Để triển khai thực hiện tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã có Thông báo kết luận số 238-TB/TW về triển hai thực hiện Đề án “xây dựng thí điểm mô hình nông th
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NGHỆ AN - 2015
Trang 3Trong quá trình thực hiện Đề tài, chúng tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ rất nhiệt tình, có hiệu quả của Trường Đại học Vinh, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, các ban, sở, ngành cấp tỉnh và các huyện, thành, thị ủy
Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, các nhà giáo, nhà khoa học trong Hội đồng khoa học và Đào tạo khoa Lịch sử, Phòng Đào tạo sau Đại học, Trường Đại học Vinh, đã luôn quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn Đặc biệt, xin trân trọng bày tỏ biết ơn sâu sắc đến PGS, TS Trần Văn Thức, người thầy
đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành bài luận văn này
Xin chân thành cảm ơn Tỉnh ủy Nghệ An, Ủy ban nhân dân tỉnh, các ban xây dựng Đảng của Tỉnh ủy, các sở, ban, ngành cấp tỉnh và các huyện, thành, thị ủy, đặc biệt là Văn phòng Điều phối chương trình xây dựng nông thôn mới của tỉnh đã giúp đỡ, cộng tác cùng chúng tôi để Đề tài được thực hiện kịp tiến độ theo kế hoạch
Xin trân trọng cảm ơn!
Nghệ An, ngày 10 tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn
Phan Đại Nghĩa
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 5
1 Lý do lựa chọn đề tài 5
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 9
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 14
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 15
6 Những đóng góp của luận văn 16
7 Bố cục luận văn 16
NỘI DUNG 18
CHƯƠNG 1: XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở NGHỆ AN - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 18
1.1 Cơ sở lý luận của xây dựng nông thôn mới 18
1.1.1 Khái niệm về nông thôn, nông thôn mới 18
1.1.2 Sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới 22
1.1.3 Chủ thể tham gia xây dựng nông thôn mới 23
1.2 Quan điểm của Đảng ta về xây dựng nông thôn mới 24
1.2.1 Các quan điểm của Đảng về xây dựng nông thôn mới trước đại hội VI 24
1.2.2 Các quan điểm của Đảng về xây dựng NTM từ đại hội VI đến nay 26
1.2.3 Nguyên tắc thực hiện xây dựng nông thôn mới 32
1.2.4 Nội dung xây dựng nông thôn mới 34
1.2.5 Các bước xây dựng nông thôn mới 36
1.3 Cơ sở thực tiễn về xây dựng nông thôn mới 37
1.3.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới trong việc xây dựng và phát triển nông thôn mới 37
1.3.2 Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam 42
1.3.3 Sự vận dụng của cấp ủy Đảng và chính quyền tỉnh Nghệ An 46
CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở NGHỆ AN TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2015 - THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ 56
Trang 52.1 Một số chủ trương của Đảng và quá trình triển khai thực hiện của Nhà
nước ta 56
2.1.1 Một số chủ trương của Đảng 56
2.1.2 Một số chương trình xây dựng nông thôn mới đã triển khai 58
2.2 Sự chỉ đạo, điều hành và tuyên truyền vận động xây dựng nông thôn mới ở Nghệ An 60
2.2.1 Về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành 60
2.2.2 Công tác tuyên truyền, vận động 63
2.3 Những kết quả đạt được trong quá trình thực hiện xây dựng nông thôn mới ở Nghệ An 64
2.3.1 Những nhân tố tác động đến quá trình xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Nghệ An 64
2.3.2 Những kết quả bước đầu trong quá trình thực hiện xây dựng nông thôn mới ở Nghệ An 67
2.4 Một số tồn tại, hạn chế trong quá trình xây dựng NTM ở Nghệ An 74
2.4.1 Một số tồn tại, hạn chế 74
2.4.2 Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế 76
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT, GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở NGHỆ AN 78
3.1 Một số nhận xét 78
3.1.1 Thực hiện tốt công tác chính trị tư tưởng, tuyên truyền nâng cao nhận thức về xây dựng nông thôn mới cho cán bộ, đảng viên và nhân dân 78
3.1.2 Chỉ đạo và thực hiện tốt công tác xây dựng và thực hiện quy hoạch, phát triển nông thôn mới theo vùng, tôn trọng sự đa dạng vùng miền 80
3.1.3 Huy động được sức mạnh tổng hợp của nhân dân và hệ thống chính trị tham gia xây dựng nông thôn mới 81
3.1.4 Về mối quan hệ giữa nông nghiệp và phát triển nông thôn: 82
3.1.5 Tính đồng thuận trong xây dựng nông thôn 83
3.1.6 Tăng cường công tác kiểm tra giám sát trong xây dựng nông thôn mới 85
3.2 Những giải pháp nhằm đẩy mạnh phong trào xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Nghệ An 85
Trang 63.2.1 Triển khai thực hiện các giải pháp huy động các loại nguồn vốn 85
3.2.2 Xây dựng cơ chế huy động nguồn lực, hỗ trợ đầu tư thực hiện Chương trình nông thôn mới 89
3.2.3 Đa dạng hóa các nguồn vốn huy động đầu tư; thực hiện việc kế thừa, lồng ghép các chương trình, dự án triển khai trên địa bàn 91
3.3.4 Xây dựng kế hoạch và huy động nguồn lực thực hiện chương trình nông thôn mới phải đảm bảo các quy trình, quy định và gắn với kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của địa phương 92
3.3.5 Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, vận động nhân dân nâng cao nhận thức, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội và nội lực của người dân để xây dựng nông thôn mới 93
3.3.6 Phát huy vai trò của chủ thể cộng đồng dân cư trong thực hiện chương trình nông thôn mới 94
3.3.7 Hoàn thiện môi trường đầu tư và tăng cường thu hút đầu tư 95
3.3.8 Nâng cao chất lượng công tác quản lý để sử dụng có hiệu quả nguồn lực đầu tư 97
3.3.9 Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các ngành, các cấp và công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát cộng đồng trong triển khai thực hiện Chương trình nông thôn mới 99
KẾT LUẬN 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC 114
Trang 7NTM: Nông thôn mới
NQ/TW: Nghị quyết Trung ương
UBND: Uỷ ban nhân dân
HĐND: Hội đồng nhân dân
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nông thôn là nơi sinh sống của một bộ phận dân cư chủ yếu sống làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp Nước ta hiện nay vẫn là một nước nông nghiệp với hơn 70% dân cư đang sống ở nông thôn Phát triển nông nghiệp nông thôn đã, đang và sẽ còn là mối quan tâm hàng đầu, có vai trò quyết định đối với việc ổn định kinh tế, xã hội đất nước Nghị quyết Đại hội Đại biểu
toàn quốc lần thứ XI của Đảng xác định mục tiêu xây dựng nông thôn mới là: “Xây dựng nông
thôn mới ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển ngày càng hiện đại” [24, tr 67]
Xây dựng và phát triển nông thôn là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt
mà Đảng và Nhà nước ta đã xác định trong mọi thời kỳ Điều này càng được thể hiện rõ nét hơn trong 10 năm gần đây thông qua một loạt các chương trình triển khai xây dựng nông thôn mới trên phạm vi cả nước Năm 2001, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
IX, Ban Kinh tế Trung ương Đảng (trước đây là thuộc Văn phòng Trung ương Đảng) phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã triển khai Chương trình xây dựng mô hình
“phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hợp tác hoá, dân chủ hoá” tại
218 xã điểm Đến năm 2007, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục triển khai thí điểm Đề án xây dựng Nông thôn mới cấp thôn, bản theo phương pháp tiếp cận dựa vào nội lực
và do cộng đồng làm chủ; đề án thí điểm này được triển khai ở 17 thôn thuộc 14 tỉnh đại diện cho các vùng kinh tế văn hoá khác nhau, với nội dung thực hiện gồm: Đào tạo nâng cao năng lực phát triển cộng đồng; nâng cấp điều kiện sống cho người dân nông thôn; hỗ trợ người dân phát triển sản xuất hàng hoá nông nghiệp, dịch vụ nông thôn để nâng cao thu nhập và phát triển mỗi làng một nghề Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có các nguyên nhân chính là: nhận thức, cách làm chưa thống nhất, thiếu đồng bộ trong việc triển khai thực hiện; thiếu nguồn lực, chưa có cơ chế đặc thù, và đặc biệt là chưa xây dựng được tiêu chí cụ thể
Trang 9trong xây dựng nông thôn để xác định mục tiêu, kế hoạch phát triển ngắn, dài hạn, nên các chương trình nêu trên đều gặp nhiều khó khăn, không đi vào cuộc sống
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 7 (khoá X) đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW
về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, một lần nữa nhấn mạnh và thể hiện sự quyết tâm xây dựng nông thôn mới, với mục tiêu phấn đấu đến 2015 có 20% số xã và 2020 có 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới Để triển khai thực hiện tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã có Thông báo kết luận số 238-TB/TW về triển hai thực hiện Đề án “xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, nhàm mục tiêu xây dựng cho được các mô hình thí điểm để rút ra kinh nghiệm trước khi nhân
ra diện rộng, nhàm khắc phục những bất cập, hạn chế của các chương trình phát triển nông thôn đã chỉ đạo những năm qua, đồng thời nhanh chóng giải quyết những vấn đề bức xúc ở nông thôn đang đặt ra Với việc thành lập Ban chỉ đạo xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới và lựa chọn 11 xã điểm đại diện ở các vùng miền trong cả nước để xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới
