Trách nhiệm hình sự của người phạm tội mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong luật hình sự Việt Nam .... Từ những năm cuối thế kỷ XX đến nay, cộng đồng quốc tế đang phải
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC VINH KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THANH LIỄU
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI MUA BÁN VÀ TỔ CHỨC
SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM THỰC TIỄN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH LUẬT TƢ PHÁP
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC VINH
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THANH LIỄU
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI MUA BÁN VÀ TỔ CHỨC
SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM THỰC TIỄN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH LUẬT TƯ PHÁP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN:
ĐẶNG THỊ PHƯƠNG LINH
Nghệ An, tháng 5 – năm 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của em, có sự hỗ trợ từ Giáo viên hướng dẫn là cô Đặng Thị Phương Linh Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong khóa luận này là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính em thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi trong phần tài liệu tham khảo
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả khóa luận của mình
Nghệ An, tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Thanh Liễu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này bên cạnh sự cố gắng, nỗ lực của bản thân,
em còn nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo của cô giáo Đặng Thị Phương Linh Em xin được bày tỏ lòng biết ơn đối với sự quan tâm của cô đã
dành cho em
Em cũng xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa, các thầy cô trong khoa Luật trường Đại học Vinh đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt bốn năm học vừa qua Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quý báu để em bước vào đời một cách vững chắc và
tự tin
Em xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, Công an tỉnh Thái Bình đã tạo điều kiện cho em xin số liệu hoàn thành tốt khóa luận này Cảm ơn người thân, bạn bè đã nhiệt tình động viên, giúp đỡ
và tạo điều kiện để em hoàn thành tốt khóa luận này!
Trong quá trình làm khóa luận chắc hẳn vẫn còn nhiều thiếu sót Em rất mong nhận được nhiều những ý kiến đánh giá, góp ý của quý thầy cô, của anh chị và các bạn
Em xin chân thành cảm ơn!
Nghệ An, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Thanh Liễu
Trang 5MỤC LỤC
Trang LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 3
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 4
6 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài 4
7 Bố cục của đề tài 4
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI MUA BÁN VÀ TỔ CHỨC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 5
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Luật hình sự Việt Nam về tội mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy 5
1.1.1 Giai đoạn trước năm 1858 5
1.1.2 Giai đoạn từ năm 1858 đến khi có Bộ luật hình sự năm 1985 6
1.1.3 Giai đoạn từ sau năm 1985 đến nay 7
1.2 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy 7
1.2.1 Khái niệm về ma túy 7
1.2.2 Dấu hiệu pháp lý về tội mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy 8
1.2.2.1 Khách thể của tội phạm 8
1.2.2.2 Mặt khách quan của tội phạm 11
Trang 61.2.2.4 Chủ thể của tội phạm 18 1.3 Trách nhiệm hình sự của người phạm tội mua bán và tổ chức sử dụng
trái phép chất ma túy trong luật hình sự Việt Nam 19 1.3.1 Đối với tội mua bán trái phép chất ma túy 19 1.3.1.1 Khung cơ bản đối với trường hợp phạm tội không có các tình tiết là yếu tố định khung 20 1.3.1.2 Phạm tội trong trường hợp có các tình tiết định khung tăng nặng 20 1.3.2 Đối với tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy 28 1.3.2.1 Khung cơ bản đối với trường hợp phạm tội không có các tình tiết là yếu tố định khung 28 1.3.2.2 Phạm tội trong trường hợp có các tình tiết định khung tăng nặng 29 Kết luận chương 1 33
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN VỀ TỘI MUA BÁN VÀ TỔ CHỨC SỬ
DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI
BÌNH 34
2.1 Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Thái Bình 34 2.1.1 Tội mua bán trái phép chất ma túy 34 2.1.2 Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy 42 2.2 Thực tiễn xét xử về tội mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma
túy từ năm 2008 – 2013 47 Kết luận chương 2 58
CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VÀ XÉT XỬ TỘI MUA BÁN VÀ
TỔ CHỨC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH THÁI BÌNH 59
3.1 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự về tội mua bán
và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy 59 3.1.1 Đối với tội mua bán trái phép chất ma túy 59
Trang 73.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả xét xử tội mua bán và tổ chức sử dụng trái
phép chất ma túy 61
3.2.1 Các giải pháp mang tính chuyên môn nghiệp vụ 61
3.2.2 Các giải pháp mang tính xã hội 63
Kết luận chương 3 66
KẾT LUẬN 67
PHỤ LỤC 69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 8CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
CTTP: Cấu thành tội phạm BLHS: Bộ luật Hình sự HSST: Hình sự sơ thẩm TAND: Tòa án nhân dân THTP: Tình hình tội phạm TNHS: Trách nhiệm hình sự
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm ma tuý trên thế giới và khu vực Đông Nam Á, trong đó ở nước ta diễn biến rất phức tạp Tại Việt Nam trước đây ma tuý chủ yếu là thuốc phiện từ các nguồn trong nước nhưng những năm gần đây ma tuý từ nước ngoài lậu vào Việt Nam thông qua các đường dây vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý xuyên quốc gia Mặt khác, do những biến động trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt từ khi đất nước ta chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường, những vấn
đề mới nảy sinh trong công tác quản lý xã hội và tuyên truyền giáo dục trong nội dung về nguy cơ tác hại của ma tuý chưa được đầu tư đúng mức nên số tội phạm về ma tuý có chiều hướng tăng lên
Từ những năm cuối thế kỷ XX đến nay, cộng đồng quốc tế đang phải đối phó với những vấn đề nhức nhối mang tính toàn cầu, một trong những vấn
đề đó là tệ nạn nghiện hút, tiêm chích, tổ chức sử dụng trái phép các chất ma tuý và các tội phạm khác về ma tuý đe doạ đến sự phát triển chung của loài người Căn cứ vào thực tiễn thấy: Ma tuý đã trở thành hiểm hoạ đối với toàn nhân loại, là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm nguy hiểm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến ổn định trật tự, an toàn xã hội, là nguyên nhân chính lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS Ma tuý đã gây bao nỗi bất hạnh cho nhiều gia đình và xã hội
Cũng như các tỉnh, thành phố trong cả nước, những năm qua tình hình tội phạm và tệ nạn ma tuý ở Thái Bình có nhiều diễn biến phức tạp Do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, những tiêu cực du nhập vào Việt Nam nói chung và Thái Bình nói riêng, làm cho tình hình trật tự an toàn xã hội phức tạp thêm nhiều loại tội phạm có chiều hướng gia tăng cả về số vụ án lẫn đối tượng, đặc biệt là các tội phạm về ma tuý Tình hình nghiện ma tuý và các tội phạm khác liên quan đến ma tuý có nhiều diễn biến phức tạp với tính chất mức độ tội phạm ngày càng tinh vi và nghiêm trọng
Trang 10Mặc dù đã có nhiều cố gắng ngăn chặn, song tệ nạn ma tuý vẫn đang diễn ra hết sức đa dạng, phức tạp và có chiều hướng gia tăng, trở thành hiểm hoạ lớn đối với sự phát triển lành mạnh của dân tộc Đi liền với tệ nạn ma tuý
là sự phát sinh của tội phạm giết người, cướp của, trộm cắp, cưỡng đoạt, lừa đảo tham ô chiếm đoạt tài sản của nhà nước và công dân Do đó phòng chống tội phạm mua bán và tổ chức sử dụng trái phép các chất ma tuý trên địa bàn
