1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp sửa lỗi phát âm tiếng việt cho học sinh lớp 1 người ê đê

130 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 2,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐỂN VIỆC PHÁT ÂM TIẾNG VIỆT CỦA HỌC SINH LỚP 1 NGƯỜI ÊĐÊ .... NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA VIỆC ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP SỬA LỖI PHÁT ÂM TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 1

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÊ THỊ NGỌC HOA

MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬA LỖI PHÁT ÂM

TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 1 NGƯỜI Ê ĐÊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Nghệ An, 2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÊ THỊ NGỌC HOA

MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬA LỖI PHÁT ÂM

TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 1 NGƯỜI Ê ĐÊ

Chuyên ngành: Giáo dục học (Bậc tiểu học)

Mã số: 60.14.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Chu Thị Thủy An

Nghệ An, 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:

 PGS TS Chu Thị Thủy An - Người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn tôi

trong suốt quá trình làm đề tài luận văn này

 Phòng Đào Tạo Sau Đại học, Khoa Giáo dục học cùng toàn thể quý thầy

cô trong khoa Giáo dục của Trường Đại học Vinh đã tạo mọi điều kiện

giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học này

 Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Krông Năng, Ban Giám hiệu các

trường Tiểu học huyện Krông Năng tỉnh Đăk Lăk đã giúp đỡ, tạo điều

kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt đợt thử nghiệm đề tài của mình

Nghệ An, tháng 5 /2014

Lê Thị Ngọc Hoa

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới

sự hướng dẫn của PGS TS Chu Thị Thủy An Những kết quả nghiên cứu trong

luận văn chưa từng được công bố trong bất kì một công trình nào khác

Tác giả luận văn

Lê Thị Ngọc Hoa

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 LÝDO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 3

3 KHÁCH THỂ, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

3.1 Khách thể nghiên cứu 3

3.2 Đối tượng nghiên cứu 3

3.3 Phạm vi nghiên cứu 3

4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 3

5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 4

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận 4

6.1.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp lí thuyết 4

6.1.2 Phương pháp phân loại, hệ thống hóa lí thuyết 4

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 4

6.2.1 Phương pháp điều tra 4

6.2.2 Phương pháp quan sát 4

6.2.3 Thử nghiệm sư phạm 4

6.3 Phương pháp thống kê toán học 4

7 CẤU TRÚC ĐỀ TÀI 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 6

1.1 LỊCH SỬ CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số 6

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về thực trạng và giải pháp cho phát âm phương ngữ 8

1.1.3 Các công trình nghiên cứu về dạy tiếng Việt cho người Êđê 9

1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA HỆ THỐNG NGỮ ÂM TIẾNG VIỆT 10

1.2.1 Khái niệm về chính âm 9

1.2.2 Chính âm trong tiếng Việt 10

1.2.3 Chính âm trong nhà trường tiểu học 12

Trang 6

1.3 HỆ THỐNG NGỮ ÂM TIẾNG ÊĐÊ VÀ SỰ KHÁC BIỆT VỚI HỆ

THỐNG NGỮ ÂM TIẾNG VIỆT 15

1.3.1 Khái quát về tiếng Êđê ở Đắl Lắk 15

1.3.2 Hệ thống nguyên âm, phụ âm, thanh điệu trong tiếng Êđê tỉnh ĐắkLắk 16

1.4 NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐỂN VIỆC PHÁT ÂM TIẾNG VIỆT CỦA HỌC SINH LỚP 1 NGƯỜI ÊĐÊ 28

1.4.1 Yếu tố sinh lí 28

1.4.2 Yếu tố tiếng mẹ đẻ 30

1.4.3 Yếu tố xã hội 31

1.4.4 Cách phát âm của giáo viên 31

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 33

2.1 KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG 33

2.1.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 33

2.1.2 Khái quát về điều kiện kinh tế, xã hội, giáo dục huyện Krông Năng34 2.1.3 Mục đích khảo sát thực trạng 37

2.1.4 Hình thức tổ chức khảo sát thực trạng 37

2.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG………38

2.2.1 Thực trạng lỗi phát âm tiếng Việt của học sinh lớp 1 người Êđê huyện Krông Năng 388

2.2.2 Thực trạng những khó khăn trong việc rèn kĩ năng phát âm cho học sinh người Êđê 44

2.2.3 Thực trạng về việc sử dụng các biện pháp sửa lỗi phát âm cho học sinh lớp 1 người Êđê 446

2.2.2 Thực trạng nhận thức nhu cầu, mục đích học tiếng Việt của phụ huynh người Êđê 48

2.3 NGUYÊN NHÂN CỦA THỰC TRẠNG 50

2.3.1 Nguyên nhân khách quan 50

2.3.2 Nguyên nhân chủ quan 57

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬA LỖI PHÁT ÂM TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 1 NGƯỜI Ê ĐÊ 61

Trang 7

3.1 NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA VIỆC ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP SỬA LỖI PHÁT ÂM TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 1

NGƯỜI ÊĐÊ 61

3.1.1 Nguyên tắc mục tiêu 61

3.1.2 Nguyên tắc khoa học 61

3.1.3 Nguyên tắc khả thi 61

3.2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬA LỖI PHÁT ÂM TIẾNG VIỆ CHO HỌC SINH LỚP 1 NGƯỜI ÊĐÊ 61

3.2.1 Biện pháp 1: Luyện tập theo mẫu 62

3.2.2 Biện pháp 2: Chữa lỗi bằng âm trung gian 66

3.2.3 Biện pháp 3: So sánh âm chuẩn và lệch chuẩn 68

3.2.4 Biện pháp 4: Tổ chức trò chơi học tập để luyện phát âm 70

3.2.5 Biện pháp 5: Xây dựng và sử dụng bài tập luyện chính âm 79

3.2.6 Biện pháp 6: Tạo môi trường giao tiếp tiếng Việt cho học sinh lớp 1 người Êđê 90

3.3 THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM 95

3.3.1 Mục đích thử nghiệm 95

3.3.2 Phương pháp thử nghiệm 95

3.3.3 Đối tượng và địa bàn thử nghiệm 95

3.3.4 Nội dung thực nghiệm 98

3.3.5 Kết quả thực nghiệm 99

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 102

1 Kết luận 102

2 Kiến nghị 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

PHỤ LỤC 1 1

PHỤ LỤC 2 6

PHỤ LỤC 3 11

PHỤ LỤC 4 13

PHỤ LỤC 5 14

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Bảng tổng hợp kết quả xếp loại giáo dục HSDTTS huyện Krông Năng năm học 2012-2013 (So sánh với các năm học trước) 36 Bảng 2.2: Bảng tổng hợp kết quả học tập môn Tiếng Việt HSDTTS huyện Krông Năng năm học 2012-2013 (So sánh với năm học trước) 36 Bảng 2.3: Lỗi ở phụ âm đầu của học sinh lớp 1 người Êđê ở huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk 39 Bảng 2.4: Lỗi ở âm đệm của học sinh lớp 1 người Êđê ở huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk 40 Bảng 2.5: Lỗi ở âm chính của học sinh lớp 1 người Êđê ở huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk 42 Bảng 2.6: Lỗi ở âm cuối của học sinh lớp 1 người Êđê ở huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk 43 Bảng 2.7: Lỗi thanh điệu của học sinh lớp 1 người Êđê ở huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk 44 Bảng 2.8 : Những khó khăn trong việc rèn phát âm cho HS người Êđê 45 Bảng 2.9 : Thực trạng về sử dụng các biện pháp rèn phát âm cho HS người Êđê 46 Bảng 2.10 : Bảng khảo sát thực trạng nhận thức, nhu cầu, mục đích học tiếng Việt của phụ huynh người Êđê 48 Bảng 3.1 Bảng số lượng các lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 96 Bảng 3.2 Điều tra chất lượng phân môn Học vần trước thử nghiệm 97

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1 Đại hội XI của Đảng đã xác định mục tiêu tổng quát trong thời

kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là xây dựng được cơ bản nền tảng kinh tế, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh Đại hội đã khẳng định “Giáo dục đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con

người Việt Nam” Trong bối cảnh đất nước đang bước vào thời kỳ đổi mới,

giáo dục được coi là chìa khoá của mọi sự thành công trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy “Thực sự coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế xã hội” đã trở thành triết lý nhằm đảm bảo các điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, từ khi ra đời cho đến nay, Đảng ta luôn quan tâm và coi trọng vấn đề giáo dục Đặc biệt ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo vùng dân tộc thiểu số, nhằm thu hẹp khoảng cách về chất lượng giáo dục giữa vùng dân tộc thiểu

số, miền núi với miền xuôi Đảng và nhà nước luôn chú trọng đến việc xóa

mù chữ cho đồng bào, phát triển giáo dục miền núi, khôi phục và xây dựng

hệ thống chữ viết cho các dân tộc như Thái, M’nông, H’mông, Ê đê… Chú ý

mở rộng mạng lưới trường lớp đến tận thôn buôn, xây dựng trường dân tộc nội trú, bán trú Các xã, phường, thị trấn đều có hội đồng giáo dục Quan tâm đào tạo giáo viên nhất là giáo viên người dân tộc thiểu số với mục đích đưa “miền núi tiến kịp miền xuôi” như Bác Hồ mong muốn Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, toàn Đảng, toàn dân ta đang tích cực thực hiện Nghị quyết XI của Đảng, phát huy nội lực tiếp tục tiến hành sự nghiệp đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đưa nước ta tiến lên con đường

Trang 11

phát triển bền vũng thì vấn đề giáo dục nói chung và giáo dục dân tộc nói riêng đang trở nên cấp bách và có ý nghĩa hơn bao giờ hết

1.2 Hơn 25 năm đổi mới đất nước, giáo dục và đào tạo nước ta góp phần quan trọng trong việc đào tạo cho xã hội nguồn nhân lực ngày càng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng; trình độ dân trí ngày càng nâng lên,

xã hội học tập ngày càng mở rộng, công tác giáo dục không ngừng đổi mới

về nhiều mặt, đội ngũ giáo viên được nâng cao trình độ để đáp ứng nhu cầu của xã hội