Từ kết quả nghiên cứu của Chương trình thí điểm, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 491-QĐ/TTg về Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới với 5 nội dung, 19 tiêu chí cụ thể để định hướng về nội dung xây dựng nông thôn mới; đồng thời, cũng từ mô hình thí điểm của Ban Bí thư, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 Đây là bước phát triển có cơ sở khoa học và thực tiễn của việc xây dựng nông thôn trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Các nội dung xây dựng nông thôn mới đang được các bộ ngành, địa phương triển khai tích cực Tuy nhiên, thực tế cho thấy ở mỗi vùng nông thôn đều mang những sắc thái, đặc thù riêng; từ đó, việc triển khai xây dựng nông thôn mới ở các vùng này luôn có sự khác nhau nhàm phù hợp với đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội mà mỗi địa phương cần biết để
có những cách vận dụng sáng tạo, linh hoạt và hiệu quả trong chỉ đạo
Trang 10Nghệ An bước vào thực hiện trong điều kiện hết sức khó khăn: diện tích lớn, miền núi nhiều, địa hình phức tạp, theo kết quả điều tra hiện trạng nông thôn (năm 2010), cho thấy điểm xuất phát xây dựng nông thôn mới của Nghệ An là rất thấp: Toàn tỉnh chỉ có 01 xã đạt 12 tiêu chí (xã Nghi Liên, thành phố Vinh), 20 xã đạt từ 9-11 tiêu chí, 126 xã đạt từ 5-8 tiêu chí, 238
xã đạt từ 1-4 tiêu chí, đặc biệt có 50 xã không đạt tiêu chí nào.… Song với quyết tâm chính trị cao của Cấp uỷ chính quyền các cấp, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự nỗ lực, đồng thuận của người dân, đặc biệt từ khi có chủ trương hỗ trợ xi măng làm đường giao thông nông thôn và tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ chính quyền các cấp Xây dựng nông thôn mới trên địa bàn toàn tỉnh đã có nhiều chuyển biến tích cực, bộ mặt nông thôn ngày càng khởi sắc Từ tỉnh đến cơ sở đã thành lập Ban chỉ đạo, xây dựng Nghị quyết của cấp ủy, lập đề án xây dựng nông thôn mới của địa phương, xác định mục tiêu, yêu cầu, nội dung, tiến độ xây dựng nông thôn mới, bám sát 19 tiêu chí của Chính phủ đề ra Đồng thời tuyên truyền vận động nhân dân tích cực tham gia xây dựng nông thôn mới, khảo sát đánh giá thực trạng, lập đề án, tập trung vào việc quy hoạch các vùng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn, hiệu quả cao theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa
Thực hiện đường lối của Đảng, trong thời gian qua, phong trào xây dựng nông thôn mới
đã diễn ra sôi nổi ở khắp các địa phương trên cả nước, thu hút sự tham gia của cả cộng đồng, phát huy được sức mạnh của toàn xã hội Quá trình xây dựng nông thôn mới đã đạt được thành tựu khá toàn diện Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cơ bản đảm bảo, tạo sự thuận lợi trong giao lưu buôn bán và phát triển sản xuât; kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề, đã xuất hiện nhiều mô hình kinh tế có hiệu quả gắn với xây dựng nông thôn mới, nâng cao thu nhập và đời sống vật chất tinh thần cho người dân; hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố và tăng cường; dân chủ cơ sở được phát huy; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; vị thế của giai cấp nông dân ngày càng được nâng cao Những thành tựu đó đã góp phần thay đổi toàn diện bộ mặt nông thôn, tạo cơ sở vững chắc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân
Trang 11Tuy nhiên, quá trình xây dựng nông thôn mới còn bộc lộ nhiều khó khăn hạn chế, nhất là
về công tác quy hoạch Quy hoạch nông thôn mới là một vấn đề mới, liên quan đến nhiều lĩnh vực và phải mang tính chiến lược phát triển kinh tế, xã hội Đội ngũ cán bộ còn nhiều hạn chế
về năng lực, nên trong quá trình triển khai còn nhiều lúng túng Bên cạnh đó chúng ta còn gặp khó khăn về huy động nguồn vốn cho xây dựng nông thôn mới Đời sống của người dân nông thôn còn nhiều khó khăn Mặt khác, trong nhận thức nhiều người còn cho rằng xây dựng nông thôn mới là dự án do nhà nước đầu tư xây dựng nên còn có tâm lý trông chờ, ỷ lại Chính vì vậy trong thời gian tới bên cạnh việc đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, chúng ta cần phải đẩy mạnh công tác giáo dục tuyên truyền chủ trương đường lối của Đảng, để mọi người
dân đều nhận thức rằng: "Xây dựng nông thôn mới là công việc thường xuyên của mỗi người,
mỗi nhà, mỗi thôn xóm và từng địa phương; tất cả cùng chung sức dưới sự lãnh đạo của Đảng " nhằm thực hiện thành công xây dựng nông thôn mới
Thực tiễn cũng cho thấy, những xã hội tiến bộ bao giờ cũng chú ý tới việc thu hẹp khoảng cách sự phát triển giữa thành thị và nông thôn, phát triển lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và quan hệ xã hội, cải thiện điều kiện sinh hoạt ở nông thôn, làm cho thành thị và nông thôn xích lại gần nhau Chính vì vậy, bên cạnh phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn quá trình xây dựng nông thôn mới, chúng ta cần học tập kinh nghiệm của các nước trên thế giới và trong khu vực về phát triển nông thôn tiên tiến hiện đại, để xây dựng hoàn thiện hệ thống các quan điểm lý luận về phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn làm cơ
sở khoa học cho thực tiễn Xây dựng nông thôn nước ta trở nên văn minh, tiên tiến hiện đại nhưng vẫn mang đậm bản sắc văn hóa và nét đẹp truyền thống của nông thôn Việt Nam
Với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình trong quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và công tác xây dựng Đảng của tỉnh Nghệ An ngày càng
vững mạnh, tôi chọn đề tài: "Quá trình xây dựng nông thôn mới ở Nghệ An từ năm 2008 đến
năm 2015" làm Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trang 12Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới là một vấn đề hoàn toàn mới, được Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) ban hành nghị quyết tại Hội nghị lần thứ
7 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và đã được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học tuy nhiên vẫn còn ít công trình nghiên cứu được xuất bản Có thể khái quát một số công trình như sau:
- Trên thế giới, trước hết phải kể đến công trình khoa học: “Chính sách nông nghiệp
trong các nước đang phát triển” của tác giả Frans Ellits do Nhà xuất bản Nông nghiệp xuất bản
năm 1994 Trong tác phẩm này, tác giả đã nêu lên những vấn đề cơ bản của chính sách nông nghiệp ở các nước đang phát triển thông qua việc nghiên cứu lý thuyết và khảo cứu thực tiễn ở nhiều nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ la tinh Cuốn sách đã đề cập những vấn đề chính sách phát triển vùng, chính sách hỗ trợ đầu vào, đầu ra cho sản xuất nông nghiệp, chính sách thương mại nông sản, những vấn đề phát sinh trong quá trình đô thị hoá Điều đặc biệt cần lưu ý là công trình này đã xem xét nền nông nghiệp của các nước đang phát triển trong quá trình chuyển sang sản xuất hàng hoá gắn liền với thương mại nông sản trên thế giới, đồng thời cũng nêu lên những mô hình thành công và thất bại trong việc phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết vấn đề nông dân
Công trình khoa học: “Một số vấn đề về nông nghiệp, nông dân ở các nước và Việt Nam”
của các tác giả Benedict J.tria kerrkvliet, Jamesscott, Nguyễn Ngọc và Đỗ Đức Định sưu tầm và giới thiệu, Nhà xuất bản Hà Nội xuất bản năm 2000 Các tác giả đã nghiên cứu về vai trò, đặc điểm của nông dân, thiết chế nông thôn ở một số nước trên thế giới và những kết quả bước đầu trong nghiên cứu làng nghề truyền thống ở Việt Nam Công trình này có giá trị tham khảo cho việc giải quyết những vấn đề của chính sách phát triển nông thôn nước ta hiện nay như tương lai của các trang trại, nông dân với khoa học
- Nhóm những công trình nghiên cứu trong nước về nông nghiệp, nông thôn nói chung
Đề tài khoa học cấp nhà nước do GS.TS Hoàng Chí Bảo (chủ nhiệm đề tài): Hệ thống
chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay, đề tài khoa học cấp nhà nước, Hà Nội, 1992
Trang 13Công trình nghiên cứu: Chính sách nông nghiệp, nông thôn sau Nghị quyết X của Bộ
chính trị do PGS.TSKH Lê Đình Thắng chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành
năm 1998 đã đề cập nhiều nội dung quan trọng liên quan đến quá trình phát triển nông nghiệp của Việt Nam dưới sự tác động của hệ thống chính sách, đi sâu phân tích một số chính sách cụ thể như chính sách đất đai, chính sách phân phối trong phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
Vũ Oanh: Nông nghiệp và nông thôn trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá
và hợp tác hoá, dân chủ hoá, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998
Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc: Quản lý xã hội nông thôn nước ta hiện nay -
Một số vấn đề và giải pháp, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2001
Những nghiên cứu chuyên sâu về chính sách phát triển kinh tế xã hội nói chung và chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn nói riêng được rất nhiều người quan tâm Công trình
