Với những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Lịch sử - văn hóa dòng họ Nguyễn Trọng xã Nam Trung, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An từ thế kỷ XV đến năm 2014” làm Luận văn Thạc sỹ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN TRỌNG TRÁNG
lịch sử - văn hóa dòng họ nguyễn trọng (xã nam trung, huyện nam đàn, tỉnh nghệ an)
từ thế kỷ xv đến 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
NGHỆ AN - 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN TRỌNG TRÁNG
lịch sử - văn hóa dòng họ nguyễn trọng (xã nam trung, huyện nam đàn, tỉnh nghệ an)
từ thế kỷ xv đến 2014
Chuyờn ngành: Lịch sử Việt Nam
Mó số: 60.22.03.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học:
TS ĐẶNG NHƯ THƯỜNG
NGHỆ AN - 2015
Trang 3Qua đây cũng cho tác giả gửi lời tri ân, cảm tạ đến Ban Liên lạc dòng
họ Nguyễn Trọng, bác Nguyễn Trọng Phác, bác Nguyễn Trọng Điềm, bác Nguyễn Trọng Hồng, bác Đào Tam Tỉnh, chú Nguyễn Trọng Nghĩa, Thư viện Nghệ An, Thư viện Viện Hán nôm Hà Nội, Thư viện trường Đại học Vinh, UBND xã Nam Trung đã cung cấp tài liệu và giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này
Tác giả cũng đặc biệt cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn luôn giúp đỡ, ủng hộ tác giả trong suốt những năm qua
Xin tỏ lòng thành kính !
Nghệ An, tháng 10 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Trọng Tráng
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 6
5 Đóng góp của luận văn 7
6 Bố cục của luận văn 8
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1 NGUỒN GỐC VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA DÒNG HỌ NGUYỄN TRỌNG Ở XÃ NAM TRUNG, HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN TỪ THẾ KỶ XV ĐẾN 2014 9
1.1 Vài nét về quê hương dòng họ Nguyễn Trọng 9
1.2 Sự phát triển của dòng họ Nguyễn Trọng (thế kỷ XV đến năm 2014) 29
CHƯƠNG 2 VĂN HÓA DÒNG HỌ NGUYỄN TRỌNG Ở XÃ NAM TRUNG, HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN 41
2.1 Gia phong dòng họ Nguyễn Trọng 41
2.2 Truyền thống hiếu học, khoa bảng 49
2.3 Truyền thống trung quân ái quốc 52
2.4.Các nghề truyền thống 56
2.5 Di sản văn hóa 58
CHƯƠNG 3 NHỮNG NHÂN VẬT TIÊU BIỂU CỦA DÒNG HỌ NGUYỄN TRỌNG TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC 76
3.1 Nguyễn Trọng Thường 76
3.2 Nguyễn Trọng Đang 80
3.3 Nguyễn Đường 82
3.4 Nguyễn Trọng Võ 85
3.5 Trần Quốc Hoàn 89
KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106 PHỤ LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Trong công cuộc kiến thiết nước nhà, có bốn vấn đề cùng phải chú ý đến và phải coi là quan trọng ngang
mạng khoa học - công nghệ, sự tác động của xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa, các quốc gia, dân tộc, nhất là các nước đang phát triển đều ý thức sâu sắc việc bảo vệ, giữ gìn các giá trị đặc sắc và đa dạng của văn hóa dân tộc, chống nguy cơ bị đồng hóa Vì vậy, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trở thành yêu cầu khách quan, là mục tiêu của sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam hiện nay
.Các dòng
