1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tôn trung sơn với sự ra đời và hoạt động của các tổ chức cách mạng ở một số nước chấu á nhật bản, việt nam, singapore

100 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ bối cảnh lịch sử trong nước và quốc tế lúc đó, cộng với những kinh nghiệm cách mạng quý báu mà ông đúc rút được trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, đến năm 1905, Tô

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

SINGAPORE

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

NGHỆ AN - 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới TS Nguyễn Thị Hương, người đã gợi ý

đề tài và luôn quan tâm giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Xin cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử Trường Đại học Vinh

đã cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường Cảm ơn các cán bộ nhân viên Viện Nghiên cứu Trung Quốc, Trung tâm Thông tin - Thư viện Nguyễn Thúc Hào Đại học Vinh đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp tư liệu để tôi hoàn thành luận văn của mình

Cuối cùng, tôi xin được gửi tới gia đình, bạn bè thân thiết lời cảm ơn sâu sắc đã luôn động viên, chia sẻ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và làm luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

Vinh, tháng 10 năm 2015

Tác giả

r u r

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

A MỞ ĐẦU 1

NỘ UN 11

CHƯƠN 1 TÔN TRUN SƠN VÀ ỐI CẢNH DẪN ĐẾN SỰ RA ĐỜI CÁC TỔ CHỨC CÁCH MẠNG Ở MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á 11

1.1 Vài n t về cuộc đời và hoạt động cách mạng của Tôn Trung Sơn 11

1.2 Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn 18

1.2.1 Chủ nghĩa ân tộc 20

1.2.2 Chủ nghĩa dân quyền 23

1.2.3 Chủ nghĩa dân sinh 24

1.3 ối cảnh quốc tế và trong nước dẫn đến sự ra đời của các tổ chức cách mạng ở một số nước châu do Tôn Trung Sơn thành lập 27

1.3.1 Bối cảnh quốc tế 27

1.3.2 Tình hình trong nước Trung Quốc 30

Tiểu kết chương 1 35

CHƯƠN 2 TÔN TRUN SƠN THÀNH LẬP CÁC TỔ CHỨC CÁCH MẠNG Ở NHẬT BẢN, VIỆT NAM, SINGAPORE 37

2.1 Khái quát sự thành lập các tổ chức cách mạng của Tôn Trung Sơn ở hải ngoại 37

2.2 Tôn Trung Sơn xây dựng các tổ chức cách mạng ở Nhật Bản 40

2.2.1 Thành lập phân hội Hưng Trung Hội 42

2.2.2 Thành lập Trung Quốc cách mạng Đồng Minh Hội - Chính đảng của giai cấp tư sản Trung Quốc 43

2.2.3 Cải tổ Quốc dân Đảng thành Đảng cách mạng Trung Hoa 50

2.3 Các tổ chức cách mạng do Tôn Trung Sơn thành lập ở Việt Nam 51

2.3.1 Thành lập phân hội Hưng Trung Hội 52

2.3.2 Thành lập phân hội Đồng Minh Hội 53

Trang 5

2.3.3 Cải tổ Đảng cách mạng Trung Hoa thành Quốc dân đảng Trung Quốc56

2.3.4 Xây dựng lực lượng căn cứ cách mạng 57

2.4 Các tổ chức cách mạng do Tôn Trung Sơn thành lập ở Singapore 59

2.4.1 Thành lập phân hội Hưng Trung Hội 59

2.4.2 Thành lập phân hội Đồng Minh Hội 61

*Tiểu kết chương 2 65

CHƯƠN 3 T C ĐỘNG CỦA C C TỔ CHỨC C CH MẠN O TÔN TRUN SƠN THÀNH LẬP Ở NHẬT ẢN, V ỆT NAM VÀ S N APOR ĐỐ VỚI CÁCH MẠNG TRUNG QUỐC 67

3.1 Tác động của các tổ chức cách mạng do Tôn Trung Sơn thành lập tại Nhật ản đối với Trung Quốc 67

3.2 Tác động của các tổ chức cách mạng do Tôn Trung Sơn thành lập tại Việt Nam đối với Trung Quốc 72

3.3 Tác động của các tổ chức cách mạng do Tôn Trung Sơn thành lập tại Singapore đối với Trung Quốc 78

C KẾT LUẬN 82

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

E PHỤ LỤC

Trang 6

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi cả dân tộc Trung Hoa đang mò

mẫm tìm con đường đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nửa phong kiến, nửa thuộc địa thì trên vũ đài chính trị Trung Quốc xuất hiện một nhà cách mạng tư sản yêu nước đi theo con đường cách mạng dân tộc dân chủ - đó chính là Tôn Trung Sơn Xuất phát từ bối cảnh lịch sử trong nước và quốc tế lúc đó, cộng với những kinh nghiệm cách mạng quý báu mà ông đúc rút được trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, đến năm 1905, Tôn Trung Sơn đã đưa ra một học thuyết cách mạng vĩ đại: Chủ nghĩa Tam dân, với ba nội dung lớn: Chủ nghĩa dân tộc, Chủ nghĩa dân quyền, Chủ nghĩa dân sinh Đây cũng chính là đường lối lý luận cơ bản làm nền tảng chỉ đạo thành công cuộc Cách mạng Tân Hợi (1911)

1.2 Trong phong trào cách mạng nhằm lật đổ chế độ phong kiến chuyên

chế, thành lập nền cộng hòa ở Trung Quốc do Tôn Trung Sơn lãnh đạo, cộng đồng người Hoa và Hoa kiều ở nước ngoài, đặc biệt là một số nước châu Á như Nhật Bản, Việt Nam, Singapore có vai trò và đóng góp một phần vô cùng

to lớn Để có được kết quả đó, do những điều kiện lịch sử khác nhau, Tôn Trung Sơn đã bôn ba hải ngoại để tiến hành các hoạt động cách mạng Một trong những hoạt động cách mạng quan trọng của ông phải kể đến là hoạt động thành lập các tổ chức cách mạng của Tôn Trung Sơn Trên chặng đường gian khó ấy, ông đã thành lập được những cơ sở cách mạng lớn, mà trước hết

là ở một số nước châu Á, với trung tâm cách mạng lớn thứ nhất là Nhật Bản, trung tâm thứ hai là Việt Nam, trung tâm thứ 3 là Singapore Thế nhưng cho đến hiện nay, theo sự hiểu biết của chúng tôi thì những công trình nghiên cứu

về các tổ chức cách mạng do Tôn Trung Sơn thành lập ở Singapore chưa có,

có chăng chỉ là những công trình nghiên cứu lẻ tẻ về sự thành lập các tổ chức cách mạng ở Nhật Bản và Việt Nam Song cũng chưa công trình nào nghiên

Trang 7

cứu một cách tổng thể về các tổ chức cách mạng do Tôn Trung Sơn thành lập

ở hải ngoại, tiêu biểu là ở ba nước châu Á: Nhật Bản, Việt Nam, Singapore Tuy rằng, không chỉ hoạt động cách mạng ở ba nước châu Á này

1.3 Từ đặc thù công việc làm nghề dạy học, và để phục vụ cho công tác

giảng dạy của mình về Tôn Trung Sơn trong chương trình dạy học ở phổ thông Cùng với lòng kính trọng, sự ngưỡng mộ, khâm phục sâu sắc tới một tài năng xuất chúng đó, tôi thực sự muốn đi sâu vào tìm hiểu và nghiên cứu những vấn đề liên quan tới cuộc đời, sự nghiệp cách mạng của Tôn Trung Sơn

Vì những lý do về mặt ý nghĩa khoa học và thực tiễn trên, mà chúng tôi

quyết định chọn đề tài: “ ô ru Sơ với sự r đời và hoạt động của các

tổ chức cách mạng ở một số ước châu Á: Nhật Bản, Việt Nam,

Si pore”, để làm đề tài cho luận văn thạc sĩ, qua đó nhằm tăng thêm sự

hiểu biết cho mình về lịch sử Trung Quốc và nhân vật Tôn Trung Sơn

Châu Thị Hải với ''N ười Hoa Việt N m và Đôn N m Á: Hình ảnh

hôm qua và vị thế hôm nay'' của Châu Thị Hải (xuất bản năm 2006 và ''Trung Quốc cách mạn Đồng Minh Hội và các nhóm cộn đồn n ười Hoa

ở Đôn N m Á'', Nghiên cứu lịch sử, số 5, 1991, tr.82-88, đã hệ thống lại

tương đối đầy đủ quá trình xuất hiện và vận động của cộng đồng người Hoa ở khu vực Đông Nam trong đó, tác giả đề cập khái lược đến một số hoạt động của Tôn Trung Sơn và tổ chức Đồng Minh Hội ở Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX;

Trang 8

Tập trung nhất là những bài viết đăng trong các kỷ yếu khoa học, nhân dip kỷ niệm các năm chẵn Cách mạng Tân Hợi, như:

- Kỷ yếu ''Hộ thảo ho họ n ệm lần thứ 80 cuộc Cách mạng Tân

Hợi (1911-1991)'' tư liệu tại Khoa Lịch sử, Đại học Khoa học Xã hội và

Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội);

- Vào năm 2001, nhân kỷ niệm 90 năm Cách mạng Tân Hợi, Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia (nay là Viện Nghiên cứu Trung Quốc, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội

Việt Nam đã tổ chức Hội thảo khoa học chào mừng với chủ đề ''Cách mạng

Tân Hợ 90 năm s u nhìn lại (1911-2001)'' Nội dung hội thảo khoa học đã

được Nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản vào năm 2002;

Bên cạnh đó, cũng đã có một số luận văn cao học nghiên cứu về các khía cạnh có liên quan, như luận văn Thạc sĩ Đông phương học của tác giả

Chu Thùy Liên: ''Chủ n hĩ T m ân ủa Tôn Trun Sơn và ý n hĩ lịch

sử'', Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội, năm 2005;

Nguyễn Văn Hồng (1996), "Tôn Trung Sơn với Chủ nghĩa tam dân nhìn từ

dòng chảy lịch sử'' , Nghiên cứu Trung Quốc, số 6, tr 74 - 84 Hay những

nét cụ thể về bối cảnh lịch sử Trung Quốc cuối thế kỷ X X đầu thế kỷ XX

đã được đề cập đến trong luận văn cao học ''Sự chuyển biến kinh tế - xã hội

ở Trung Quốc cuối thế k XIX đầu thế k XX ướ tá động của chủ n hĩ

thực dân'' của tác giả Nguyễn Thị Hương Đại học Vinh, 2002)

Với những tài liệu nghiên cứu về bối cảnh lịch sử, cuộc đời và tư tưởng cách mạng của Tôn Trung Sơn đã được đề cập đến trong nhiều công trình của

các học giả trên thế giới Nhất là cuốn ''Lịch sử cận đại Trung Quốc'' do Nhà

xuất bản Khoa học Matxcơva xuất bản năm 1976 bản dịch P S Phan Văn

an đặc biệt có giá trị về mặt tư liệu Cuốn ''Tôn Dật T ên n ười giải phóng

Trung Hoa'' của tác giả người Anh là Henry Bond Restaick, từng có nhiều

năm sống ở Honolulu (bản dịch của Nguyễn Sinh Duy)

Trang 9

Là cháu gái của Tôn Trung Sơn, Tôn Huệ Phương đã viết cuốn ''Tôn

Trun Sơn - ông tôi'', được Nguyễn Khắc Khoái biên dịch và Nhà xuất bản

Công an Nhân dân ấn hành năm 2003 với tiêu đề ''Tôn Trun Sơn uộ đời và

Cuộc đời và tư tưởng cách mạng của Tôn Trung Sơn với những công

trình nghiên cứu: Dật Công, Nhượng Tống (1926), Tiểu sử và Học thuyết

Tôn Dật Tiên, Nam đồng thư xã; Tôn Huệ Phương 2003 , Tôn Trun Sơn cuộc đời và sự nghiệp cách mạng, Nhà xuất bản Công an Nhân dân Hà

Nội; Đào uy Đạt (2006), Tìm hiểu tư tưởng cận đại hóa của Tôn Trung

Sơn, Nghiên cứu Trung Quốc, số 3, tr 47 – 55; Vương Ngọc Hoa, Tư

tưởng triết học Tôn Trung Sơn, Nhà xuất bản Sự thật Hà Nội, 1963; Nguyễn Văn Hồng (1996), "Tôn Trung Sơn với Chủ nghĩa tam dân nhìn từ dòng chảy lịch sử'' , Nghiên cứu Trung Quốc, số 6, tr 74 – 84; Nguyễn Văn