nghiên cứu: Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới của PGS.TS Nguyễn Sinh Cúc,
Nhà xuất bản Thống kê, năm 2003 Công trình này nghiên cứu về quá trình đổi mới nông nghiệp Việt Nam sau gần 20 năm Công trình còn cung cấp hệ thống tư liệu về phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta như một niên giám thu nhỏ Tác giả này đã luận giả rõ quá trình đổi mới, hoàn thiện chính sách nông nghiệp, nông thôn nước ta trong những năm đổi mới, những thành tựu và những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam Những gợi mở về những vấn đề cần giải quyết của phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta được tác giả lý giải với nhiều luận cứ có tính thuyết phục
- Nhóm công trình nghiên cứu của tỉnh Nghệ An về nông nghiệp, nông thôn, như: Ban
Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An (1999), Lịch sử Đảng bộ Nghệ An, Tập II, 1954-1975, Nxb Nghệ An Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An (2008), Lịch sử Đảng bộ Nghệ An, Tập III,
1975-2005, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An
(2005), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI (2005-2010), Nxb Nghệ An Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh
Trang 14lần thứ XVII (2010-2015), Nxb Nghệ An Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII (2010-2015), Nxb Nghệ An Ủy ban nhân dân
tỉnh Nghệ An (8/2012), Kỷ yếu hội thảo khoa học xây dựng Nông thôn mới ở Nghệ An - Thực
trạng và giải pháp Trường Chính trị tỉnh Nghệ An, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
Văn phòng Điều phối Chương trình MTQG Xây dựng NTM Nghệ An (2014), Kỷ yếu Hội thảo
vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở Nghệ An trong việc tổ chức, vận động nhân dân xây dựng nông thôn mới
- Nhóm các luận văn thạc sĩ tại Trường Đại học Vinh nghiên cứu về nông nghiệp, nông
thôn, như: Trần Văn Tám: Nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong xây
dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp (Qua khảo sát ở xã Bình Thạnh, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp), Trường Đại học Vinh, năm 2012 Phạm Đình
Hoàng: Vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng mô hình nông thôn mới tại xã Ích
Hậu - huyện Lộc Hà - tỉnh Hà Tĩnh, Trường Đại học Vinh, năm 2012 Nguyễn Thị Mai: Thực trạng và một số giải pháp về xây dựng nông thôn mới ở huyện Yên Thành tỉnh Nghệ An,
Trường Đại học Vinh, năm 2012 Trương Vĩnh Từ: Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong
xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, Trường Đại học Vinh,
năm 2014 Hoàng Thị Thu Hoài: Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong xây
dựng nông thôn mới, Trường Đại học Vinh, năm 2014
Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu khoa học được đăng tải trên các Tạp chí xây
dựng Đảng; Tạp chí Lịch sử Đảng; các Báo, Đài Trung ương và địa phương
Qua các công trình công bố có thể thấy mảng đề tài về Chương trình mục tiêu Quốc gia
về xây dựng nông thôn mới đã thu hút được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều tác giả, của
nhiều công trình nghiên cứu
Trong các công trình đó đã phản ánh ở mức độ khác nhau về sự lãnh đạo của Đảng đối với Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới nói chung và quá trình quán triệt, tổ chức chỉ đạo thực hiện của các Đảng bộ, chi bộ trong thực hiện Chương trình mục tiêu
Trang 15Quốc gia về xây dựng nông thôn mới ở Nghệ An nói riêng Hầu hết các công trình, tác phẩm đã phác họa rõ bối cảnh, tình hình mới đòi hỏi thực hiện mạnh hơn nữa việc xây dựng nông thôn mới, nêu lên những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới trong sự phát triển kinh tế, xã hội tỉnh và cả nước nói chung; quán triệt quan điểm của Đảng, Nhà nước tại Đảng bộ các địa phương, trong đó Đảng bộ tỉnh Nghệ An đã tổ chức chỉ đạo thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn
mới, góp phần thay đổi diện mạo các địa phương
Có thể nói, thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới của tỉnh Nghệ An chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống Sự chỉ đạo cụ thể của tỉnh Nghệ An đối với thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới? Các địa phương triển khai, tổ chức thực hiện như thế nào, có những đặc điểm gì? Sự sáng tạo của tỉnh Nghệ An trong quá trình tổ chức chỉ đạo thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia
về xây dựng nông thôn mới để góp phần phát triển nhanh, bền vững kinh tế, xã hội của tỉnh? Những kinh nghiệm về lãnh đạo thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới Những vấn đề đó vẫn còn là những nội dung cần được tập trung nghiên cứu một cách thấu đáo hơn Cần phải khảo sát thực tế một cách cụ thể, để có được những đánh giá khách quan có cơ sở khoa học về những mặt đạt được và chưa đạt được trong quá trình lãnh đạo thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới của tỉnh Nghệ An
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tập hợp các nguồn tư liệu, luận văn tập trung trình bày về các yêu cầu cấp thiết cần phải xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An, từ đó trình bày những thành tựu, tồn tại hạn chế của công cuộc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn toàn tỉnh Nghệ An từ năm 2008 đến năm 2015
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để làm rõ sự quá trình xây dựng nông thôn mới ở Nghệ An từ năm 2008 đến năm 2015,
Trang 16luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề sau:
- Trình bày khái quát về cơ sở lý luận, thực tiễn để Đảng ta ban hành nghị quyết xây dựng nông thôn mới
- Luận văn đi sâu nghiên cứu quá trình quán triệt, vận dụng những chủ trương, chính sách đó của tỉnh Nghệ An từ năm 2008 đến năm 2015
- Tập trung trình bày những thành tựu, tồn tại, hạn chế trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Nghệ An
- Đưa ra một số nhận xét, một số giải pháp và một số ý kiến đề xuất để đẩy mạnh công cuộc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An trước mắt và lâu dài
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình xây dựng nông thôn mới ở Nghệ An từ năm 2008 đến năm 2015
Tuy nhiên, để làm rõ những nhiệm vụ khoa học và thực tiễn đề tài đặt ra, chúng tôi có dành một phần nội dung để trình bày về cơ sở lý luận và thực tiễn để Đảng ta ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về "nông nghiệp, nông dân và nông thôn"
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu Để thực hiện luận văn này, tác giả sử dụng các nguồn tư liệu chủ
yếu là các văn kiện đại hội, Hội nghị Trung ương Đảng, các chỉ thị, nghị quyết, báo cáo sơ, tổng kết, các phân tích đánh giá của Đảng và Nhà nước; văn kiện đại hội, chỉ thị, nghị quyết, báo cáo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An trong từ năm 2008 đến năm 2015; các báo cáo sơ, tổng kết
Trang 17về Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới của các huyện, thành, thị; các bài
viết liên quan về tỉnh Nghệ An và các tài liệu khảo sát thực tế
5.2 Phương pháp nghiên cứu Với đề tài này, luận văn sử dụng 2 phương pháp chính là
phương pháp lịch sử và phương pháp logic Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương
pháp cụ thể như:
- Phương pháp thu thập, đánh giá, phân tích tài liệu
- Phương pháp tham khảo ý kiến các chuyên gia
- Phương pháp điều tra, khảo sát, thâm nhập thực tế
6 Những đóng góp của luận văn
- Luận văn đã trình bày khái quát về cơ sở lý luận, thực tiễn để Đảng ta ban hành nghị quyết xây dựng nông thôn mới và quá trình quán triệt, vận dụng những chủ trương, chính sách
đó của tỉnh Nghệ An từ năm 2008 đến năm 2015
- Luận văn nêu nội dung, yêu cầu của việc xây dựng nông thôn mới, từ đó phân tích chủ trương của tỉnh Nghệ An với việc thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2015
- Luận văn đã nêu rõ những thành tựu, tồn tại, hạn chế trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Nghệ An
- Kết quả nghiên cứu của luận văn là cơ sở khoa học để tỉnh Nghệ An có những điều chỉnh, bổ sung về chủ trương, giải pháp thực hiện hiệu quả hơn Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới ở địa phương
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo nội dung chính của luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Xây dựng nông thôn mới ở Nghệ An - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Chương 2: Quá trình xây dựng nông thôn mới ở Nghệ An từ năm 2008 đến năm 2015 -
thành tựu và hạn chế
Trang 18Chương 3: Một số nhận xét, giải pháp nhằm đẩy mạnh quá trình xây dựng Nông thôn
mới ở Nghệ An
NỘI DUNG
Chương 1 XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở NGHỆ AN MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận của xây dựng nông thôn mới
1.1.1 Khái niệm về nông thôn, nông thôn mới
- Nông thôn Theo quan điểm trước kia, khái niệm nông thôn thường được gắn với làng,
xóm, thôn , là môi trường kinh tế sản xuất gắn với nghề lúa nước cổ truyền, không gian sinh tồn, không gian xã hội, cảnh quan văn hoá xây đắp nên nền tảng tinh thần, tạo thành lối sống, cốt cách và bản lĩnh của người Việt chúng ta Gần đây, một số nhà nghiên cứu cho rằng nông thôn là vùng khác với vùng thành thị ở chỗ tại đây có một cộng đồng chủ yếu là nông dân sống