họ Việt Nam đã góp phần to lớn vào quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, trong đó có những dòng họ nòng cốt vươn lên nắm giữ vương quyền lãnh đạo Nhiều dòng họ thông qua công đức tên tuổi các danh nhân trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tín ngưỡng đã trở thành những danh gia vọng tộc lưu truyền hậu thế Nhiều dòng họ trong bách tính, tuy ở chốn hương thôn nhưng công đức tiên tổ, huyết mạch cội nguồn, tinh thần con cháu rất được coi trọng Sự phát triển của các dòng họ Việt Nam gắn liền với sự thịnh suy của đất nước: Đất nước nô lệ - dòng họ lầm than; đất nước độc lập - dòng
họ mở mang phát triển; đất nước phục hưng - dòng họ rực rỡ
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, chế độ phong kiến sụp đổ, các dòng họ Việt Nam bước sang lối rẽ trên con đường đi lên xã hội chủ nghĩa, thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước, nêu cao tính cộng đồng, tinh thần
tự quản, luôn đoàn kết phát huy truyền thống, ra sức giữ gìn, thực hiện giấy rách giữ lấy lề, gạn đục khơi trong, xây dựng gia đình, dòng họ phồn vinh tốt
1 Bài viết đăng trên báo Cứu quốc 8/10/1945
2
Theo số liệu đăng ký ở Hội các dòng họ Việt Nam thuộc tổ chức UNESCO - Việt Nam
Trang 6đẹp Lịch sử dân tộc đã chứng minh rằng: Nhà nước và giai cấp có thể bị diệt vong nhưng dòng họ thì vẫn trường tồn, văn hóa dòng họ ngày càng thêm rực
rỡ Chính vì vậy, việc nghiên cứu lịch sử, văn hóa dòng họ có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Đất Nghệ An trong lịch sử từng được xem là vùng đất khoa bảng với truyền thống hiếu học và chuộng lễ nghĩa Đặc biệt, người dân Hoan Châu từ xưa vốn là những người chất phác, cần cù, cương trực nên thường rất khẳng khái và có ý thức giữ gìn những vấn đề mang tính truyền thống Xã Nam Trung, huyện Nam Đàn ngày nay bao gồm ba làng Dương Liễu, Trung Cần, Đông Châu xưa, vốn là nơi trù mật, phong cảnh thanh nhàn, nhân dân giàu sang thịnh vượng, trước có dòng Lam trong mát, sau tựa dãy Thiên Nhẫn, ứng
với câu ca “nhất cận thủy, nhị cận sơn”, được coi là nơi đất lành chim đậu,
đất văn hiến lâu đời Đây cũng chính là nơi phát tích của dòng họ Nguyễn
Trọng -nổi tiếng là “dòng họ thi thư chi lệ, dịch thế trâm anh, đức độ hiền
lương, thanh liêm trung trực, cần cù, nhân hậu, thông minh và hiếu học”
Ở trên mảnh đất này, dòng họ Nguyễn Trọng phát triển thành nhiều chi
họ, với một truyền thống văn hóa rực rỡ, nổi tiếng với câu ca:
“Quốc thể ngũ niên trùng cống phỉ
Thư hương tam thế ngũ hoàng hoa”
Dịch nghĩa:
“Năm lần đi sứ phong độ làm rạng danh quốc thể
Ba đời nghiên bút năm đời làm sứ giả” [76]
Nghiên cứu về dòng họ Nguyễn Trọng - một dòng họ tiêu biểu của xứ Nghệ sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về văn hóa, con người, gia tộc, cộng đồng, cũng như mối quan hệ giữa các dòng họ ở xứ Nghệ nói riêng và cả nước nói chung Từ đó, chúng ta thêm trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống; thấy được trách nhiệm bảo tồn và phát huy truyền thống tốt đẹp, gìn giữ gia phong; làm rạng ngời văn hóa gia tộc trong di sản văn hóa dân tộc