cả nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Thái Bình nói riêng trở thành một vấn
đề hết sức cấp thiết Chính vì vậy, em chọn đề tài “Một số vấn đề lý luận về tội mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong luật hình sự Việt Nam Thực tiễn trên địa bàn tỉnh Thái Bình” làm đề tài khóa luận tốt
nghiệp
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong những năm gần đây việc nghiên cứu các tội phạm về ma túy đã
và đang được nhiều cơ quan, ban ngành, các tổ chức đoàn thể và các cá nhân quan tâm Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu vấn đề lý luận cũng như thực tiễn về tội mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Về công trình nghiên cứu khoa học, có các công trình sau:
- “Hiểm họa ma túy và cuộc chiến mới” của GS.TS Nguyễn Xuân
Yêm, TS Trần Văn Luyện (2001)
- “Bình luận khoa học luật hình sự phần các tội phạm tập IV (bình luận chuyên sâu về tội phạm ma túy)” của ThS Đinh Văn Quế (2002)
- “Công tác kiểm sát điều tra án ma túy” của ThS Đinh Văn Quế
(2002)
- “Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999”, Trần Văn Luyện
(2001), (Phần các tội phạm, Chương XVIII), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội
- “Hoàn thiện một số quy định trong quản lý tiền chất”, Bùi Phương
Lân (2009), phục vụ cho công tác đấu tranh phòng chống ma túy trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Phòng chống ma túy - Uỷ ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm
Trang 11Những công trình nghiên cứu trên đã đóng góp đáng kể cả về mặt lý luận và thực tiễn trong công tác xét xử và phòng chống các tội phạm về ma túy Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn
diện vấn đề lý luận về tội mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
trong luật hình sự Việt Nam, đặc biệt là thực tiễn trên địa bàn tỉnh Thái Bình
Do vậy, việc nghiên cứu đề tài “Một số vấn đề lý luận về tội mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong luật hình sự Việt Nam Thực tiễn trên địa bàn tỉnh Thái Bình” là việc làm thiết thực góp phần làm rõ các quy
định của pháp luật hình sự đối với tội mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thực tiễn trên địa bàn tỉnh Thái Bình qua đó nâng cao hiệu quả xét xử và các giải pháp phòng chống tội phạm
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: là những vấn đề lý luận, thực tiễn áp dụng pháp luật và xét xử về tội phạm mua bán và tổ chức sử dụng trái phép các chất ma tuý trên địa bàn tỉnh Thái Bình
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Đề tài nghiên cứu dưới góc độ Luật hình sự về tội mua bán và tổ chức sử dựng trái phép chất ma túy trong Bộ luật hình sự năm 1999 và thực tiễn áp dụng pháp luật, xét xử về tội phạm từ năm
2008 - 2013
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
- Mục đích của khóa luận là nghiên cứu tội mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Thái Bình về mặt lý luận và thực tiễn Qua việc phân tích các dấu hiệu pháp lý và đưa ra các số liệu cụ thể về mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh, khóa luận cũng đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả công tác phòng chống tội phạm này ở giai đoạn hiện nay
- Nhiệm vụ:
+ Về mặt lý luận: Phân tích các khía cạnh pháp lý của tội mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong Bộ luật hình sự Việt Nam, có sự đối
Trang 12+ Về mặt thực tiễn: Phân tích tình hình tội phạm, thực tiễn xét xử tội mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Thái Bình
Từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tội phạm
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
- Đề tài được thực hiện trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác LêNin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các chủ trương chính sách của Đảng, các văn bản pháp quy của Nhà nước trong việc phòng chống tội phạm về ma tuý bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội
- Quá trình nghiên cứu đề tài đã sử dụng các phương pháp cụ thể sau: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, xã hội học trong đó phương pháp phân tích là chủ đạo nhằm đi sâu hơn vào vấn đề cần nghiên cứu
6 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
Về mặt lý luận: Đề tài được hoàn thành sẽ góp phần bổ sung nhận thức
lý luận về tội phạm ma tuý nói chung và tội mua bán, tổ chức sử dụng trái
phép chất ma túy nói riêng
Về mặt thực tiễn: Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan nhà nước trong công tác phòng chống tội phạm mua bán và tổ chức sử dụng trái phép các chất ma túy, cho các bạn sinh viên muốn làm bài tập lớn, yêu thích nghiên cứu khoa học
7 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, khoá luận gồm 3 chương, 7 tiết
Trang 13CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI MUA BÁN VÀ TỔ CHỨC SỬ
DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ TRONG
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Luật hình sự Việt Nam về tội mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
1.1.1 Giai đoạn trước năm 1858
Vào khoảng cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, cây thuốc phiện là cây
có chứa chất ma túy đã xuất hiện lần đầu tiên ở Việt Nam Khi đó, thuốc
phiện được coi là loại “hỏa dược” có thể chữa được nhiều bệnh như bệnh
phong thấp, bệnh về đường tiêu hóa và là dược liệu giảm đau Tuy nhiên sau
đó người ta đã phát hiện ra rằng thuốc phiện có khả năng gây nghiện và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của con người Mọi người bắt đầu lên án việc sử dụng thuốc phiện nhưng tình trạng trồng cây thuốc phiện và nghiện hút thuốc phiện vẫn lan tràn rất nhanh Do đó, vào năm 1665, vua Lê Hiển Tông đã ban
hành đạo luật đầu tiên về cấm trồng cây thuốc phiện Đạo luật quy định: “Từ nay về sau quan lại và dân chúng không được trồng và mua bán thuốc phiện
Ai đã trồng thì phải phá đi, người nào chứa giữ thì phải hủy đi”
Sau cây thuốc phiện là sự du nhập của cây cô ca và cây cần sa vào Việt Nam Trước tình hình đó, nhà Nguyễn đã ban hành luật và các chính sách chống thuốc phiện, cần sa…
Năm Minh Mạng thứ nhất (1820) có lệnh: “Kẻ nào mua bán thuốc phiện thì bị xử phạt 60 trượng, xử tù một năm, tịch thu toàn bộ tang vật dùng trong buôn bán Chủ hàng, chủ chứa bàn đèn thuốc phiện bị xử phạt 100 trượng và tù ba năm Người hút thuốc phiện bị phạt 100 trượng và tù ba năm Cha anh không ngăn giữ con em bị phạt 100 trượng Quan lại hút thuốc phiện
bị đánh 100 trượng và bị cách chức”
Năm Tự Đức thứ ba (1840) quy định: “Thuyền buôn nào chứa, giấu
Trang 14tử hình Nếu khám xét thấy có chứa giấu thuốc phiện dưới 1kg thì phải xử giảo giam hậu, trên 1kg thì xử giảo Thuyền bè hoặc chủ hàng trong nước nhận vận chuyển hoặc tàng trữ thuốc phiện cho người nước ngoài cùng chịu tội như thế Thuyền của Nhà nước cử đi nước ngoài, lợi dụng mua trộm thuốc phiện đem về nếu dưới 1kg thì xử giảo, giam hậu, trên 1kg thì phải chém lập tức”
1.1.2 Giai đoạn từ năm 1858 đến khi có Bộ luật hình sự năm 1985
Ngày 31/8/1858 tàu chiến Pháp nổ súng đánh chiếm Đà Nẵng mở đầu thời kỳ gần một thế kỷ cai trị nước ta Pháp sử dụng rượu cồn và thuốc phiện
là một trong những vũ khí để thực hiện chính sách ngu dân và vơ vét của cải
Vì vậy, việc trồng, buôn bán và sử dụng thuốc phiện phát triển rất nhanh và rộng
Ngày 02/09/1945 Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời Từ những ngày đầu thành lập, Chính phủ Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu
đã ngay lập tức quan tâm đến việc ngăn chặn thuốc phiện
Ngày 15/09/1955, Chính Phủ ban hành Nghị định 580/TTg quy định các trường hợp có thể đưa ra toà án đề xét xử với mức phạt tù từ ba tháng đến năm năm, bị tịch thu tang vật, bị phạt tiền từ một đến năm lần giá trị thuốc phiện lậu
Năm 1975, miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất Ngày 25/03/1977 Chính Phủ đã ban hành Nghị Định 76/CP về chống buôn lậu thuốc phiện