Tuy nhiên, giáo dục nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, thể hiện rõ rệt ở chất lượng giáo dục giữa vùng thuận lợi và khó khăn, giữa miền núi và đồng bằng, giữa học sinh người Kinh và học sinh người dân tộc thiểu số Học sinh người dân tộc thiểu số hầu như không thể có được số lượng và mật độ giao tiếp bằng tiếng Việt nhiều như người Kinh Trong quá trình học tập, học sinh dân tộc thiểu số luôn phải chịu ảnh hưởng của tiếng mẹ

đẻ, dẫn đến những khó khăn khi học tiếng Việt Đó cũng là nguyên nhân khiến học sinh dân tộc thiểu số mắc lỗi sử dụng tiếng Việt như lỗi chính tả, lỗi dùng từ, lỗi phát âm… dẫn đến việc các em ngại giao tiếp bằng tiếng Việt

1.3 Hiện nay, việc bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt là vấn đề cần được quan tâm hàng đầu trong giảng dạy tiếng Việt ở các trường tiểu học Tiếng Việt chính là một nhân tố không thể thiếu được làm nên đặc thù và bản sắc văn hóa Việt Nam Để giữ gìn đặc thù và bản sắc văn hóa đó thì phát âm đúng, viết đúng chính tả trong các nhà trường hiện nay ở mọi cấp học có vị trí vô cùng quan trọng Phát âm đúng, viết đúng chính tả chứng tỏ

là người có trình độ văn hóa về mặt ngôn ngữ

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc rèn luyện phát âm cho HSDTTS nhưng kết quả vẫn chưa cao Trong dạy học, nhiều giáo viên còn lúng túng trong việc sửa lỗi phát âm cho học sinh, chưa tìm ra các biện pháp khắc phục lỗi phát âm có hiệu quả Vì vậy, mục tiêu môn Tiếng Việt hiệu quả đạt được chưa cao Các công trình nghiên cứu, các đề tài khoa

Trang 12

học, tài liệu hướngdẫn dạy học sửa lỗi phát âm cho học sinh người Ê Đê còn hạn chế

1.4 Lớp 1 là lớp đầu cấp, đặt nền móng cho các lớp học, cấp học khác Mục tiêu của dạy học tiếng Việt lớp 1 là HS phải biết đọc các âm, vần, vần mới, từ ngữ ứng dụng, câu ứng dụng, đọc toàn bài biết ngắt nghỉ đúng Biết viết đúng chữ ghi âm, vần… thật chuẩn xác Nếu GV kịp thời sửa lỗi phát âm cho học sinh ngay từ lớp 1, giúp các em phát âm chuẩn các

âm, vần trong bài Học vần, bài Tập đọc; phát âm chuẩn lời nói trong giao tiếp sẽ góp phần rất lớn cho việc học tập lâu dài và khả năng giao tiếp của học sinh người Êđê

Chính vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Một số biện pháp sửa lỗi phát âm tiếng Việt cho học sinh lớp 1 người Êđê”

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Đề xuất một số biện pháp sửa lỗi phát âm tiếng Việt cho học sinh lớp

1 người Êđê nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt

3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu, khảo sát thực trạng và thử nghiệm các biện pháp

đề xuất ở một số trường tiểu học trên địa bàn huyện Krông Năng tỉnh Đắk Lắk trong khuôn khổ giờ học tiếng Việt trên lớp và một số hoạt động ngoại khóa tiếng Việt

4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Nếu đề xuất và áp dụng được những biện pháp sửa lỗi phát âm tiếng Việt có tính có tính khoa học và khả thi thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt cho học sinh lớp 1 người Êđê

Trang 13

5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu những vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài

- Nghiên cứu thực trạng của vấn đề sửa lỗi phát âm tiếng Việt cho học sinh lớp 1 người Êđê

- Đề xuất một số biện pháp sửa lỗi phát âm tiếng Việt cho học sinh lớp 1 người Êđê

- Tổ chức thử nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính hiệu quả và khả thi của biện pháp

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

6.1.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp lí thuyết: Phương pháp phân tích

và tổng hợp lí thuyết qua các tài liệu, báo chí, internet, sách giáo khoa để phân tích, tổng hợp các vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài

6.1.2 Phương pháp phân loại, hệ thống hóa lí thuyết: Để làm rõ cơ sở lí

luận của vấn đề nghiên cứu

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Nhằm xây dựng cơ sở thực tiễn cho đề tài nghiên cứu và kiểm chứng tính khả thi được đề xuất của biện pháp sửa lỗi phát âm tiếng Việt cho học sinh lớp 1 người dân tộc Êđê

6.2.1 Phương pháp điều tra

Nghiên cứu thực trạng việc phát âm tiếng Việt của học sinh lớp 1 người Êđê ở các trường tiểu học trên địa bàn huyện Krông Năng

6.3 Phương pháp thống kê toán học

Nhằm xử lí số liệu khảo sát thực trang và thử nghiệm

Trang 14

7 Cấu trúc luận văn

Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài

Chương 2: Cơ sở thực tiễn của đề tài

Chương 3: Một số biện pháp sửa lỗi phát âm tiếng Việt cho học sinh

lớp 1 người Êđê

Trang 15

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ, đa văn hóa Vậy tiếng Việt cần có cương vị ngôn ngữ chung, ngôn ngữ quốc gia, tức ngôn ngữ chính thức, ngôn ngữ giáo dục văn hóa, văn hóa của tất cả các dân tộc, thành phần của quốc gia Cho nên, sự phổ biến rộng rãi Tiếng Việt trong các dân tộc Việt Nam là hết sức cần thiết Khoảng cách về ngôn ngữ và văn hóa là một rào cản lớn cho khối đại đoàn kết dân tộc Thông thạo một tiếng nói, chữ viết chung là cơ sở để các cá nhân trong cộng đồng gắn bó và đoàn kết chặt chẽ thành một khối thống nhất Xuất phát từ bối cảnh đất nước ngày nay, trên cơ sở đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về vấn

đề ngôn ngữ dân tộc, hơn lúc nào hết việc dạy Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số là vô cùng bức thiết và quan trọng Trong thực tế, đã có rất nhiều nghiên cứu về dạy học tiếng Việt theo các xu hướng nhằm giúp cho người Việt thuộc các dân tộc khác nhau nói chuẩn tiếng Việt, viết đúng tiếng Việt Đảng ta đã xác định khâu đột phá trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội vùng miền núi, vùng DTTS trong giai đoạn 2012- 2020 là tập trung cho phát triển nhanh và có chất lượng nguồn nhân lực Giáo dục dân tộc có vai trò nền tảng và quyết định đối với sự phát triển nguồn nhân lực, phát triển kinh tế- xã hội vùng miền núi, vùng DTTS

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

Tiếng Việt là tiếng phổ thông của tất cả các dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam và là ngôn ngữ được dùng để dạy và học trong cả nước Nước ta có 53 dân tộc thiểu số, mỗi dân tộc đều có ngôn ngữ riêng của mình Phần đông trẻ em dân tộc trước khi tới trường đã sử dụng thông thạo tiếng mẹ đẻ nhưng lại không biết hoặc biết rất ít tiếng Việt Vì vậy đối với HSDTTS, việc học tiếng Việt, nắm vững tiếng Việt có ý nghĩa đặc biệt quan trọng quyết định việc học tập ở trường và việc học tập suốt cả đời

Trang 16

người Việc nắm chắc tiếng Việt, nói tiếng Việt lưu loát giúp các em tự tin, mạnh dạn trong giao tiếp là điều kiện giúp các em tiếp tục học lên các lớp, các bậc học cao hơn, tạo nên nguồn đào tạo cán bộ khoa học kĩ thuật, cán

bộ quản lí vững vàng cho vùng dân tộc

Ngay từ khi Cách mạng tháng Tám thành công, các nhà nghiên cứu

đã làm ra bộ chữ viết cho đồng bào Êđê, Ba-na Đến nay, nhiều dân tộc thiểu số trên cả nước đã có chữ viết riêng Có 7 dân tộc có bộ sách được biên soạn riêng và đưa vào giảng dạy chính thức tại các trường tiểu học và trường PTDT nội trú Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo biên soạn các loại

từ điển tiếng Việt dành cho HSDTTS, so sánh đối chiếu các ngôn ngữ Dân tộc – Việt, Sổ tay phương ngữ Việt – Dân tộc, các tập truyện song ngữ…

Theo xu hướng này có một số công trình nghiên cứu sau:

+ “Phương pháp dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc cấp tiểu học”

Dự án Phát triển giáo viên tiểu học biên soạn Tài liệu gồm 5 môđun, đề cập đến các phương pháp dạy: âm, vần, nghe, nói, đọc, viết và kèm theo băng hình hỗ trợ Mỗi tiểu môđun có nhiều chủ đề khác nhau cung cấp cho giáo viên các phương pháp dạy học tiếng Việt cho HSDT có hiệu quả

+ “Ngôn ngữ, chữ viết và chính sách ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam (đề tài độc lập cấp Nhà nước) của Nguyễn Văn Lợi [32] Tác giả

nêu lên khá đầy đủ về thực trạng chính sách ngôn ngữ đối với vùng có đông đồng bào DTTS Từ đó, đưa ra những định hướng về ngôn ngữ, chữ viết cho người dân tộc ở Việt Nam

+ “Nghiên cứu thực trạng dạy học và những khó khăn cơ bản trong quá trình học tiếng Việt của học sinh H’mông, tỉnh Thanh Hóa” của Hoàng

Trang 17

cho HS dân tộc nhằm nâng cao chất lượng giáo dục

+ “Hướng dẫn trợ giảng tiếng dân tộc” của Bộ Giáo dục và Đào tạo

– Chương trình đảm bảo chất lượng trường học (SEQAP) đã chỉ ra vị trí của môn Tiếng Việt trong trường tiểu học, những ảnh hưởng của TMĐ đến việc học của HSDTTS và một số giải pháp hỗ trợ GV trong dạy học HSDTTS

+ Hội thảo “Dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc như ngôn ngữ thứ hai” tháng 3 năm 2012 Hội nghị đã bàn về vấn đề dạy tiếng Việt cho học

sinh DTTS

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về thực trạng và giải pháp chữa lỗi phát âm do ảnh hưởng phương ngữ

+ “Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học” của Lê Phương Nga

đã chỉ ra các cơ sở khoa học để tổ chức dạy học tập đọc ở tiểu học Tác giả cũng đã chỉ ra những tồn tại trong cách phát âm của địa phương đã làm giảm hiệu quả giao tiếp