Trang 7Với những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Lịch sử -
văn hóa dòng họ Nguyễn Trọng (xã Nam Trung, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An) từ thế kỷ XV đến năm 2014” làm Luận văn Thạc sỹ của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về dòng họ là một đề tài hấp dẫn, thu hút được sự quan tâm đặc biệt của những người làm lịch sử Trong xu thế hiện nay với chính sách mới của Đảng, Nhà nước thì rất nhiều các chương trình tìm về nguồn được triển khai ở cả địa phương lẫn trung ương Dòng họ Nguyễn Trọng là một dòng
họ lớn, có danh tiếng ở xứ Nghệ và đã được nhiều tác giả đề cập đến dù với những mức độ khác nhau trong các tác phẩm viết về địa lý tự nhiên, con người vùng đất Nghệ An nói chung và Nam Đàn nói riêng Tuy nhiên chưa có một tác phẩm nào nghiên cứu cụ thể về lịch sử và văn hóa dòng họ Nguyễn Trọng ở xã Nam Trung, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, chúng tôi đã tiếp cận được một số tư liệu như sau:
- Trong “An Tĩnh cổ lục” (Levieux An - Tinh), tác giả Hippolyte Le
Breton đã nói đến vùng đất Nam Đàn - Nghệ An nơi dòng họ Nguyễn Trọng chọn làm nơi sinh cơ lập nghiệp
- Trong các tác phẩm: “Nghệ An ký”; “Thanh Chương huyện chí”, tác
giả Bùi Dương Lịch đã giới thiệu về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và con người Nam Đàn, đồng thời tác giả cũng đề cập đến dòng họ Nguyễn Trọng ở
Nam Trung với Tam thế ngũ hoàng hoa
- Trong “Khoa bảng Nghệ An”, tác giả Đào Tam Tỉnh đã đề cập đến
thân thế, sự nghiệp của các nhân vật tiêu biểu thuộc dòng họ Nguyễn Trọng như Nguyễn Trọng Thường, Nguyễn Trọng Đang, Nguyễn Đường
- Trong các tác phẩm: “Các nhà khoa bảng Việt Nam” của Ngô Đức Thọ (chủ biên); “Trạng nguyên, Tiến sĩ, Hương cống Việt Nam” (nhiều tác giả); “Lịch triều tạp kỷ” của Cao Lãng (biên soạn), Xiển Trai (bổ sung);
Trang 8“Quốc triều hương khoa lục” của Cao Xuân Dục;“Đại Việt lịch triều đăng
khoa lục” của Tạ Thúc Khải (dịch); có liệt kê đến tên tuổi, quê quán, khoa
bảng, hoạn lộ của các nhân vật tiêu biểu trong dòng họ Nguyễn Trọng
- Các tác phẩm như “Hoàng Lê nhất thống chí” của Ngô Gia văn phái;
“Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn; “Lược sử Ngoại
giao Việt Nam qua các thời kỳ” của Nguyễn Lương Bích; “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú; “Khảo về đồ sứ cổ men lam Huế” của
Vương Hồng Sển; “Khâm định Đại Nam hội điển sự lễ”của Nội các triều
Nguyễn… có nhắc đến các sự kiện lịch sử liên quan đến các nhân vật họ Nguyễn Trọng trong thời gian làm quan tại triều đình
- Các tác phẩm: “Vũ trung tùy bút” của Phạm Đình Hổ; “Lịch đại danh
hiền phổ” của Nguyễn Thượng Khôi; “Đăng khoa sưu giảng” của Trần Tiến;
“Tang thương ngẫu lục” của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Ân… có ghi chép
những câu chuyện mang tính chất truyền miệng, thần bí của dân gian về nhân vật Nguyễn Trọng Thường, Nguyễn Trọng Đang, Nguyễn Đường
- Các tác phẩm như “Câu đối xứ Nghệ” của Đào Tam Tỉnh; “Nam Đàn