Ngày 27/06/1985, Quốc hội thông qua BLHS 1985 Trong BLHS 1985
có ba điều luật quy định tội phạm liên quan đến ma túy:
Điều 97: Tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới
Điều 166: Tội buôn bán hàng cấm
Điều 203: Tội tổ chức dùng chất ma túy
Trang 151.1.3 Giai đoạn từ sau năm 1985 đến nay
BLHS 1985 ra đời đã góp phần rất lớn vào cuộc đấu tranh chống tội phạm về ma túy Tuy nhiên, số điều luật quy định về ma túy còn ít, lại chỉ xử
lý người mua bán chất ma túy mà chưa có điều luật nào quy định việc áp dụng hình phạt đối với người sản xuất, vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy
Để khắc phục tình trạng này, ngày 28/12/1989, Quốc Hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS 1985, trong đó bổ sung thêm điều 96a: Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép các chất ma túy
Ngày 10/05/1997, “Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS” đã
được Quốc Hội khóa IX thông qua Tại Điều 2 đã quy định chương VIIa:
“Các tội về ma túy” Các tội phạm về ma túy được tách ra thành 13 Điều
Qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình, ngày 21/12/1999, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 8 đã chính thức thông qua Bộ luật Hình sự với một chương dành riêng
để quy định về các tội về ma túy - Chương XVIII Tội mua bán trái phép chất
ma túy được quy định tại Điều 194 và tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 197, Bộ luật Hình sự
1.2 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
1.2.1 Khái niệm về ma túy
Ma túy là một trong những tệ nạn nguy hiểm và tác động lên hầu hết các quốc gia và khu vực trên thế giới, gây những thiệt hại lớn cả về kinh tế chính trị và xã hội
Có rất nhiều ý kiến, quan điểm đưa ra về khái niệm ma túy, song có thể khái quát ma túy là một chất có trong tự nhiên hoặc nhân tạo, có khả năng gây nghiện khi con người sử dụng không đúng, không hợp lý Nó có tác động rất lớn đến sự ổn định và phát triển của toàn xã hội
Trang 16Theo định nghĩa của tổ chức Y tế Thế giới đã được Tổ chức Văn hoá
giáo dục của liên hiệp quốc công nhận thì “Ma tuý là chất khi đưa vào cơ thể
sẽ làm thay đổi chức năng của cơ thể”
Tổ chức Y tế Thế giới (1982) đã phát triển định nghĩa sau: “Ma tuý theo nghĩa rộng nhất là mọi thực thể hoá học hoặc là những thực thể hỗn hợp, khác với tất cả những cái được đòi hỏi để duy trì một sức khoẻ bình thường, việc sử dụng những cái đó sẽ làm biến đổi chức năng sinh học và có thể cả cấu trúc của vật”
Theo từ điển Hán Việt thì ma túy với nghĩa: “ma” là tê mê, “túy” là
say sưa Như vậy, ma túy là chất đưa đến sự say sưa, mê mẩn Đây cũng là từ tiếng Việt dùng để dịch chữ nước ngoài dùng để chỉ các chất gây nghiện thuộc loại nguy hiểm nhất: thuốc phiện, morphine, hêrôin, cocain, cần sa và một số thuốc tổng hợp có tác dụng tương tự morphine được sử dụng trong điều trị y tế Như vậy, có thể gọi nôm na: ma túy là chất đưa đến sự say sưa và
mê mẩn, hay nói cách khác: ma túy là chất gây nghiện
Trong Bộ luật hình sự nước ta, lần đầu tiên thuật ngữ “ma túy” được quy định tại Điều 203 của Bộ luật hình sự 1985 tại mục: “Tội tổ chức dùng các chất ma túy” Ngày 21/12/1999, Bộ luật Hình sự mới được thông qua thì
“ma túy là các chất đã được xác định và có tên gọi riêng trong khoa học” Danh
mục các chất ma túy (bao gồm danh mục quy định tại Công ước Quốc tế 1971-1981) gồm 225 chất ma túy và 22 tiền chất để sản xuất ra ma túy
1961-Như vậy, trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu, em xin mạnh dạn đưa
ra quan điểm của cá nhân về khái niệm ma túy như sau: Ma túy là chất có trong tự nhiên hoặc nhân tạo được xác định và có tên gọi riêng trong khoa học, làm thay đổi chức năng của cơ thể khi con người sử dụng
1.2.2 Dấu hiệu pháp lý về tội mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất
ma túy
1.2.2.1 Khách thể của tội phạm
“Khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo
Trang 17có giai cấp nào, Nhà nước cũng đều xác lập, bảo vệ, củng cố và thúc đẩy sự phát triển của những quan hệ xã hội phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị
Ở các chế độ xã hội khác nhau thì các quan hệ xã hội được bảo vệ cũng khác nhau Hệ thống quy phạm pháp luật hình sự luôn là công cụ hữu hiệu để Nhà nước bảo vệ các quan hệ xã hội phù hợp với lợi ích của giai cấp mình
Ma túy là loại độc dược gây nghiện nguy hiểm Theo quy định của Nhà nước, chỉ một số cơ quan nhà nước mới được phép sản xuất ma túy nhằm mục đích phục vụ cho y học và cho nghiên cứu khoa học Sự thống nhất quản lý của Nhà nước về chất ma túy nhằm ngăn chặn tình trạng lạm dụng ma túy, bảo vệ sức khỏe người dân và ngăn ngừa các tội phạm về ma túy Việc sản xuất ma túy được quy định chặt chẽ từ khâu quản lý, sản xuất đến mua bán,
Ở nước ta, việc xác định các chất ma túy, các chất hướng thần và các tiền chất ma túy và hướng thần được dựa trên cơ sở tham khảo các quy định
về các chất ma túy và các chất hướng thần của 3 công ước của Liên hợp quốc năm 1961 – 1971 – 1988 về kiểm sát ma túy Các chất ma túy và hướng thần thường gặp và là đối tượng phổ biến của tội mua bán trái phép chất ma túy bao gồm:
Trang 18+ Thuốc phiện (nhựa thuốc phiện hay còn gọi là nhựa đặc của cây anh túc) có mùi đặc trưng hơi hăng hắc, màu nâu đen hoặc cánh gián, dẻo hoặc nhão Thuốc phiện đã nấu chính có màu đen, rắn chắc hơn (3kg thuốc phiện sống sẽ cho khoảng 1kg thuốc phiện chín) Trong thành phần thuốc phiện có khoảng 40 ancaloit và 5 chất cơ bản là morphine, codeine, thebaine, papaverine và natotin Thuốc phiện gây nghiện nhanh và mạnh
+ Cần sa (phần ngọn mang hoa và quả của cây cần sa mà nhựa chưa được chiết ra)
+ Nhựa cần sa (nhựa được tách ra ở dạng thô hoặc đã tinh chế từ cây cần sa) Các hoạt chất của cây cần sa gây cho người sử dụng cảm giác hưng phấn, sảng khoái, song tác dụng nguy hiểm nhất của cần sa là gây ảo giác làm sai lệch tinh thần
+ Lá côca (lá của cây côca – lá chưa dùng để chiết xuất)
+ Moocphin (chất chiết từ cây thuốc phiện) là chất ma túy dạng bột màu trắng Từ nhựa thuốc phiện người ta chế xuất moocphin (cứ khoảng 10kg thuốc phiện thì thu được khoảng 1kg moocphin bazơ, từ đó có thể thu được 1kg morphine) Moocphin có tác dụng gây nghiện cao
+ Côcain: Cây côca là loại cây có chứa chất ma túy Khi sử dụng nó con người mất cảm giác đói, sảng khoái, chống mệt mỏi nhưng lại gây nghiện cho người sử dụng Từ lá cây côca người ta điều chế được cao côca và côcain Côcain có khả năng gây tê, độc và gây nghiện
+ Hêrôin là loại ma túy độc hại phổ biến nhất ở nước ta hiện nay Hêrôin được điều chế từ ma túy, cứ khoảng 1kg ma túy thì thu được 800 – 950g hêrôin Hêrôin có khả năng gây nghiện rất nhanh, người nghiện bị suy sụp nhanh chóng cả về thể xác lẫn tinh thần Một liều khoảng 0,06g có thể gây chết người ngay sau khi tiêm
+ Chất hướng thần như amphetamin là chất ma túy gây kích thích mạnh
hệ thần kinh trung ương, làm tăng sự co bóp của tim, co mạch máu ngoại biên, tăng huyết áp Với liều lượng vừa phải amphetamine có tác dụng làm
Trang 19tăng khả năng lao động trí óc, giảm buồn ngủ, tăng sức lực Với liều cao amphetamine gây nghiện nguy hiểm
Theo Nghị định 67/2001/NĐ - CP ngày 01/10/2001 và Nghị định 133/2003/NĐ - CP của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất ma túy thì hiện nay các chất ma túy bao gồm 228 chất chia thành 3 danh mục và 40 hóa chất không thể thiếu trong quá trình sản xuất, điều chế ma túy
Đặc tính nguy hiểm của chất ma túy và chất hướng thần thể hiện ở khả năng gây nghiện cho người sử dụng các chất này Con người chỉ cần sử dụng một vài lần chất ma túy hoặc chất hướng thần sẽ có nhu cầu được cung cấp thường xuyên và với liều lượng ngày càng cao Khi không đáp ứng được nhu cầu, họ sẽ lên cơn vật vã, đau đớn về thể xác… và có thể làm tất cả những gì,
kể cả tội ác mà họ cho là cần thiết nhằm giải tỏa cơn nghiện Sự phụ thuộc ngày càng lớn vào chất ma túy hoặc hướng thần chính là tác hại gây nghiện của chất ma túy hoặc hướng thần đối với người dùng chất đó