+ “Hướng dẫn dạy tập nói tiếng Việt cho học sinh dân tộc” tài liệu

của Bộ Giáo dục và Đào tạo do Mông Ký Slay làm chủ biên Tài liệu xác định nội dung tập nói TV bao gồm hệ thống từ vựng, mẫu câu tối thiểu nhằm dạy HSDT tập nói Dựa trên những hướng dẫn cụ thể trong tài liệu này, GV có thể tiến hành tập nói cho HSDT thuận lợi

+ “Phát triển lời nói cho HS tiểu học trên bình diện ngữ âm ” của

Nguyễn Thị Xuân Yến [40; tr 23] Ở đây tác giả đề cập đến những lỗi phát

âm của học sinh theo từng vùng phương ngữ và đưa ra những điểm khác biệt về ngữ âm trong các vùng phương ngữ Từ đó, giúp người dạy lựa chọn PPDH phù hợp, xác định được nguyên nhân dẫn đến lỗi phát âm của

HS và giúp HS nhận diện, phân tích, chữa lỗi phát âm chính xác

+ “Phương pháp dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số cấp tiểu học” tài liệu bồi dưỡng GV của Bộ Giáo dục và Đào tạo [7; tr 23] Tài

liệu đã chỉ ra những nguyên nhân cơ bản gây ra lỗi phát âm của HSDTTS, những lỗi phát âm của HS và đề xuất một số biện pháp sửa lỗi phát âm

Trang 18

+ “Tài liệu Tiếng Việt 1 – Công nghệ Giáo dục” của Hồ Ngọc Đại

đã đưa đến cho học sinh những kiến thức cơ bản về ngữ âm Tiếng Việt, cách phân biệt nguyên âm và phụ âm, các kiểu vần khác nhau và nắm chắc luật chính tả

1.1.3 Các công trình nghiên cứu về dạy tiếng Việt cho người Êđê

“Bài tập bổ trợ tiếng Việt 1,2,3” của Lê Thị Ngọc Thơm Đề tài

khoa học cấp tỉnh đã nghiên cứu thực trạng về dạy học tiếng Việt trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk và đề cập đến những lỗi phát âm của học sinh DTTS nói chung và học sinh người Êđê nói riêng Đề tài đã nghiên cứu và xây dựng

hệ thống bài tập Tiếng Việt bổ trợ cho HSDTTS lớp 1,2,3 trong đó có

HS người Êđê

Tóm lại, các công trình nghiên cứu, các hội thảo, hội nghị phần lớn

đã nêu lên tầm quan trọng và sự quan tâm của các cấp quản lí, các nhà sư phạm đến việc DH tiếng Việt nói chung và thực trạng, biện pháp dạy học từng phân môn Tiếng Việt cho HSDTTS trong nhà trường tiểu học hiện nay nói riêng

Tuy nhiên, vấn đề lỗi phát âm của học sinh dân tộc trong đó có dân tộc Êđê là rào cản lớn trong việc giao tiếp, thực trạng ai cũng nhìn thấy nhưng chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu vấn đề này để tìm ra giải pháp khắc phục Chính vì vậy, tìm hiểu thực trạng và biện pháp khắc phục lỗi phát âm tiếng Việt cho HS lớp 1 người Êđê ở huyện Krông Năng tỉnh Đắk Lắk là hết sức cấp thiết Việc nghiên cứu này sẽ tìm hiểu nguyên nhân chính khiến HS Êđê phát âm sai Đặc biệt sẽ tìm hiểu về nguyên nhân sự khác biệt về ngữ âm tiếng Việt và Tiếng Êđê Từ đó, đề tài sẽ đưa ra những giải pháp tương ứng, phù hợp để khắc phục lỗi phát âm cho HS, làm giàu

đẹp vốn Tiếng Việt của chúng ta

1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA HỆ THỐNG NGỮ ÂM TIẾNG VIỆT

1.2.1 Khái niệm về chính âm

Chính âm là chuẩn mực phát âm của một ngôn ngữ có giá trị và hiệu lực về mặt xã hội

Trang 19

1.2.2 Chính âm trong tiếng Việt

Nguyễn Lân, năm 1956, đề nghị hệ thống âm chuẩn là: 6 thanh điệu

ở Bắc Bộ, các phụ âm cuối theo phương ngữ Bắc, các phụ âm quặt lưỡi theo phương ngữ Trung và phân biệt d, gi

Hồng Giao, năm 1957, đề nghị hệ thống âm chuẩn là hoàn toàn theo thổ ngữ Hà Nội Nhưng về mặt chính tả thì vẫn phân biệt tr/ch, s/x và r/d/gi

Năm 1972, các tác giả Cù Đình Tú, Hoàng Văn Thung, Nguyễn Nguyên Trứ cùng một quan niệm với tác giả Hoàng Phê cho rằng "Hệ thống ngữ âm tiêu chuẩn của tiếng Việt là hệ thống ngữ âm đã được cố định hoá trên chữ viết với một sự điều chỉnh thích đáng cho phù hợp với thực tế phát triển của tiếng Việt ngày nay”

Năm 1974, Vương Hữu Lễ cũng tán thành cách giải quyết như vậy khi đề nghị lấy thổ ngữ của người Hà Nội làm căn bản nhưng bổ túc các ưu điểm của các thổ ngữ khác

Năm 1982, các tác giả Nguyễn Kim Thản và Nguyễn Văn Tu cũng

đề nghị một ý kiến tương tự: "chuẩn mực ngữ âm của tiếng Việt ngày nay nên lấy hệ thống ngữ âm của phương ngôn Bắc mà tiêu biểu là tiếng Hà Nội làm căn cứ, đồng thời công nhận cách phát âm cong lưỡi, một số tổ hợp phụ âm và một số vần cái như đã biểu hiện trên chính tả"

Hiện nay, hệ thống ngữ âm chuẩn (chính âm) tiếng Việt được thống nhất như sau:

- Hệ thống thanh điệu gồm 6 thanh như trong thổ ngữ Hà Nội

- Hệ thống phụ âm đầu có các âm quặt lưỡi /ţ , ş, / và không phân biệt d/gi chỉ lấy một âm vị /z/

- Hệ thống vần giống như trên chữ viết

Đây là hệ thống âm được thể hiện trên chữ viết; là cách phát âm có

sự khu biệt âm vị học tối đa để khắc phục những âm đã mất đi hoặc đã bị biến dạng của tiếng địa phương; là cách phát âm tối ưu để viết đúng chính tả

Trang 20

* Cụ thể, hệ thống thanh điệu tiếng Việt bao gồm 6 thanh, có độ cao

-Thanh ngã: Bắt đầu ở độ cao gần ngang thanh huyền nhưng không

đi ngang mà vút lên, kết thúc ở độ cao cao hơn cả thanh không dấu Ở thanh ngã, đường nét vận động bị gãy ở giữa do trong quá trình phát âm có hiện tượng bị tắc thanh hầu Đây là chỗ khó phát âm đối với trẻ em và đối với người nước ngoài học tiếng Việt Thanh ngã hay bị phát âm thanh

thanh sắc: ngã - ngá, nước lã - nước lá

- Thanh hỏi: là một thanh thấp có đường nét gãy ở giữa Độ cao lúc bắt đầu thanh hỏi gần ngang thanh huyền Sau khi đi ngang một đoạn, thanh này đi xuống và lại đi lên cân xứng với đường đi xuống Độ cao lúc kết thúc bằng độ cao lúc ban đầu Trẻ em mới học nói, thanh hỏi thường

được phát âm thành thanh nặng, ví dụ: cửa sổ - cựa sổ

- Thanh sắc: Lúc bắt đầu, độ cao của thanh sắc gần với thanh không dấu nhưng thanh sắc không đi ngang mà đi lên Ở những âm tiết có âm cuối

là /- p, - t, - k/ như bắt, cóc, nhấp thì thanh sắc vút cao ngay, gây ấn

tượng ngắn

- Thanh nặng: là một thanh thấp và có đường nét xuống dần Những

âm tiết có âm cuối là /-p, - t, - k/ như một, cột, hột…thanh nặng được phát

âm đi xuống ngay Thanh nặng cũng có hiện tượng tắc thanh hầu trong quá trình phát âm

* Hệ thống âm đầu tiếng Việt do phụ âm đảm nhiệm, bao gồm 21 âm: /b, m, f, v, t, ť, d, n, z, , s, ş, c, , ţ, l, k, x, , η, h/ Hệ thống phụ âm này xuất hiện đầy đủ trong cách phát âm của người miền Trung Có 3 phụ

Trang 21

âm quặt lưỡi /ţ, ş, ,/ thường bị đồng hóa trong cách phát âm của người miền Bắc và miền Nam

* Hệ thống âm đệm: ở vị trí âm đệm, chỉ có một âm vị /w/ Đó là một bán nguyên âm có tác dụng làm tròn môi và trầm hoá âm sắc của âm tiết So sánh cách phát âm ta và toa ta thấy rõ điều đó

* Hệ thống âm chính tiếng Việt, do 16 nguyên âm đảm nhiệm Trong

đó, bao gồm 13 nguyên âm đơn và 3 nguyên âm đôi Có thể trình bày khái quát trong bảng sau:

* Hệ thống âm cuối tiếng Việt có 8 âm, trong đó, có 6 phụ âm và 2 nguyên âm Cụ thể, 3 phụ âm ồn: /-p, - t, -k/, 3 phụ âm vang /- m, - n, -η/

và 2 bán nguyên âm /- u, - i/

1.2.3 Chính âm trong nhà trường tiểu học

Hiện nay, ở tiểu học, vấn đề luyện chính âm – một nội dung của luyện đọc đúng đang có hai xu hướng quan niệm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất, luyện chính âm trong nhà trường tiểu học là luyện cho HS phát âm đúng hệ thống âm được thể hiện trên chữ viết Đỗ Xuân Thảo, Lê Hữu Tỉnh cho rằng: tất cả các trường hợp phát âm lệch chuẩn đều được coi là lỗi phát âm và cần phải sửa chữa khi dạy học sinh đọc, nói Theo các tác giả, chính âm trong nhà trường, ngoài tính chất khoa học, chính trị còn có tính chất nghiệp vụ nên cần phải bảo đảm các yêu cầu sau:

- Phát âm đúng (cả âm lẫn thanh)

