm vụ thảo luận thứ hai
Cứ lặp đi lặp lại như vậy cho đến khi bài học hoàn thành
- Đưa ra nhiệm vụ học tập có trọng tâm cuối cùng để kết thúc bài học
Dành 5 đến 6 phút để tóm tắt và thảo luận về những vấn đề đã được đề cập
trong giờ học
- Thực hiện trình tự này một cách đều đặn để giúp HS nâng cao kỹ năng và
đẩy nhanh tốc độ hoàn thành những nhiệm vụ thành những nhiệm vụ thảo
luận ngắn
1.1.5.2 Tổ chức các nhóm học hợp tác
Có ba loại nhóm học hợp tác sau đây:
- Nhóm học tập chính thức là những nhóm HS được tổ chức chặt chẽ và
duy trì cho đến khi hoàn thành nhiệm vụ
- Nhóm học tập không chính thức là những nhóm tồn tại trong thời gian
ngắn và có tổ chức không chặt chẽ (ví dụ như kiểm tra người ngồi cạnh có
hiểu bài không)
- Nhóm học tập hợp tác cơ sở là nhóm học tập hợp tác lâu dài, có mối quan
hệ vững chắc giữa các thành viên với trách nhiệm chính là giúp đỡ, khuyến
khích, hỗ trợ nhau hoàn thành phần việc được giao, nỗ lực hơn trong học tập
+) Xác định kích thước nhóm: việc này phụ thuộc vào điều kiện học tập và
tầm quan trọng của sự hợp tác Kích thước càng nhỏ thì HS càng có nhiều cơ
Trang 34hội trao đổi mặt đối mặt, nhưng kích thước nhỏ quá sẽ ảnh hưởng đến khả
năng tận dụng sức mạnh của sự hợp tác
+) Lựa chọn các thành viên vào một nhóm: Chúng ta có thể lựa chọn nhóm
thuần nhất theo năng lực, theo chủ đề cần quan tâm hoặc chọn nhóm gồm đa
dạng trình độ nhận thức, về điều kiện học tập
+) Xác định thời gian duy trì nhóm: Cần duy trì các nhóm đến thời điểm
đủ độ ổn định và có thành công nhất định Có thể giải tán nhóm và thành lập
nhóm mới khi nhóm cũ hoạt động kém Việc thay đổi nhóm sẽ giúp cho HS
xây dựng cảm nhận tích cực, khách quan, có tư tưởng lành mạnh về sự hợp
tác và tạo cho các em có nhiều cơ hội thực hành các kỹ năng cần thiết cho
việc hợp tác, tránh tư tưởng chủ nghĩa cục bộ Để hình thành được nhóm tốt,
GV cần nắm được đặc điểm, tính cách, năng lực học tập của từng HS Mỗi
nhóm tự cử ra người giữ vai trò nhóm trưởng, thư ký, quan sát viên, báo cáo,
và thành viên của nhóm để thực hiện các nhiệm vụ đạt kết quả tốt Các vai trò
này nên được thay đổi luân phiên để HS được trải nghiệm các chức năng
trong hợp tác, qua đó tự kh ng định mình và tạo sự hòa đồng giữa các thành
viên trong nhóm
1.1.5.3 Tổ chức lớp học
Nên bố trí HS trong mỗi nhóm được ngồi gần nhau để các em có thể dễ
dàng chia sẽ tài liệu học tập, duy trì sự liên hệ mặt đối mặt và trao đổi nhỏ, đủ
nghe trong nhóm Thường nên chọn HS ngồi ở hai bàn trên và dưới, khi đó
HS bàn trên có thể quay xuống HS bàn dưới để trao đổi Cách bố trí này
không tốn thời gian tập trung nhóm, tránh được sự ồn ào không cần thiết và
tạo cơ hội cho HS dễ dàng thực hiện các kĩ năng hợp tác Cần có khoảng
trống làm lối đi để GV có thể dễ dàng di chuyển từ nhóm này qua nhóm khác
nhằm quản lí và hỗ trợ khi cần thiết
1.1.5.4 Rèn luyện kỹ năng hợp tác cho HS
Từ các nghiên cứu [21], [25] có thể xem xét các kỹ năng chủ yếu sau:
Trang 35Kĩ năng 1: Kĩ năng giao tiếp
Có thể nói: “giao tiếp là sự trao đổi và chia sẽ những ý nghĩ và cảm xúc
thông qua hệ thống các kí hiệu được hiểu gần như thống nhất giữa những
người cùng tham gia” Có hai loại kỹ năng giao tiếp: truyền đạt và tiếp nhận
Để thể hiện ý tưởng, niềm tin, cảm nhận,…thì mỗi HS phải có khả năng