1.2.2.2 Mặt khách quan của tội phạm
Bất cứ tội phạm nào khi xảy ra cũng đều có những biểu hiện diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài mà con người có thể trực tiếp nhận biết được Đó là:
+ Hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội;
+ Hậu quả nguy hiểm cho xã hội;
+ Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả;
+ Các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội (công
cụ, phương tiện, thủ đoạn, thời gian, địa điểm phạm tội…)
Tổng hợp những yếu tố trên chính là mặt khách quan của tội phạm
Như vậy, “Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan” [1, tr.99] Trong mặt khách quan của tội phạm, hành vi khách
quan là biểu hiện cơ bản Những biểu hiện khác của mặt khách quan chỉ có ý nghĩa khi có hành vi khách quan Hành vi khách quan của tội mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm các quy định của Nhà
Trang 20nước về chế độ quản lý chất ma túy do hành vi thực hiện những điều mà Nhà nước cấm
- Mặt khách quan của tội mua bán trái phép chất ma túy
Mua bán dân sự là quyền của mỗi công dân Nhưng ma túy là loại hàng hóa Nhà nước độc quyền quản lý nên mọi hành vi trao đổi ma túy trái với các quy định của pháp luật đều bị coi là mua bán ma túy trái phép – bị coi là tội phạm Hành vi mua bán trái phép chất ma túy là hành vi cố ý trao đổi các chất
ma túy bằng tiền hay hiện vật trái với các quy định của Nhà nước
Theo quy định tại Mục 3, phần II, Thông tư liên tịch của Bộ Công an – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Tòa án nhân dân tối cao – Bộ Tư pháp số 17/2007/TTLT – BCA – VKSNDTC – TANDTC – BTP ngày 24/12/2007
hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự năm 1999 thì “Mua bán trái phép chất ma túy” là
một trong các hành vi sau đây:
+ Bán trái phép chất ma túy cho người khác là dùng ma túy mà mình có (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có) cho người khác lấy tiền hoặc tài sản
Nếu một người đã có hành vi chào bán trái phép chất ma túy, đã thỏa thuận về giá cả, địa điểm giao hàng nhưng trên đường mang ma túy đến địa điểm giao hàng thì bị bắt sẽ bị định tội mua bán trái phép chất ma túy ở giai đoạn phạm tội chưa đạt
Người bán hộ chất ma túy cho người khác để lấy tiền công hoặc lợi ích khác thì cũng bị truy cứu TNHS về tội mua bán trái phép chất ma túy
Ví dụ: Theo bản án 10/2011/HSST của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình thì Đặng Thị Hà là người yêu của Nguyễn Văn Chất, ở cùng với Chất từ năm
2009 Trong thời gian ở cùng với Chất, Hà có biết Chất bán ma túy Một lần Chất đi vắng, gọi điện cho Hà dặn mở cửa cho một người tên Tý vào nhà và lấy túi nilon màu đen trong đó có 1 gói 50 gam hêrôin giấu trong bình hoa giao cho Tý Tại cơ quan điều tra Hà khai đã giao 50 gam hêrôin cho Tý Hà
Trang 21cho biết đó là ma túy nhưng giá cả và việc thanh toán giữa Chất và Tý thì Hà không biết Hà đã bị truy tố về tội mua bán trái phép chất ma túy
+ Mua chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác là dùng tiền hoặc tài sản đổi lấy chất ma túy sau đó dùng chất ma túy đó để bán lại cho người khác lấy tiền hoặc tài sản;
Nếu một người mua trái phép chất ma túy về sử dụng dần thì không bị truy cứu TNHS về tội mua bán trái phép chất ma túy Nếu một người mua trái phép chất ma túy về để sử dụng dần nhưng sau đó lại đem bán bớt một phần thì vẫn bị truy cứu TNHS về tội mua bán trái phép chất ma túy
Ví dụ: Theo bản án sơ thẩm số 03/2012/HSST của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình thì Nguyễn Văn Hùng sinh năm 1992 đã mua một gói hêrôin với giá 520 000 đồng về để sử dụng dần (Hùng nghiện ma túy) Sau khi sử dụng hết một nửa, do cần tiền nên Hùng đã bán số hêrôin còn lại cho Nguyễn Thanh Hiền Hùng đã bị bắt quả tang khi đang bán hêrôin cho Hiền và bị truy
tố về tội mua bán trái phép chất ma túy
+ Xin chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác là việc một người bằng lời nói hoặc hành động của mình để người khác cho mình chất ma túy rồi dùng chất ma túy đó đem bán cho người khác để lấy tiền hoặc tài sản
+ Dùng chất ma túy nhằm trao đổi thanh toán trái phép (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có)
+ Dùng tài sản không phải là tiền đem trao đổi, thanh toán… lấy chất
ma túy nhằm bán lại trái phép cho người khác;
+ Tàng trữ chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác là hành vi cất giữ, cất giấu chất ma túy sau đó đem bán chất ma túy đó cho người khác
+ Vận chuyển chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác là hành
vi chuyển dịch bất hợp pháp chất ma túy từ nơi này đến nơi khác, từ người này sang người khác… bằng bất kỳ hình thức nào, sau đó đem bán chất ma túy này cho người khác
Trang 22Người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức cho người thực hiện một trong các hành vi mua bán trái phép chất ma túy nói trên đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy
Hậu quả của tội phạm là thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho quan
hệ xã hội là khách thể bảo vệ của luật hình sự Đó có thể là thiệt hại về vật chất, thiệt hại về thể chất hoặc thiệt hại về tinh thần… Tội mua bán trái phép chất ma túy có cấu thành tội phạm hình thức, người phạm tội chỉ cần thực hiện một trong các dạng hành vi quy định tại mặt khách quan là tội phạm đã hoàn thành Hậu quả của các hành vi đó gây ra không phải là yếu tố bắt buộc
để định tội Những thiệt hại do hành vi mua bán chất ma túy gây ra cho xã hội
là thiệt hại phi vật chất, không thể cân, đo, đong, đếm Vì vậy, điều luật mới chỉ dừng lại ở việc quyết định hình phạt một phần dựa vào số lượng và trọng lượng chất ma túy Số lượng và trọng lượng chất ma túy mà người phạm tội mua bán trái phép càng lớn thì hình phạt càng nặng Các dấu hiệu khác như thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện phạm tội… không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội mua bán trái phép chất ma túy
- Mặt khách quan của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy:
Hành vi khách quan của tội phạm này là hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Đó là những hành vi chủ động tụ tập và tạo những điều kiện cần thiết để có thể tiến hành được việc sử dụng chất ma túy (đưa chất ma túy vào cơ thể người khác)
Theo quy định tại Mục 3, phần II, Thông tư liên tịch của Bộ Công an – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Tòa án nhân dân tối cao – Bộ Tư pháp số 17/2007/TTLT – BCA – VKSNDTC – TANDTC – BTP ngày 24/12/2007
hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma
túy” của Bộ luật Hình sự năm 1999 thì “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là một trong các hành vi sau đây:
+ Chỉ huy, phân công, điều hành các hoạt động đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác;
Trang 23+ Chỉ huy, phân công, điều hành việc chuẩn bị, cung cấp chất ma túy, địa điểm, phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy, tìm người sử dụng chất ma túy
Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây theo sự chỉ huy, phân công, điều hành của người khác thì bị coi là đồng phạm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy: đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác; cung cấp trái phép chất ma túy cho người khác để họ sử dụng trái phép chất
ma túy; chuẩn bị chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào (mua, xin, tàng trữ, sản xuất…) nhằm đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác; chuẩn bị địa điểm (thuê địa điểm, mượn địa điểm, sử dụng địa điểm không thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc đang do mình quản lý để làm nơi đưa trái phép chất
ma túy vào cơ thể người khác); chuẩn bị dụng cụ, phương tiện dùng vào việc
sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào (mua, xin, tàng trữ…) nhằm sử dụng để đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác; tìm người sử dụng chất ma túy để đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể của họ
Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy có thể được thực hiện dưới bất kì hình thức nào Có thể dưới hình thức giản đơn như tập hợp, dẫn dắt người khác đến hút, hít hoặc tiêm chích Hoặc có thể dưới hình thức tinh
vi như thành lập tụ điểm, tổ chức người canh gác, người dẫn mối, cung cấp các công cụ, phương tiện tiêm chích, hút, hít…
Hành vi tổ chức sử dụng chất ma túy có thể được thực hiện ở bất cứ nơi nào, có thể ở nhiều địa điểm khác nhau hoặc ở một nơi cố định Người phạm tội có thể sử dụng nhiều thủ đoạn khác nhau như cho người khác hút, hít thử
để rồi họ sẽ quen và có nhu cầu hút, hít hoặc cho người khác hút, hít nợ tiền… Tội phạm hoàn thành kể từ thời điểm thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, bất kể người sử dụng chất ma tuý đã sử dụng được hay chưa Tội phạm này cũng không cần xảy ra hậu quả
Ví dụ: Tại bản án số 20/2010/HSST của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình thì Lê Văn Lợi sinh năm 1978 là người bán chất ma túy cho các đối
Trang 24còn cho những người nghiện sử dụng địa điểm là căn nhà thuộc quyền sở hữu của mình để tiêm chích Ngày 20/6/2010 Lợi đã bị Viện kiểm sát nhân tỉnh Thái Bình truy tố về hai tội: tội mua bán trái phép chất ma túy và tội tổ chức
sử dụng trái phép chất ma túy
1.2.2.3 Mặt chủ quan của tội phạm
Tội phạm là thể thống nhất của mặt khách quan và mặt chủ quan Mặt khách quan là những biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm, mặt chủ quan là hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội Mặt chủ quan của tội phạm không tồn tại một cách độc lập mà luôn gắn liền với mặt khách quan của tội phạm Hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội luôn luôn gắn liền với các biểu hiện bên ngoài của tội phạm
Mặt chủ quan của tôi phạm bao gồm lỗi, động cơ, mục đích của người phạm tội, trong đó lỗi được phản ánh trong tất cả các CTTP Lỗi là dấu hiệu không thể thiếu được của bất cứ CTTP nào
“Lỗi là trạng thái tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho
xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra, được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý” [1 ,tr.136]
“Người thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội bị coi là có lỗi khi hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn của họ trong khi có đủ điều kiện khách quan và chủ quan để lựa chọn và thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội” [1 ,tr.135] Lỗi ở trong Luật hình sự Việt Nam là lỗi cá nhân,
lỗi của con người cụ thể khi thực hiện hành vi cụ thể nguy hiểm cho xã hội Khoa học Luật hình sự phân chia thành các hình thức lỗi: lỗi cố ý trực tiếp, lỗi
cố ý gián tiếp, lỗi vô ý vì quá tự tin, lỗi vô ý do cẩu thả
Pháp luật bảo hộ quyền mua bán của mỗi cá nhân Tuy nhiên đối tượng
của hành vi mua bán phải là tài sản được phép giao dịch Ma tuý là loại “hàng hoá” đặc biệt, được Nhà nước độc quyền quản lý Vì vậy mọi hành vi mua
bán ma tuý không được sự cho phép của Nhà nước đều bị coi là có lỗi
Lỗi của người phạm tội mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma
Trang 25bán và tổ chức sử dụng ma túy là hành vi trái pháp luật, họ có đủ điều kiện khách quan và chủ quan để lựa chọn và thực hiện xử sự khác nhưng họ vẫn thực hiện hành vi mua bán và tổ chức sử dụng ma tuý
Lỗi của người phạm tội mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma
túy không thể là lỗi cố ý gián tiếp hoặc lỗi vô ý được “Lỗi cố ý gián tiếp là lỗi của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhận thức rõ hành
vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra” [1,tr.142] Hành vi của con người trong trạng thái tâm lý bình thường
đều được thực hiện do sự thúc đẩy của một hoặc một số động cơ nhất định và đều hướng tới những mục đích nhất định Đối với tội mua bán trái phép chất
ma túy, động cơ, mục đích chủ yếu là lợi nhuận nên tội phạm mong muốn bán được thật nhiều ma túy cho các đối tượng nghiện mặc dù biết trước hậu quả nên không thể là lỗi cố ý gián tiếp càng không thể là lỗi vô ý vì đối với lỗi vô
ý vì quá tự tin thì cho rằng hậu quả sẽ không xảy ra, lỗi vô ý do cẩu thả thì không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả; còn đối với tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì hành vi của tội phạm mục đích nhằm tập hợp, dẫn dắt người khác đến hút, hít hoặc tiêm chích… nên họ chấp nhận hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình có thể gây ra nên lỗi chỉ
có thể là lỗi cố ý trực tiếp
Không có ngành kinh doanh nào, cũng không có thứ hàng hóa nào lại
mang lại “siêu lợi nhuận” và sự giàu có nhanh chóng như ma túy Ví dụ: Bị cáo Hoàng Văn Ngọ sinh năm 1958 ở Quỳnh Phụ, Thái Bình khi bị bắt đã khai thường mua hêrôin với giá 60 triệu đồng một bánh Mỗi bánh Ngọ lãi khoảng 15 triệu đồng Bị cáo Hà Văn Diệp (sinh năm 1964), trú ở Thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh khai rằng thường sang biên giới Trung Quốc mua hêrôin với giá 90 triệu đồng một bánh rồi giao cho vợ con chuyển “hàng” về Thái Bình bán với giá 125 triệu đến 130 triệu đồng một bánh Chính vì vậy
dù hình phạt dành cho những kẻ mua bán ma túy trái phép là rất nghiêm khắc
Trang 26song lợi nhuận kếch sù do ma túy đem lại vẫn thôi thúc nhiều người đi vào con đường phạm pháp
Tội mua bán trái phép chất ma túy có cấu thành tội phạm hình thức, hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc Do vậy vấn đề có thấy trước hay không thấy trước hậu quả không được đặt ra khi xem xét lý trí của người phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp Có nhiều động cơ thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy và họ còn có nhiều mục đích khác nhau khi thực hiện hành vi này Tuy nhiên động cơ, mục đích không phải là yếu tố bắt buộc trong cấu thành tội phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy: người phạm tội thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp Mục đích là dấu hiệu bắt buộc Người phạm tội thực hiện hành vi với mục đích muốn đưa chất ma tuý vào cơ thể người khác (động cơ vụ lợi hoặc động cơ khác không phải là dấu hiệu bắt buộc) Vì thế, nếu không chứng minh người phạm tội có mục đích người phạm tội muốn đưa chất ma tuý vào cơ thể người khác thì không thể định tội này mà có thể xác định tội phạm khác tương ứng
1.2.2.4 Chủ thể của tội phạm
“Chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt
độ tuổi luật định và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể” [1, tr.122] Chủ
thể của tội phạm theo Luật hình sự Việt Nam hiện hành chỉ có thể là con người cụ thể mà không phải là pháp nhân Bởi vì để thực hiện được những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội phải do ý chí và nhận thức của con người
cụ thể mới có thể thực hiện được Pháp nhân chỉ là tổ chức được thành lập hợp pháp để tham gia vào các hoạt động kinh tế, xã hội nên luôn có một người đứng đầu quản lý Như vậy nếu quy định chủ thể của tội phạm là pháp nhân thì nếu phạm tội tất cả sẽ do người đứng đầu chịu trách nhiệm, điều đó
sẽ trái với nguyên tắc có lỗi, nguyên tắc trách nhiệm cá nhân của Luật hình sự cũng như không phù hợp với mục đích giáo dục, cải tạo của việc áp dụng các biện pháp TNHS
Trang 27Năng lực trách nhiệm hình sự là điều kiện cần thiết để xác định con người có lỗi khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Chỉ có người có năng lực trách nhiệm hình sự mới có thể là chủ thể của tội phạm Người có năng lực trách nhiệm hình sự là người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và có khả năng điều khiển hành vi ấy Ở đây là khả năng kiềm chế được hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện và khả năng lựa chọn xử sự khác không nguy hiểm cho xã hội