13 nguyên âm đơn

9 nguyên âm dài

/i/ / / /u/

/e/ / ɤ / /o/ / / /a/ / /

4 nguyên âm ngắn / /

/ / /ă/ / /

3 nguyên âm đôi /ie/ / ɤ / /uo/

Trang 22

- Chú ý phân biệt các dấu hỏi, ngã, nặng

- Chú ý phân biệt các cặp phụ âm đầu tr/ch, s/x, l/n, v/d

- Chú ý phân biệt các vần âu/iu, ây/ay, iêu/ươu, iu/ưu

Theo quan điểm này, về lí thuyết, giữa cách đọc và cách viết thống nhất với nhau, còn trong thực tế, sự biểu hiện của mối quan hệ giữa đọc (phát âm) và viết (viết chính tả) lại khá phong phú, đa dạng Cụ thể, chính tả tiếng Việt không dựa hoàn toàn vào phát âm thực tế của một phương ngữ nhất định nào Cách phát âm thực tế của các phương ngữ đều có những sai lệch so với chính âm Thêm vào đó, Việt Nam là đất nước có khá nhiều dân tộc (54 dân tộc), và mỗi dân tộc lại có ngôn ngữ mẹ đẻ riêng Vì thế, khi họ học tiếng Việt thì ít nhiều cũng bị ảnh hưởng đến cả phát âm lẫn viết chính

tả tiếng Việt Nên không thể thực hiện được theo phương châm “nghe thế nào - viết thế ấy” được

Quan điểm thứ hai, luyện chính âm là luyện phát âm tự nhiên, tự nguyện, không đi ngược với thói quen của những cộng đồng HS nói tiếng địa phương

Không hoàn toàn thỏa mãn các quan điểm xác định lỗi phát âm nêu trên, một số người đã tìm kiếm một căn cứ khác Đó là dựa vào hoàn cảnh phát ngôn, mục đích phát ngôn kết hợp với tâm lí người sử dụng Có nghĩa rằng trong nhà trường, khi đọc văn bản thì GV và HS phải đọc đúng với chuẩn chính âm nhưng trong giao tiếp khẩu ngữ thì chỉ cần dừng lại ở mức

độ phát âm không gây cho người nghe có cảm giác mắc lỗi nói đớt, nói ngọng Theo quan điểm này, những âm lệch chuẩn của HS được chia làm hai loại: loại âm lệch chuẩn do tiếng địa phương và loại lỗi phát âm

Như vậy, luyện chính âm là luyện phát âm một cách tự nhiên, tự nguyện, không đi ngược với thói quen của những cộng đồng học sinh nói tiếng địa phương Tức là, vẫn chấp nhận một số trường hợp phát âm phương ngữ trong HS nhưng mặt khác các em cũng phải biết cách phát âm đúng chuẩn để sử dụng trong những trường cần thiết Những trường hợp lệch chuẩn được chấp nhận thể hiện trong bảng sau:

Trang 23

Sự khác biệt về ngữ âm giữa các phương ngữ

Tác giả Lê Phương Nga cũng cho rằng “Nếu chỉ chọn phát âm theo

chữ viết, nghĩa là cho rằng tất cả những cách phát âm khác với hệ thống ngữ âm được phản ánh trên chữ viết thì chúng ta sẽ buộc HS

tất cả các vùng nói giọng Hà Nội pha yếu tố của miền Trung, buộc HS Nam

Bộ nói tiếng Bắc

Làm như vậy sẽ gây ra khó khăn trong việc trau dồi cách phát âm chuẩn

mực trong nhà trường Vì vậy, để luyện phát âm đúng cho HS cần phải chấp

nhận ba chuẩn chính âm.” [ 21; tr 47]

Theo quan điểm thứ hai này, ở tiểu học hiện nay, có 3 chuẩn mực

phát âm:

+ Hướng đến cách phát âm của hệ thống ngữ âm phù hợp với chữ

viết GV và HS thuộc phương ngữ Trung Bộ nên hướng đến cách phát

âm này

+ Hướng đến cách phát âm theo tiếng Hà Nội như phát thanh viên

đài phát thanh, truyền hình trung ương GV và HS thuộc phương ngữ Bắc

Bộ nên hướng đến cách phát âm này

+ Hướng đến cách phát âm của tiếng Sài Gòn như phát thanh viên

đài phát thanh, truyền hình thành phố Hồ Chí Minh GV và HS thuộc

Trang 24

phương ngữ Nam Bộ nên hướng đến cách phát âm này

1.3 HỆ THỐNG NGỮ ÂM TIẾNG ÊĐÊ VÀ SỰ KHÁC BIỆT VỚI HỆ

THỐNG NGỮ ÂM TIẾNG VIỆT

1.3.1 Khái quát về tiếng Êđê ở Đắl Lắk

Dân tộc Êđê là một trong ba dân tộc (Êđê, Mnông, Jarai) sống lâu

đời tại tỉnh Đắk Lắk nói riêng và Tây nguyên nói chung Người Êđê sinh

sống rải rác ở hầu hết khắp các huyện trong tỉnh Đắk Lắk và ngoài ra người

Êđê cũng có mặt ở một số huyện của tỉnh Đắk Nông và huyện sông Hinh

của tỉnh Phú Yên Người Êđê có rất nhiều nhóm tộc người khác nhau với

tên gọi khác nhau

Dựa vào tiêu chuẩn ngôn ngữ học, đặc biệt là đặc điểm tính đơn tiết

của ngôn ngữ, tiếng Ê đê được chia thành hai vùng tiếng địa phương lớn:

+ Vùng I: là tiếng nói của cư dân các nhóm địa phương mang đặc

trưng của của một ngôn ngữ đơn lập- đơn tiết và thể hiện xu hướng đơn tiết

hóa ngày càng triệt để hơn Đó là tiếng nói của các ngành các nhóm Kpă,

Adham, Krung, Ktul, Mdhur, Drao, Blô, Êpan

+ Vùng II: là tiếng nói của cư dân các nhóm địa phương mang đặc

trung của một ngôn ngữ đơn lập – đơn tiết nhưng còn lưu giữ các dấu vết

của một ngôn ngữ đa tiết Đó là tiếng nói của cư dân các ngành, các nhóm

Mdhur và Bih

Mối quan hệ giữa các tiếng địa phương Êđê như sơ đồ sau:

Tiểu vùng I.1 Krung, Kpă, Adham

Vùng I Blô

Tiểu vùng I.2 Drao, Êpan, Ktul

Mdhur

Vùng II

Bih

Đặc điểm ngữ âm lớn nhất và đáng lưu ý nhất của tiếng địa phương

Êđê là sự tồn tại của hai loại âm tiết ở các địa phương thuộc vùng II Các

Trang 25

tiếng địa phương nhóm Mdhur và Bih có âm tiết mạnh và âm tiết yếu trong một ngữ âm Trong khi ở các địa phương vùng I lại là các tổ hợp phụ âm Tuy nhiên, theo cảm nhận của người Êđê, sự khác nhau giữa các tiếng địa phương chính là sự khác nhau ở phần vần [ 26; tr 29]

1.3.2 Hệ thống nguyên âm, phụ âm, thanh điệu trong tiếng Êđê tỉnh ĐắkLắk

1.3.2.1 Hệ thống phụ âm tiếng Êđê

a Phụ âm đơn

Phụ âm là những âm mà khi phát âm luồng hơi đi ra bị cản trở do hai

bộ phận cấu âm khép đường thông từ phổi ra ngoài miệng Nơi cản trở không khí đó có thể ở họng, ở lưỡi, ở răng, ở môi hoặc do lưỡi tiếp xúc với các bộ phận cố định như răng, lợi (nướu), vòm miệng,

Trong tiếng Êđê hiện nay có 26 phụ âm đơn có khả năng đứng đầu

âm tiết là: p, t, ], k, ph, th, ]h, kh, a (phụ âm tắc, vô thanh trong tổ hợp phụ âm), [, đ, dj, b, d, j, g, s, h, w, y, m, n, `, ng, l, r Riêng phụ âm được ghi

bằng con chữ ê chỉ đứng đầu âm tiết và trong tổ hợp phụ âm, kiểu: ê-ăt

(lạnh, nguội), ê-i (rổ), hay êbhui (rữa, mục) Đây chính là một phụ âm có cách cấu âm đặc biệt Còn phụ âm được ghi bằng con chữ a khi đứng đầu

âm tiết trước phụ âm kiểu ama (cha) là phụ âm tắc, họng, vô thanh

Tiếng Êđê là một ngôn ngữ đơn lập không có thanh điệu Quá trình biến đổi hình thái học từ một ngôn ngữ đa tiết có phụ tố tới một ngôn ngữ không có phụ tố đã ảnh hưởng không nhỏ đến những đặc điểm ngữ âm của ngôn ngữ này Đó là sự hiện diện của các tổ hợp phụ âm đầu trong đơn vị phát âm nhỏ nhất, tụ nhiên nhất mà ta gọi là âm tiết Trong tiếng Êđê, phần đầu âm tiết chưa bị đơn tiết hóa triệt để nên cấu trúc ngữ âm của nó vô cùng phúc tạp Ở tiếng Êđê, có rất nhiều tổ hợp ba phụ âm mà yếu tố thứ ba

là các phụ âm /l, r, h/ [ 25; tr 39]

Quá trình đơn tiết hóa vẫn đang diễn ra trong tiếng Êđê đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến phần đầu âm tiết, gây ra những biến động, thay đổi cấu trúc ngữ âm của phần đầu, khiến cho các nhà ngiên cứu gặp không ít

Trang 26

khó khăn Ở tiếng Ê đê, mở đầu có thể là một phụ âm đơn (pă- số 4), một tổ hợp hai phụ âm, nhưng có khi phần đầu âm tiết là một tổ hợp ba phụ âm

(hmlei – bông)

Dưới đây là miêu tả đặc trưng ngữ âm- âm vị học của các phụ âm và

tổ hợp phụ âm đó

+ Các phụ âm đơn – hệ thống phụ âm đầu

Ở vị trí mở đầu âm tiết, trong tiếng Ê đê có 26 phụ âm sau đây:

1 / p / là phụ âm tắc, vô thanh, môi –môi

3 / c / là phụ âm tắc, vô thanh, mặt lưỡi giữa (]) Trong một số

trường hợp khi đứng trước nguyên âm /i/, mặt lưỡi nâng lên cao hơn và nhích về phía trước Khi đó /c/ có biến thể là một phụ âm tắc – xát, mặt lưỡi