xưa và nay” - phần Di sản Hán Nôm huyện Nam Đàn; “Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng trong lòng quê hương dòng họ” của tác giả Tống Trần Tùng;
“Nghệ Tĩnh trong Tổ quốc Việt Nam” của Trần Thanh Tâm; “Hương xã Nam
Trung” của Hồ Khải Đại… có đề cập đến những Di sản văn hóa mà dòng họ
Nguyễn Trọng để lại trên quê hương như hệ thống câu đối Hán Nôm, đình Trung Cần, đình Dương Liễu, hệ thống nhà thờ họ, thơ ca
Bên cạnh đó còn các bài tham luận trong Kỷ yếu hội thảo “Văn hóa các
dòng họ ở Nghệ An”; Kỷ yếu hội thảo “Truyền thống văn hóa dòng họ Nguyễn Trọng, Trung Cần, Nghệ An” do Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch tỉnh
Nghệ An phối hợp với Viện Sử học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức Trong kỷ yếu hội thảo có sự tham gia viết bài của một số chuyên gia đầu ngành như: PGS.TS Đinh Quang Hải, PGS.TS Nguyễn Đức
Trang 9Nhuệ, PGS.TS Hà Mạnh Khoa, PGS.TS Nguyễn Minh Tường, PGS.TS Chương Thâu (Viện sử học); PGS.TS Nguyễn Quang Hồng (Khoa Lịch sử - Đại học Vinh); TS Đỗ Thị Bích Tuyển (Viện nghiên cứu Hán Nôm); cùng
với bài viết của nhiều Thạc sĩ, nhà nghiên cứu trong nước
Về cơ bản, trong các tài liệu chúng tôi tiếp cận trên đã nói đến dòng họ Nguyễn Trọng với truyền thống văn hóa và các nhân vật tiêu biểu, những đóng góp của các nhân vật đó đối với lịch sử quê hương, lịch sử dân tộc Tuy nhiên các bài viết đó còn mang tính chất lẻ tẻ, chỉ tập trung vào một vài cá nhân tiêu biểu, nét văn hóa tiêu biểu chứ chưa đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống quá trình phát triển và những đóng góp của dòng họ Nguyễn Trọng trong tiến trình lịch sử địa phương cũng như lịch sử nước nhà
3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Trên cơ sở tài liệu hiện có, chúng tôi tìm hiểu lịch sử
và văn hóa dòng họ Nguyễn Trọng trong khoảng thời gian từ thế kỷ XV đến năm 2014 (bắt đầu từ nguồn gốc là cụ Thủy tổ Nguyễn Quyên cho đến hiện
nay với 25 đời)
- Về không gian: Chủ yếu, chúng tôi tìm hiểu dòng họ Nguyễn Trọng
trên địa bàn hai làng Trung Cần và Dương Liễu, nay là xã Nam Trung, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Nhưng trong quá trình phát triển, dòng họ Nguyễn Trọng ở Nam Trung có sự lan tỏa đi các nơi khác Do đó, trong đề tài chúng
Trang 10tôi có đề cập đến một số không gian có liên quan (huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ
An; huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh)
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu
Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi đã tham khảo, nghiên cứu các
nguồn tài liệu sau:
4.1.1 Tài liệu gốc
Chúng tôi tham khảo gia phả của các chi họ Nguyễn Trọng - Trung Cần, chi họ Nguyễn Trọng – Dương Liễu, xã Nam Trung;chi họ Nguyễn Trọng – Thanh Chương; chi họ Nguyễn Trọng – Đức La, Đức Thọ; chi họ Nguyễn Trọng – Nghi Thạch, Nghi Lộc, chi họ Nguyễn Trọng – Kim Lũ, Hà Đông, Hà Nội, chi họ Nguyễn Trọng ở Vân Diên, Nam Đàn… và các đạo dụ, sắc phong, hoành phi, câu đối ở nhà thờ Đại tôn dòng họ Nguyễn Trọng ở làng Trung Cần, xã Nam Trung
4.1.2 Các tài liệu nghiên cứu