Người có năng lực trách nhiệm hình sự theo Luật hình sự Việt Nam là người đã đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và không thuộc trường hợp ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự Theo Điều 12 Bộ luật hình sự 1999:
“ 1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm
2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”
Đối chiếu với tội mua bán trái phép chất ma túy Điều 194 và tội tổ chức
sử dụng trái phép chất ma túy Điều 197, Bộ luật hình sự năm 1999 thì:
Khoản 1, Điều 194 và Điều 197 là tội phạm nghiêm trọng Do đó chủ thể của tội mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo khoản 1 là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự
Khoản 2, 3, 4, Điều 194 và Điều 197 là tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Vì thế nên chủ thể của tội mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo khoản 2, khoản 3, khoản 4 là người từ đủ 14 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự
1.3 Trách nhiệm hình sự của người phạm tội mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong luật hình sự Việt Nam
1.3.1 Đối với tội mua bán trái phép chất ma túy
Trang 281.3.1.1 Khung cơ bản đối với trường hợp phạm tội không có các tình tiết là yếu tố định khung
Khoản 1, Điều 194 là cấu thành cơ bản của tội mua bán trái phép chất
ma túy, đó là các trường hợp phạm tội mua bán trái phép chất ma túy không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3, khoản 4, Điều 194 (phạm tội không có các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ định khung) Khoản 1, Điều 194
quy định: “Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”
Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội theo khoản 1, Điều
194, Bộ luật hình sự, Tòa án phải căn cứ vào các quy định về quyết định hình phạt tại chương VII Bộ luật hình sự (từ Điều 45 – Điều 54)
Nếu người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46, không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 thì tòa án có thể áp dụng dưới mức thấp nhất trong khung hình phạt: Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới 2 năm tù nhưng không được dưới 3 tháng tù
1.3.1.2 Phạm tội trong trường hợp có các tình tiết định khung tăng nặng
- Có tổ chức (điểm a khoản 2)
Theo khoản 3, Điều 20, Bộ luật hình sự năm 1999: Phạm tội có tổ chức
là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ với những người cùng thực hiện tội phạm
Mua bán trái phép chất ma túy có tổ chức là trường hợp có nhiều người
cố ý cùng bàn bạc, câu kết chặt chẽ với nhau, vạch kế hoạch để thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy dưới sự điều khiển thống nhất của người cầm đầu Đây thường là nhóm tội phạm được hình thành theo phương hướng lâu dài bền vững, chúng có điều kiện chuẩn bị các công cụ, phương tiện đầy đủ chu đáo
Trong phạm tội có tổ chức thường có các dạng người như người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức
+ Người tổ chức: Người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc mua bán trái
Trang 29vạch chủ trương, kế hoạch thực hiện tội phạm, kế hoạch che giấu tội phạm, tập hợp, rủ rê, lôi kéo người khác cùng thực hiện tội phạm, phân công trách nhiệm và điều khiển hoạt động của những người đồng phạm khác để đạt được mục đích chung là mua bán trái phép chất ma túy
+ Người thực hành: Là người trực tiếp thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy (hành vi quy định trong mặt khách quan)
+ Người xúi giục: Là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác mua bán trái phép chất ma túy Nếu xúi giục trẻ em phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1, Điều 194 và trẻ em dưới 14 tuổi phạm tội thuộc khoản 2, khoản 3, khoản 4 điều 194 thì người xúi giục sẽ trở thành người thực hành, còn trẻ em là công cụ, phương tiện phạm tội
+ Người giúp sức: Tạo điều kiện về tinh thần và vật chất cho việc mua bán trái phép chất ma túy; cung cấp tiền, công cụ, phương tiện, tìm địa điểm… cho việc mua bán trái phép chất ma túy; hứa hẹn che giấu tội phạm, tiêu thụ tài sản do mua bán trái phép chất ma túy mà có
Phạm tội mua bán trái phép chất ma túy có tổ chức có thể có tất cả những người đồng phạm, nhưng cũng có thể chỉ có người tổ chức và thực hành Nhưng nhất định phải có người tổ chức và người thực hành Nếu thiếu một trong hai người này thì không thể có phạm tội có tổ chức Nếu có người
tổ chức và người thực hành nhưng người thực hành chưa thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy (mới có mục đích mua bán trái phép chất ma túy) thì vẫn truy cứu TNHS về tình tiết có tổ chức ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt
Trong phạm tội có tổ chức phải có sự điều khiển chung của một người cầm đầu Thường thấy trong các đường dây ma túy lớn thường có rất nhiều người Tuy nhiên không phải tất cả những người này đều biết mặt nhau mà mỗi đường dây đó thường chia thành các nhóm nhỏ Có những người đóng vai trò quan trọng trong đường dây, được tham gia bàn bạc, chỉ đạo… có những người chỉ thực hiện một số hành vi nhất định, không có vai trò lớn Vì vậy không phải
Trang 30tất cả những người trong cùng một đường dây ma túy đều phạm tội có tổ chức
mà đôi khi chỉ có một số người bị coi là phạm tội có tổ chức
Phạm tội có tổ chức thường gây ra thiệt hại lớn hơn so với phạm tội thông thường, vì vậy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với những người phạm tội có tổ chức
Ở Việt Nam đã có một số vụ mua bán ma túy có tổ chức lớn như vụ Vũ Xuân Trường, Siêng Phênh, Đào Xuân Xe mua bán chất ma túy xuyên quốc
gia, vụ “chợ ma túy” Thanh Nhàn do Cao Thị Lan cầm đầu gây nhức nhối
cho xã hội
- Phạm tội nhiều lần (điểm b khoản 2)
Mua bán trái phép chất ma túy nhiều lần là đã hai lần mua bán trái phép chất ma túy trở lên mà mỗi lần phạm tội đều có đầy đủ cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy, đồng thời trong số các lần phạm tội chưa có lần nào bị truy cứu TNHS và chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS Trong trường hợp này người phạm tội phải chịu TNHS về tổng số lượng các chất ma túy của các lần cộng lại, nếu điều luật có quy định về số lượng chất ma túy để định khung hình phạt
Không coi là phạm tội nhiều lần trong các trường hợp sau:
+ Có hai lần mua bán trái phép chất ma túy nhưng trong đó có một lần chưa tới mức truy cứu TNHS
+ Có hai lần mua bán trái phép chất ma túy trong đó đã có một lần bị kết án hoặc được miễn TNHS hoặc miễn hình phạt
+ Người phạm tội có hai lần thực hiện hành vi phạm tội nhưng mỗi lần thực hiện một hành vi khác nhau (ví dụ: một lần vận chuyển trái phép chất ma túy, một lần mua bán trái phép chất ma túy)
+ Có hai lần mua bán trái phép chất ma túy nhưng một lần bị xử phạt hành chính hoặc xử lý kỷ luật
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn (điểm c khoản 2)
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để mua bán trái phép chất ma túy là
Trang 31tổ chức kinh tế, đơn vị lực lượng vũ trang… đã sử dụng vị trí công tác, chức
vụ, quyền hạn của mình trong cơ quan, tổ chức để mua bán trái phép chất ma túy
Theo bản án số 05/2013/HSST của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình thì Nguyễn Quốc Quang, sinh năm 1975 là trưởng công an phường Lê Lợi trong một lần đi công tác ở Quảng Ninh, Quang đã lợi dụng chức vụ của mình câu kết với các đối tượng mua bán ma túy ở Quảng Ninh để mua ma túy với giá rẻ
về bán lại cho một số người quanh phường Ngày 5/2/2013, Quang đã bị bắt quả tang và bị truy tố về tội mua bán trái phép chất ma túy theo tình tiết định khung “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn”
- Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức (điểm d khoản 2)
Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức để mua bán trái phép chất ma túy