]o cháu ]ih viết

4 / k / là phụ âm tắc, vô thanh, gốc lưỡi ( Phụ âm giống hoàn toàn /c/ của tiếng Việt)

ki sừng Khi đứng trước các nguyên âm hàng sau tròn môi /u/ /o/ hoặc bán nguyên âm /ũ/, phụ âm này có xu thế cấu âm sâu hơn, nghe gần như một phụ âm tắc, vô thanh, lưỡi con

kong vòng đeo

5 / ? / là phụ âm tắc, vô thanh, thanh hầu khi cấu âm, các giây thanh khép kín các khe thanh, sau đó các dây thanh lại mở ra, gây tiếng bật nổ nhẹ ở vùng thanh hầu (phụ âm không có trong tiếng Việt)

ung chồng

Trang 27

6 / p’/ là phụ âm tắc, vô thanh, môi – môi bật hơi

Trang 28

18 /y/ là phụ âm xát, hữu thanh, mặt lưỡi giữa

yang thần

19 /s/ là phụ âm xát, vô thanh, đầu lưỡi – lợi

sang nhà

20 /h / là phụ âm xát, vô thanh, yết hầu dưới

huă ăn cơm

21 / m/ là phụ âm tắc, mũi, hữu thanh môi –môi (giống m trong tiếng Việt)

mâo có

22 /n/ là phụ âm tắc, mũi, hữu thanh, đầu lưỡi lợi (giống m trong tiếng Việt)

nuê người thay

23 / n / là phụ âm tắc, mũi, hữu thanh, mặt lưỡi giữa (`)

có khả năng đứng đầu âm tiết Đó là phụ âm tắc, hữu thanh, thanh hầu /?/ Tuy nhiên, phụ âm này chỉ có thể xuất hiện trước một phụ âm đầu âm tiết

Trang 29

Bảng 1.1 Các phụ âm đầu tiếng Êđê

lưỡi

Mặt lưỡi

Gốc lưỡi

Tắc Ồn

Vô thanh

Không bật hơi

Hữu thanh

Không tiền thanh hầu hóa

d j’

Tiền thanh hầu hóa

Ngoài các phụ âm đơn, tiếng Ê đê có 140 tổ hợp hai phụ âm có thể

đứng ở vị trí phần đầu âm tiết

Về phân bố, khi đứng sau /m, k/ có thể là một trong 26 phụ âm đơn

thì các tổ hợp của nó là phụ âm môi Tuy nhiên thông thường trong các tổ

hợp phụ âm lại hay xuất hiện các âm chêm khi cấu âm các nhóm này

VD: mt mth mđ md mn ms

Trang 30

* Loại tổ hợp có hai phụ âm giống nhau mm và kk Chúng kết hợp

với nhau rất chặt đến nỗi người nghe có cảm nhận như chúng như là những

phụ âm dài vậy, ví dụ: mmah (nhai); kkuê (cổ); kkuh (chào); kkuih (chuột)…

* Loại tổ hợp gồm có một phụ âm xát họng, vô thanh h kết hợp với phụ âm đi sau là những phụ âm xát, bên l hoặc rung r Đây là loại tổ hợp

phụ âm có kết hợp chặt đến nỗi người nghe có cảm giác như là những phụ

âm bên và rung có một yếu tố xát họng nhẹ phía trước, ví dụ: hră (chữ, giấy); hruê (ngày…

* Loại tổ hợp gồm một phụ âm tắc, hữu thanh, với một phụ âm xát họng, vô thanh Trong nhiều trường hợp, người nghe đôi khi có cảm nhận đây là những phụ âm hữu thanh, bật hơi chứ không phải là những tổ hợp

phụ âm, ví dụ: dhiăr (chong chóng); [hu (phơi);

* Loại tổ hợp gồm một phụ âm tắc (kể cả mũi) với một phụ âm bên hoặc rung Đây cũng là những tổ hợp phụ âm có kết hợp chặt

+ Loại tổ hợp gồm ba phụ âm

* Tổ hợp ba phụ âm được bắt đầu bằng một phụ âm tắc họng, hữu

thanh gắn rất chặt với phụ âm đi sau ví dụ: êbhui (rữa, mục); ênhă (diện tích); ênhiang (vùng, khu vực; cách thức)

* Tổ hợp ba phụ âm được bắt đầu bằng một phụ âm tắc họng, vô

thanh gắn rất chặt với phụ âm đi sau, ví dụ: adro\k (cóc); adrăng (rơm, rạ); amrak (con công); apro\ng (bác - chị mẹ, anh bố)

* Loại tổ hợp ba phụ âm được bắt đầu bằng một phụ âm tắc mũi m, hoặc phụ âm xát họng, vô thanh h có kết hợp rất chặt giữa phụ âm đầu tổ

hợp với các phụ âm còn lại Ví dụ: mghă (chống đỡ); mgrăn (làm cán);

Các tổ hợp phụ âm ở trên là những tổ hợp phụ âm có kết cấu chặt Tiếng Êđê còn có tổ hợp phụ âm lỏng ba phụ âm

Kiểu 1: Loại tổ hợp gồm 3 phụ âm được bắt đầu bằng một phụ âm tắc, vô thanh k và đi sau chúng là những tổ hợp hai phụ âm chặt mà yếu tố

đầu là một âm tắc, còn yếu tố sau là một trong những phụ âm xát họng, vô

Trang 31

thanh h hay bên l, hoặc rung r Ví dụ: ktrâo (chim cu); kdrăn (bãi, khu đất rộng); kjham ((bệnh) nặng)

Kiểu 2: Loại tổ hợp gồm ba phụ âm được bắt đầu bằng phụ âm tắc,

vô thanh k và đi sau chúng là những tổ hợp gồm một phụ âm mũi (m, n, `) với phụ âm xát họng vô thanh h là loại tổ hợp lỏng nhất ví dụ: knhâo (thông minh, có trí); kmha (bố/mẹ (vợ/chồng));

Ngoài hai tổ hợp phụ âm sn và nn ở trên, trong tiếng Êđê Kpă hiện

có 135 tổ hợp hai phụ âm mà yếu tố thứ nhất có thể là tất cả các phụ âm có

chức năng âm đầu (trừ hai phụ âm bên l và rung r) Còn với tổ hợp ba phụ

âm, trong tiếng Êđê có 59 tổ hợp mà yếu tố bắt đầu tổ hợp chỉ có thể là một

trong năm phụ âm dưới đây:

+ Phụ âm hữu thanh, mũi: /m/

+ Phụ âm tắc họng, hữu thanh /ê/

+ Phụ âm tắc họng, vô thanh /a/

+ Phụ âm tắc, gốc lưỡi, vô thanh /k/

+ Phụ âm xát họng, vô thanh /h/

Còn yếu tố cuối của tổ hợp 3 phụ âm chỉ là một trong ba phụ âm:

+ Phụ âm xát, hữu thanh, bên /-l/

+ Phụ âm rung, hữu thanh / –r/

+ Phụ âm xát, họng, vô thanh /-h/

Bảng 1.2: Tổ hợp hai phụ âm tiếng Êđê

Trang 32

ay ah êp ab ad aw am an ar aj

Bảng 1.3: Các tổ hợp ba phụ âm

mpr mpl m[r m[l m[h mbr mbl mbh mtr mtl mđr mdr mdl mđh mdh mnh mdjh mjh m`h mkr mkl mgr mgh mhr mhl kpr mkl mgr mhr mhl kpr kpl k] kbr k]h kbl k` kmr kml kmh kđr kđh kdh kdl kdr knh kmh klh kdjh a] apr amr adh agh angh êbh êth êlh êjh êgh hml hdr

So sánh đối chiếu với bảng phụ âm TV, ta thấy phụ âm đơn tiếng Êđê dùng một số con chữ có dấu riêng như: : /[, ]h, dj, b, j, w, `/ trong TV không

có Tiếng Việt hoàn toàn không có các kết hợp tổ hợp 2, 3 phụ âm Tiếng

Việt không có phụ âm a đứng đầu âm tiết như tiếng Êđê Đây cũng là phụ

âm có cách cấu âm đặc biệt của tiếng Êđê

1.3.2.2 Hệ thống nguyên âm

Giải pháp của Đoàn Văn Phúc cho rằng, giữa phần đầu và phần cuối tiếng Êđê có một ranh giới cấu tạo từ Về phương diện âm vị học, phần cuối tiếng Êđê do ba thành tố cấu tạo thành Là âm nối, âm chính, âm cuối

+ Âm nối là yếu tố không bắt buộc có mặt trong cấu trúc âm tiết Âm nối nằm ngay sau phần đầu âm tiết Âm nối có tác dụng làm thay đổi âm sắc của nguyên âm Ở tiếng Êđê, các âm nối cũng giống như âm đệm tiếng Việt

Âm nối /u/ là một nguyên âm tròn môi /w/, nó môi hóa phụ âm đứng trước thộc phần đầu âm tiết, làm môi hóa nguyên âm đi sau làm đỉnh âm tiết, làm cho âm sắc của âm tiết thay đổi và trầm xuống

Âm nối /u/, /i/ có đặc trưng cấu âm:

Trang 33

- /u/ là một bán nguyên âm dòng sau tròn môi, mang tính chất xát môi, phi âm tiết tính Đứng trước các nguyên âm có độ mở rộn, bán nguyên âm này

có thể biến thể nghe như một bán nguyên âm /o/ Tính chất này giống với âm đệm /w/ trong tiếng Việt Ví dụ : hruah chọn, lựa

- /i/ là một bán nguyên âm hàng trước, không tròn môi, mang tính chất ngạc xát, phi âm tiết tính Đứng trước các nguyên âm rộng, nó làm cho các nguyên âm này hơi khép lại và có xu thế cấu âm hơi nhích về phí trước còn nó

có thể biến là /e/

- Ví dụ: tia rèn

+ Âm chính - Các nguyên âm: Trong tiếng Ê đê có 16 nguyên âm đơn /

i, ê, e, ư, ơ, a, u, ô, o; i\, e\, ư\, ơ\, ă, u\, o\ / các nguyên âm này có thể giữ

chức năng âm chính trong âm tiết

Đặc trưng cấu âm – âm học các nguyên âm

1 /i/ là nguyên âm hàng trước, hẹp, dài, không môi

Ví dụ: hi\n rất

2 / i\ / là nguyên âm hàng trước, hẹp, ngắn, không tròn môi

Ví dụ: kr i\p chụm lại, chắp lại

3 / e / Nguyên âm hàng trước, hơi hẹp, dài, không tròn môi

Ví dụ : bê con dê

4 / ε / là nguyên âm hàng trước, hơi mở, dài, không tròn môi [e\]