và làm việc có mật độ dân cư thấp, có cơ sở hạ tầng kém phát triển hay vùng nông thôn là khu vực địa giới hành chính không bao gồm địa bàn của phường, quận thuộc thị xã, thành phố
Theo khái niệm mới nhất được viết trong Tài liệu tập huấn xây dựng nông thôn mới của
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn: "nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành,
nội thị, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Uỷ ban nhân dân xã”
- Nông thôn mới Đã có nhiều diễn giải và phân tích về khái niệm thế nào là nông thôn
mới, theo đó khái niệm nông thôn mới trước tiên phải là nông thôn chứ không phải là thị tứ, là
Trang 19nông thôn mới chứ không phải nông thôn truyền thống Nếu so sánh giữa nông thôn mới và nông thôn truyền thống, thì nông thôn mới phải bao hàm cơ cấu và chức năng mới Sự nhìn nhận chung của các nhà nghiên cứu về mô hình nông thôn mới là những kiểu mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những thành tựu khoa học - kỹ thuật hiện đại, song vẫn giữ được những nét đặc trưng cơ bản của nông thôn Mô hình nông thôn mới được quy định bởi các tính chất: đáp ứng yêu cầu phát triển; có sự đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường; đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội; tiến bộ hơn so với
mô hình truyền thống; chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng trên phạm
vi quốc gia
Như vậy, có thể hiểu rằng nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện mới, là kiểu nông thôn được xây dựng với các tiêu chí so với mô hình nông thôn cũ (truyền thống) ở tính tiên tiến về mọi mặt Xây dựng nông thôn mới là việc giải quyết các vấn
đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong một bối cảnh xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa đặc thù, là quá trình xây dựng các hình thái làng xã khác nhau trong những thời điểm lịch sử khác nhau và tại các khu vực khác nhau, mang đặc tính thời đại và ý nghĩa thực tế riêng Hay nói cách khác, xây dựng nông thôn mới là một công trình tổng hợp liên quan đến mọi mặt hoạt động thuộc lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và nông dân, với nội dung đa dạng phức tạp, là quá trình áp dụng các cơ chế, chính sách, các quy định do chính phủ ban hành để huy động, tập trung các nguồn lực, các thành phần kinh tế tham gia đầu tư, xây dựng một nông thôn theo những tiêu chí mới đặt ra phù hợp với yêu cầu, tính chất của thời đại
Một vấn đề cần lưu ý, bộ tiêu chí nông thôn mới có thể thay đổi, nhưng việc xây dựng nông thôn mới qua các giai đoạn luôn phải giữ được các chức năng cơ bản của nông thôn Đây vừa là tiêu chí để phân biệt nông thôn với thành thị, vừa là mục tiêu, định hướng để chúng ta hướng đến một nông thôn mới phát triển bền vững Các chức năng cơ bản của một nông thôn mới cần có là:
Trang 20+ Chức năng sản xuất nông nghiệp hiện đại Khác với nông thôn truyền thống, sản xuất
nông nghiệp của nông thôn mới bao gồm cơ cẩu các ngành nghề mới, các điều kiện sản xuất nông nghiệp hiện đại hoá, ứng dụng phổ biển khoa học kỹ thuật tiên tiến và xây dựng các mô hình sản xuất nông nghiệp hiện đại Nông thôn phục vụ thành thị, ngược lại thành thị hỗ trợ
nông thôn Xây dựng nông thôn mới không có nghĩa là biến nông thôn trở thành thành thị, triệt tiêu sản xuất nông nghiệp mà chỉ là làm cho nông thôn có cuộc sống phát triển, giảm dần khoảng cách chênh lệch giàu nghèo so với thành thị, duy trì và phát huy nền sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại ở nông thôn
+ Chức năng giữ gìn văn hóa truyền thống Kho tàng văn hoá truyền thống được cấu
thành từ bởi rất nhiều thành phần quan trọng khác nhau Các thành phần này không chỉ đóng vai trò không thể thay thế trong sự nghiệp hiện đại hoá và phát triển xã hội, mà còn là một bộ phận cấu thành quan trọng trong kho tàng văn hoá của toàn nhân loại Nền văn hoá truyền thống mang đậm màu sắc thôn quê này đã được sản sinh trong một hoàn cảnh đặc biệt Các phương thức sản xuất, sinh sống cũng như cơ cấu tổ chức mang tính đặc thù của xã hội nông thôn chính là nhân tố quyết định nền văn hoá mang đậm màu sắc dân tộc Xã hội làng xã nông thôn thường mang đặc tính quê hương, xã hội và người thân, đó là những phong tục tập quán
đã được hình thành từ lâu đời, ở đó con người đối xử tin cậy lẫn nhau, quan hệ huyết thống là mối quan hệ quan trọng nhất ở làng xã vùng nông thôn Chính các tập thể nông dân cùng huyết thống đã giúp họ khắc phục được những nhược điểm của kinh tế tiểu nông, giúp bà con nông dân chống chọi với thiên tai, rủi ro Cũng chính văn hoá nông thôn đã sản sinh ra những sản phẩm văn hoá tinh thần quý báu như lòng kính già yêu trẻ, giúp nhau canh gác bảo vệ, giản dị tiết kiệm, thật thà đáng tin, yêu quý quê hương.vv , tất cả những yếu tố đó được sản sinh trong hoàn cảnh xã hội nông thôn Các truyền thống văn hoá quý báu này đòi hỏi phải được giữ gìn
và phát triển trong một hoàn cảnh đặc thù Do vậy, chỉ có nông thôn với đặc điểm sản xuất
nông nghiệp mới là môi trường thích hợp nhất để giữ gìn và kế tục văn hoá đặc sắc truyền thống Ngoài ra, nông thôn cũng chính là nơi kế tục của nền văn minh, các cảnh quan nông
Trang 21thôn với những đặc trưng riêng đã hình thành nên màu sắc văn hoá làng xã đặc thù, thể hiện các tư tưởng triết học như trời đất giao hoà, thuận theo tự nhiên với sự tôn trọng tự nhiên, mưu
cầu phát triển hài hoà cũng như chú trọng sự kế tục phát triển của các dân tộc Việc xây dựng
nông thôn mới nếu như phá vỡ đi các cảnh quan làng xã đã được hình thành trong lịch sử thì cũng chính là phá vỡ đi sự hài hoà vốn có của nông thôn, làm mất đi bản sắc làng quê nông thôn, và điều này có tác động tiêu cực đến việc giữ gìn sinh thái cảnh quan nông thôn và cảnh
quan văn hoá truyền thống nông thôn
+ Chức năng sinh thái, môi trường Chức năng này chính là một trong những tiêu chí
quan trọng phân biệt giữa thành thị với nông thôn Trong nông thôn truyền thống, con người và
tự nhiên sinh sống hài hoà với nhau, chức năng con người tôn trọng tự nhiên, bảo vệ tự nhiên
và từ đó hình thành nên tập quán, thói quen làm việc theo quy luật tự nhiên Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá khiến con người ngày càng xa rời tự nhiên, dẫn đến những ô nhiễm trong môi trường nước và không khí Nếu so sánh với hệ thống sinh thái đô thị, thì hệ thống sinh thái nông thôn một mặt có thể đáp ứng nhu cầu cung cấp các sản phẩm lương thực, hoa quả cho con người, mặt khác cũng đáp ứng được các yêu cầu về môi trường tự nhiên Thuộc tính sản xuất nông nghiệp đã quyết định hệ thống sinh thái nông thôn mang chức năng phục vụ
hệ thống sinh thái Đất đai canh tác trong nông nghiệp, hệ thống thuỷ lợi, các khu rừng có tác dụng sinh thái như điều hoà khí hậu, giảm ô nhiễm tiếng ồn, cải thiện nguồn nước
Các cảnh quan tự nhiên tươi đẹp cùng với môi trường sinh thái có thể đáp ứng được nhu cầu về tự nhiên của con người Nông thôn có thể bù đắp được những thiếu hụt sinh thái của thành thị Môi trường tự nhiên yên tĩnh có thể điều hoà cân bằng tâm lý con người Môi trường sinh vật phong phú khiến con người có thể cảm thụ được những điều tốt đẹp từ cuộc sống Đây cũng chính là lý do phải xây dựng nông thôn mới với những đóng góp tích cực cho sinh thái Chức năng sinh thái chính là thước đo một khu vực nông thôn có thể coi là nông thôn mới hay không
1.1.2 Sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới
Trang 22Nhìn chung, ở các nước đang phát triển, cư dân nông thôn là những người chịu nhiều thiệt thòi về nhiều mặt, họ gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống Sản xuất nông nghiệp hay công nghiệp, dịch vụ vùng nông nghiệp, nông thôn thường là đem lại giá trị kinh tế thấp, dẫn đến thu nhập của người nông dân vùng nông thôn thường thấp hơn so với vùng nội đồng và thành thị Điều kiện cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, đời sống dân sinh, xã hội thấp kém, mức
độ quan tâm hạn chế hơn thành thị Các điều kiện về văn hoá, tinh thần, các dịch vụ vui chơi giải trí còn thiếu và kém hơn rất nhiều so với thành thị Xuất phát từ những điều này, nông thôn
đã trở thành đối tượng đặc biệt được chính phủ của các quốc gia, các tổ chức khác nhau trên thế giới quan tâm
Mục đích của công cuộc xây dựng nông thôn mới nhằm khắc phục những khó khăn, cải thiện điều kiện sống, làm việc ở khu vực nông thôn, biến khu vực nông thôn trở thành nơi có chất lượng cuộc sống ngày một tốt hơn, hấp dẫn hơn để con người sinh sống, hưởng thụ và làm việc Việc xây dựng nông thôn mới đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển Có thể nói, xây dựng nông thôn mới là chương trình phát triển toàn diện, là chương trình được phát triển ở cấp quốc gia hay từng địa bàn vùng nông thôn với các mục tiêu cụ thể Đó không chỉ đơn thuần là một dự án đầu tư xây dựng hạ tầng mà là một chương trình phát triển tổng hợp, cả về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân và xây dựng hệ thống chính trị, bảo đảm quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn Xây dựng nông thôn mới là một cuộc vận động cách mạng rộng lớn, cần huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị, nhà nước, nhân dân và các thành phần kinh tế cùng tham gia