là trường hợp người phạm tội lợi dụng cơ quan, tổ chức mà mình là thành viên để mua bán trái phép chất ma túy Trường hợp này người phạm tội nhân danh cơ quan, tổ chức mà mình là thành viên để mua bán trái phép chất ma túy Còn trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn là người phạm tội nhân danh cá nhân với chức vụ, quyền hạn cụ thể của mình trong cơ quan, tổ chức
để mua bán trái phép chất ma túy
- Vận chuyển, mua bán qua biên giới (điểm đ, khoản 2)
Mua bán ma túy qua biên giới là mua, bán, trao đổi thanh toán chất ma túy qua biên giới nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nước ngoài
Người nào vận chuyển ma túy qua biên giới cho người khác mà biết mục đích của người đó là mua bán trái phép chất ma túy thì cũng bị truy cứu TNHS về tội mua bán trái phép chất ma túy qua biên giới với vai trò là người giúp sức trong đồng phạm
Tội phạm chỉ hoàn thành khi người phạm tội đã mua bán trái phép chất
ma túy qua biên giới Nếu mục đích của người phạm tội là mua bán qua biên giới nhưng chưa mua bán qua biên giới thì không coi là mua bán qua biên giới (việc xác định mục đích mua bán qua biên giới trong trường hợp này cũng rất
Trang 32- Sử dụng trẻ em vào việc phạm tội hoặc bán ma túy cho trẻ em (điểm
e, khoản 2)
Sử dụng trẻ em vào việc phạm tội là trường hợp người phạm tội đã dụ
dỗ, mua chuộc, hăm dọa khống chế, lôi kéo… người dưới 16 tuổi thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy Nếu trẻ em chưa tới mức truy cứu TNHS thì người phạm tội vẫn bị coi là sử dụng trẻ em vào việc phạm tội
Bán ma túy cho trẻ em là dùng ma túy mà mình có được dưới bất kỳ hình thức nào để bán cho người dưới 16 tuổi để lấy tiền hoặc lấy tài sản
Nếu người phạm tội chỉ sử dụng trẻ em vào việc phạm tội thì chỉ bị truy cứu TNHS về tình tiết sử dụng trẻ em vào việc phạm tội Nếu người phạm tội chỉ bán ma túy cho trẻ em thì bị truy cứu TNHS về tình tiết bán ma túy cho trẻ em
Điều 189, BLHS 1985 quy định: “Sử dụng người chưa thành niên vào việc phạm pháp” còn khoản 2, Điều 194, BLHS 1999 quy định: “Sử dụng trẻ
em vào việc phạm tội hoặc bán ma túy cho trẻ em” là tình tiết định khung
hình phạt Vì vậy đối với hành vi sử dụng trẻ em vào việc phạm tội hoặc bán
ma túy cho trẻ em xảy ra trước 0h00 ngày 01/07/2000 mà sau 0h00 ngày 01/07/2000 mới bị phát hiện xử lý thì không áp dụng tình tiết này
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 08/2012/HSST của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư thì Trần Đình Đường trú tại xã Vũ Tiến, huyện Vũ Thư là người buôn bán ma túy Biết hoàn cảnh của em Nguyễn Văn Trí (11 tuổi) bố
mẹ mất sớm, em ở với bà ngoại, gia đình lại khó khăn nên Đường đã dụ dỗ
em bằng việc đưa tiền cho em để phục vụ cho hành vi mua bán ma túy của mình Hàng ngày khi có khách gọi điện mua hêrôin, Đường đều bảo Trí mang hêrôin đến điểm hẹn giao hàng và mang tiền về cho Đường Hành vi của Đường bị truy tố theo tình tiết định khung “sử dụng trẻ em vào việc phạm tội”
- Có từ 2 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng của chất ma túy quy định tại một trong các điểm o
Trang 33 Trường hợp các chất ma túy đó đều có trọng lượng dưới mức tối thiểu quy định tại khoản 2 thì tổng trọng lượng của các chất ma túy đó được xác định như sau:
Bước 1 : Xác định tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của từng chất ma túy
so với mức tối thiểu đối với từng chất ma túy đó tại điểm tương ứng quy định tại khoản 2
Bước 2: Cộng tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của từng chất ma túy lại với nhau
Bước 3: Xác định điểm, khoản, điều luật Nếu tổng các tỷ lệ phần trăm
về trọng lượng của các chất ma túy dưới 100% thì người phạm tội chỉ bị truy
cứu TNHS theo tình tiết định khung: “có từ 2 chất trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương ứng với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ…” quy định tại điểm o khoản 2
Ví dụ: Một người mua bán 350g nhựa thuốc phiện và 4g hêrôin (đều thuộc khoản 1, Điều 194) Tổng trọng lượng của các chất ma túy được xác định như sau:
+ Tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của nhựa thuốc phiện so với mức tối thiểu đối với nhựa thuốc phiện quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 194 là 70% (350g so với 500g)
+ Tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của hêrôin so với mức tối thiểu đối với hêrôin quy định tại điểm h, khoản 2, Điều 194 là 80% (4g so với 5g)
+ Tổng tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của cả hai chất nhựa thuốc phiện
và hêrôin là 70% + 80% = 150% (thuộc trường hợp từ 100% trở lên), cho nên người phạm tội bị truy cứu TNHS theo điểm o, khoản 2, Điều 194
Trường hợp các chất ma túy đó đều được quy định trong cùng một điểm của khoản 2, khoản 3, khoản 4, Điều 194 thì cộng trọng lượng của các chất ma túy đó lại với nhau và so sánh với quy định về trọng lượng trong điều luật tương ứng để truy cứu TNHS người phạm tội theo khoản nào phù hợp của điều luật đó
Trang 34Ví dụ: Một người mua bán 300g nhựa thuốc phiện và 300g nhựa cần sa
Do nhựa thuốc phiện và nhựa cần sa được quy định trong cùng điểm g khoản
2, điểm a khoản 3, điểm a khoản 4 điều 194 nên chỉ cần cộng trọng lượng nhựa thuốc phiện và nhựa cần sa là 300g + 300g = 600g Đối chiếu với quy định về trọng lượng trong điều 194, thì người phạm tội bị truy cứu TNHS theo điểm g khoản 2 điều 194
Trường hợp các chất ma túy đó có trọng lượng tại các điểm khác nhau của cùng khoản 2 (khoản 3) thì tổng trọng lượng của các chất ma túy đó được xác định theo các bước sau đây:
Bước 1: Xác định tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của từng chất ma túy
so với mức tối thiểu đối với từng chất ma túy đó tại điểm tương ứng quy định tại khoản 3 (khoản 4)
Bước 2: Cộng tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của từng chất ma túy lại với nhau
Bước 3: Xác định điểm, khoản, điều luật Nếu tổng các tỷ lệ phần trăm
về trọng lượng các chất ma túy dưới 100%, thì người phạm tội bị truy cứu
TNHS theo tình tiết định khung: “Có từ 2 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương ứng với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ…” quy định tại điểm h, khoản 3 (điểm h, khoản 4), Điều
194
Ví dụ: Một người mua bán 400g nhựa thuốc phiện và 30g côcain ( đều thuộc khoản 3 điều 194) Tổng trọng lượng của các chất ma túy đó được xác định như sau:
+ Tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của nhựa thuốc phiện so với mức tối thiểu đối với nhựa thuốc phiện quy định tại điểm a khoản 4 Điều 194 là 80% (400g so với 500g)
+ Tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của côcain so với mức tối thiểu đối với côcain quy định tại điểm b khoản 4 là 30% (30g so với 100g)
Trang 35+ Tổng tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của nhựa thuốc phiện và côcain
là 80% + 30% = 110% (thuộc trường hợp 100% trở lên), cho nên người phạm tội bị truy cứu TNHS theo điểm h khoản 4 Điều 194
Trường hợp trong các chất ma túy đó, có chất ma túy có trọng lượng quy định tại khoản 1, có chất ma túy có trọng lượng quy định tại 2 (hoặc khoản 3), hoặc có chất ma túy có trọng lượng quy định tại khoản 2, có chất
ma túy có trọng lượng quy định tại khoản 3, Điều 194 thì tổng trọng lượng của các chất ma túy đó được xác định theo các bước sau đây:
Bước 1: Xác định tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của các chất ma túy
có trọng lượng nhiều nhất so với mức tối thiểu đối với chất đó quy định tại khoản 3 (khoản 4) Điều 194 theo nguyên tắc chất ma túy có trọng lượng nhiều nhất thuộc khoản 2 thì so với mức tối thiểu đối với chất ma túy đó quy định tại khoản 3; chất ma túy có trọng lượng nhiều nhất thuộc khoản 3 thì so với mức tối thiểu đối với chất đó quy định tại khoản 4
Bước 2: Xác định tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của các chất ma túy khác so với mức tối thiểu đối với chất ma túy đó quy định tại khoản 3 (khoản 4) Điều 194 theo nguyên tắc mức tối thiểu đối với chất ma túy có trọng lượng nhiều nhất ở khoản nào thì mức tối thiểu của các chất ma túy khác lấy ở khoản đó