truyền đạt Mỗi HS cũng phải có khả năng tiếp nhận thông tin một cách chính
xác sao cho bản thân có thể hiểu được các ý tưởng, niềm tin, cảm nhận,…của
người khác Qua truyền đạt và tiếp nhận, hai HS có thể làm sáng tỏ mục tiêu
chung, thuyết phục nhau, theo dõi bạn mình, thống nhất hành động, chia sẻ
nguồn lực, giúp đỡ lẫn nhau và thúc đẩy nhau hoạt động
Kĩ năng 2: Kĩ năng xây dựng và duy trì bầu không khí tin tưởng lẫn
nhau
Sự tin tưởng thể hiện ở những hành vi cởi mở, chia sẻ, chấp nhận, ủng
hộ và những ý muốn hợp tác Khi đánh giá hành vi được tin tưởng của một
HS, điều quan trọng là sự chấp nhận và ủng hộ của một người đối với những
đóng góp của các thành viên khác, điều này không có nghĩa là người đó phải
đồng ý với mọi điều mà những người khác nói ra Một cá nhân có thể bộc lộ
sự chấp nhận và ủng hộ trước sự cởi mở và chia sẻ với người khác trong khi
vẫn nói lên các ý tưởng khác cũng như các quan điểm đối lập Đây là một
điểm quan trọng trong việc xây dựng và duy trì sự tin tưởng lẫn nhau
Kĩ năng 3: Kĩ năng kèm cặp nhau trong học tập
Kĩ năng này sẽ được rèn luyện thông qua hàng loạt các vai trong các
tình huống học tập hợp tác do GV xây dựng và HS thực hiện
Kĩ năng 4: Kĩ năng lãnh đạo
Khả năng lãnh đạo được định nghĩa là sự thể hiện những hành động
giúp cho nhóm hoàn thành nhiệm vụ
Kĩ năng 5: Kĩ năng tư duy hội thoại có phê phán
Trang 36Trong quá trình thảo luận và trao đổi sẽ có những xung đột giữa các tư
tưởng, ý kiến, kết luận, lí thuyết lời giải và phương pháp giải Toán,…gây ra
những cuộc tranh luận là một khía cạnh quan trọng của học tập hợp tác Sau
đây chúng tôi trình bày các bước rèn luyện kĩ năng hợp tác cho HS:
Bước 1: Tạo ra bối cảnh hợp tác: tức là làm cho HS nhận thức được sự
phụ thuộc lẫn nhau và quan tâm đến sự vui buồn của người khác
Bước 2: Xây dựng và tổ chức các cuộc tranh luận về kiến thức Tạo ra
những mâu thuẫn về nhận thức để HS có cơ hội rèn luyện tư duy phê phán
Bước 3: Dạy cho HS cách thỏa thuận và thống nhất ý kiến
Bước 4: Dạy cho HS cách hòa giải
Tiến trình rèn luyện kĩ năng hợp tác cho HS là: GV chọn một số kĩ
năng quan trọng cần quan sát, cử ra HS làm nhiệm vụ cụ thể trong vai của
mình như: nhóm trưởng, thư ký, quan sát viên, thành viên, sau đó GV quan
sát và can thiệp khi cần thiết Những HS được cử làm quan sát viên đánh giá
xem các bạn trong lớp đã thể hiện những kỹ năng hợp tác như thế nào GV tổ
chức cho HS tiến hành nhận xét nhóm, sử dụng các quan sát viên như một
nguồn phản hồi Nhận xét toàn lớp, tóm tắt thông tin phản hồi từ những dữ
liệu quan sát được của GV Các thành viên nhóm đặt ra các mục tiêu trong
việc thể hiện các kỹ năng hợp tác ở lần hoạt động nhóm tiếp sau
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc vận dụng dạy học hợp tác vào dạy học Hình
học ở trường THPT
1.2.1 Việc sử dụng các phương pháp dạy học Toán ở một số trường THPT
Quảng Ngãi
Trang 37Bảng1.1 Mức độ sử dụng các phương pháp dạy học của giáo viên Toán
STT Tên phương pháp
Sử dụng thường xuyên
Sử dụng không thường xuyên
Ít sử dụng
Qua số liệu trên cho thấy còn rất ít giáo viên sử dụng phương pháp dạy
học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh Hình thức dạy học hợp