Xây dựng nông thôn mới có ý nghĩa cả về mặt kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường và an ninh, quốc phòng Nó không chỉ tạo dựng nên bộ mặt nông thôn xanh, sạch, đẹp, cơ sở hạ tầng phát triển, cuộc sống của người dân ngày càng sung túc hơn cả về vật chất, tinh thần, trẻ em được chăm lo, học hành đầy đủ, người già được quan tâm, ốm đau được chữa trị , mà bên cạnh đó xét về chiều sâu đó là cả một xã hội nông thôn phát triển, hệ thống chính trị ổn định,
Trang 23an ninh, quốc phòng được giữ vững, những phong tục, tập quán, nét đẹp truyền thống được giữ gìn; quan hệ con người với con người ngày càng tốt đẹp hơn, khoảng cách giàu nghèo giữa người dân nông thôn với thành thị được thu hẹp Đây cũng chính là mục tiêu cơ bản mà chính phủ của mỗi quốc gia hướng tới
1.1.3 Chủ thể tham gia xây dựng nông thôn mới
Như phân tích ở trên, xây dựng nông thôn mới không chỉ là nhiệm vụ của người dân sống ở nông thôn hay chính quyền địa phương, mà nó cần sự tập trung, huy động của mọi nguồn lực và sự tham gia của cả cộng đồng, các tổ chức, các thành phần kinh tế trong xã hội Tuy nhiên, chúng ta cần phải xác định rõ đâu là chủ thể chính trong công cuộc xây dựng nông thôn mới Có ý kiến cho ràng chủ thể xây dựng nông thôn mới phải là chính quyền, điều này
không đúng Trên thực tế, người nông dân mới thực sự là chủ thể chính thực hiện công cuộc
xây dựng nông thôn mới Bởi vì, không phải là do nhà nước không có đủ tiềm lực kinh tế để
đóng vai trò chủ thể này, mà cho dù tiềm lực kinh tế của nhà nước có mạnh đi chăng nữa thì cũng không thể thiếu sự tham gia đóng góp tích cực của chính người nông dân, nhà nước không làm thay được nông dân Theo đó nông dân được tham gia ý kiến vào đề án quy hoạch; được lựa chọn những công việc cần làm trước, làm sau để thiết thực với yêu cầu của người dân
và phù hợp với điều kiện của địa phương; người dân tự quyết định mức đóng góp, cử đại diện tham gia quản lý, giám sát các công trình xây dựng và tổ chức, vận hành bảo dưỡng các công trình sau hoàn thành
Bên cạnh đó, tham gia công cuộc xây dựng nông thôn mới không thể không tính đến các chủ thể khác như sự tham gia của các tổ chức đoàn thể, tổ chức chính trị, xã hội hay của các doanh nghiệp, doanh nhân Bởi thực tế, việc xây dựng nông thôn mới đòi hỏi phải huy động nhiều nguồn lực, trong đó nguồn lực kinh tế và con người, trong khi đó các đoàn thể chính trị,
xã hội có vai trò hết sức cần thiết, góp phần thành công của công cuộc xây dựng nông thôn
1.2 Quan điểm của Đảng ta về xây dựng nông thôn mới
1.2.1 Các quan điểm của Đảng về xây dựng NTM trước Đại hội VI
Trang 24Từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta luôn khẳng định tầm quan trọng của vấn đề Nông nghiệp, nông thôn và nông dân
- Tại Đại hội Đảng lần thứ III (năm 1960): Trong bối cảnh đất nước ta đang tạm bị chia
cắt thành 2 miền, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang ngày càng ác liệt, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đã xác định: Đưa miền Bắc từ nền kinh tế chủ yếu dựa trên sở hữu cá thể
về tư liệu sản xuất tiến lên nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, dựa trên sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể từ tình trạng kinh tế rời rạc và lạc hậu, xây dựng thành một nền kinh tế cân đối và hiện đại Chủ trương của Đảng là: “ xây dựng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cân đối và hiện đại, kết hợp công nghiệp với nông nghiệp và lấy công nghiệp nặng làm nền tảng, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ ” [39, tr.182-183]
Tiếp theo, Hội nghị Trung ương 5 khóa III (năm 1961) đã ra Nghị quyết về vấn đề phát triển nông nghiệp, trong đó nêu lên phương hướng cải tiến công cụ và cơ giới hóa nông nghiệp trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965)
- Đại hội IV (năm 1976): Sau khi miền Nam hoàn toàn được giải phóng, Đảng ta đã chủ
trương: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, đưa nền kinh tế nước ta từ nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp” Đại hội đã xác định kế hoạch 5 năm 1976 -
1980 là: “Tập trung cao độ lực lượng của cả nước, của các ngành, các cấp, tạo ra một bước phát triển vượt bậc về nông nghiệp nhằm giải quyết vững chắc nhu cầu của cả nước về lương thực, thực phẩm và một phần hàng tiêu dùng thông thường ” [30, tr.68]
- Đại hội V: Từ thực tiễn 30 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và những năm
sau thống nhất đất nước, Đảng ta ngày càng thấy rõ vai trò của sản xuất nông nghiệp Đại hội
V đã chỉ rõ: “Trong 5 năm 1981 - 1985 và những năm 80 cần tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất lớn
xã hội chủ nghĩa, ra sức đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngành
Trang 25công nghiệp nặng quan trọng; kết hợp nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp nặng trong một cơ cấu công - nông nghiệp hợp lý” [31, tr.47]
Như vậy, từ Đại hội III đến Đại hội IV và Đại hội V của Đảng, chúng ta có thể khẳng định rằng, tuy chưa chưa đề cập đến cụm từ “nông thôn mới” nhưng Đảng ta luôn xác định nông nghiệp có một vị trí rất quan trọng, là mặt trận hàng đầu, đồng thời đã đề ra nhiều chủ trương, đường lối để phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại
1.2.2 Các quan điểm của Đảng về xây dựng NTM từ Đại hội VI đến nay
- Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI: Đại hội VI đã đề ra những quan điểm và chính sách
đổi mới, trước hết là đổi mới kinh tế; phấn đấu đưa nông nghiệp trở thành nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa xã hội chủ nghĩa; thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần; xác định cải tạo xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ thường xuyên liên tục trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; xóa bỏ cơ chế kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp, xây dựng cơ chế mới phù hợp với quy luật khách quan và trình độ phát triển của nền kinh tế
Đại hội chỉ rõ: “ nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo” [32, tr.20]
Từ những tư tưởng chỉ đạo trên và rút kinh nghiệm từ khoán theo Chỉ thị 100 của Ban Bí thư (khóa IV), Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (khóa VI) đã thổi vào nông nghiệp, nông thôn nước ta một luồng gió mới, cuộc sống của người dân đã được cải thiện nhanh chóng
- Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII:
Đại hội VII đã chỉ rõ: “Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng
đầu để ổn định tình hình kinh tế, xã hội” [33, tr.67]
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 (khóa VII) đã xác định một hệ thống quan điểm nhằm tiếp tục đổi mới và phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta trong giai
Trang 26đoạn mới là: (i) Đặt sự phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa (ii) Thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách kinh tế nhiều thành phần (iii) Gắn sản xuất với thị trường; đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới (iv) Gắn phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài; bảo vệ và phát triển tài nguyên, cải thiện môi trường sinh thái, xây dựng nông thôn mới Đổi mới kinh tế
đi đôi với đổi mới hệ thống chính trị trong nông thôn
- Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII:
Đại hội VIII đã khẳng định: “Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp
lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh” [34, tr.80]
Nghị quyết Đại hội VIII cũng chỉ rõ phải đặc biệt coi trọng công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, đồng thời chỉ rõ nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn là: (i) Phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp, hình thành các vùng tập trung chuyên canh, có cơ cấu hợp lý về cây trồng, vật nuôi, có sản phẩm hàng hóa nhiều về số lượng, tốt về chất lượng, bảo đảm an toàn về lương thực trong xã hội, đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp chế biến và của thị trường trong, ngoài nước (ii) Thưc hiện thủy lợi hóa, điện khí hóa,
cơ giới hóa, sinh học hóa (iii) Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản với công nghệ ngày càng cao, gắn với nguồn nguyên liệu và liên kết với công nghiệp ở đô thị (iv) Phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống và các ngành nghề mới bao gồm tiểu, thủ công nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, công nghiệp khai thác và chế biến các nguồn nguyên liệu phi nông nghiệp, các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân (v) Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, từng bước hình thành nông thôn mới văn minh, hiện đại” [34, tr.87]
Tiếp theo, Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII đã xác định các
Trang 27những nội dung cần đẩy mạnh trong phát triển nông nghiệp và nông thôn, đó là: Đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với phân công lao động ở nông thôn; giải quyết vấn