Hồng (2001), “Ảnh hưởng hoạt động cách mạng và Chủ n hĩ T m ân

củ Tôn Trun Sơn đối với cách mạng Việt N m”, Bài tham luận tại Hội

thảo khoa học quốc tế tại Đài Loan, tư liệu do TS Nguyễn Thị Hương cung cấp); hay còn có những công trình nghiên cứu khác Nguyễn Huy Qúy

(2001), Tìm hiểu “Chủ n hĩ Dân quyền” ủ Tôn Trun Sơn”, Nghiên

cứu Trung Quốc.39 (5), tr 40 – 47; Tăng Thanh Sang, Nguyễn Thị Hương

(2010), “Cá đoạn phát triển trong hệ tư tưởng chính trị dân tộc của

Tôn Trun Sơn”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam , số 1 tr 55- 61; Tôn

Trung Sơn 1995 , Chủ n hĩ T m ân, Viện Thông tin Khoa học Xã hội,

Hà Nội; Nguyễn Anh Thái (1996), “Chủ n hĩ T m ân và vị trí lịch sử

Trang 10

trọn đại củ nó” Nghiên cứu Trung Quốc, 9(5) Với các công trình này

đã đưa tới cách nhìn khái quát hơn về cuộc đời cũng như sự hình thành tư tưởng cách mạng của Tôn Trung Sơn

Tiếp đến cung cấp cho chúng tôi hiểu biết về những hoạt động cách mạng của Tôn Trung Sơn ở các nước, đặc biệt là một số nước châu như Nhật Bản, Việt Nam, Singapore, đã có những bài viết của các nhà nghiên cứu Việt Nam công bố trong các công trình, Tạp chí khoa học có uy tín

như: Nguyễn Văn Hồng (2001), Mấy vấn đề lịch sử hâu Á và lịch sử Việt

Nam - Một cách nhìn, Nxb Văn hoá ân tộc, Hà Nội; Nguyễn Văn Hồng,

Nguyễn Thị Hương, Chương Thâu, Tôn Trun Sơn với Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội 2013; Nguyễn Thị Hương 2011 , “Bướ đầu tìm hiểu về

những hoạt động tuyên truyền và thành lập tổ chức cách mạng của Tôn Trun Sơn tron ộn đồn N ười Hoa và Hoa kiều ở hải ngoạ ”, Nghiên

cứu Đông Nam , số 3.(132), tr 70 – 75; Nguyễn Thị Hương 2011 , “Tôn

Trun Sơn xây ựng các tổ chức cách mạng trong cộn đồn n ười Hoa và Hoa kiều ở Việt N m”, Nghiên cứu Trung Quốc, số 5(117); Nguyễn Thị

Hương 2011 , “Về sáu lần Tôn Trun Sơn đến Việt Nam hoạt động cách

mạn ”, Nghiên cứu Lịch sử, số 5(421), tr 53 - 58; Nguyễn Thị Hương

(2012), “Những hoạt động cách mạng củ Tôn Trun Sơn ở Việt N m”, (Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Cách mạng Tân Hợ 100 năm nhìn lại, Nxb

Khoa học xã hội, Hà Nội ; Nguyễn Thị Hương (2015), “Về nguyên nhân

Tôn Trun Sơn đến Việt Nam tiến hành các hoạt động cách mạn ”, Tạp chí

nghiên cứu Trung Quốc, số 4 (164), tr 52-57; Nguyễn Thị Hương (2015),

“Về các tổ chức cách mạn o Tôn Trun Sơn thành lập ở Nhật Bản”, Tạp

chí nghiên cứu Đông ắc Á, số 8 Những công trình này cho thấy một cách

rõ nét về hoạt động và tư tưởng cách mạng của Tôn Trung Sơn ở ba trung tâm cách mạng lớn của Trung Quốc ở các nước Châu Á (Nhật Bản, Việt Nam, Singapore)

Trang 11

Hay Cuốn '' Tôn Trun Sơn với Hoa kiều'' của Nhâm Qúy Tường, Nhà

xuất bản Nhân dân Hắc Long iang năm 1998 Trong đó, đã đề cập đến tình hình người Hoa và Hoa kiều trên thế giới cũng như sự phân bố của họ khắp năm châu Đồng thời, đề cập đến những hoạt động cách mạng của Tôn Trung Sơn và sự ủng hộ của lực lượng Hoa kiều đối với Tôn Trung Sơn ở hải ngoại

Ngoài ra, phải kể đến một số luận án tiến sĩ, luận văn tiến sĩ đề cập đến các vấn đề liên quan Đặc biệt là luận án của tác giả Nguyễn Thị Hương Học viện Khoa Học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, 2011)

"Hoạt động củ Tôn Trun Sơn và tá động củ nó đối với phong trào cách

mạng trong cộn đồn n ười Hoa và Hoa kiều ở Việt Nam (cuối thế k XIX đầu thế k XX)'' Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn nh Linh Trường Đại

học Vinh, 2005 Vai trò củ Tôn Trun Sơn đối với cách mạng Trung Quốc

trong nhữn năm 1984 - 1925'' Nội dung của các luận văn, luận án nghiên

cứu về các khía cạnh có liên quan như; tư tưởng cách mạng dân tộc của Tôn Trung Sơn, hoạt động tuyên truyền cách mạng, nhận thức về vai trò người Hoa và Hoa kiều ở hải ngoại, xây dựng các tổ chức cách mạng của Tôn Trung Sơn ở Việt Nam

Những tác phẩm, công trình nghiên cứu, bài viết nói trên còn cho thấy hoạt động thành lập các tổ chức cách mạng của Tôn Trung Sơn đã được chú ý nhiều hơn, tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về hoạt động của Tôn Trung Sơn với sự ra đời của các tổ chức cách mạng ở một số nước châu Á Có chăng cũng chỉ là những nghiên cứu về sự thành lập các tổ chức cách mạng ở Nhật Bản, Việt Nam; còn đối với sự thành lập của các tổ chức cách mạng ở Singapore đến nay vẫn còn là một khoảng trống Nói chung các công trình nghiên cứu đó còn lẻ tẻ, chưa có được sự khái quát tổng thể Vì vậy, với điều kiện cho ph p chúng tôi đi sâu vào tập trung nghiên cứu một cách tổng thể về Tôn Trung Sơn với sự thành lập các tổ chức cách mạng ở một số nước Châu Á(Nhật Bản, Việt Nam, Singapore) Mặc dù vậy, đề tài của chúng tôi ít nhiều đã tiếp thu và kế thừa các thành tựu nghiên cứu nói trên

Trang 12

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

3.1 Mục đíc

Trong luận văn này, chúng tôi tập trung đi sâu vào nghiên cứu những điều kiện lịch sử, nguyên nhân dẫn đến sự ra đời và hoạt động của các tổ chức cách mạng do Tôn Trung Sơn thành lập Để từ đó nhằm tìm hiểu thêm những hoạt động cách mạng của Tôn Trung Sơn trong suốt thời kỳ ở các nước như Việt Nam, Nhật Bản, Singapore Và tác động của nó đối với cách mạng dân tộc dân chủ ở Trung Quốc Qua đó góp thêm chứng cứ, tư liệu lịch sử để làm

rõ hơn về cuộc đời, sự nghiệp cách mạng và những đóng góp của Tôn Trung Sơn đối với quê hương

3.2 Nhiệm vụ

- Làm rõ tư tưởng cách mạng chủ nghĩa tam dân, đặc biệt là chủ nghĩa dân tộc của Tôn Trung Sơn, cũng như những điều kiện thuận lợi để Tôn Trung Sơn sang các nước châu Á hoạt động cách mạng để kêu gọi, tìm kiếm

sự ủng hộ của Hoa Kiều ở đây và các nước sở tại Từ đó thấy được các tác động tích cực đến quá trình tiến hành cách mạng Tân Hợi

- Khái quát về những hoạt động cách mạng của Tôn Trung Sơn, nhất là những hoạt động thành lập các tổ chức cách mạng ở Nhật Bản, Việt Nam, Singapore và hưởng ứng nó một cách có hiệu quả để phục vụ mục đích cách mạng dân tộc dân chủ

- Phân tích, đánh giá nhằm thấy được tác động của các tổ chức cách mạng do Tôn Trung Sơn thành lập ở Nhật Bản, Việt Nam, Singapore đối với cách mạng Trung Quốc Cũng như xem x t sự đóng góp của cộng đồng người Hoa và Hoa kiều vào công tác xây dựng các tổ chức cách mạng ở mỗi một nước, so sánh vai trò và sự đóng góp của cộng đồng này đối với từng tổ chức

ở mỗi nước để thấy được mức ảnh hưởng của sự hình thành các tổ chức cách mạng ở đây đã góp phần vào cuộc cách mạng dân tộc dân chủ Trung Quốc như thế nào

Trang 13

4 Đối tuợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tuợng nghiên cứu:

Trong quá trình nghiên cứu đề tài Tôn Trung Sơn với sự thành lập các

tổ chức cách mạng ở một số nước châu Á, chúng tôi tập trung nghiên cứu về cuộc đời, tư tưởng cách mạng của Tôn Trung Sơn, đồng thời đi sâu nghiên cứu về các tổ chức cách mạng do Tôn Trung Sơn thành lập ở ba trung tâm của cách mạng tư sản Trung Quốc ở châu Á là Nhật Bản, Việt Nam, Singapore

Sở dĩ tìm hiểu theo trình tự như vậy bởi vì, Lúc gặp khó khăn khi hoạt động ở trong nước, Tôn Trung Sơn đặt chân đến Nhật Bản nhằm kết nối cộng đồng người Hoa và Hoa kiều tiến tới thành lập các tổ chức cách mạng; sau khi sức ảnh hưởng của Tôn Trung Sơn ngày càng lớn ở hải ngoại, nhất là Nhật Bản, một trong những trung tâm cách mạng lớn nhất của cách mạng Trung Quốc ở châu Á lúc bấy giờ, và những hoạt động cách mạng ở đây của Tôn Trung Sơn cũng bắt đầu có tác động mạnh mẽ đối với tình hình cách mạng Trung Quốc, triều đình Mãn Thanh lo sợ điều đó nên cấu kết với Chính phủ Nhật Bản trục xuất Tôn Trung Sơn ra khỏi nước Nhật với mục đích ngăn chặn những hoạt động cách mạng của ông tại đây ị trục xuất khỏi Nhật, ông tiếp tục tìm đến với các nước Châu Á khác mà trước hết là Việt Nam, chính là trung tâm Châu

Á thứ hai mà ông đến để tiến hành các hoạt động cách mạng, khi đã thu được những thành quả cách mạng đáng kể ở đây, đặc biệt đã lôi k o được đông đảo lực lượng người Hoa và Hoa kiều tham gia vào các cuộc cách mạng do ông phát động ở các tỉnh biên giới giáp ranh giữa Trung Quốc và Việt Nam, để nhằm vào thế lực phong kiến trong nước, thì ông lại bị trục xuất khỏi Việt Nam do sự cấu kết của nhà Thanh và thực dân Pháp ở Việt Nam Và Singapore là trung tâm thứ ba Tôn Trung Sơn đặt chân tới để tiếp tục sự nghiệp cách mạng của mình Qua đó, nêu lên tác động của các tổ chức cách mạng do Tôn Trung Sơn thành lập ở những nước này đối với sự nghiệp cách mạng của ông nói riêng và đất nước nói chung

Trang 14

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài được chúng tôi giới hạn như sau:

Về phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về sự ra đời của các

tổ chức cách mạng do Tôn Trung Sơn thành lập ở hải ngoại, tiêu biểu như ở

ba nước Châu Á là Nhật Bản, Việt Nam, Singapore và tác động của các tổ chức cách mạng này đối với cách mạng dân tộc dân chủ ở Trung Quốc

Về phạm vi không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu về những hoạt

động cách mạng của Tôn Trung Sơn ba nước Châu Á: Nhật Bản, Việt Nam, Singapore Và để có cái nhìn toàn diện, chúng tôi còn nghiên cứu về những hoạt động của Tôn Trung Sơn ở Trung Quốc

Về phạm vi thời gian: Cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồ tư liệu: Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở nguồn tư liệu tiếng

Việt tương đối phong phú như các bài viết trên các tạp chí nghiên cứu khoa học, Internet, các ấn phẩm chuyên sâu, các tập kỷ yếu hội thảo, một số luận văn và luận án, ngoài ra còn có các nguồn tư liệu khác như tư liệu về tiếng