Ví dụ : the bật lửa

5 / ε / là nguyên âm hàng trước, hơi rộng, ngắn không tròn môi Nguyên âm này chỉ xuất hiện trước các âm cuối gốc lưỡi /ng/, /c /

6 /a/ là nguyên âm hàng trước – giữa, rộng, dài, không tròn môi

Đưa lưỡi về giữa khoang miệng và mở rộng miệng

Ví dụ : kan

7 / ă / là nguyên âm hàng trước – giữa, rộng, ngắn, không tròn môi

Ví dụ : păr quăng, liệng

8 / w/ là nguyên âm hàng sau, hẹp dài, không tròn môi

Ví dụ: s ư\p (quả) vải

Trang 34

9 / ɤ/ là nguyên âm hàng sau, hơi hẹp, dài, không tròn môi

Ví dụ: kđơng bụng ỏng

10 / ɤ / là nguyên âm hàng sau, hơi hẹp, ngắn, không tròn môi (ơ\)

Ví dụ: h ơ\k vui, nhộn

11 /u/ là nguyên âm hàng sau, hẹp, dài, tròn môi Phát âm để lưỡi lùi

lại phía sau và mở miệng hẹp như đọc i nhưng chúm hai môi

Ví dụ: lu nhiều, đông

12 / u\ / là nguyên âm hàng sau, hẹp, ngắn, tròn môi Đọc như u

nhưng không ngậm miệng ở cuối từ kéo dài

Ví dụ: du\m bao nhiêu

13 / כ / là nguyên âm hàng sau, hơi hẹp, tròn môi

Ví dụ: wăng kuook cái cuốc

14 /o/ là nguyên âm hàng sau, hơi hẹp, dài, tròn môi Để lưỡi lùi lại

phía sau và mở miệng hẹp hơn đọc a nhưng chúm hai môi

15 / כ / là nguyên âm hàng sau, hơi rộng, dài, tròn môi, phát âm o

với giọng rất ngắn nhưng không ngậm miệng

Ví dụ: ho\ng trống rỗng

Nói chung, hầu hết các nguyên âm tiếng Êđê đều có xu hướng bị ngạc hóa và chuyển sắc trước các phụ âm mặt lưỡi và chúng bị mất thế đối lập trước các phụ âm thanh hầu

Theo tiêu chí đối lập về chất, ta có thể nhận diện các nguyên âm Êđê trên cơ sở các thế tương liên về hàng (vị trí) và độ mở như bảng dưới đây

Trang 35

+ Âm cuối

Ở tiếng Êđê, giữ vai trò âm cuối có thể là một phụ âm, hay một bán

nguyên âm, hoặc một tổ hợp âm tố ngữ âm gồm : một bán nguyên âm +

phụ âm hanh hầu /h/ Đó là 12 phụ âm, gồm:

+ 6 phụ âm vô thanh là: /p, t, c (]), k, ?, h /

+ 6 phụ âm hữu thanh, vang là: /m, n,  (`) ,  (ng), l, r/

- 2 bán nguyên âm / u (o, u), i (i)/

- 3 tổ hợp gồm bán nguyên âm + phụ âm họng, vô thanh: /ih/ (ih);

Gốc lưỡi

Thanh hầu

Ở tiếng Êđê cũng có những phụ âm hữu thanh, tiền thanh hầu hóa

như trong tiếng Chàm Cái gọi là thanh điệu trong tiếng Chàm, theo thống

kê của Moussay (1971) thì các thanh này có điều kiện xuất hiện như sau:

- Thanh ngang: xuất hiện ở những âm chính (nguyên âm) dùng một

mình hoặc đứng sau một phụ âm thường

- Thanh trầm: xuất hiện ở những âm chính đứng sau âm phụ dài (tức

phụ âm tiền thanh hầu hóa)

- Thanh khứ: xuất hiện ở những âm chính đứng sau âm phụ và trước

một âm màng họng

Trang 36

- Thanh sụt: xuất hiện ở những âm chính đứng sau một âm phụ dài

và trước một âm màng họng

Sự xuất hiện của các thanh trong các kiểu âm tiết khác nhau Các thanh trầm và thanh sụt xuất hiện trong bối cảnh mà phụ âm đầu âm tiết giống nhau mà Moussay gọi chúng là “phụ âm dài” (tức phụ âm tiền thanh hầu hóa) Còn thanh sụt xuất hiện trong âm tiết có âm cuối là phụ âm thanh hầu Như vậy, ở những âm tiết có phụ âm hữu thanh, tiền thanh hầu hóa được phát âm với âm vực thấp Hễ âm tiết có âm vực thấp thì dường như

nó bị thấp dần xuống, còn âm tiết có âm vực cao lại được phát âm cao dần lên Hiện tượng đó đã gây nên ấn tượng gãy cao, gãy thấp để có thể so sánh chúng với thanh sắc, thanh nặng trong tiếng Việt hiện đại trong những âm tiết có âm cuối là những phụ âm tắc, vô thanh /-p, - t, -c/

Ta có thể kết luận rằng, tiếng Êđê là một ngôn ngữ chưa có thanh điệu mà chỉ có sự đối lập giữa các phụ âm không tiền thanh hầu hóa với các phụ âm tiền thanh hầu hóa ở phần đầu âm tiết, kèm theo một sự khác biệt nhất định do phụ âm thanh hầu cuối âm tiết [ 25; tr 57, 140]

Tiếng Êđê và tiếng Việt đều thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, trong lời nói các ngôn ngữ bao giờ cũng được ngắt ra thành từng khúc đoạn Tuy nhiên trong cấu trúc loại hình âm tiết tiếng Việt, số lượng các yếu tố thanh điệu khá phong phú, có đến 6 thanh điệu được ghi bằng các dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng, ngang (không dấu) Vì thế âm tiết tiếng Việt thuộc loại hình

âm tiết có thanh điệu Trong khi đó cấu trúc loại hình âm tiết của tiếng Êđê

có số lượng yếu tố thanh điệu rất ít, chỉ có hai thanh điệu là thanh sắc được ghi bằng dấu bán nguyệt đặt lên phía trên nguyên âm chính của âm tiết, dấu này tương đương với dấu sắc của tiếng Việt và thanh ngang như âm tiết tiếng Việt Vì số lượng thanh điệu ít nên các chuyên gia ngôn ngữ học dân tộc xếp âm tiết tiếng Êđê thuộc loại hình âm tiết không có thanh điệu

Điều đó có nghĩa là, khi phát âm tiếng Việt, nếu chúng ta thay đổi cao độ (thay đổi tần số rung của dây thanh) và thay đổi cách tạo thanh (hoạt động các cơ ở thanh hầu) sẽ dẫn đến các từ có ý nghĩa khác nhau

Trang 37

Tóm lại: Những khác biệt của hệ thống ngữ âm tiếng Việt và tiếng Êđê ảnh hưởng đến cách phát âm của học sinh Trong tiếng Êđê có các phụ

âm đơn và các tổ hợp phụ âm mà tiếng Việt không có: a, dj, b, j, w, `, m[,

mb, kmr, kml, êjh, êgh … Tiếng Êđê không có âm cuối ch nhưng có các âm cuối là các phụ âm vô thanh /k, ?, h/; hay các phụ âm hữu thanh, vang /l, r/ Tiếng việt chỉ có một âm đệm /w/ được thể hiện trên chữ viết bằng con chữ o, u thì tiếng Êđê có hai âm đệm là /u/, / i/

Về hệ thống vần: Tiếng Êđê có 162 vần Căn cứ vào đặc điểm kết thúc ta thấy có 12 vần mở; 10 vần nửa mở; 63 vần nửa khép; 77 vần khép

So sánh hệ thống thanh điệu của tiếng Êđê và tiếng Việt ta thấy rằng, tiếng Việt có 6 thanh, mỗi thanh đều tham gia vào cấu tạo từ và tạo nghĩa cho từ, trong khi đó tiếng Êđê không có thanh điệu Đây là nguyên nhân

khiến HS người Êđê phát âm tiếng Việt sai nhiều nhất

1.4 NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC PHÁT ÂM TIẾNG VIỆT CỦA HỌC SINH LỚP 1 NGƯỜI ÊĐÊ

1.4.1 Yếu tố sinh lí

Đối với học sinh lớp 1 người Êđê khả năng nghe để phân biệt về mặt

âm thanh ngôn ngữ còn yếu, đặc biệt là những âm, vần, tiếng, từ đọc giống nhau Khó thực hiện các thao tác phát âm với những khó hoặc những âm khác lạ với TMĐ của các em như điểm đặt lưỡi, cách bật hơi, độ mở của miệng… Bên cạnh đó sự điều khiển luống hơi và các bộ phận của bộ máy phát âm chưa nhịp nhàng, linh hoạt [7; tr 56]

Mỗi ký hiệu ngôn ngữ (từ hoặc hình vị) đều có sự biểu đạt bằng âm thanh của nó Sự biểu đạt này bao giờ cũng mang những đặc trưng ngữ âm khác nhau Chẳng hạn : “ta” khác với “da ” chỉ bằng đặc trưng khi phát âm dây thanh có hoạt động hay không (tức là đặc trưng vô thanh và hữu thanh)

của 2 phụ âm t và d Đặc trưng này phân biệt phụ âm này khác phụ âm kia

Việc phát âm của mỗi người đều chịu sự tham gia của các cơ quan phát âm Cụ thể là:

* Cơ quan hô hấp

Trang 38

Gồm hai lá phổi nằm trong lồng ngực cung cấp lượng không khí cần

thiết trong phát âm Không khí ở phổi đi ra làm giây thanh rung động, tiếp

đó lượng không khí cọ xát vào các bộ phận phát âm ở khoang miệng,

khoang mũi tạo nên âm thanh

* Thanh hầu

Gồm 2 tổ chức cơ nằm song song nhau ở trong thanh hầu Luồng

không khí thoát ra ngoài thành những đợt đều đặn tạo nên sóng âm Dây

thanh dày mỏng khác nhau và tùy theo sự chấn động nhanh hay chậm khác

nhau mà cho ta những âm thanh cao thấp khác nhau Những âm thanh do

dây thanh tạo nên khi đi lên qua những khoang rỗng ở thanh hầu (khoang

yết hầu, khoang mũi) còn bị biến đổi nhờ hiện tượng cộng hưởng Nếu dây

thanh hoạt động đều, ta có những âm có chu kỳ và tần số xác định tạo nên

âm hưởng êm tai, dễ nghe Đó là các tiếng thanh Nếu dây thanh hoạt động

ít hoặc không hoạt động ta có những chu kỳ và tần số không xác định gọi là

tiếng động (phụ âm cấu tạo bằng những tiếng động )

Như vậy, theo đặc điểm sinh học, các âm được phân thành nguyên

âm và phụ âm Giữa nguyên âm và phụ âm có một loại trung gian vừa

mang tính chất nguyên âm vừa mang tính chất của phụ âm Đó là bán

nguyên âm (ví dụ : /i/,/u/ trong từ “đại” và “khâu”)

Đặc điểm cơ bản của cơ chế phát âm phụ âm là tiếng động Song

trong khi phát âm một số phụ âm, dây thanh cũng hoạt động và cung cấp

thêm tiếng thanh Tùy theo tỷ lệ tiếng động và tiếng thanh mà người ta chia

phụ âm thành các loại khác nhau

+ Phụ âm vô thanh chỉ được cấu tạo bằng tiếng động mà thôi (ví dụ :

Trang 39

Khoang miệng và khoang mũi là 2 cộng minh trường tiếp theo của

bộ máy phát âm Khoang miệng và khoang mũi ngăn cách bởi một vách ngăn gọi là ngạc

Các bộ phận của bộ máy phát âm của người chia ra làm hai loại : + Loại hoạt động được : lưỡi con, nắp họng, lưỡi, môi

+ Loại không hoạt động được : răng, lợi, ngạc

Khoang miệng và khoang mũi nhờ sự tham gia của lưỡi và môi có thể thay đổi thể tích bất cứ lúc nào, nhờ đó tạo nên những âm có âm sắc khác nhau

Việc tìm hiểu của bộ máy phát âm giúp cho bạn hiểu được vai trò của từng bộ phận khi tham gia vào việc phát âm Nếu bộ phận nào có khiếm khuyết ví dụ như lưỡi ngắn, lưỡi dài, răng thưa, môi hếch … sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc phát âm đúng của HS

Bộ máy phát âm của con người tham gia vào việc phát âm với những chức năng khác nhau Những khiếm khuyết nào đó trong cấu tạo của bộ máy phát âm sẽ là nguyên nhân trực tiếp gây ra lỗi phát âm

Ví dụ : Người có lưỡi hơi ngắn sẽ khó phát âm chính xác những âm

như n, ch, r … Người có lưỡi dài hơn (còn gọi là đầy lưỡi) thường có phát

âm cho tròn vành rõ tiếng ; người hở hàm ếch, răng thưa, lưỡi gà ngắn thường khó phát âm các âm gió, âm xát, âm họng… Ngoài ra cấu tạo vòm họng, dây thanh cũng ảnh hưởng rất lớn tới việc phát âm [7; tr.57])

1.4.2 Yếu tố tiếng mẹ đẻ

Trước khi học tiếng Việt ở trường, HS người Êđê đã được giao tiếp bằng TMĐ hằng ngày trong cuộc sống với gia đình, cộng đồng buôn làng

Do đó, khó tránh khỏi những sai lệch khi phát âm tiếng Việt

Khi học tiếng Việt, HSDT có xu hướng chuyển những chuẩn mực và thói quen phát âm TMĐ tới quá trình phát âm tiếng Việt Cơ quan phát âm của các em đã quen với những thao tác khi phát âm TDT

Cách phát âm TMD đã trở thành thói quen với HSDT Khi học một ngôn ngữ mới, các em rất khó làm quen với các thao tác phát âm, nhất là

Trang 40

với những âm khó, những âm không có trong TMĐ của mình Bởi vậy nhiều người DTTS đã được học tiếng Việt lâu năm nhưng khi nói tiếng Việt vẫn còn mang dấu ấn của TMĐ ở đâu đó trong âm sắc, ngữ điệu …

Người DTTS tự học tiếng Việt chỉ giao tiếp ngoài xã hội, không qua nhà trường thì sau nhiều năm nói tiếng Việt vẫn mang theo lỗi phát âm bị ảnh hưởng từ TMĐ Người Êđê nói không rõ thanh điệu [7; tr.64])

1.4.3 Yếu tố xã hội

HS lớp 1 người Êđê có rất ít môi trường để thực hành giao tiếp bằng tiếng Việt Việc luyện phát âm cho HS đứng trước một thách thức lớn, giữa một bên chủ yếu trông vào người thầy ở trên lớp với một lượng thời gian ít

ỏi và một bên là sự chi phối của cả môi trường sống đang bao quanh HS,

đó là gia đình và cả cộng đồng xã hội đều giao tiếp với nhau bằng TDT Những nơi có thể giao tiếp bằng tiếng Việt như họp chợ, hội họp… thì tuổi các em lại chưa có thể thường xuyên tham gia

Bên cạnh đó việc học tiếng Việt của các em còn chịu ảnh hưởng của phương ngữ tiếng Việt GV cần phải nắm được đặc điểm ngữ âm nơi mình công tác để hướng dẫn HS phát âm đúng [7; tr.58])

1.4.4 Cách phát âm của giáo viên

Trong việc xét lỗi phát âm của HS người Êđê, dường như chúng ta hay bỏ qua hoặc cố né tránh một nguyên nhân không kém phần quan trọng,

đó là lỗi chính từ phía GV đứng lớp

Trong thực tế, vẫn còn rất nhiều GV tiểu học phát âm chưa chuẩn, vẫn còn mang âm sắc của địa phương, còn nói ngọng hoặc phát âm còn lẫn

ở một số cặp phụ âm như /n/–/l/ ,/ ch/ –/ tr/ , / x/ -/ s/… Nhiều GV chưa có

phương pháp dạy phát âm tốt, khi sửa lỗi cho HS không “bắt đúng bệnh ”, không phân tích chỉ ra đúng lỗi sai

GV chưa nhận thức hết vai trò của việc dạy phát âm trọng dạy học

TV nên chưa chú ý đúng mức tới việc rèn và sửa lỗi cho các em Trong khi

đó, HS chỉ có cơ hội ít ỏi trên lớp để được luyện tập thực hành và giao tiếp

với thầy, cô, với bạn [; tr.64])

Ngày đăng: 09/09/2021, 20:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chu Thị Thủy An (2005), Tiếng Việt (HP1), Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt
Tác giả: Chu Thị Thủy An
Năm: 2005
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2003), Hướng dẫn dạy tập nói tiếng Việt cho học sinh dân tộc, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn dạy tập nói tiếng Việt cho học sinh dân tộc
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở tiểu học – lớp 1, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở tiểu học – lớp 1
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Hoạt độngtrò chơi học tập tiếng Việt lớp 1, Dự án Giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt độngtrò chơi học tập tiếng Việt lớp 1
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2007
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Một số biện pháp hỗ trợ học sinh dân tộc thiểu số học môn tiếng Việt lớp 1, 2, 3, Dự án Giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp hỗ trợ học sinh dân tộc thiểu số học môn tiếng Việt lớp 1, 2, 3
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2009
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Phương pháp dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc cấp tiểu học, Tài liệu bồi dƣỡng giáo viên Tiểu học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc cấp tiểu học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Tiếng Việt và phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học, Dự án phát triển giáo viên tiểu học, Nhà xuất bản Giáo dục. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt và phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục. Nxb Giáo dục
Năm: 2006
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Trò chơi học tập cấp tiểu học, Dự án Giáo dục Tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, Nxb Đại học sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi học tập cấp tiểu học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Đại học sƣ phạm
Năm: 2009
9. Hoàng Thị Châu (2004), Phương ngữ học tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương ngữ học tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Thị Châu
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
10. Trương Chính (2005), Giải thích các từ gần âm, gần nghĩa dễ nhằm lẫn, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải thích các từ gần âm, gần nghĩa dễ nhằm lẫn
Tác giả: Trương Chính
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
11. Hoàng Dân (2008), Tiếng Việt cho mọi nhà, Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt cho mọi nhà
Tác giả: Hoàng Dân
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2008
12. Trần Trí Dõi (2011), Những vấn đề chính sách ngôn ngữ và giáo dục ngôn ngữ vùng dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề chính sách ngôn ngữ và giáo dục ngôn ngữ vùng dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Trần Trí Dõi
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 2011
14. Vũ Cao Đàm (1999), Nghiên cứu khoa học - phương pháp luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khoa học - phương pháp luận và thực tiễn
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
15. Phạm Thị Đào (2009), Thực trạng và biện pháp khắc phục lỗi chính tả tiếng Việt cho học sinh lớp 2 -3 dân tộc H’mông ở Kỳ Sơn – Nghệ An, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và biện pháp khắc phục lỗi chính tả tiếng Việt cho học sinh lớp 2 -3 dân tộc H’mông ở Kỳ Sơn –
Tác giả: Phạm Thị Đào
Năm: 2009
16. Hồ Ngọc Đại (2013), Tiếng Việt 1 – Công nghệ Giáo dục, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt 1 – Công nghệ Giáo dục
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2013
17. Đặng Thị Mỹ Đô (2013), Thực trạng và biện pháp khắc phục lỗi chính tả cho học sinh lớp 5 dân tộc Khơ Me ở huyện Châu Thành tỉnh Trà Vinh, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và biện pháp khắc phục lỗi chính tả cho học sinh lớp 5 dân tộc Khơ Me ở huyện Châu Thành tỉnh Trà Vinh
Tác giả: Đặng Thị Mỹ Đô
Năm: 2013
18. Phan Hồng (Chủ biên), Giáo trình bồi dưỡng giáo viên dạy tiếng Êđê, Đắk Lắk, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bồi dưỡng giáo viên dạy tiếng Êđê
19. Lê Thị Lan Hương (2010), Thực trạng và biện pháp khắc phục lỗi sử dụng từ tiếng Việt cho học sinh lớp 2 -3 dân tộc H’mông ở Kỳ Sơn – Nghệ An, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và biện pháp khắc phục lỗi sử dụng từ tiếng Việt cho học sinh lớp 2 -3 dân tộc H’mông ở Kỳ Sơn
Tác giả: Lê Thị Lan Hương
Năm: 2010
20. Trần Mạnh Hưởng (2004), Vui học tiếng Việt, tập I, II, Nxb Giáo dục. Nxb Đại học sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vui học tiếng Việt, tập I, II
Tác giả: Trần Mạnh Hưởng
Nhà XB: Nxb Giáo dục. Nxb Đại học sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2004
21. Hoàng Ngọc Hiến, Nghiên cứu thực trạng dạy học và những khó khăn cơ bản trong quá trình học tiếng Việt của học sinh H’mông, tỉnh Thanh Hóa, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng dạy học và những khó khăn cơ bản trong quá trình học tiếng Việt của học sinh H’mông, tỉnh Thanh Hóa