đề thị trường tiêu thụ nông sản; phát triển mạnh các hình thức kinh tế hợp tác, đổi mới các hoạt động của các cơ sở quốc doanh trong nông nghiệp và nông thôn, phát triển các cơ sở quốc doanh ở vùng sâu, vùng xa
Ngày 10 tháng 11 năm 1998, Bộ Chính trị khóa VIII đã ra Nghị quyết số 06 - NQ/TW về một số vấn đề phát triển nông nghiệp nông thôn
- Đại hội IX của Đảng: Đại hội IX đã chủ trương phải rút ngắn thời gian công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, phấn đấu đến năm 2020, nước ta trở thành một nước công nghiệp, đồng thời chỉ rõ phải ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa
- xã hội, tăng cường các nguồn lực cần thiết để đẩy nhanh công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn
Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa IX đã ra Nghị quyết về “Đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 - 2010” Nghị quyết đã chỉ
rõ nội dung tổng quát công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn là: “ là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ, trước hết là công nghệ sinh học, đưa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa trên thị trường”
Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX đã đề ra 5 quan điểm trong xây dựng nông thôn Đó là: (i) Coi công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu; (ii) Ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất ; thúc đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bảo
vệ môi trường, phòng chống, hạn chế và giảm nhẹ thiên tai, phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững (iii) Dựa vào nội lực là chính, đồng thời tranh thủ tối đa các nguồn lực từ bên ngoài
Trang 28(iv) Kết hợp chặt chẽ các vấn đề kinh tế và xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ; giữ gìn, phát huy truyền thống văn hóa và thuần phong mỹ tục (v) Kết hợp chặt chẽ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn với xây dựng tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân
- Đại hội X của Đảng:
Nghị quyết Đại hội X đã xác định: “Phải luôn luôn coi trọng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Gắn phát triển kinh tế với xây dựng nông thôn mới, giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa nông thôn với thành thị, giữa các vùng miền, góp phần giữ vững ổn định chính trị xã hội”
Ngày 5 tháng 8 năm 2008, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) đã ban hành Nghị quyết số 26 - NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) đã đánh giá thành tựu và hạn chế trong vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn sau hơn 20 năm đổi mới, đồng thời nêu 4 quan điểm về các vấn
đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn, đó là:
+ Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế, xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước
+ Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt
+ Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng ; khai thác tốt các điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc tế; phát huy
Trang 29cao nội lực; đồng thời tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội
+ Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; trước hết phải khơi dậy tình thần yêu nước, tự chủ, tự lực, tự cường vươn lên của nông dân Xây dựng xã hội nông thôn ổn định, hòa thuận, dân chủ, có đời sống văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nhân dân”
Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) đã đề ra các giải pháp để đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới: (i) Xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, đồng thời phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn (ii) Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội nông thôn gắn với phát triển các đô thị (iii) Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, nhất là vùng khó khăn (iv) Đổi mới và xây dựng các hình thức sản xuất, dịch vụ có hiệu quả ở nông thôn (v) Phát triển nhanh nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học, công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, tạo đột phá để hiện đại hóa nông nghiệp, công nghiệp hóa nông thôn (vi) Đổi mới mạnh mẽ cơ chế, chính sách để huy động cao các nguồn lực, phát triển nhanh kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân (vii) Tăng cường
sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sức của các đoàn thể chính trị, xã hội ở nông thôn, nhất là hội nông dân
Thực hiện Nghị quyết trung ương 7 (khóa X), Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới tại Quyết định 491/QĐ-TTg, ngày 16/4/2009 và Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 tại Quyết định 800/QĐ-TTg, ngày 04/6/2020
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng: Đại hội XI đã thông qua Cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), trong đó đã xác định những định hướng lớn về phát triển kinh tế - văn hóa, xã hội, quốc phòng,
an ninh, đối ngoại là: Coi trọng phát triển các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp chế tạo có tính nền tàng và các ngành công nghiệp có lợi thế; phát triển nông, lâm, ngư nghiệp ngày càng
Trang 30đạt trình độ công nghệ cao, chất lượng cao gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới [35, tr.75]
Chiến lược phát triển kinh tế, xã hội 2011 - 2020 đã xác định rõ định hướng trong xây dựng nông thôn mới: Quy hoạch phát triển nông thôn gắn với phát triển đô thị và bố trí các điểm dân cư Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ và làng nghề gắn với bảo vệ môi trường Triển khai chương trình nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn; giữ gìn và phát huy những nét văn hóa đặc sắc của nông thôn Việt Nam Đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn Tạo môi trường thuận lợi để khai thác mọi khả năng đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn, nhất là đầu tư của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thu hút nhiều lao động Triển khai có hiệu quả Chương trình đào tạo nghề cho 1 triệu lao động nông thôn mỗi năm Thực hiện tốt các chương trình hỗ trợ nhà ở cho người nghèo và các đối tượng chính sách, chương trình nhà ở cho đồng bào vùng bão, lũ; bố trí hợp lý dân cư, bảo đảm an toàn ở những vùng ngập lũ, sạt lở núi, ven sông, ven biển [34, tr.123]
Như vậy, kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay, quan điểm, chủ trương, biện pháp về xây dựng nông thôn mới của Đảng ta ngày càng rõ và đến Đại hội X thì hoàn chỉnh và thống nhất chỉ đạo trên phạm vi toàn quốc
1.2.3 Nguyên tắc thực hiện xây dựng nông thôn mới
Điều 2 Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNN&PTNT-BKH&ĐT- BTC ngày 13 tháng 4 năm 2011 (liên Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính) về hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6 năm
2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020” đã đề ra 6 nguyên tắc trong xây dựng nông thôn mới như sau:
Các nội dung, hoạt động của Chương trình xây dựng nông thôn mới phải hướng tới mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới ban hành tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ
Trang 31Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, chính sách, cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện
Kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai trên địa bàn nông thôn
Thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới phải gắn với kế hoạch phát triển kinh
tế xã hội của địa phương, có quy hoạch và cơ chế đảm bảo thực hiện các quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã được cấp có thẩm quyền xây dựng
Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực; tăng cường phân cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công trình, dự án của Chương trình xây dựng nông thôn mới; phát huy vai trò làm chủ của người dân và cộng đồng, thực hiện dân chủ
cơ sở trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát đánh giá
Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp ủy đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, đề án, kế hoạch, và tổ chức thực hiện Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị, xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong xây dựng nông thôn mới
1.2.4 Nội dung xây dựng nông thôn mới
Có thể khái quát nội dung cơ bản, cần thiết khi tiến hành xây dựng nông thôn thành 5 nhóm nội dung sau:
- Quy hoạch xây dựng nông thôn mới
Mục tiêu xây dựng nông thôn mới sẽ khó đạt được nếu như công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch kém, hay còn gọi là phá vỡ quy hoạch Đối với nội dung này cần hướng tới và giải quyết hai vấn đề: (i) Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ (ii) Quy hoạch phát triển
hạ tầng kinh tế, xã hội, môi trường; phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân
Trang 32cư hiện có trên địa bàn xã (lựa chọn cấp xã vừa là địa bàn hành chính, vừa có quy mô tương đối để tiến hành quy hoạch, liên kết được với các hạ tầng của vùng và là địa bàn tổ chức sản xuất có hiệu quả)