Trung

5.2 P ươ p áp iê cứu: Khi nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng

phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, phương pháp lịch sử và phương pháp logic Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp khác: định

lượng, thống kê, so sánh để giải quyết các vấn đề mà luận văn đưa ra

6 Đóng góp của luận văn

- Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu tương đối toàn diện, rõ ràng, có hệ thống về cuộc đời, sự nghiệp chính trị của Tôn Trung Sơn, đặc biệt là những hoạt động thành lập các tổ chức cách mạng của Tôn Trung Sơn

ở một số nước Châu Á Qua đó để góp phần khẳng định vai trò to lớn của ông đối với Trung Quốc

- Luận văn góp phần giúp người đọc hiểu hơn về một giai đoạn lịch sử đầy thăng trầm của lịch sử Trung Quốc cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX

Trang 15

- Những tư liệu thu thập được và kết quả nghiên cứu có thế dùng làm tài liệu phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học khi tìm hiểu về nhân vật Tôn Trung Sơn nói riêng và lịch sử Trung Quốc nói chung

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Tôn Trung Sơn và bối cảnh dẫn đến sự ra đời của các tổ chức cách mạng ở một số nước Châu Á

Chương 2 Tôn Trung Sơn thành lập các tổ chức cách mạng ở Nhật Bản, Việt Nam, Singapore

Chương 3.Tác động của các tổ chức cách mạng do Tôn Trung Sơn thành lập ở Nhật Bản, Việt Nam, Singapore đối với cách mạng Trung Quốc

Trang 16

NỘI UNG CHƯƠNG 1 TÔN TRUNG SƠN VÀ ỐI CẢNH DẪN ĐẾN SỰ RA ĐỜI

CÁC TỔ CHỨC CÁCH MẠNG Ở MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á

1.1 Vài n t về cu c đời và hoạt đ ng cách mạng của T n Trung Sơn

Tôn Trung Sơn tên thật là Tôn Dật Tiên, hiệu là Tôn Văn Ông sinh ngày 12/11/1866 trong một gia đình nông dân nghèo tại thôn Thúy Hanh, huyện Hương Sơn nay là thành phố Trung Sơn , tỉnh Quảng Đông Lúc nhỏ gọi là Đế Tượng, tự là Đức Minh, khi lớn lên tên hiệu là Nhật Tân, sau đó mới đổi thành Dật Tiên Năm 1897, khi hoạt động cách mạng ở Nhật Bản gọi

là Tôn Trung Sơn

Ngay từ thuở nhỏ, Tôn Trung Sơn có cuộc sống vất vả, gần gũi với người dân lao động khổ cực nên ông sớm hiểu được những nỗi thống khổ của

quần chúng nhân dân Đến khi trưởng thành, chịu ảnh hưởng truyền thống đấu

tranh cách mạng của quê hương, ông quyết tâm hướng tới sự nghiệp cách mạng của phong trào nông dân Thái Bình Thiên Quốc

Tháng 5 năm 1879 Tôn Trung Sơn theo mẹ sang Honolulu thuộc quần đảo Haoai(Đàn Hương Sơn nương nhờ người anh trai Tôn Mi(còn gọi là Tôn Đức Chương - một tư sản Hoa kiều Cũng bởi nhờ sự giúp đỡ ấy mà Tôn Trung Sơn đã được học tập và tiếp thu tương đối có hệ thống nền giáo dục phương Tây lúc bấy giờ Với những kiến thức, hệ tư tưởng mới tiến bộ cũng như việc tiếp cận một cuộc sống tốt hơn đã khiến Tôn Trung Sơn dần có sự đối sánh với thực trạng Trung Hoa, và nảy sinh quyết tâm nâng cao địa vị dân tộc, hướng đến chế dộ dân chủ Cũng nơi đây ông có điều kiện để chuẩn bị cho mình một hành trang, một công cụ đắc lực như vốn tiếng Anh thông thạo

để nhằm thuận lợi về sau cho việc nghiên cứu các học thuyết chính trị, kinh tế phương Tây trong quá trình hoạt động cách mạng sau này

Trang 17

Sau thất bại của Trung Quốc trong cuộc chiến tranh Trung - Pháp (1884), hành vi chuyên chế, mục nát của nhà Mãn Thanh ngày càng biểu hiện

rõ nét Nhận thức rõ về điều đó, Tôn Trung Sơn quyết tâm đấu tranh chống lại chính quyền Mãn Thanh Trong thời gian học tại trường Y Bác Tế Quảng Châu, tiếp đó là Trường Y Anh Văn(Học viện Tây Y) ở Hồng Kông Hương Cảng , ông thường lấy học đường làm nơi cổ động Sau khi tốt nghiệp, Tôn Trung Sơn tới Ma Cao, Quảng Đông để một mặt ông hành nghề y nhưng mặt khác ông bắt đầu tổ chức hoạt động cách mạng Với mục đích trước mắt là chữa bệnh cứu người, song thực sự sâu xa hơn nữa là chữa bệnh cứu nước thông qua việc tuyên truyền tư tưởng chống lại chính quyền Mãn Thanh đến mọi tầng lớp nhân dân

Trước tình hình chính quyền thối nát, lòng người căm phẫn, Tôn Trung Sơn liền tới Honolulu sáng lập ra Hưng Trung Hội Tháng 10/1895, Tôn Trung Sơn phát động cuộc khởi nghĩa đầu tiên ở Quảng Châu, tuy nhiên kế hoạch bị bại lộ, Tôn Trung Sơn buộc phải bôn ba hải ngoại Và đây cũng là thời gian ông có điều kiện lưu lại châu Âu để nghiên cứu khảo sát tình hình chính trị, kinh tế, xã hội và kết giao với các bậc hiền tài Trên cơ sở ấy, chủ nghĩa Tam dân của ông từng bước hình thành và hoàn chỉnh

Năm 1900, phong trào nông dân Nghĩa Hòa Đoàn bùng nổ, Chính phủ Mãn Thanh lợi dụng nó nhằm thực hiện hành vi bài ngoại, dẫn đến tai họa liên quân tám nước tấn công Bắc Kinh Nhà vua phải chạy trốn, triều đình phải bồi thường chiến phí, uy tín của nhà Thanh không còn, cuộc sống nhân dân càng khó khăn Với tình hình lúc bấy giờ,chớp lấy thời cơ Tôn Trung Sơn

đã cử người phát động Khởi nghĩa Huệ Châu Nghĩa quân đã giành được những thắng lợi bước đầu, song do quân lương can kiệt, tiếp tế không đủ nên phải chịu thất bại Tuy nghĩa quân thất bại trong lần này song Tôn Trung Sơn thực sự thấy vui mừng phấn khởi bởi đã phần nào thức tỉnh được người dân khỏi cơn mê Tôn Trung Sơn nhận thức được tình hình lúc bấy giờ và ông đã tiền hành thành lập các đoàn thể cách mạng ở một số nước thuộc châu Mỹ,

Trang 18

châu Âu, châu Đặc biệt là một số nước châu như Nhật Bản, Việt Nam, Singapore

Do ảnh hưởng những hoạt động cách mạng của Tôn Trung Sơn, vào những năm 1901 - 1904 các đoàn thể chống Thanh liên tiếp được thành lập ở nhiều nơi Các tổ chức cách mạng lần lượt được thành lập ở trong nước cũng như ở các nước châu Á, mang lại những kết quả cao, có tác động sâu sắc đối với cả người dân trong nước cũng như người Hoa và Hoa kiều đang sinh sống

ở các nước láng giềng Nhờ vậy mà phong trào và tinh thần đấu tranh của nhân dân ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn Tháng 11/1905, trong lời nói đầu của tờ Dân báo - cơ quan ngôn luận của Đồng Minh Hội, lần đầu tiên Tôn Trung Sơn chính thức đưa ra ba chủ nghĩa lớn: dân tộc, dân quyền và dân

sinh Và đúng như Tôn Trung Sơn đã viết trong Tự truyện của mình: “Phon

trào cách mạng từ đó phát tr ển nhảy vọt, tiến bộ không thể nào ngờ" [31,

tr.30]

Sau sự thành lập của Đồng Minh Hội, Tôn Trung Sơn tích cực vạch kế hoạch, cử các đồng chí đi tuyên truyền và thành lập các phân hội ở khắp nơi trong và ngoài nước Đích thân ông đi đến nhiều nước, đặc biệt là các nước Đông Nam nhằm tuyên truyền, phát triển tổ chức và quyên góp kinh phí cho cách mạng trong các tầng lớp như người Hoa và Hoa kiều đang sinh sống khắp nơi

Ngày 10/10/1991, dưới ảnh hưởng của Tôn Trung Sơn và Đồng Minh Hội, Khởi nghĩa Vũ Xương bùng nổ, các tỉnh thành trong cả nước rầm rộ hưởng ứng Được tin cách mạng thắng lợi, Tôn Trung Sơn đang ở nước ngoài lập tức tiến hành các hoạt động ngoại giao nhằm cô lập Chính phủ Mãn Thanh về mặt kinh tế, tạo môi trường quốc tế hòa bình, trung lập cho sự thành công của Cách mạng Tân Hợi

Cuối tháng 12 /1911, Tôn Trung Sơn về nước Ngày 2/1/1912, ông chính thức nhận chức Tổng thống lâm thời nước Trung Hoa dân quốc tại Nam Kinh Ngày 12/2/1912, vua Tuyên Thống(tức vua Phổ Nghi) tuyên bố thoái

Trang 19

vị, kết thúc chế độ quân chủ chuyên chế tồn tại hàng ngàn năm ở Trung Quốc Không lâu sau đó, Tôn Trung Sơn công bố Ước pháp lâm thời của Trung Hoa dân quốc Đó là hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nền chính trị dân chủ Trung Quốc Tuy nhiên, do phải gánh chịu nhiều áp lực nặng nề, Tôn Trung Sơn buộc phải từ chức tổng thống, giao lại toàn bộ chính quyền cho Viên Thế Khải vào ngày 1/4/1912

Để tiếp tục sự nghiệp cách mạng của mình, Tôn Trung Sơn đẩy mạnh các hoạt động Sau khi từ chức tổng thống, ông vẫn chú trọng làm những việc mang ý nghĩa thiết thực: thực hiện kế hoạch công thương nghiệp, thúc đẩy làm đường sắt chấn hưng kinh tế Trung Quốc Đặc biệt, ông đi khắp các tỉnh thành trong cả nước, tuyên truyền về chủ nghĩa dân sinh Vì ông cho rằng, cách mạng thành công, lật đổ được chính quyền Mãn Thanh là cơ bản đã hoàn thành chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa dân quyền

Trước sự chuyên quyền, thao túng của Viên Thế Khải, Đồng Minh Hội

đã liên hợp với các đảng nhỏ trong Hạ viện, cải tổ thành Quốc dân Đảng vào tháng 8/1912 Ngay sau đó, Tôn Trung Sơn phát động cuộc cách mạng lần thứ hai nhằm lật đổ Viên Thế Khải Cách mạng thất bại, Quốc dân Đảng về cơ bản bị Viên Thế Khải giải tán, Tôn Trung Sơn phải lưu vong sang Nhật ản Tại Nhật Bản, ông quyết định tổ chức Đảng Cách mạng Trung Hoa vào tháng 6/1914, lập kế hoạch trở lại cầm quyền

Đang bế tắc chưa tìm ra được con đường đi phù hợp cho đất nước mình, thì vào thời điểm đó Cách mạng Tháng Mười Nga bùng nổ, đã làm thức tỉnh Tôn Trung Sơn, từ đó ông nhận thấy con đường đi mới cho Trung Quốc Cũng chính sự trưởng thành và phát triển nhanh chóng của phong trào cách mạng vô sản Trung Quốc thông qua Cuộc vận động Ngũ Tứ diễn ra năm 1919

và sự thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1921, khiến ông có nhận thức mới đối với lực lượng cách mạng Từ đây, Tôn Trung Sơn bắt đầu có những thay đổi lớn về tư duy và thế giới quan

Trang 20

Với sự thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đó, đã như mở ra cho ông thấy một con đường mới, một hướng đi mới, góp phần thắp sáng niềm tin ở trong ông, thắng lợi của cuộc cách mạng ấy nó có tác động mạnh mẽ tới Tôn Trung Sơn, khiến ông như tìm lại được con đường giải phóng cho chính dân tộc mình Tiếp đó, ông đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm đưa đất nước thoát ra khỏi những khó khăn trước đó