* Các bộ sử của các triều đại: “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú; “Đại Việt sử ký toàn thư” của Ngô Sỹ Liên; “Đại Nam thực
lục”, “Đại Nam nhất thống chí”, “Khâm định Đại Nam hội điển sự lễ” của
Quốc sử quán triều Nguyễn
* Các tác phẩm ghi chép về Nghệ An, Nam Đàn như: “An Tĩnh cổ lục” của Hippolyte Le Breton; “Nghệ An ký”, “Thanh Chương huyện chí” của Bùi Dương Lịch; “Nghệ An toàn chí”, “Nam Đàn xưa và nay”…
4.1.3 Các tài liệu khác
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các tài liệu khác như: “Từ điển các
nhân vật lịch sử Việt Nam” của Nguyễn Quyết Thắng và Nguyễn Thế Bá,
“Các nhà khoa bảng Việt Nam” của Ngô Đức Thọ (CB), “Quốc triều Hương
khoa lục” của Cao Xuân Dục, “Khoa bảng Nghệ An” của Đào Tam Tỉnh,
Trang 11“Đại Việt lịch triều đăng khoa lục”, “Đăng khoa lục Nghệ An”, “Câu đối xứ
Nghệ”, “Hương xã Nam Trung” của Hồ Khải Đại
Chúng tôi còn khai thác các bài viết trong cuốn Kỷ yếu hội thảo khoa học về dòng họ Nguyễn Trọng - Nam Trung, một số tài liệu chép tay, các bài báo, tạp chí liên quan đăng trên Tạp chí Khoa học - Công nghệ Nghệ An
4.1.4 Tài liệu điền dã
Để bổ sung tư liệu cho đề tài chúng tôi còn tìm hiểu, khảo cứu, đi thực
tế tại các nhà thờ họ Nguyễn Trọng ở các chi: nhà thờ ở làng Trung Cần và làng Dương Liễu, xã Nam Trung; nhà thờ ở huyện Nghi Lộc; ở huyện Thanh Chương; ở xã Vân Diên, huyện Nam Đàn; ở huyện Hưng Nguyên; ở huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh; di tích lịch sử đình Trung Cần, đình Dương Liễu ở
xã Nam Trung Đồng thời chúng tôi còn gặp gỡ, trao đổi với các cụ cao niên của dòng họ Nguyễn Trọng như cụ tộc trưởng Nguyễn Trọng Ngọ, Nguyễn Trọng Tứ, Nguyễn Trọng Phác, Nguyễn Trọng Điềm, bác Nguyễn Trọng Hồng, Nguyễn Trọng Tuấn, Nguyễn Trọng Nghĩa
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic, phương pháp so sánh để trình bày sự hình thành, phát triển và đóng góp của
dòng họ Nguyễn Trọng ở Nam Trung
- Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp điều tra, đối chiếu, so sánh, phân tích để tiến hành sưu tầm tư liệu tại Viện Hán Nôm Hà Nội, thư
viện tỉnh Nghệ An, sưu tầm gia phả các dòng họ
5 Đóng góp của luận văn
- Về mặt khoa học:Luận văn sẽ trình bày một cách hệ thống về
lịch sử 500 năm hình thành và phát triển của dòng họ Nguyễn Trọng ở xãNam Trung, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Qua đó, góp phần nghiên cứuvà làm rõ những nét nổi bật về văn hoá truyền thống, những di sản
Trang 12văn hoá; sự ảnh hưởng và những đóng góp của dòng họ Nguyễn Trọng với cộng đồng quê hương đất nước Đồng thời, nghiên cứu về các nhân vật tiêu biểu của dòng họ Nguyễn Trọng và làm rõ những đóng góp của
họ trong lịch sử dân tộc
- Về mặt thực tiễn: Luận văn sẽ góp phần bổ sung thêm nguồn tư
liệu cho công tác nghiên cứu lịch sử, văn hóa địa phương Kết quả nghiên cứu của luận văn là cơ sở cho việc nghiên cứu, biên soạn, giảng dạy lịch
sử địa phương trong các trường học ở trên địa bản tỉnh Nghệ An
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Nguồn gốc và lịch sử phát triển của dòng họ Nguyễn Trọng ở xã Nam Trung, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An từ thế kỷ XV đến 2014(33 trang)