- Xây dựng phát triển hạ tầng kinh tế, xã hội
Đây là một trong những nội dung khó, đòi hỏi thời gian lâu dài Để đạt mục tiêu cần có
sự tham gia của cả hệ thống chính trị, cộng đồng người dân và toàn xã hội Nội dung đặt ra tập trung vào những vấn đề sau: (i) Hoàn thiện đường giao thông, thuỷ lợi phục vụ đời sống sản xuất và dân sinh (ii) Hoàn thiện hệ thống các công trình đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn xã (iii) Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn hoá thể thao trên địa bàn xã (iv) Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hoá về y tế trên địa bàn xã (v) Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hoá về giáo dục trên địa bàn xã (vi) Cải tạo, xây mới hệ thống cấp nước sạch, công trình
vệ sinh, môi trường trên địa bàn xã
- Phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống, giảm nghèo và
đảm bảo an sinh xã hội, đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn
Đây là một trong những nội dung khó khăn và lâu dài để đạt được mục tiêu xây dựng nông thôn mới Trọng tâm về vấn đề này là cần xác định rõ và thực hiện các nội dung chính sau: (i) Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá đối với cả trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản, ngành nghề, dịch vụ; (ii) Chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông nghiệp, nông thôn gắn với giải quyết việc làm cho nông dân; (iii) Tạo việc làm, nâng cao thu nhập, đảm bảo an sinh xã hội cho cư dân vùng nông thôn, (iv) Khuyến khích, tạo điều kiện phát triển kinh tế hộ nông dân; (v) Xây dựng, nhân rộng các mô hình liên kết có hiệu quả; (vi) Phát triển nhanh các hợp tác xã kiểu mới, hiệu quả cao; (vii) Phát triển kinh tế trang trại ở nông thôn; (viii) Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn
- Phát triển giáo dục, đào tạo, y tế, chăm sóc sức khoẻ cư dân, xây dựng đời sổng văn
Trang 33hoá tốt, giữ gìn và bảo vệ môi trường, sinh thái nông thôn
Đây là vấn đề xã hội và là một trong những nội dung khó khăn và lâu dài để đạt được mục tiêu xây dựng nông thôn mới Trong thực tế nông thôn hiện nay, nguồn lực tài chính cũng như điều kiện tiếp cận để có thể giúp người nông dân và con em của họ có được môi trường và điều kiện học tập tốt là còn nhiều hạn chế, do vậy cần: (i) Có cơ chế, chính sách để tạo điều kiện cho người nông dân được tham gia các chương trình giáo dục, đào tạo; (ii) Tăng cường công tác khuyến nông, bồi dưỡng kiến thức, đào tạo nghề cho nông dân; (iii) phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn; (iv) xây dựng đời sống văn hóa, và truyền thống, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc ở các vùng miền; (v) Sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm các nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường nông thôn
- Xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông
thôn
Để nông thôn phát triển bền vững và ổn định, cần bảo đảm bộ máy lãnh đạo, quản lý đồng bộ, tăng cường các hoạt động của các đoàn thể chính trị xã hội trên địa bàn nông thôn; đây là nội dung khá quan trọng trong xây dựng nông thôn mới Đồng thời cần bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, ngăn chặn và xử lý kịp thời các tệ nạn xã hội
Như vậy, nội dung cần phải tiến hành để xây dựng nông thôn bao gồm nhiều lĩnh vực, phạm vi rộng, cần có sự tham gia của các chủ thể, đặc biệt đòi hỏi phải huy động được nhiều nguồn lực Do đó, trong từng điều kiện, đặc điểm của mỗi vùng miền, địa phương và thời gian của từng thời kỳ, từng giai đoạn mà các địa phương nên có những ưu tiên lựa chọn những nội dung chính, mang tính thiết thực nhất để làm mục tiêu xây dựng chương trình, phù hợp với tình hình thực tiễn và xu hướng phát triển
1.2.5 Các bước xây dựng nông thôn mới
Điều 3 Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày 13 tháng 4 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp PTNT, Bộ Kế hoạch đầu tư, Bộ Tài chính quy định các bước xây dựng nông thôn mới như sau:
Trang 34Bước 1: Thành lập hệ thống quản lý, thực hiện
Bước 2: Tổ chức thông tin tuyên truyền về thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới
Bước 3: Khảo sát đánh giá thực trạng nông thôn theo 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
Bước 4: Xây dựng quy hoạch nông thôn mới của xã
Bước 5: Lập, phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới của xã
Bước 6: Tổ chức thực hiện đề án
Bước 7: Giám sát đánh giá và báo cáo về tình hình thực hiện Chương trình
1.3 Cơ sở thực tiễn về xây dựng nông thôn mới
1.3.1 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn ở một số nước trên thế giới
1.3.1.1 Hàn Quốc
Từ năm 1962, Chính phủ Hàn quốc đưa ra kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm tập trung nỗ lực trên cả hai lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp với mục tiêu là vượt qua đói nghèo và đạt được những thành tựu trong phát triển nông thôn Phong trào Saemaul Undong bắt đầu từ các cộng đồng nông thôn và lan rộng trên toàn quốc, đến thành phố, trường học, công sở, nhà máy Phong trào này không đơn thuần là một kế hoạch hành động mà còn là cuộc cải tổ về ý thức dựa trên tinh thần, đã làm là được, tất cả đều có thể làm được, nhất định phải làm Chủ trương của chính phủ Hàn Quốc là đầu tư hạ tầng để nông dân tự mình đứng lên, sản xuất chế biến tại chỗ Nông dân là người chủ đích thực Năm 2005 nhà nước có hẳn đạo luật mọi hoạt động của các bộ, ngành, chính quyền phải hướng về nông dân, theo đó các ngành phải trợ giúp nông nghiệp nâng cao đời sống nông dân và ngư dân trong xu hướng toàn cầu hóa, nông dân Hàn Quốc bắt đầu sử dụng công nghệ tiên tiến, họ phải sản xuất theo định hướng thị trường và sản xuất nông sản có chất lượng cao, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và thân thiện với môi trường, chú trọng đến đời sống tinh thần và chất lượng cuộc sống Chính Tổng thống Park của hàn quốc đã chỉ đạo trực tiếp phong trào phát triển nông thôn, theo đó trọng tâm là khuyến
Trang 35khích người dân tự hợp tác và giúp đỡ nhau để phát triển, đây là điểm mấu chốt để phát triển nông thôn Ý tưởng đó là nền tảng của phong trào Saemaul (xây dựng làng mới) với cách làm như sau:
- Chính phủ đưa ra thử nghiệm 10 dự án lớn trong phát triển nông thôn, gồm: mở rộng và nắn thẳng đường xá, làm lại mái nhà bếp và hàng rào, xây dựng giếng nước công cộng và khu giặt giũ công cộng Chính phủ kêu gọi sự đóng góp của nguời dân và xin nguồn viện trợ bên ngoài gồm vật liệu, công nghệ là chính
- Người dân, cộng đồng tự lựa chọn dự án, tiêu chí lựa chọn dự án mới là phải xuất phát
từ lợi ích thiết thực của người dân, điều kiện sống của người dân được cải thiện, tất cả mọi người dân đều được hưởng lợi lâu dài Các dự án do chính UBND xã đó quản lý và được UBND quận, huyện phê duyệt Chính phủ ngày từ đầu đã thành lập Học viện Saemaul undong
bồi dưỡng cán bộ xã để chỉ đạo phong trào (mỗi xã có 1 người)
- Việc trợ cấp của Chính phủ từ năm thứ 2 trở đi có phân biệt: Chỉ cấp cho các xã đã hoàn thành kế hoạch năm trước và xã hoàn thành tốt hơn sẽ được hỗ trợ nhiều hơn, thúc đẩy sự thi đua nỗ lực của mỗi cộng đồng
Sau 8 năm triển khai phong trào Saemaul, nông thôn Hàn Quốc đã đạt được những kết
quả sau: (i) Hoàn thành cơ bản về xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn (Sau 7 năm phát động
chương trình, các tuyến đường liên thôn đạt hơn 42.000 km, đường nội đồng đạt gần 69.000km, cơ bản đã làm thay đổi cục diện đời sống nông thôn Các nhà dân ở khu vực nông thôn đã dần hiện đại, số hộ có điện tăng từ 27% lên 100%, tất cả các giếng nước được bơm bàng mô-tơ điện); (ii) Thu nhập bình quân của các hộ gia đình nông thôn tăng lên 3 lần (Thu nhập của nông dân tăng lên 3.000 USD/người/năm so với vài trăm USD của 7 năm trước) và
cao hơn thu nhập của người dân thành phố; (iii) Khu vực nông thôn của Hàn Quốc trở thành xã hội năng động, có khả năng tự tích luỹ, tự đầu tư và tự phát triển
1.3.1.2 Đài Loan
Đến cuối những năm 50 của thế kỷ trước, Đài Loan đã cơ bản thực hiện tự cung cấp
Trang 36lương thực và có dư Sau khi giải quyết vấn đề lương thực, từ năm 1963 trở đi, Đài Loan bắt đầu dồn sức phát triển công nghiệp nhẹ Điều đáng nói là lúc này, một số quan chức của chính quyền Đài Loan có dấu hiệu coi thường nông nghiệp, bởi vậy, tới năm 1969, sản xuất nông nghiệp trở nên tiêu điều, kéo theo cảnh tiêu điều trong sản xuất công nghiệp Trong hoàn cảnh này, chính quyền Đài Loan buộc phải điều chỉnh chính sách, tức chuyển từ phương châm
“nông nghiệp bồi dưỡng công nghiệp” sang “công nghiệp để bồi dưỡng nông nghiệp” Chính sách cụ thể chủ yếu là: từ năm 1974, bắt đầu thiết lập một quỹ bình chuẩn lương thực, thực hành chính sách thu mua đảm bảo giá cả đối với các nông sản phẩm như thóc, gạo ; tăng cường đầu tư vào các hạng mục công trình công cộng nông thôn, bao gồm thủy lợi, rừng chắn gió, đường và nước máy ; mở rộng cơ giới hóa nông nghiệp và kỹ thuật nông nghiệp tổng hợp; tăng cường nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, nhân lực và kinh phí,