Sự chuyển biến mạnh mẽ trong tư tưởng cách mạng của Tôn Trung Sơn tới lúc này đã biểu hiện một cách rõ n t, khi Tôn Trung Sơn tiến hành thành lập Trường quân sự Hoàng Phố ở Quảng Châu nhằm xây dựng lực lượng quân đội nhà nước

Trên đà tiến lên của sự nghiệp cách mạng, vào những năm cuối đời Tôn Trung Sơn tích cực đấu tranh nhằm xóa bỏ các hiệp ước bất bình đẳng mà trước đó Trung Quốc đã ký với nước ngoài

Ngày 12/3/1925 Tôn Trung Sơn một con người ưu tú và kiệt xuất của mảnh đất Quảng Đông đã từ trần tại Bắc Kinh sau một cơn bạo bệnh, để lại cho hậu thế sự nghiệp cách mạng tuy còn dang dở nhưng cũng rất đối hào hùng Sự ra đi này của ông đã làm cho cách mạng Trung Quốc mất đi một vị lãnh tụ vĩ đại, cách mạng thế giới mất đi một người chiến sĩ kiên trung Vì thế, dù lịch sử đã trải qua những thăng trầm, Tôn Trung Sơn vẫn luôn là một tấm gương sáng ngời để lại trong lòng nhân dân Trung Quốc nói riêng và bạn

bè khắp năm châu nói chung sự ngưỡng mộ sâu sắc

Làn sóng cách mạng dân tộc, dân chủ chống đế quốc, chống phong kiến nổi lên ở Trung Quốc thời cận đại đã xuất hiện nhiều vị lãnh tụ cách mạng xuất sắc Tuy nhiên trong đó nổi lên có nhà lãnh đạo vĩ đại, vị lãnh tụ với cách nhìn và hướng đi, hay một con người có thiên tư sắc sảo được biết đến với những am hiểu của mình, biết gắn quan hệ mật thiết với người Hoa và

Hoa kiều ở hải ngoại thì chỉ có Tôn Trung Sơn

Vào thời điểm lúc ấy, người Hoa và Hoa kiều đã phân bố ở khắp năm châu Căn cứ theo thống kê thì vào năm 1907, tổng số người Hoa và Hoa kiều

Trang 21

trên toàn thế giới chiếm khoảng 6.317.329 người Đặc biệt, ở khu vực Đông Nam Á là một trong khu vực có vị trí tiếp giáp với Trung Quốc, và có số lượng người Hoa và Hoa kiều đông nhất o đó, đây là một trong những nguyên nhân khiến Tôn Trung Sơn đặc biệt chú ý khi tiến hành các hoạt động cách mạng

Trong cuộc đời hoạt động của mình, Tôn Trung Sơn đã có sáu lần đến Honolulu, tổng cộng thời gian lưu lại là 7 năm[17, tr.61] Thời gian học tập ở đây giúp ông hiểu biết về lịch sử, văn hóa phương Tây Trên cơ sở đó có sự so sánh và nảy sinh tư tưởng cải tạo Trung Quốc Đồng thời ở đây cũng là nơi ông đã thành lập đoàn thể cách mạng đầu tiên của giai cấp tư sản Trung Quốc

- Hưng Trung Hội; mở cuộc luận chiến gay gắt kịch liệt với phái Bảo hoàng Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu đứng đầu; gia nhập Hội Hồng môn hải ngoại

Tiếp đó ở khu vực Bắc Mỹ, ông cũng đã lưu lại một thời gian và tại đây không chỉ thành lập tổ chức mà còn cải tạo Trí Công Đường Đặc biệt ở Đông Nam , người Hoa và Hoa kiều đóng một vị trí và vai trò quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của Tôn Trung Sơn Trong vòng hơn 10 năm từ năm 1900 đến năm 1911 , ông bảy lần đến Đông Nam Á, thời gian hoạt động

và di chuyển ở khu vực này khoảng 3 năm 10 tháng [17, tr.62] Cụ thể, Tôn Trung Sơn đã mười một lần đến Singapore; năm, sáu lần đến Malaysia và Việt Nam; hai lần đến Thái Lan [12, tr.105] Thời gian lưu lại và phạm vi hoạt động, Tôn Trung Sơn đã tạo lập được mối quan hệ mật thiết với những phần tử tinh anh trong số người Hoa và Hoa kiều yêu nước ở đây Và dưới ảnh hưởng của ông, họ trở thành lực lượng trung kiên trong mọi hoạt động cách mạng Đồng thời, Tôn Trung Sơn cũng chuyển Đông Nam thành căn

cứ và trung tâm cách mạng, là nơi trù hoạch và phát động nhiều cuộc khởi nghĩa quan trọng

Nhằm phát huy tinh thần yêu nước của người Hoa và Hoa kiều, mà theo Tôn Trung Sơn, họ chính là những người có thể ủng hộ, tham gia và là

Trang 22

chỗ dựa cho sự thành công của cách mạng, tổng cộng ông đến với họ với độ dài bằng 4 lần đi vòng quanh trái đất Ông đi đến đâu, đến khắp các nơi trên thế giới mà có lực lượng này sinh sống và đặc biệt chú ý tới việc giáo dục tuyên truyền và thành lập các tổ chức cách mạng ở đó

Khi Tôn Trung Sơn mới bắt đầu sự nghiệp cách mạng, bất luận là quần chúng trong nước hay người Hoa ở hải ngoại đều không hiểu Họ chỉ biết

rằng “ á h mạn ”, “tạo phản”, phản đối hoàng đế là “đại nghịch bất đạo”

Ông nhận thấy, sự nghiệp cách mạng của mình nếu muốn được mọi người ủng hộ, tất yếu phải bắt đầu từ việc tác động vào nhận thức để họ hiểu được đạo lý và ý nghĩa cách mạng, từ đó sẽ chuyển biến trong hành động Nhưng muốn làm thay đổi quan niệm tư tưởng truyền thống cố hữu là việc cực kì khó khăn o vậy, mà trong cả quá trình hoạt đông ông luôn đặt công tác tuyên truyền vào vị trí rất quan trọng

Vào thời điểm Tôn Trung Sơn bắt đầu đẩy mạnh các hoạt động, đại bộ phận người Hoa và Hoa kiều ở nhiều nơi khu vực trên thế giới đều tham gia vào tổ chức Hội Bảo hoàng Để thức tỉnh được họ ông trước hết phải đích thân đến từng địa phương, tiến hành các buổi diễn thuyết, tuyên truyền tư tưởng cách mạng cứu nước trong các tầng lớp người Hoa và Hoa kiều Công việc này bước đầu gặp rất nhiều trở ngại nhưng chỉ một thời gian sau đó rất thuận lợi Cùng với hoạt động diễn thuyết, Tôn Trung Sơn chú trọng tuyên truyền thông qua báo chí ách mạng Trong chương trình 10 diều của Hưng

Trung Hội ở Hồng Kông, điều 3 ghi rõ: “lập tòa báo mở mang phong khí, mở

trường họ để giáo dục bồ ưỡng nhân tài dần dần hưn thịnh” [29, tr.95]

o đó, “bất cứ nơ đâu ôn đặt hân đến đều có sự r đời của các tờ báo và

trường học củ n ười Hoa và Hoa kiều ”[14, tr.120] Không ít tòa báo,trường

học ấy đều do Tôn Trung Sơn trực tiếp lãnh đạo thành lập Đồng thời cùng với các hình thức tuyên truyền, Tôn Trung Sơn cũng luôn kiên trì tổ chức các

tổ chức cách mạng Trước cách mạng Tân Hợi, những tổ chức ấy chủ yếu được xây dựng trong cộng đồng người Hoa và Hoa kiều

Trang 23

Vào năm 1894, Tôn Trung Sơn thành lập đoàn thể cách mạng đầu tiên của giai cấp tư sản Trung Quốc - Hưng Trung Hội Tháng 2/1895, ông thành lập Tổng hội Hưng Trung Hội ở Hồng Kông Sau đó phát triển tổ chức tiếp tục thành lập các phân hội ở Quảng Châu, Đài Loan, Nhật Bản

Năm 1911, dưới sự chỉ đạo của Tôn Trung Sơn, Đồng Minh Hội ở các nước châu Âu còn tiến hành liên hợp với Trí Công Đường, hội viên Đồng Minh Hội ở đây đều tham gia Hồng Môn o đó, phong trào cách mạng trong Hoa kiều ở châu Âu ngày càng dâng cao

Với việc tích cực triển khai tuyên truyền, thành lập các tổ chức cách mạng đó trong cộng đồng người Hoa và Hoa kiều thì ông đã nhanh chóng lôi

k o được một lực lượng hùng hậu đóng góp vào sự nghiệp cách mạng của mình Được sự trợ giúp lớn về vật lực, tiền của cũng như lực lượng nòng cốt của người Hoa và Hoa Kiều mà các tổ chức hoạt động ngày càng có hiệu quả cao, là lực lượng quan trọng giúp Tôn Trung Sơn có thể tiến hành cách mạng

1.2 Chủ nghĩa Tam dân của T n Trung Sơn

Ở thời điểm Tôn Trung Sơn sinh ra và lớn lên cũng là lúc Trung Quốc

đang bị các liệt cường xâu xé Chủ nghĩa đế quốc tranh nhau buộc Trung Quốc phải mở cửa, cắt đất, bồi thường chiến phí Lớn lên trong bối cảnh lịch

sử như vậy, Tôn Trung Sơn được tận mắt chứng kiến cũng như phải trực tiếp chịu đựng sự bóc lột này o đó, ông sớm nhận thức được sự tủi nhục, đau xót của một người dân mất nước, bị tước đoạt quyền tự do sinh kế Hơn thế nữa, lòng tự trọng và ý thức dân tộc của ông bị tổn thương sâu sắc, Đây chính

là những nhân tố cơ bản đưa tới sự hình thành tư tưởng cách mạng của ông về sau

Từ thủa thiếu thời, dưới sự giáo dục của trường tư thục tại quê nhà, Tôn Trung Sơn được học tập nhiều tri thức của nền học thuật phong kiến

Trung Quốc Ông đặc biệt say mê lý tưởng xã hội đại đồng, “th ên hạ đều là

của chung"(thiên hạ vi công trong các kinh điển Nho giáo

Trang 24

Song ảnh hưởng lớn hơn cả đối với ông lại chính là phong trào nông dân Thái Bình Thiên Quốc, một phong trào đạt tới đỉnh cao nhất của cuộc chiến tranh nông dân ở Trung Quốc, Tôn Trung Sơn bị lôi cuốn mạnh mẽ bởi

tư tưởng chủ nghĩa xã hội nông nghiệp không tưởng: “A ũn ó ruộng cùng

ày, ó ơm ùn ăn, hôn nơ nào hôn đồn đều, hôn n ười nào không

ấm no" [7, tr 8] Ông coi Hồng Tú Toàn, vị lãnh đạo của phong trào nông dân

Thái Bình Thiên Quốc là người thầy lý luận của mình Sau này, chính ông cho rằng, học thuyết Tam dân có liên hệ chặt chẽ với cương lĩnh của Hồng Tú

Toàn Ông nói: "Chủ n hĩ ân s nh tức là giàu nghèo bằng nhau, không thể

lấy n ười giàu áp bứ n ườ n hèo Nhưn mấy chụ năm trướ đã ó n ười thực hiện chủ n hĩ ân s nh, n ườ đó hính là Hồn Tú Toàn” [ Dẫn theo

23, tr.7]

Khi theo học ở trong trường đạo của Anh và Mỹ, ông được tiếp xúc với nhiều trí thức khoa học cận đại như thuyết Tiến hóa luận của Darwin, thuyết Vạn vật hấp dẫn của Newton, thuyết tế bào của Slâyđen cùng nhiều tư tưởng của khai sáng Pháp: Rútxô, Môngt txkiơ Ông say mê tìm hiểu,

nghiên cứu về các chế độ chính trị của phương Tây, về khẩu hiệu “tự do, bình

Trang 25

Sau quá trình thực tế, tiếp thu được những trào lưu tư tưởng về học

thuyết xã hội ông nhận thấy được rất nhiều điều, đồng thời nhà Thanh ngày càng lộ rõ bản chất cấu kết phản động của nó Chứng tỏ sự nghiệp cứu nước tuyệt đối không thể dựa vào bất kỳ sự cải cách nào của chính quyền phong kiến Mãn Thanh, mà phải đi bằng con đường bạo lực cách mạng