tác đã được áp dụng nhưng với tỷ lệ thấp, chủ yếu chỉ ở những tiết học ngoại
khoá, các tiết thực hành và giao bài tập về nhà cho từng nhóm với mục đích
giúp học sinh dễ hoà nhập, học hỏi lẫn nhau và khơi dậy tinh thần tập thể
Trong dạy học Toán ở một số trường THPT Quảng Ngãi, giáo viên mới
chỉ quan tâm chủ yếu đến quá trình dạy của giáo viên nên tâm thế của học
sinh trong các giờ học là chờ đón kiến thức do giáo viên truyền thụ và chỉ
quan tâm ghi nhớ những kiến thức Học sinh hoàn toàn chưa có thói quen đón
nhận những công việc, các nhiệm vụ cần hoàn thành trong giờ sinh học để tự
tìm ra kiến thức mới
Trang 38Bảng 1.2 Đánh giá của giáo viên về sự hiểu biết về dạy học hợp tác
Điều tra trên 12 Giáo viên của Trường THPT Lê Khiết, Quảng Ngãi
Từ bảng 1.2 cho ta thấy: Các giáo viên dạy học môn Toán ở trường
THPT Lê Khiết còn chưa hiểu biết nhiều về Lý thuyết dạy học hợp tác
Nguyên nhân Giáo viên ở đây hầu hết là những người nhiều tuổi, chỉ có một
thầy trưởng bộ môn có được tập huấn song cũng ít áp dụng phương pháp dạy
học này
Ngoài ra, qua khảo sát giáo án và trao đổi trực tiếp với giáo viên, chúng
tôi nhận thấy nhiều giáo viên gặp khó khăn trong việc chuẩn bị bài giảng theo
hướng dạy học hợp tác Có lẽ, một trong những nguyên nhân của vấn đề này là
thực tế thiếu một mô hình tiếp cận khái quát cùng với những bài giảng hướng
dẫn thực hiện các công việc để giáo viên có thể vận dụng cho các kiến thức có
thể tổ chức hoạt động hợp tác và các biện pháp tổ chức dạy học hiệu quả
1.2.2 Điều tra tính khả thi trên đối tượng học sinh
Chúng tôi đã tiến hành điều tra nhu cầu học tập theo kiểu hợp tác đối với
bộ môn Toán ở 1 trường THPT Lê Khiết đã tiến hành thực nghiệm với số
lượng học sinh điều tra là 152 học sinh và có kết quả thể hiện ở bảng 1.3
Trang 39Bảng 1.3: Biểu hiện của học sinh đối với việc học tập theo nhóm hợp tác
2 Biểu hiện trong giờ
học
- Tham gia thảo luận đóng góp ý kiến xây dựng bài và nghe ý kiến của các bạn
- Nghe các bạn thảo luận và ghi chép, không đóng góp ý kiến xây dựng bài
- Làm việc khác (làm bài tập môn khác, nói chuyện, đọc truyện)
- Độc lập nghiên cứu SGK để giải quyết các vấn đề học tập, từ chối nhóm vì không tin tưởng các bạn trong nhóm
3 Nếu gặp vấn đề
chưa rõ trong thảo
luận
- Tự về nhà tìm hiểu thêm cho rõ
- Nhờ bạn trong nhóm giải thích cho
4 Khó khăn trong học
tập
- Một số bạn trong nhóm nói nhiều quá, luôn hỏi những vấn đế vụn vặt làm mất thời gian
- Một số bạn không chịu tham gia thảo luận, ít nói
- Không ghi chép được bài học
thích thú trong các giờ học tổ chức dạy học theo nhóm hợp tác Khi được hỏi,
đa số học sinh đều cho rằng học như thế này rất thích vì nhiều lý do: hiểu bài
ngay tại lớp, học rất vui không buồn ngủ, rất thoải mái, có nhiều cơ hội để học
Trang 40hỏi bạn bè, hỏi bạn đỡ ngại hơn hỏi thầy cô Tính tích cực trong học tập được
thể hiện rất rõ trong các giờ học có tổ chức học tập theo nhóm, hầu hết học sinh
đều tham gia các cuộc thảo luận rất sôi nổi, ngay cả những học sinh ít nói, nhút
nhát cũng bị cuốn vào các hoạt động học tập Trong giờ học theo nhóm học
sinh tự tin hơn, mạnh dạn bày tỏ những gì mình hiểu biết cho các bạn trong
nhóm, các bạn trong lớp và không ngại khi hỏi bạn hoặc đưa ra trước lớp
những vấn đề mình chưa rõ để tìm cách giải quyết