Sau thập kỷ 80 của thế kỷ trước, bối cảnh chính sách nông nghiệp Đài Loan có sự thay đổi khá lớn: mức thu nhập bình quân đầu người tăng cao dẫn đến cơ cấu tiêu dùng phát sinh biến động; Ý thực bảo vệ môi trường của con người được nâng cao, khiến cho môi trường sinh thái ngày càng được coi trọng; sự phát triển của nông nghiệp quốc tế hóa và tự do hóa khiến cho nhiều mặt hàng từ nước ngoài được nhập vào Đài Loan, tạo nên sức cạnh tranh với các sản phẩm bản địa Thích ứng với những thay đổi này, chính sách nông nghiệp của Đài Loan cũng
có sự điều chỉnh tương ứng, từ chưa coi trọng sang cùng coi trọng cả chính sách sản xuất nông nghiệp, chính sách thị trường và giá cả, chính sách môi trường nông nghiệp và chính sách xã hội nông thôn
Có thể thấy rằng, kinh nghiệm cơ bản của phong trào xây dựng nông thôn mới của các nước trên không nằm ngoài công thức: Chính phủ kết hợp với Hội nông dân điều tiết quá trình thực thi, trong đó Chính phủ đóng vai trò chủ đạo Đồng thời, phải dựa vào tình hình, bối cảnh
cụ thể của mỗi quốc gia để có những chính sách, kế hoạch và bước đi thích hợp Tuy nhiên, điều cốt lõi của các chương trình là vai trò của chính phủ là rất quan trọng, nhất là sự quan tâm, đầu tư tới nông nghiệp và hạ tầng kinh tế ở nông thôn và tinh thần ý thức, sự tham gia tích cực
Trang 37hay không của người dân sẽ quyết định đến sự thành công của công cuộc xây dựng nông thôn mới
1.3.1.3 Trung Quốc
Trung Quốc rất coi trọng đến phát triển nông nghiệp và nông thôn nhằm giảm cách biệt giữa thành thị và nông thôn Trung Quốc coi trọng thực thi chính sách cung cấp cho nông dân giống lúa tốt, năng suất cao, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất của nông dân; Trung Quốc rất thành công trong việc đào tạo cán bộ chuyên môn nông nghiệp kỹ thuật cao, tổ chức tốt các mô hình triển khai công nghệ sản xuất nông nghiệp và gửi nhiều người đi du học ở những nước có nền nông nghiệp công nghiệp hoá cao; chính sách này là một trong những chiến lược quan trọng nhàm hỗ trợ cho sự phát triển của cả ngành nông nghiệp, nông thôn Ngoài ra Trung Quốc coi trọng đến nâng cao thu nhập của nông dân qua chính sách thuế và giá; từ năm
1994, Chính phủ Trung Quốc đã đưa vấn đề giá thu mua ngũ cốc vào luật, theo đó, giá thu mua
sẽ được tăng cao hơn mức giá trên thị trường nhàm khuyến khích người nông dân chuyển sản xuất bông và cây lấy dầu sang trồng ngũ cốc
Về đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và phát triển nông thôn, thông qua thay đổi chính sách hỗ trợ về thuế, Chính phủ đã hỗ trợ cho các nhà đầu tư vào vùng nông thôn, nhất là vùng miền núi và hải đảo đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp và cơ sở hạ tầng nông thôn, từ năm
2002 - 2007, Chính phủ Trung Quốc đã chi gần 300 tỷ nhân dân tệ cho xây dựng các công trình
cơ bản hạ tàng của nông nghiệp, nông thôn Trong 6 năm qua, Trung Quốc đã xây dựng hơn 1,3 triệu km đường nông thôn, đã tăng được 100 triệu mẫu diện tích được tưới nước theo mô hình tiết kiệm, đã giải quyết các khó khăn về nước ống và nước an toàn cho gần 100 triệu nhân khẩu ở nông thôn Các đầu tư cho cơ sở hạ tầng này một phần nhàm tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất, hỗ trợ ứng dụng khoa học kĩ thuật trong sản xuất nông nghiệp đồng thời cũng cải thiện điều kiện làm việc cho nông dân và điều kiện sinh hoạt cho các khu vực nông thôn
Thông qua các bài học kinh nghiệm của các nước có thể thấy:
Trang 38(i) Các nước luôn lấy phát triển sản xuất nông nghiệp, hạ tầng nông thôn và nâng cao đời sống của nông dân làm trọng tâm để đẩy mạnh phong trào xây dựng nông thôn mới;
(ii) Trong xây dựng và phát triển nông thôn luôn chú ý quan tâm, coi trọng địa bàn khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng núi, dân tộc và ven biển, hải đảo;
(iii) Về nguồn lực, các nước đều coi trọng chính sách hỗ trợ của Nhà nước, nguồn lực này luôn đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ địa phương và nông dân thực thi các Chương trình nông nghiệp và phát triển nông thôn
(iv) Phải dựa vào tình hình, bối cảnh cụ thể của mỗi quốc gia để có những chính sách, kế hoạch và bước đi thích hợp Trong đó, điều cốt lõi của các chương trình là phát huy được vai trò của Chính phủ trong việc định hướng, khởi xướng phong trào, kết hợp nâng cao tinh thần ý thức, sự tham gia tích cực của người dân sẽ quyết định đến sự thành công của công cuộc xây dựng nông thôn mới
1.3.2 Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
Thực hiện Nghị quyết trung ương 7 (khóa X), Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới tại Quyết định 491/QĐ-TTg, ngày 16/4/2009 và Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 tại Quyết định 800/QĐ-TTg, ngày 04/6/2020
Ngày 02 tháng 02 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 193/QĐ-TTg Phê duyệt Chương trình rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới Kết quả thực hiện đến nay trên các lĩnh vực như sau:
* Thành lập bộ máy chỉ đạo từ Trung ương đến cơ sở
Ngày 01 tháng 7 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 1013/QĐ-TTg Thành lập Ban chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giai đoạn 2010 - 2020 Ban Chỉ đạo Trung ương có 24 thành viên, do đồng chí Nguyễn Sinh Hùng - Phó Thủ tướng Thường trực Chính Phủ làm Trưởng ban, Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn Cao Đức Phát làm Phó trưởng ban thường trực
Trang 39Ban chỉ đạo Trung ương đã ban hành Quy chế hoạt động (tại quyết định BCĐXDNTM, ngày 20/9/2010) và Kế hoạch triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 (tại quyết định 43 5/QĐ-BCĐXDNTM, ngày 20/9/2010)
437/QĐ-Để giúp việc cho Ban chỉ đạo, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã thành lập Văn phòng điều phối Chương trình với 24 cán bộ chuyên trách (4 chuyên trách, 9 kiêm nhiệm từ các
Bộ, ngành, 11 kiêm nhiệm từ các đơn vị trong Bộ)
Theo Kế hoạch của Ban chỉ đạo Trung ương, trong năm 2010, các cấp chính quyền từ tỉnh đến huyện đều đã thành lập ban chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới
Ở cấp xã, thành lập Ban quản lý Chương trình nông thôn mới (do Chủ tịch UBND xã làm Trưởng ban, các ủy viên Ủy ban phụ trách các lĩnh vực nông nghiệp, kinh tế, giao thông công chính, đại diện Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể quần chúng làm thành viên) và Ban giám sát công đồng (gồm đại diện của Hội đồng nhân dân, Mặt trận tổ quốc, các tổ chức chính trị xã hội
và đại diện của cộng đồng dân cư)
Cấp thôn bản: Mỗi thôn, bản thành lập một Ban phát triển thôn làm nòng cốt trong quá trình thực hiện nội dung xây dựng nông thôn mới trên địa bàn Nhiệm vụ của Ban phát triển thôn là động viên, khuyến khích nhân dân tham gia xây dựng, thực hiện, giám sát các quá trình xây dựng các nội dung về nông thôn mới ở xóm, bản
* Tổ chức quán triệt, tuyên truyền, chọn điểm chỉ đạo
Cũng trong năm 2010, Thủ tướng Chính phủ Chính phủ đã tổ chức Hội nghị trực tuyến với lãnh đạo các Bộ, ngành Trung ương, lãnh đạo các địa phương để triển khai Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 (ngày 06/8/2010) Nhiều hoạt động tuyên truyền như họp báo, tổ chức Hội nghị với các tổ chức quốc tế cũng đã được tiến hành
Trang 40Ban chỉ đạo Trung ương đã chọn 5 tỉnh là Phú Thọ, Thái Bình, Hà Tĩnh, Bình Phước, An Giang và 05 huyện là Nam Đàn – tỉnh Nghệ An, Hải Hậu - tỉnh Nam Định, Phước Long - tỉnh Bạc Liêu, Phú Ninh - tỉnh Quảng Nam, K’Bang - tỉnh Gia Lai làm điểm chỉ đạo
Theo Cục kinh tế hợp tác Phát triển nông thôn (công bố tại hội nghị ngày 15/2/2011), đến tháng 2 năm 2011, có 60 tỉnh chọn xã làm điểm chỉ đạo trước khi nhân ra diện rộng (766 xã/119 huyện), trong đó đa số lựa chọn 4-10 xã (chiếm 3-4%) Một số tỉnh chọn số xã làm điểm lớn như Phú Yên 22%, Đồng Tháp 25%, Hà Giang 23%, Lào Cai 31% Có tỉnh đề ra kế hoạch hoàn thành xây dựng nông thôn mới sớm hơn kế hoạch của Trung ương như Quảng ninh phấn đầu 70% xã đạt nông thôn mới vào năm 2015
* Ban hành các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo
Theo sự chỉ đạo của Chính Phủ, các Bộ, ngành trung ương đã ban hành nhiều thông tư hướng dẫn quản lý, thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số BNNPTNT, ngày 21 tháng 8 năm 2009, về “Hướng dẫn dẫn thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới” và Thông tư 07/2010/TT- BNNPTNT, ngày 08/02/2010 về “Hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp cấp xã”
54/2009/TT-Bộ Xây dựng ban hành Thông tư 21/2009/TT-BXD, ngày 30/6/2009 về “Quy định việc lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch xây dựng nông thôn”; Thông tư số 31/2009/TT-BXD ngày 10/9/2009 về “ban hành tiêu chuẩn quy hoạch xây dựng nông thôn” và Thông tư số 32/2009/TT-BXD, ngày 10/9/2009 về “Ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng nông thôn”; Thông tư 09/2010/TT-BXD ngày 4/8/2010 và Sổ tay Hướng dẫn lập quy hoạch nông thôn mới
Liên bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Tài chính đã ban hành thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT- BKHDT-BTC, ngày 13 tháng 4 năm
2011 để hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6 năm