Xuất phát từ nhu cầu lịch sử nói trên, muốn giải phóng dân tộc khỏi sự xâm lược của chủ nghĩa đế quốc cần phải có một hệ thống lý luận và tư tưởng cách mạng thống nhất Kế thừa và bổ sung những khiếm khuyết của các phong trào đi trước, cùng với thực tiễn cách mạng của mình, Tôn Trung Sơn

đã xây dựng nên một học thuyết cách mạng mới phù hợp với tình hình xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ Đó chính là Chủ nghĩa Tam dân - tiền đề lý luận giúp cho cuộc cách mạng dân chủ tư sản giải phóng dân tộc ở Trung Quốc phát triển giành thắng lợi

Chủ nghĩa Tam dân ra đời trong xã hội Trung Quốc phong kiến nửa thuộc địa ở thời đại đế quốc chủ nghĩa Nó là sản phẩm của phong trào giải phóng dân tộc dân chủ, mang tính chất tư sản kiểu cũ Nội dung của Chủ nghĩa Tam dân gồm 3 phần: Chủ nghĩa ân tộc, Chủ nghĩa ân quyền và Chủ nghĩa ân sinh

1.2.1 Chủ ĩ Dâ tộc

Chủ nghĩa dân tộc là vấn đề được Tôn Trung Sơn đề cập đến đầu tiên trong hệ thống học thuyết cách mạng Chủ nghĩa Tam dân của mình

Ngay trong bài giảng đầu tiên về vấn đề dân tộc ngày 27/1/1924, căn

cứ vào tình hình tập quán xã hội trong lịch sử Trung Quốc, Tôn Trung Sơn đã

khẳng định rằng, ở Trung Quốc “ hủ n hĩ Dân tộc là chủ n hĩ Quốc tộc"

[31, tr 50] Ông nhận thức sâu sắc rằng, từ xưa đến nay, cái mà Trung Quốc sùng bái nhất là chủ nghĩa gia tộc và chủ nghĩa tông tộc, mà ở Trung Quốc chỉ tồn tại hai loại chủ nghĩa này mà không hề có sự hiện diện của chủ nghĩa quốc tộc Nguyên nhân của các điều này là ở người Trung Quốc nói chung chỉ có chủ nghĩa gia tộc và chủ nghĩa tông tộc, không có chủ nghĩa quốc tộc Đối với

Trang 26

gia tộc và tông tộc, người Trung Quốc luôn có sức liên kết vô cùng mạnh Để bảo vệ tông tộc, người Trung Quốc không tiếc sự hy sinh tính mệnh của mình Cũng vì thứ chủ nghĩa này ăn sâu, bám rễ vào lòng người nên họ có thể vì nó

mà hy sinh Còn đối với quốc gia, trước nay họ lại chưa có một lần hy sinh với tinh thần cực lớn, do vậy mà sức đoàn kết của người Trung Quốc chỉ có thể đạt đến tông tộc, chưa mở rộng được tới quốc tộc Cũng chính là lý do

khiến các nhà quan sát nước ngoài nói rằng: “N ười Trung Quốc là một mảng

cát rời rạ ” Trong bối cảnh quốc tế hóa đã diễn ra và những nước biết thức

thời đã hội nhập, thì Trung Quốc là một trong những trung tâm văn minh có ảnh hưởng rất lớn tới nhiều quốc gia Phương Đông thời kỳ cổ - trung đại vẫn

bảo thủ, “đón ử ” Điều đó cũng trở thành một nguyên nhân lịch sử cho lạc

hậu và cuối cùng bị nô dịch Nhận thấy sự tụt hậu của Trung Quốc so với các nước tư bản châu Âu, Mỹ Trung Quốc chịu sức p xâm lược của bọn đế quốc chủ nghĩa cả về kinh tế lẫn chính trị Vì vậy, Tôn Trung Sơn cho rằng: muốn cứu Trung Quốc, muốn dân tộc Trung Hoa có thể trường tồn thì cần thiết phải

đề xướng chủ nghĩa dân tộc để giúp cho chính bản thân người Trung Quốc hiểu rằng hiện nay địa vị của dân tộc Trung Hoa đang như thế nào? Nguyên nhân nào khiến cho Trung Quốc rơi vào tình trạng ấy? Có như vậy, mới mong tìm ra con đường cứu nguy dân tộc

Tôn Trung Sơn nhận định, cảnh lầm than đói khổ của nhân dân Trung Quốc đều do sự hủ bại, bất tài và thối nát cảu chính phủ Mãn Thanh đem lại

Ông cho rằng, triều đình Mãn Thanh chuyên chế, độc tài và cướp đi “s nh ế

củ n ườ Hán”, “bóp n hẹt sự phát triển củ ôn thươn n h ệp dân tộ ”,

“quỳ gố đầu hàn nước ngoài" làm cho Trung Quốc đắm chìm trong lạc hậu,

bị các cường quốc xâu xé, chia cắt o đó, để giải quyết vấn đề dân tộc, ngay

từ đầu thế kỷ XX, trong học thuyết Tam dân của mình, Tôn Trung Sơn đã đề xướng ra cương lĩnh cách mạng yêu nước - Chủ nghĩa ân tộc với nội dung

cụ thể là “đánh đuổi giặc Thát, khôi phụ Trun Ho ”

Trang 27

Tư tưởng dân tộc chủ nghĩa đó của Tôn Trung Sơn phát sinh trong điều kiện xã hội Trung Quốc bị chủ nghĩa đế quốc xâm lược và ách áp bức gia tộc

dã man của bọn thống trị Thanh triều Nó phản ảnh yêu cầu cách mạng dân tộc của nhân dân toàn quốc chống lại chính quyền nhà Thanh, chống lại chủ nghĩa đế quốc xâm lược Cương lĩnh ông đưa ra trong giai đoạn này được

hoàn thiện hơn là: “Đánh đuổi Mãn Thanh, khôi phục Trung Hoa, thành lập

chính phủ hợp chủn ”

Qua cương lĩnh này ta thấy rằng, Tôn Trung Sơn đã nhận định được nguy cơ dân tộc Trung Hoa, sự suy yếu, lạc hậu của đất nước, cảnh lầm than đói khổ của nhân dân đều bắt nguồn từ sự bất tài, hèn nhát của triều Thanh Xuất phát từ lập trường cách mạng dân tộc, Tôn Trung Sơn cũng kiên quyết chống lại những luận điệu xâm lược của chủ nghĩa đế quốc, tức là chủ nghĩa thế giới Đồng thời, ông còn phê phán quan điểm dân tộc hẹp hòi Ông cho rằng, chủ nghĩa ân tộc không phải là gặp người chủng tộc khác liền bài xích

họ Ông chủ trương mọi dân tộc đều bình đẳng, chống áp bức dân tộc và thù hằn dân tộc Sau cuộc cách mạng Tân Hợi (1911), chính quyền phong kiến nhà Thanh bị lật đổ, yêu cầu chính trị của cuộc cách mạng dân chủ dân tộc về hình thức chính trị đã hoàn thành Lúc ấy trong cuơng lĩnh của mình, Tôn Trung Sơn đã đề ra yêu cầu mới về đoàn kết dân tộc, chủ trương các dân tộc trong nước đều nhất loạt bình đẳng về quyền lợi chính trị, không được có bất

kỳ sự kỳ thị nào Ông chĩa thẳng mũi nhọn của chủ nghĩa dân tộc vào bọn

xâm lược nước ngoài, trong cuộc nói chuyện ở “Hội cả lươn hính trị thống

nhất Mông, Tạn ”

Bên cạnh đó, Tôn Trung Sơn chủ trương đoàn kết dân tộc nhưng cũng chưa hoàn toàn thoát khỏi ảnh hưởng của chủ nghĩa đại Hán tộc Tuy rằng, nó còn rất nhiều những hạn chế nhưng đã có sự tiến bộ hơn ở giai đoạn sau Nó đã phản ánh tư tưởng của nhân dân toàn quốc lúc bấy giờ đòi hỏi giải phóng dân tộc và độc lập dân tộc, có tác dụng kêu gọi nhân dân đấu tranh giành tự do cho Tổ quốc và giành độc lập dân tộc

Trang 28

1.2.2 Chủ ĩ dâ quyền

Chủ nghĩa dân quyền là vấn đề thứ hai mà Tôn Trung Sơn đề cập đến trong học thuyết cách mạng của mình Nó có liên hệ chặt chẽ với chủ nghĩa

Dân tộc Ông nêu ra chủ nghĩa ân quyền với khẩu hiệu dân quyền tự do và

kiến lập dân quốc

Để hình thành tư tưởng dân quyền, Tôn Trung Sơn đã bỏ rất nhiều công sức đi khảo sát lịch sử dân quyền ở các nước phương Tây cũng như trong lịch sử Trung Quốc Ông biết được rằng nó có mầm mống cách đây hơn

2000 năm, tuy nhiên chỉ trong vòng 200 năm gân đây nó mới được xác lập một cách vững vàng Trước đó là thời đại quân quyền và trước quân quyền là thần quyền Còn ở Trung Quốc, kể từ khi có lịch sử cho đến thời kỳ cận đại, Trung Quốc chưa hề thực hiện chế độ dân quyền mà đều áp dụng chế độ quân quyền Chế độ này tồn tại ở Trung Quốc hàng nghìn năm mà không hề thực hiện tự do, bình đẳng Và trước đây nhân dân Trung Quốc đã từng nghĩ tới dân quyền song họ không thể thực hiện được Cho tới khi Cách mạng Tân Hợi giành được thắng lợi (1911) thì Trung Quốc mới có điều kiện biến ước

mơ dân quyền thành hiện thực Và chính Tôn Trung Sơn là người đầu tiên đề xướng cách mạng chính trị để xóa bỏ chế độ quân chủ chuyên chế bất bình đẳng, thành lập một nước cộng hòa dân chủ theo kiểu Âu Mỹ

Ông đã vạch trần chế độ Mãn Thanh " hôn bình đẳng về quyền lợi và

đặc quyền”, thi hành chính sách “sưu o thuế nặn ” Theo ông, đó chính là

nguyên nhân làm Trung Quốc lụi bại, là chướng ngại lớn cản trở sự phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, tước đoạt quyền lợi của nhân dân Tôn Trung Sơn chủ

trương thiết lập một chính thể cộng hòa lấy tự o, bình đẳng, bác ái làm tinh

thần nhất quán Đây là tư tưởng tiến bộ của ông Chủ nghĩa ân quyền của ông vượt lên khỏi vòng luẩn quẩn tồn tại cố hữu trong xã hội phong kiến Trung Quốc truyền thống: tiêu diệt một triều đại này để tôn vinh một triều đại khác Điều này có ý nghĩa lịch sử lớn và tạo bước ngoặt quan trọng trong đời sống tư tưởng của nhân dân Trung Quốc thời kỳ đó

Trang 29

Tuy nhiên, để tránh “hậu quả xấu"của nền văn minh phương Tây, Tôn Trung Sơn đã đưa ra quan điểm xây dựng Hiến pháp N ũ quyền gồm: quyền

lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp, quyền khảo thí, quyền giám sát

Ngoài những quyền quy định cho bộ máy lãnh đạo ra, nhân dân cũng có bốn

quyền cơ bản: quyền tuyển cử, quyền bãi miễn, quyền sáng chế, quyền phúc

quyết Dùng bốn quyền này của dân để quản lý năm trị quyền của nhà nước

thì sẽ có một nền chính trị dân quyền hoàn hảo Ông không bàn suông về

bình đẳng, tự do Ông nói: “Có dân quyền thì mớ ó bình đẳng tự do, nếu

không có dân quyền thì bình đẳng tự do chỉ là từ trống rỗng"[30, tr 33] Qua

đó, chúng ta thấy chủ nghĩa ân quyền của Tôn Trung Sơn đã bao hàm những tinh túy của cách mạng dân chủ, mà chỗ vĩ đại nhất ông đã vượt qua được là khẩu hiệu cũ kỹ trước đây chỉ xoay quanh quỹ đạo của chế độ phong kiến như

“ ệt Thanh phục Minh" để đề ra khẩu hiệu “ ân quyền tự o” Tôn Trung

Sơn cũng đã chủ trương dân quyền là của chung nhân dân, không để thiểu số

tư sản làm của riêng, tất cả các cá nhân và đoàn thể chống đế quốc, chống phong kiến đều được hưởng quyền dân chủ Đặc biệt chủ nghĩa ân quyền của Quốc ân đảng là của chung tầng lớp bình dân, chứ không phải là cái để cho ít người dùng làm công cụ mưu lợi riêng