Bước 3: Cộng các tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của từng chất ma túy lại với nhau và xác định điểm, khoản, điều luật Nếu tổng tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của các chất ma túy là từ 100% trở lên thì người phạm tội bị truy
cứu TNHS theo các tình tiết định khung: “Có từ 2 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất ma túy đó tương đương với số lượng của các chất
ma túy quy định tại một trong các điểm từ…” quy định tại điểm h khoản 3
(điểm h khoản 4) (khoản tương ứng của điều luật có quy định mức tối thiểu đối với chất ma túy có trọng lượng nhiều nhất)
Ví dụ: Một người mua bán 450g nhựa thuốc phiện và 4g hêrôin Trong trường hợp này nhựa thuốc phiện có trọng lượng thuộc điểm a khoản 3 Điều
Trang 36phiện có trọng lượng nhiều nhất Tổng trọng lượng của các chất ma túy được xác định như sau:
+ Tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của nhựa thuốc phiện so với mức tối thiểu đối với nhựa thuốc phiện quy định tại điểm a khoản 4 Điều 194 là 90% (450g so với 500g)
+ Tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của hêrôin so với mức tối thiểu đối với hêrôin quy định tại điểm b khoản 4 Điều 194 là 4% (4g so với 100g)
+ Tổng tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của cả hai chất nhựa thuốc phiện
và hêrôin là 90% + 4% = 94% (dưới 100%), cho nên người phạm tội vẫn chỉ
bị truy cứu TNHS theo khoản 3 Điều 194
- Tái phạm nguy hiểm (điểm p, khoản 2)
Tái phạm nguy hiểm là đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại mua bán trái phép chất ma túy thuộc trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 194 hoặc đã tái phạm nhưng chưa được xóa án tích mà lại phạm tội mua bán trái phép chất
ma túy
Ví dụ: Dương Tuấn Nghĩa đã bị kết án 4 năm tù về tội “lừa đảo chiếm
đoạt tài sản” Điều 139 BLHS 1999, ra trại ngày 08/03/2003 Ngày 15 tháng 8 năm 2006, Nghĩa bị công an phường Quang Trung bắt quả tang khi đang bán
13 gói hêrôin nặng 9,776g Dương Tuấn Nghĩa đã bị TAND thành phố Thái Bình áp dụng điểm p khoản 2 điều 194, xử phạt 9 năm tù
1.3.2 Đối với tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
1.3.2.1 Khung cơ bản đối với trường hợp phạm tội không có các tình tiết là yếu tố định khung
Khoản 1, Điều 197 là cấu thành cơ bản của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, đó là các trường hợp phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3, khoản 4, Điều 197 (phạm tội không có các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ định khung)
Khoản 1, Điều 197 quy định “Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma
Trang 37Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội theo khoản 1, Điều
197, Bộ luật hình sự, Tòa án phải căn cứ vào các quy định về quyết định hình phạt tại chương VII Bộ luật hình sự (từ Điều 45 – Điều 54)
Nếu người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46, không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 thì tòa án có thể áp dụng dưới mức thấp nhất trong khung hình phạt: Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới 2 năm tù nhưng không được dưới 3 tháng tù
1.3.2.2 Phạm tội trong trường hợp có các tình tiết định khung tăng nặng
- Theo khoản 2, Điều 197 thì tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì người phạm tội có thể bị phạt tù
từ 7 năm đến 15 năm:
+ Phạm tội nhiều lần (điểm a, khoản 2)
Đây là trường hợp mà người phạm tội đã thực hiện hành vi tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy từ hai lần trở lên, mỗi lần đều CTTP, nhưng đều chưa bị xét xử Nếu chỉ có hai lần chưa đến mức CTTP thì không áp dụng tình tiết này
+ Đối với nhiều người (điểm b, khoản 2)
Đây là trường hợp mà người phạm tội tổ chức cho từ hai người trở lên
sử dụng trái phép chất ma túy
+ Đối với người chưa thành niên từ đủ 13 tuổi trở lên (điểm c khoản 2)
Tình tiết này thuộc tình tiết khách quan nên chỉ cần xác định tuổi của người bị hại thực tế là từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi thì có thể áp dụng tình tiết này, bất kể người phạm tội có biết hay không
+ Đối với phụ nữ mà biết là đang có thai (điểm d, khoản 2)
Tình tiết này được xác định theo chủ quan của người phạm tội Vì thế, nếu người sử dụng trái phép chất ma túy thực tế là phụ nữ có thai nhưng không có căn cứ xác định là người phạm tội biết điều đó thì không thể áp dụng tình tiết này
+ Đối với người đang cai nghiện (điểm đ, khoản 2)
Trang 38Người đang cai nghiện là người nghiện đang cai nghiện tại trung tâm cai nghiện hoặc ở một nơi nào đó theo chỉ dẫn của cơ quan chuyên môn, chưa kết thúc (có quyết định chấm dứt cai nghiện của cơ quan Nhà nước chuyên môn) Không áp dụng đối với người đang tự cai nghiện Đây là tình tiết thuộc yếu tố chủ quan Vì thế, để áp dụng tình tiết này, chúng ta cần chứng minh người phạm tội biết được hoặc bất chấp người sử dụng trái phép chất ma túy
là người đang cai nghiện
+ Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% (điểm e, khoản 2)
Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ở đây có thể là tổn hại cho sức khỏe của người sử dụng trái phép chất ma túy hay người thứ ba Khi áp dụng tình tiết này cần lưu ý, tổn hại cho sức khỏe phải có mối quan hệ nhân quả với hành vi sử dụng chất ma túy thì mới áp dụng Tổn hại cho sức khỏe cho người khác do người phạm tội gây ra có thể do cố ý hoặc vô ý Nếu tổn hại sức khỏe do người phạm tội gây ra do hành vi khác thì phải xem xét các tội phạm tương ứng khác
+ Gây bệnh nguy hiểm cho người khác (điểm g, khoản 2)
Đây là trường hợp do sử dụng trái phép chất ma túy mà người sử dụng (hay người khác) mắc một trong các bệnh nguy hiểm đến tính mạng, như: HIV/AIDS, viêm gan B, lao… Tình tiết này thuộc khách quan, vì thế, thực tế phải có người mắc bệnh nguy hiểm thì mới áp dụng Khi xem xét tình tiết này cần lưu ý, phân biệt với trường hợp người phạm tội truyền hoặc làm lây truyền HIV (Điều 117, 118 Bộ luật hình sự) vì trong hai trường hợp này là lỗi
cố ý Ngoài ra, nếu người tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy với mong muốn hoặc để mặc cho người khác mắc bệnh thì có thể truy cứu thêm các tội phạm tương ứng khác
+ Tái phạm nguy hiểm (điểm h, khỏan 2)
- Theo khoản 3, Điều 197 thì tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 15
Trang 39+ Gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc gây chết người (điểm a, khoản 3)
Trường hợp gây tổn hại cho sức khoẻ đã đề cập Về hậu quả chết người, cần lưu ý, đây là ngoài sự mong muốn (hoặc để mặc) của người phạm tội Nếu hậu quả chết người là mong muốn hay để mặc của người phạm tội thì phải truy cứu về tội giết người (Điều 93, Bộ luật hình sự)
+ Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% (điểm b, khoản 3)
Trường hợp này phải có từ hai người trở lên, mỗi người đều phải có tỷ
lệ thương tật từ 31% - 60% Nếu có nhiều người, nhưng chỉ có một người có
tỷ lệ thương tật từ 31% - 60%, những người khác có tỷ lệ thương tật chưa đủ 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của họ đạt 31% - 60% cũng có thể áp dụng tình tiết này
+ Gây bệnh nguy hiểm cho nhiều người (điểm c, khoản 3)
Trường hợp này cũng giống trường hợp gây bệnh nguy hiểm cho người khác nhưng ở đây là gây bệnh nguy hiểm cho nhiều người
+ Đối với trẻ em dưới 13 tuổi (điểm d, khoản 3)
Đây là tình tiết thuộc khách quan Vì thế, chỉ cần xác định được người
sử dụng trái phép chất ma tuý là trẻ em dưới 13 tuổi thì có thể áp dụng tình tiết này
- Khoản 4, Điều 197 quy định: tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau, người phạm tội có thể bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân:
+ Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên
+ Gây chết nhiều người hoặc gây ra những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác
Thực tiễn thường xem những hậu quả sau đây là hậu quả đặc biệt nghiêm trọng (do hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý gây ra):