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT - Một số biện pháp sửa lỗi phát âm tiếng việt cho học sinh lớp 1 người ê đê
BẢNG KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT (Trang 9)
Bảng 1.1. Các phụ âm đầu tiếng Êđê - Một số biện pháp sửa lỗi phát âm tiếng việt cho học sinh lớp 1 người ê đê
Bảng 1.1. Các phụ âm đầu tiếng Êđê (Trang 29)
Bảng 1.2: Tổ hợp hai phụ âm tiếng Êđê - Một số biện pháp sửa lỗi phát âm tiếng việt cho học sinh lớp 1 người ê đê
Bảng 1.2 Tổ hợp hai phụ âm tiếng Êđê (Trang 31)
Cácâm cuối tiếng Êđê đƣợc mô tả trong bảng sau. - Một số biện pháp sửa lỗi phát âm tiếng việt cho học sinh lớp 1 người ê đê
c âm cuối tiếng Êđê đƣợc mô tả trong bảng sau (Trang 35)
Bảng 2.2: Bảng tổng hợp kết quả học tập môn Tiếng Việt HSDTTS huyện Krông Năng năm học 2012-2013 (So sánh với năm học trước)  - Một số biện pháp sửa lỗi phát âm tiếng việt cho học sinh lớp 1 người ê đê
Bảng 2.2 Bảng tổng hợp kết quả học tập môn Tiếng Việt HSDTTS huyện Krông Năng năm học 2012-2013 (So sánh với năm học trước) (Trang 45)
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp kết quả xếp loại giáo dục HSDTTS huyện Krông Năng năm học 2012-2013 (So sánh với các năm học trước)  - Một số biện pháp sửa lỗi phát âm tiếng việt cho học sinh lớp 1 người ê đê
Bảng 2.1 Bảng tổng hợp kết quả xếp loại giáo dục HSDTTS huyện Krông Năng năm học 2012-2013 (So sánh với các năm học trước) (Trang 45)
Kết quả điều tra lỗi âm đầu thể hiện trong bảng sau: - Một số biện pháp sửa lỗi phát âm tiếng việt cho học sinh lớp 1 người ê đê
t quả điều tra lỗi âm đầu thể hiện trong bảng sau: (Trang 48)
7 /uych/ /ich/ 68 60,71 33 29,46 11 9,82 chạy hình hịch - Một số biện pháp sửa lỗi phát âm tiếng việt cho học sinh lớp 1 người ê đê
7 uych/ /ich/ 68 60,71 33 29,46 11 9,82 chạy hình hịch (Trang 49)
Bảng 2.5: Lỗi ở âm chính của học sinh lớp 1 người Êđê ở huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk  - Một số biện pháp sửa lỗi phát âm tiếng việt cho học sinh lớp 1 người ê đê
Bảng 2.5 Lỗi ở âm chính của học sinh lớp 1 người Êđê ở huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk (Trang 51)
hình 5  /êch/  /êt/  53  47,3  32  28,6  27  24,1  con  ết - Một số biện pháp sửa lỗi phát âm tiếng việt cho học sinh lớp 1 người ê đê
hình 5 /êch/  /êt/ 53 47,3 32 28,6 27 24,1 con ết (Trang 52)
Bảng 2.6: Lỗi ở âm cuối của học sinh lớp 1 người Êđê ở huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk  - Một số biện pháp sửa lỗi phát âm tiếng việt cho học sinh lớp 1 người ê đê
Bảng 2.6 Lỗi ở âm cuối của học sinh lớp 1 người Êđê ở huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk (Trang 52)
Bảng 2.8 : Những khó khăn trong việc rèn phát âm tiếng Việt cho HS người Êđê  - Một số biện pháp sửa lỗi phát âm tiếng việt cho học sinh lớp 1 người ê đê
Bảng 2.8 Những khó khăn trong việc rèn phát âm tiếng Việt cho HS người Êđê (Trang 54)
- 5 ,6 tờ giấy vẽ hình 3 ngôi sao có chiều mũi tên nhƣ hình vẽ (số tờ giấy phù hợp với số nhóm)  - Một số biện pháp sửa lỗi phát âm tiếng việt cho học sinh lớp 1 người ê đê
5 6 tờ giấy vẽ hình 3 ngôi sao có chiều mũi tên nhƣ hình vẽ (số tờ giấy phù hợp với số nhóm) (Trang 81)
b. Hình thức 2: Nghe và đọc vần, tiếng, từ theo giai điệu: nhanh, chậm...  - Một số biện pháp sửa lỗi phát âm tiếng việt cho học sinh lớp 1 người ê đê
b. Hình thức 2: Nghe và đọc vần, tiếng, từ theo giai điệu: nhanh, chậm... (Trang 82)
d. Hình thức 4: Ghép đúng vần, tiếng, từ hoặc câu khi bánh xe dùng lại.  - Một số biện pháp sửa lỗi phát âm tiếng việt cho học sinh lớp 1 người ê đê
d. Hình thức 4: Ghép đúng vần, tiếng, từ hoặc câu khi bánh xe dùng lại. (Trang 84)
e. Hình thức 5: Nghe và ghép đúng các mảnh thẻ từ đƣợc cắt rời từng tiếng, từ ngữ ghép thành câu và đọc lại - Một số biện pháp sửa lỗi phát âm tiếng việt cho học sinh lớp 1 người ê đê
e. Hình thức 5: Nghe và ghép đúng các mảnh thẻ từ đƣợc cắt rời từng tiếng, từ ngữ ghép thành câu và đọc lại (Trang 86)
g. Hình thức 6: Đánh vần và phát âm đúng từ ngữ Trò chơi: Gọi thuyền  - Một số biện pháp sửa lỗi phát âm tiếng việt cho học sinh lớp 1 người ê đê
g. Hình thức 6: Đánh vần và phát âm đúng từ ngữ Trò chơi: Gọi thuyền (Trang 87)
h. Hình thức 7: Trò chơi dành cho bài ôn tập Trò chơi: Tiếng nào?  - Một số biện pháp sửa lỗi phát âm tiếng việt cho học sinh lớp 1 người ê đê
h. Hình thức 7: Trò chơi dành cho bài ôn tập Trò chơi: Tiếng nào? (Trang 87)
Hình thức 1: Luyện phát âm cácâm, vần, tiếng đã học - Một số biện pháp sửa lỗi phát âm tiếng việt cho học sinh lớp 1 người ê đê
Hình th ức 1: Luyện phát âm cácâm, vần, tiếng đã học (Trang 89)
- Đây là cái bảng.      - Một số biện pháp sửa lỗi phát âm tiếng việt cho học sinh lớp 1 người ê đê
y là cái bảng. (Trang 90)
- học sinh, tấm hình (tấm ảnh), lỉnh kỉnh, xinh đẹp… - Một số biện pháp sửa lỗi phát âm tiếng việt cho học sinh lớp 1 người ê đê
h ọc sinh, tấm hình (tấm ảnh), lỉnh kỉnh, xinh đẹp… (Trang 92)
e. Hình thức 5: Phân biệt vần iêu/iu, ui/uy, au/âu - Một số biện pháp sửa lỗi phát âm tiếng việt cho học sinh lớp 1 người ê đê
e. Hình thức 5: Phân biệt vần iêu/iu, ui/uy, au/âu (Trang 97)
g. Hình thức 5: Tìm tiếng trong bài chứa vần ong/oong - Một số biện pháp sửa lỗi phát âm tiếng việt cho học sinh lớp 1 người ê đê
g. Hình thức 5: Tìm tiếng trong bài chứa vần ong/oong (Trang 98)
Bảng 3.1. Bảng số lượng các lớp thử nghiệm và lớp đối chứng - Một số biện pháp sửa lỗi phát âm tiếng việt cho học sinh lớp 1 người ê đê
Bảng 3.1. Bảng số lượng các lớp thử nghiệm và lớp đối chứng (Trang 105)
3.3.3. Đối tƣợng và địa bàn thử nghiệm - Một số biện pháp sửa lỗi phát âm tiếng việt cho học sinh lớp 1 người ê đê
3.3.3. Đối tƣợng và địa bàn thử nghiệm (Trang 105)
Bảng 3.3: Kết quả thực nghiệm - Một số biện pháp sửa lỗi phát âm tiếng việt cho học sinh lớp 1 người ê đê
Bảng 3.3 Kết quả thực nghiệm (Trang 109)
Bảng 3.4: Đa giác đồ - Một số biện pháp sửa lỗi phát âm tiếng việt cho học sinh lớp 1 người ê đê
Bảng 3.4 Đa giác đồ (Trang 109)
7 /uych/ chạy hình huỵch 8  /uyên/  chim chuyền cành  9  /uyêt/ hoa nguyệt quế   10  /uynh/ luýnh quýnh  - Một số biện pháp sửa lỗi phát âm tiếng việt cho học sinh lớp 1 người ê đê
7 uych/ chạy hình huỵch 8 /uyên/  chim chuyền cành 9 /uyêt/ hoa nguyệt quế 10 /uynh/ luýnh quýnh (Trang 122)
52 /oat/ phim hoạt hình - Một số biện pháp sửa lỗi phát âm tiếng việt cho học sinh lớp 1 người ê đê
52 oat/ phim hoạt hình (Trang 124)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w