Chủ nghĩa ân quyền càng về giai đoạn sau càng mang nhiều nội dung tiến bộ hơn Nó đã mở rộng quyền tự do dân chủ trong nhiều lĩnh vực cho đông đảo quần chúng nhân dân Nó muốn đưa người dân lao động từ địa

vị những kẻ “hậu tri hậu giác" chỉ biết tuân thủ sự lãnh đạo của lớp người

“t ên tr t ên á "trở thành lực lượng nắm giữ quyền lực trong tay

Những tư tưởng tự do, dân chủ do ông đề xướng đã phần nào cống

hiến cho sự nghiệp giải phóng con người khỏi những lệ thuộc bất bình đẳng 1.2.3 Chủ ĩ dâ si

Chủ nghĩa dân sinh là vấn đề thứ ba Tôn Trung Sơn đề cập tới, và là mục tiêu mà chủ nghĩa ân tộc, chủ nghĩa ân quyền không ngừng tiến tới Chủ nghĩa ân sinh được Tôn Trung Sơn đánh giá ngang hàng với cuộc cách

Trang 30

mạng xã hội Ông cho rằng, chủ nghĩa ân sinh là giai đoạn cuối cùng của cuộc cách mạng xã hội

Dân sinh vốn là tư tưởng truyền thống của nhân dân Trung Quốc Trong bài giảng đầu tiên về Chủ nghĩa ân sinh 3/8/1924 , ông đã định

nghĩa một cách cụ thể như sau: “Dân s nh là đời sống của nhân dân, sinh tồn

của xã hội, sinh kế của quốc dân, sinh mệnh của quần chúng"[7, tr 80] Tôn

Trung Sơn cho rằng, bằng những lý luận đề ra trong chủ nghĩa ân sinh thì có thể đấu tranh xóa bỏ sự bất bình đẳng về kinh tế, đem lại sự ấm no cho nhân dân, làm cho đất nước trở nên hùng mạnh

Trong giai đoạn đầu, nội dung chính của chủ nghĩa ân sinh là tìm ra con đường xóa bỏ sự nghèo đói, đảm bảo đời sống ấm no cho nhân dân Do

đó, Tôn Trung Sơn đã đề xướng việc cải cách ruộng đất theo khẩu hiệu "bình

quân địa quyền" Ông mong muốn trên cơ sở bình quân ruộng đất sẽ làm cho

“nhà nhà mọi người đều ấm no, đất nước không có người nào không có của cải"như cương lĩnh của phong trào Thái Bình Thiên Quốc

Cho tới năm 1911, cách mạng Tân Hợi bùng nổ và đã giành thắng lợi

tơ lớn Ngày 1/1/1912, Chính phủ Trung Quốc ra đời, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng của lịch sử Trung Quốc Đế chế phong kiến chuyên chế thống trị Trung Quốc mấy ngàn năm hoàn toàn sụp đổ Tôn Trung Sơn nhận định rằng: vấn đề dân tộc và dân quyền về cơ bản đã hoàn thành, nhiệm vụ cụ thể lúc này của cách mạng Trung Hoa là tập trung giải quyết vấn đề dân sinh Chủ nghĩa ân sinh trong giai đoạn mới được trình bày một cách cụ thể và khoa học hơn Bên cạnh những lý luận mới về Chủ nghĩa ân sinh, Tôn Trung Sơn còn bổ sung những phương pháp nhằm thực thi Chủ nghĩa

ân sinh Trước đó, vấn đề dân sinh chỉ được nhìn nhận qua cuộc cải cách

ruộng đất theo nguyên tắc "bình quân địa quyền" Mà cuộc cải cách ruộng đất

này lại không xuất phát từ việc giải quyết vấn đề đời sống của nhân dân, xóa

bỏ nghèo nàn lạc hậu mà xuất phát từ động cơ chạy trống những “hậu quả tệ

hại" nảy sinh trong xã hội tư bản mà thôi Song, sau Cách mạng Tân Hợi, nội

Trang 31

dung của chủ nghĩa ân sinh đã được bổ sung khá đầy đủ với nội dung là giải quyết vấn đề sinh kế và sinh mệnh của nhân dân Ông cho rằng, trong xã hội văn minh ngày nay, vấn đề dân sinh có vai trò đặc biệt quan trọng Ông đánh

giá: "Ngày nay vấn đề ân s nh đã trở thành trào lưu ủ á nước trên thế

giới ( ) Có thể nói, chủ n hĩ Dân s nh là hủ đề bản chất của chủ n hĩ xã hội" [32, tr 320] Hơn thế ông còn khẳng định: "Dân sinh là trọng tâm của tiến hóa xã hội, tiến hóa xã hội là trọng tâm của lịch sử” Điều đặc biệt, Chủ

nghĩa ân sinh trong giai đoạn mới có nhiều điểm tiến bộ rõ rệt so với trước

đây Nó đã phác họa ra một chiến lược phát triển kinh tế khá quy mô Bình

quân địa quyền và tiết chế tư bản là con đường mà nền kinh tế Trung Quốc tất

yếu phải trải qua trong giai đoạn cách mạng dân chủ

*Cả ba vấn đề dân tộc, dân quyền, dân sinh đều được Tôn Trung Sơn

lần lượt đề cập đến trong chủ nghĩa Tam dân, và đều có ý nghĩa vô cũng to lớn trong tư tưởng của ông Song chủ nghĩa dân tộc đóng vai trò lớn lao trong

tư tưởng, và trong sự hình thành nên tư tưởng cách mạng của ông Vấn đề dân tộc được ông xác định là một trong những vấn đề cực kỳ quan trọng trong lịch

sử Trung Quốc cận đại Nó phát huy vai trò đáng kể trong việc giải phóng về chính trị và tư tưởng cho nhân dân Trung Quốc Và ông đặt vấn đề dân tộc lên

hàng đầu là bởi vì ông cho rằng, chỉ khi dân tộc được độc lập thì mới có "dân

quyền tự do" và "dân sinh hạnh phú ” Khi đất nước đứng trước nguy nan do

thế lực nhà Thanh gây ra trong nước, tạo điều kiện cho kẻ thù xâm lăng, khiến đất nước càng lúc càng rơi vào tình cảnh đau thương hơn Lúc ấy ông nhận thấy rằng, mình phải làm gì để đất nước thoát khỏi tình trạng ấy Chính là cuộc cách mạng dân tộc, cũng như tiến hành liên kết các hội đảng từ trong và ngoài nước lại với nhau để cùng đấu tranh, có như vậy mới tạo nên một sức mạnh lớn để giải phóng dân tộc

Với tất cả những trình bày ở trên, chúng ta có thể thấy việc đưa ra lý luận chủ nghĩa Tam dân chính là sự bổ sung cho chỗ thiếu hụt của lý luận

xã hội Trung Quốc, là sự hòa hợp của các trào lưu tư tưởng chính trị trên

Trang 32

thế giới Hơn thế nữa, với sự hủ bại của triều Mãn Thanh đã làm cho tình hình trong nước lúc ấy loạn lạc, lòng người căm phẫn, do những sự ảnh hưởng từ trong nước đó đã đưa ra kế hoạch thành lập các tổ chức cách mạng bên ngoài nước để cùng góp sức vào đấu tranh và ông đã tiến hành sáng lập ra tổ chức cách mạng Hưng Trung Hội, đến tháng 10/1895 bắt đầu phát động cuộc khởi nghĩa đầu tiên ở Quảng Châu, nhưng vì kế hoạch bại

lộ, từ đây buộc Tôn Trung Sơn phải bôn ba hải ngoại Cũng là những điều kiện trong nước kết hợp với các yếu tố bên ngoài đã đưa tới sự thành lập các tổ chức cách mạng rộng rãi ở các nước của Tôn Trung Sơn, nhất là ở một số nước châu , nơi có những thuận lợi riêng và có nhiều n t tương đồng với Trung Quốc như Nhật Bản, Việt Nam, Singapore

1.3 ối cảnh quốc tế và trong nước n đến sự ra đời của các tổ chức cách mạng ở m t số nước ch u o T n Trung Sơn thành lập

1.3.1 Bối cảnh quốc tế

Sự ra đời của chủ nghĩa thực dân hiện đại gắn liền với sự ra đời và bành trướng của chủ nghĩa tư bản phương Tây Ở châu , Anh chiếm Mã Lai, Ấn

Độ, Miến Điện; Pháp chiếm Đông ương; ồ Đào Nha chiếm Đông Timor

và Macao; Tây Ban Nha chiếm Philippines; Hà Lan chiếm Indonesia; Thái lan

bị cả Anh và Pháp đe doạ; Trung Quốc sau chiến tranh thuốc phiện 1842) buộc phải kí điều ước Nam Kinh với thực dân Anh, mở đầu quá trình

(1840-các nước đế quốc xâu xé “ á bánh n ọt khổng lồ” Trung Quốc và loại bỏ

nền độc lập của quốc gia phong kiến này

Mặt khác, sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản Âu - Mĩ mở ra nhiều cơ hội mới, thách thức và nguy cơ mới cho các nước phương Đông nói chung và khu vực Đông nói riêng để hội nhập và phát triển Đó là nguồn tri thức khổng lồ về khoa học kĩ thuật, những giá trị văn hoá văn minh bất hủ trong lịch sử nhân loại như tự do, dân chủ, bình đẳng, bác ái, là con đường phát triển và mô hình phát triển cận đại hoá với nhiều ưu việt, là phương pháp, cách thức và nguồn lực phát triển để hợp lưu và tiến cùng thời đại, bởi

Trang 33

lúc này “Tr ều sóng của thế giớ đ n uồn cuộn chảy Thuận dòng thì sống,

n ược dòng thì chết”[11, tr.221] Thách thức và nguy cơ lớn nhất mà chủ

nghĩa tư bản mang lại đối với phương Đông là chủ nghĩa thực dân Trong suốt lịch sử hàng ngàn năm của mình chưa bao giờ các quốc gia này phải đối đầu với một kẻ thù mới lạ, có sức mạnh hơn hẳn về vật chất, khoa học kĩ thuật, vũ khí và phương tiện chiến tranh như chủ nghĩa thực dân phương Tây Những thời cơ, nguy cơ và thách thức đó đối với các nước Đông nửa đầu thế kỉ

X X là tương đồng Tuy nhiên, muốn tận dụng thời cơ, hoá giải được nguy

cơ, chuyển nguy thành an, còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố và điều kiện khác nhau Một trong những yếu tố và điều kiện quan trọng đó là tình hình kinh tế chính trị xã hội ở mỗi nước

Đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa dân chủ trên phạm vi toàn thế giới ra

dương oai trước để áp chế đối phương, không những Pháp, Mỹ, Anh, Đức đã xây dựng chính thể lập hiến, mà các quốc gia như Nga, Tây an Nha, Thổ Nhĩ Kỳ cũng đang tiến hành cuộc đấu tranh chống lại chế độ chuyên chế, giành dân chủ Về mặt tư tưởng chính trị, điều này thể hiện ở

tư tưởng “ ân hủ ở dân" và chế độ cộng hòa nghị viện của giai cấp tư sản

Giai cấp tư sản trong quá trình đấu tranh cách mạng đã đem lại cho tầng lớp trí thức tiên tiến sự cổ vũ về lý luận và khích lệ tinh thần lớn lao Họ lấy vũ khí mà những người tiên phong phương Tây chống lại phong kiến để tiến hành đấu tranh cách mạng

Cùng với sự trưởng thành của chế độ tư bản chủ nghĩa, giai cấp vô sản trên thế giới cũng trưởng thành và dần lớn mạnh hơn Năm 1848,

„Tuyên n ôn Đảng Cộng sản" đánh dấu sự ra đời của chủ nghĩa Mác -

Lênin Việc thành lập quốc tế thứ nhất và phong trào chủ nghĩa cộng sản phát triển mạnh mẽ đã hình thành nên một luồng gió mới, tấn công vào chế

độ tư bản Song điểm tiêu cực của xã hội tư bản phương Tây là: không thể điều hóa quan hệ lao động,công nhân chịu áp bức bóc lột, sự bất bình đẳng rất lớn về kinh tế.v.v Điều đó đã nói lên rằng, đi theo con đường cũ của

Trang 34

chủ nghĩa tư bản không thể lên được “vườn đị đàn ” Vậy thì cảnh giới lý

tưởng rút cuộc lại là ở đâu? Và làm thế nào để tới được đó?

Tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của các nước Đông , mà

ở đấy là Trung Quốc, Nhật ản, Việt Nam và Singapore cuối thế kỷ X X, đầu

XX vừa có điểm tương đồng vừa có điều dị biệt Về điểm tương đồng: Đều là những nước có chế độ quân chủ phong kiến Nền kinh tế nông nghiệp mang tính tự cung tự cấp, lạc hậu Là những nước có truyền thống văn hoá lâu đời Đạo Phật có ý nghĩa quan trọng trong tín ngưỡng của người dân Việc học được coi trọng và đề cao.Về điểm khác biệt: Nếu ở Trung Quốc, Việt Nam thể chế chính trị là chế độ phong kiến tập quyền thì ở Nhật Bản chế độ phong kiến phân quyền theo kiểu lưỡng đầu chế Mạc phủ - Thiên Hoàng(song trùng)

đã được thiết lập từ thế kỉ XVII Việt Nam có sự ổn định chính trị muộn hơn

so với ba nước còn lại Nền kinh tế của Nhật Bản và Thái Lan mang tính sản xuất hàng hoá rõ rệt Đặc biệt, thành thị và thương nhân của hai nước này khá phát triển Điều đó không chỉ thúc đẩy sản xuất công thương nghiệp và nông nghiệp đi lên, mà còn tạo điều kiện ươm mầm lực lượng và quan hệ sản xuất mới, tư tưởng mới, tạo tiền đề để phong trào cải cách xuất hiện Sự phát triển của giáo dục theo hướng cách tân cả về nội dung, hình thức, phương pháp đã làm biến đổi mục đích học tập truyền thống(ngoài học để làm quan còn là học

để làm giàu, để tìm cách xây dựng đất nước giàu mạnh tiến kịp phươg Tây , tạo ra sức mạnh tinh thần cho xã hội, từng bước đào tạo ra một thế hệ mới chủ trì cải cách, là lực lượng tham gia và ủng hộ cải cách và đưa cải cách đến thành công Lợi thế và khác biệt này chỉ có ở Nhật Bản còn ở Trung Quốc - cái nôi của Nho giáo và Việt Nam là nước chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo có chăng chỉ thuần tuý ở góc độ học thuật đơn lẻ mà thôi

Singapore là một hòn đảo nhỏ Khu định cư đầu tiên được biết đến tại Singapore là một tiền đồn của đế quốc Srivijaya có tên là Temasek ("hải trấn" Hòn đảo vẫn là một phần của Đế quốc Srivijaya khi Hoàng

đế Rajendra Chola I của Đế quốc Chola tại Nam Ấn xâm chiếm nó vào thế kỷ

Trang 35

11 Năm 1613, những hải tặc người Bồ Đào Nha đốt khu định cư và hòn đảo chìm trong tăm tối vào hai thế kỷ sau đó Năm 1819, chính khách người Anh Quốc Thomas Stamford Raffles đến và thay mặt Công ty Đông Ấn Anh để ký kết một hiệp định với Quốc vương Hussein Shah của Vương quốc Johor nhằm phát triển phần phía nam của Singapore thành một trạm mậu dịch của Đế quốc Anh Năm 1824, nước Anh có quyền sở hữu đối với toàn bộ đảo theo một hiệp định khác với nhà cầm quyền Nam Mã Lai Năm 1826, Singapore trở thành một phần của Các khu định cư o biển, thuộc phạm vi quyền hạn của Ấn Độ thuộc Anh, rồi trở thành thủ đô của lãnh thổ vào năm 1836 Trước khi Raffles đến, có xấp xỉ 1.000 người sống trên đảo, hầu hết là người Mã Lai bản địa cùng với một số người Hoa Năm 1860, dân số vượt quá 80.000 và hơn một nửa là người Hoa Nhiều người nhập cư đến để làm việc trong các đồn điền cao su, và sau thập niên 1870 thì đảo trở thành một trung tâm xuất khẩu cao su toàn cầu [56]

1.3.2 tro ước ru uốc

Vào cuối thế kỷ X X, đầu XX, xã hội Trung Quốc có nhiều biến động phức tạp Chính quyền phong kiến Mãn Thanh thối nát, bất lực trước sự tấn công của chủ nghĩa tư bản phương Tây Trung Quốc không những phải mở cửa mà còn phải cắt đất và bồi thường chiến phí cho các nước đế quốc Đất

nước Trung Quốc bị “ h năm xẻ bảy” Sự thất bại của cuộc chiến tranh

Trung - Nhật(1894-1895 đã buộc chính phủ Mãn Thanh phải ký điều ước

Mã Quan, công nhận cho các nước đế quốc được xây dựng cong xưởng, đường sắt, được quyền khai mỏ ở Trung Quốc, tranh giành phạm vi thế lực khiến cho Trung Quốc phải đối diện với nguy cơ mất nước nghiêm trọng Sau thất bại của phong trào nông dân Nghĩa Hòa Đoàn năm 1900, triều đình Mãn Thanh lại ký hiệp ước Tân Sửu, tạo điều kiện cho các nước đế quốc tăng cường xâm lược Trung Quốc.Từ đó, Thanh triều biến thành tay sai cho chủ nghĩa đế quốc.Thái độ phản động của nhà Thanh khiến nhân dân Trung Quốc

vô cùng căm phẫn, thấy rằng muốn cứu đất nước thì không còn con đường

Trang 36

nào khác ngoài lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế mục ruỗng đã từ lâu không còn đủ khả năng đảm nhiệm vai trò lịch sử

Từ năm 1840 trở đi, các nước đế quốc tích cực phát động chiến tranh

xâm lược Trung Quốc, một thị trường hấp dẫn với nhiều ưu điểm và diện tích, dân số và tài nguyên Cùng với những hoạt động về quân sự, chính trị, kinh

tế, các hoạt động xâm nhập về văn hóa, giáo dục, y tế cũng từng bước được

các nước thực dân ra sức thực hiện

Trong khi đó, giai cấp thống trị Mãn Thanh vì mục đích bảo vệ vương quyền đã thi hành chính sách đối nội và đối ngoại hết sức phản động Đất nước Trung Quốc chìm đắm trong tăm tối một mặt chịu sự khống chế của chủ

nghĩa thực dân, mặt khác chịu sự thống trị của chủ nghĩa phong kiến

Với những chính sách nô dịch của chủ nghĩa đế quốc và sự mục nát, thối rữa của triều đình Mãn Thanh đẩy đất nước Trung Quốc đến một hệ quả tất yếu khó tránh khỏi, dân tộc rơi vào tình trạng nguy nan Những điều đó làm cho nhân dân Trung Quốc vô cùng căm phẫn, lòng yêu nước của cả dân tộc đã bị kích động mạnh mẽ Họ thấy rằng mình phái đứng lên đấu tranh, và đặc biệt nhận thấy rằng muốn cứu đất nước không còn con đường nào khác

mà trước hết phải tấn công vào đúng chế độ quân chủ chuyên chế Mãn Thanh

từ lâu đã không còn đủ khả năng đảm nhận vai trò lịch sử o đó các hoạt động hàng loạt các phong trào yêu nước của các giai tầng xã hội khác nhau đã diễn ra Tiêu biểu: Khởi nghĩa nông dân Thái ình Thiên Quốc(1851 - 1864), phong trào ương Vụ, cuộc vận động cải cách của Khang Hữu Vi và Lương

Trang 37

bước tiến, những bước thử nghiệm vô cùng quan trọng và cũng rất táo bạo trong việc giải quyết vấn đề độc lập của Trung Quốc trong thời kỳ cận đại Tuy nhiên, cả ba phong trào nói trên đều đi đến kết quả là phá sản do nhiều nguyên nhân khác nhau, song x t đến cùng chính là chưa tìm ra được một hệ

tư tưởng thực sự phù hợp với bối cảnh lịch sử lúc đó để cải biến xã hội Trung Quốc Bởi vì thế việc cần xây dựng một hệ thống lý luận cách mạng tiến bộ chỉ đạo cuộc đấu tranh độc lập dân tộc ở Trung Quốc là một đòi hỏi tất yếu của lịch sử

Sau cuộc chiến tranh Nha phiến lần thứ nhất(1840-1864) nổ ra, xã hội cận đại Trung Quốc chính thức bước vào thời kỳ cận đại phương Tây

và nguy cơ dân tộc đến cùng một lúc Trung Quốc lúc này đứng trước hai

sự lựa chọn: một là bị nhấn chìm, diệt vong; hai là tự phấn đấu, tự cường Trước tình hình đó, làn sóng khởi nghĩa nông dân đã dâng lên thành cao trào ở Trung Quốc Mở đầu với phong trào khởi nghĩa nông dân Thái ình Thiên Quốc(1851 -1864) Cuộc khởi nghĩa này là hệ quả tất yếu nảy sinh từ chính sách nô dịch tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc thực dân và sựu mục ruỗng của triều đình phong kiến Mãn Thanh ưới sự lãnh đạo của Hồng

Tú Toàn - một lãnh tụ của phong trào nông dân, cuộc khởi nghĩa Thái ình Thiên Quốc nổ ra và k o dài trong 14 năm với khí thế cách mạng sôi nổi, lan rộng khắp 18 tỉnh trong cả nước Đây cũng chính là phong trào khởi nghĩa nông dân lớn nhất từ trước đến nay ở Trung Quốc

Đến năm 1853, sau khi giành được thắng lợi, tiến vào Nam Kinh xây dựng chính quyền, những người lãnh đạo Thái Bình Thiên Quốc đã thiết lập một chế độ nhà nước mới vào một loạt cương lĩnh tiến bộ về chính trị, kinh tế, văn hóa mà trong đó, có ý nghĩa quan trọng nhất là chế độ

ruộn đất Thiên triều Song cuối cùng, phong trào nông dân có tình chất

tiến bộ của Hồng Tú Toàn bị thất bại, nguyên nhân lớn nhất là do phong trào chưa thực sự đủ lớn mạnh để giải quyết triệt để vấn đề cấp bách trong

xã hội Trung Quốc thời kỳ cần đại Đó chính là vấn đề dân sinh

Trang 38

Tiếp sau phong trào khởi nghĩa nông dân Thái ình Thiên Quốc, từ những năm 60 đến những năm 90 của thế kỷ XIX, một trào lưu mới của tầng lớp quan lại Trung Quốc nhận thức được vấn đề Trung Quốc cần phải học tập phương Tây, xây dựng công nghiệp để phú quốc cường binh ra đời như một cứu cánh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Đó chính là phong

trào ương Vụ Phái ương Vụ đã đề xuất ra hệ thống tư tưởng "Trung

học vi thể, Tây học vi dụng" với mục đích canh tân đất nước, hy vọng có

thể làm cho “phú quố ườn b nh” Họ những tưởng rằng, cái chủ thể là

xã hội phong kiến có thể tiếp xúc được với những kỹ thuật mới của chủ nghĩa tư bản mà đâu ngờ được rằng, quân đội của hạm đội Bắc ương lại

bị thất bại hoàn toàn tại eo biển Bắc Hải trong cuộc chiến tranh Trung - Nhật(1894 - 1895) Tiếp sau phái ương Vụ là phong trào uy Tân Mậu Tuất (1898), song vẫn rơi vào thất bại bởi chưa thực sự nhìn nhận được nguyên nhân làm cho Trung Quốc nghèo đói và lạc hậu, xa rời lực lượng quần chúng, không bắt nguồn từ thực tế đời sống xã hội

Tuy những cuộc khởi nghĩa này có thành công và có thất bại song ít nhiều đã làm cho người dân dần thức tỉnh và cũng có những mở mang hơn

về những hạn chế của dân tộc mình, có những nhận thức mới có tác dụng đẩy nền kinh tế xã hội Trung Quốc phát triển đi lên

Đồng thời, với những hạn chế, sự bóc lột, hành vi chuyên chế, mục nát của nhà Thanh càng biểu hiện rõ thì càng giúp những người trí thức nhận thức được rõ hơn điều mình cần phải làm vào lúc bấy giờ là quyết tâm đấu tranh chống lại chính quyền Mãn Thanh, tiến hành các hoạt động cách mạng Ngay trong cuộc chiến tranh Giáp Ngọ 1894 đã đề cập ở trên giữa Trung Quốc và Nhật Bản đang tiếp diễn với kết quả bất lợi cho Trung Quốc, triều đình vẫn tiến hành đại lễ chúc thọ xa hoa cho Từ Hi Thái Hậu, tiêu tốn 2 triệu 19 vạn lạng bạc [29, tr 90] Điều này chứng tỏ một chính quyền hủ bại, lòng người căm phẫn

Trang 39

Đứng trước tình hình trong nước, người dân bị những chính sách tàn độc, chịu đau thương dưới chính quyền Mãn Thanh lúc bấy giờ Một người con yêu nước là Tôn Trung Sơn đã quyết tâm đứng lên để đấu tranh, kêu gọi, liên kết mọi tầng lớp trong xã hội Trung Quốc lúc ấy, cũng như liên kết với bộ phận bên ngoài cùng góp sức vào công cuộc đấu tranh bảo vệ dân tộc trước sự áp bức của Triều đình Mãn Thanh

Năm 1900, phong trào nông dân Nghĩa Hòa Đoàn bùng nổ, Chính phủ Mãn Thanh lợi dụng nó nhằm thực hiện hành vi bài ngoại, dẫn đến tai họa liên quân tám nước tấn công Bắc Kinh Nhà vua chạy trốn, triều đình phải bồi thường chiến phí, uy tín của nhà Thanh không còn, cuộc sống nhân dân vốn khó khăn nay lại càng cùng cực hơn nữa Trước tình thế đó, Tôn Trung Sơn cư người phát động khởi nghĩa, tuy khởi nghĩa thật bại nhưng cũng đã làm người dân trong nước dần thoát khỏi cơn mê Sau đó, nhận thấy phái Cải lương vẫn kiên trì với đường lối Bảo hoàng, ra sức phản đối cách mạng, đó là một mối nguy hại, từ sau khởi nghĩa Huệ Châu, Tôn Trung Sơn đã triển khai luận chiến, đấu tranh nhằm loại bỏ ảnh hưởng của phái Cải lương Trong quá trình ấy, ông tiến hành thành lập các đoàn thế cách mạng ở một số nước

Với những biến động trong nước, tình hình lúc này đã trở thành những yếu tố quan trọng dẫn tới sự hình thành nên các tổ chức cách mạng ở trong nước cũng như ở các nước khác như Nhật Bản, Việt Nam, Singapore

Trang 40

* Tiểu kết c ươ 1

Với những hiểu biết của mình thì tôi thấy rằng Tôn Trung Sơn là một con người đầy nhiệt huyết, tinh thần yêu nước và đấu tranh cao, là lãnh tụ phong trào cách mạng dân chủ tư sản, suốt một đời vì sự nghiệp đấu tranh giai phóng hòa bình, tự do, dân chủ cho nhân dân Trung Quốc Vốn sinh ra

và lớn lên trong thời buổi đất nước gặp nhiều rối ren, phức tạp, ông sớm nhận thức và nhìn thấy được nhiều bất công Cùng với thực tế đất nước lúc này và với con mặt nhận thức sắc bén của mình, Tôn Trung Sơn đã xây dựng nên chủ nghĩa cứu nước, đưa đất nước sớm thoát ra khỏi những khó khăn lúc bấy giờ, nhằm tiến tới không những một địa vị quốc tế bình đẳng,

mà còn cả một địa vị chính trị bình đẳng, một địa vị kinh tế bình đẳng Chính vì thế, dựa trên cơ sở đó, Tôn Trung Sơn xác định trong hoàn cảnh Trung Quốc lúc này, muốn cứu nước trước hết cần phải tập trung lực lượng cách mạng lật đổ chính quyền Mãn Thanh mục nát, xây dựng nhà nước cộng hòa Để thực hiện được kế hoạch này thì Tôn Trung Sơn đã sớm đặt chủ nghĩa dân tộc lên hàng đầu Cũng từ những tư tưởng này ông ra sức kêu gọi quần chúng nhân dân trong và ngoài nước cùng kết hợp tạo thành một khối thống nhất để đưa đến một sức mạnh đoàn kết, sức mạnh tổng hợp nhằm thực hiện cuộc lật đổ nhà Thanh Với những ý chí và nhận thức ông có được ông sớm bôn ba nhiều nước để nhằm kêu gọi cộng đồng người Hoa ở khắp các nước như Việt Nam, Nhật Bản, Singapore cùng chung tay đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khó khăn Cũng bởi vậy, ông đã sớm có mặt ở các nước và đích thân mình đứng ra thành lập các tổ chức cách mạng không chỉ trong nước mà ở cả các nước bạn, nơi có cộng đồng người Hoa

cư trú sinh sống Đặc biệt trước tình hình thực tế của đất nước, nắm bắt được những điều cần thiết lúc bấy giờ Tôn Trung Sơn nhanh chóng đưa ra những hướng đi cho đất nước, ông tìm đến các nước bạn như Việt Nam, Nhật Bản, Singapore, nơi mà có những n t tương đồng với đất nước ông,

và có người dân nước mình sinh sống để tuyên truyền kêu gọi, thành lập

Ngày đăng: 09/09/2021, 20:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Tiến Cảnh (dịch), Học thuyết và đời cách mạng của Tôn Dật Tiên, Nhà xuất bản Tự cường 1946 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học thuyết và đời cách mạng của Tôn Dật Tiên
Nhà XB: Nhà xuất bản Tự cường 1946
2. Dật Công, Nhƣợng Tống (1926), Tiểu sử và Học thuyết Tôn Dật Tiên, Nam đồng thƣ xã Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu sử và Học thuyết Tôn Dật Tiên
Tác giả: Dật Công, Nhƣợng Tống
Năm: 1926
3. Đào uy Đạt (2006), Tìm hiểu tư tưởng cận đại hóa củ Tôn Trun Sơn, Nghiên cứu Trung Quốc, số 3, tr. 47 - 55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tư tưởng cận đại hóa củ Tôn Trun Sơn
Tác giả: Đào uy Đạt
Năm: 2006
4. Châu Thị Hải (1991), ''Trung Quốc cách mạn Đồng Minh Hội và các nhóm cộn đồn n ười Hoa ở Đôn N m Á'', Nghiên cứu lịch sử, số 5, tr.82-88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ''Trung Quốc cách mạn Đồng Minh Hội và các nhóm cộn đồn n ười Hoa ở Đôn N m Á''
Tác giả: Châu Thị Hải
Năm: 1991
5. Châu Thị Hải (2006),''N ười Hoa Việt N m và Đôn N m Á: Hình ảnh hôm qua và vị thế hôm nay'' của Châu Thị Hải Sách, tạp chí
Tiêu đề: N ười Hoa Việt N m và Đôn N m Á: Hình ảnh hôm qua và vị thế hôm nay''
Tác giả: Châu Thị Hải
Năm: 2006
6. Henry Bond Restarich (2000), Tôn Dật T ên n ười giải phóng Trung Hoa, Nhà xuất bản Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn Dật T ên n ười giải phóng Trung Hoa
Tác giả: Henry Bond Restarich
Nhà XB: Nhà xuất bản Đà Nẵng
Năm: 2000
9. Nguyễn Văn Hồng (1998), Một trăm năm phon trào Duy Tân Mậu Tuất, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 6, tr. 74 - 84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một trăm năm phon trào Duy Tân Mậu Tuất
Tác giả: Nguyễn Văn Hồng
Năm: 1998
10. Nguyễn Văn Hồng (2001), “Ảnh hưởng hoạt động cách mạng và Chủ n hĩ T m ân ủa Tôn Trun Sơn đối với cách mạng Việt N m”, Bài tham luận tại Hội thảo khoa học quốc tế tại Đài Loan, tƣ liệu do TS.Nguyễn Thị Hương cung cấp) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Ảnh hưởng hoạt động cách mạng và Chủ n hĩ T m ân ủa Tôn Trun Sơn đối với cách mạng Việt N m”
Tác giả: Nguyễn Văn Hồng
Năm: 2001
11. Nguyễn Văn Hồng (2001), Mấy vấn đề lịch sử hâu Á và lịch sử Việt Nam - Một cách nhìn, Nxb Văn hoá ân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề lịch sử hâu Á và lịch sử Việt Nam - Một cách nhìn
Tác giả: Nguyễn Văn Hồng
Nhà XB: Nxb Văn hoá ân tộc
Năm: 2001
12. Nguyễn Văn Hồng, Nguyễn Thị Hương, Chương Thâu, Tôn Trun Sơn với Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn Trun Sơn với Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo dục
13. Nguyễn Thị Hương 2002 , Sự chuyển biến kinh tế - xã hội ở Trung Quốc cuối thế k XIX đầu XX ướ tá động của chủ n hĩ thực dân, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Vinh, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự chuyển biến kinh tế - xã hội ở Trung Quốc cuối thế k XIX đầu XX ướ tá động của chủ n hĩ thực dân
14. Nguyễn Thị Hương 2011 , “Bướ đầu tìm hiểu về những hoạt động tuyên truyền và thành lập tổ chức cách mạng củ Tôn Trun Sơn tron ộng đồn N ười Hoa và Hoa kiều ở hải ngoạ ”, Nghiên cứu Đông Nam , số 3.(132), tr. 70 - 75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bướ đầu tìm hiểu về những hoạt động tuyên truyền và thành lập tổ chức cách mạng củ Tôn Trun Sơn tron ộng đồn N ười Hoa và Hoa kiều ở hải ngoạ ”
15. Nguyễn Thị Hương 2011 , “Tôn Trun Sơn xây ựng các tổ chức cách mạng trong cộn đồn n ười Hoa và Hoa kiều ở Việt N m”, Nghiên cứu Trung Quốc, số 5(117) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Hương 2011 , "“Tôn Trun Sơn xây ựng các tổ chức cách mạng trong cộn đồn n ười Hoa và Hoa kiều ở Việt N m”
16. Nguyễn Thị Hương 2011 , “Về sáu lần Tôn Trun Sơn đến Việt Nam hoạt động cách mạn ”, Nghiên cứu Lịch sử, số 5(421), tr. 53 - 58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Về sáu lần Tôn Trun Sơn đến Việt Nam hoạt động cách mạn ”
17. Nguyễn Thị Hương 2011 , Hoạt động củ Tôn Trun Sơn và tá động củ nó đối với phong trào cách mạng trong cộn đồn N ười Hoa và Hoa kiều ở Việt Nam (cuối thế k XIX đầu thế k XX), Luận án Tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội, Viện Khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động củ Tôn Trun Sơn và tá động củ nó đối với phong trào cách mạng trong cộn đồn N ười Hoa và Hoa kiều ở Việt Nam (cuối thế k XIX đầu thế k XX)
18. Nguyễn Thị Hương (2012), “Những hoạt động cách mạng của Tôn Trung Sơn ở Việt N m”, (Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Cách mạng Tân Hợi 100 năm nhìn lại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những hoạt động cách mạng của Tôn Trung Sơn ở Việt N m”", (Kỷ yếu Hội thảo khoa học: "Cách mạng Tân Hợi 100 năm nhìn lại
Tác giả: Nguyễn Thị Hương
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2012
19. Nguyễn Thị Hương (2015), “Về n uyên nhân Tôn Trun Sơn đến Việt Nam tiến hành các hoạt động cách mạn ”, Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc, số 4 (164), tr. 52-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Về n uyên nhân Tôn Trun Sơn đến Việt Nam tiến hành các hoạt động cách mạn ”
Tác giả: Nguyễn Thị Hương
Năm: 2015
20. Nguyễn Thị Hương (2015), “Về các tổ chức cách mạng do Tôn Trung Sơn thành lập ở Nhật Bản”, Tạp chí nghiên cứu Đông ắc Á, số 8, tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Về các tổ chức cách mạng do Tôn Trung Sơn thành lập ở Nhật Bản”
Tác giả: Nguyễn Thị Hương
Năm: 2015
21. Trần Khánh (2004), ''N ười Hoa trong quan hệ Trung Quốc - ASEAN'', Nghiên cứu Trung Quốc.58 (6), tr. 39 - 49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Khánh (2004), "''N ười Hoa trong quan hệ Trung Quốc - ASEAN'', Nghiên cứu Trung Quốc
Tác giả: Trần Khánh
Năm: 2004
22. K niệm lần thứ 80 cuộc cách mạng Tân Hợi (10/10/1911 - 10/10/1991), Tư liệu lưu tại Khoa lịch sử - Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: K niệm lần thứ 80 cuộc cách mạng Tân Hợi (10/10/1911 - 10/10/1991)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w