Chương 2: Văn hóa dòng họ Nguyễn Trọng ở xã Nam Trung, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (35 trang)
Chương 3: Những nhân vật tiêu biểu của dòng họ Nguyễn Trọng trong lịch sử dân tộc (25 trang)
Trang 13NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 NGUỒN GỐC VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA DÒNG HỌ
NGUYỄN TRỌNG Ở XÃ NAM TRUNG, HUYỆN NAM ĐÀN,
TỈNH NGHỆ AN TỪ THẾ KỶ XV ĐẾN 2014 1.1 Vài nét về quê hương dòng họ Nguyễn Trọng
1.1.1 Quê hương Nam Đàn
* Vị trí, diên cách địa lý
dài từ 18034’ đến 180
48%, còn lại là đất lâm nghiệp và đồi núi, ao hồ Phía Đông và Đông Nam, huyện Nam Đàn giáp huyện Hưng Nguyên và huyện Nghi Lộc, phía Tây giáp huyện Thanh Chương, phía Bắc giáp huyện Đô Lương, phía Nam giáp huyện Hương Sơn và huyện Đức Thọ thuộc tỉnh Hà Tĩnh Huyện lỵ của Nam Đàn đóng ở thị trấn Nam Đàn, trên đường quốc lộ 46 Vinh - Đô Lương, cách thành phố Vinh 21 km về phía Tây
Trong khoảng không gian địa lý đó, hiện tại Nam Đàn có các xã Nam Giang, Nam Anh, Nam Xuân, Nam Thanh, Nam Nghĩa, Nam Hưng, Nam Thái, Vân Diên, Xuân Hòa, Hồng Long, Kim Liên, Xuân Lâm, Nam Cát nằm
ở phía tả ngạn sông Lam Bên hữu ngạn sông Lam có các xã: Nam Thượng, Nam Tân, Khánh Sơn, Nam Trung, Nam Cường, Nam Phúc, Nam Kim Đây
là các xã thuộc vùng Chín Nam.Sỡ dĩ có cách gọi đó là vì trong từng giai đoạn lịch sử, địa giới hành chính các xã ở vùng hữu ngạn sông Lam thuộc địa phận Nam Đàn thay đổi nên tên gọi cũng từng thay đổi
Xưa kia đất này là trung tâm của Bộ Việt Thường khi nước ta mang tên Văn Lang, Âu Lạc.Năm 207 trước Công Nguyên, nước Nam Việt của Triệu
Trang 14Đà thôn tính Âu Lạc Triệu Đà đã chia Âu Lạc thành 2 quận là Giao Chỉ ở phía Bắc và Cửu Chân ở phía Nam, lấy vùng Tam Điệp (Ninh Bình) hiện nay làm ranh giới của hai quận này
Thời Hán Vũ Đế (140 - 87 Tr.CN), huyện Hàm Hoan bao gồm vùng đất Nam Đàn ngày nay là một trong những huyện lớn thuộc quận Cửu Chân trước đó.Hàm Hoan chính là tên gọi đầu tiên của huyện Nam Đàn
Thời Tam Quốc (Ngụy, Thục, Ngô) huyện Cửu Đức thuộc Đông Ngô, bao gồm các huyện Hưng Nguyên, Thanh Chương, Nam Đàn và một phần Đô Lương, Đức Thọ ngày nay Sau đó, nhà Ngô đã tách riêng đất Nam Đàn và
Đô Lương thành lập huyện Đô Giao, huyện lỵ đóng ở vùng Nam Xuân, Nam Thanh ngày nay.Thế kỷ thứ VI, Cửu Đức đổi làm Đức Châu, Nam Đàn là vùng đất thuộc huyện Đức Châu
Nhà Đường chia Nghệ Tĩnh thành Hoan Châu và Diễn Châu Hoan Châu gồm có 4 huyện: Cửu Đức, Phố Dương, Việt Thường và Hoài An Năm Cửu Đức thứ 5, Việt Thường đổi tên là Minh Châu gồm 3 huyện: Vạn An, Minh Hoàng và Minh Định Nam Đàn là vùng đất của huyện Vạn An có thủ phủ ở Sa Nam Đây chính là nơi Mai Hắc Đế xây thành Vạn An, đặt đại bản doanh chống lại sự đô hộ của nhà Đường (713 - 723)
Dưới thời Lê Đại Hành (981 - 1005), huyện Hàm Hoan đổi tên thành huyện Hoan Đường thuộc Hoan Châu Chữ Hoan được giữ lại từ tên huyện Hàm Hoan trước đó, có nghĩa là vùng đất thuộc Hoan Châu, còn chữ
“Đường” có nghĩa là vùng đất nhiều ao hồ
Năm 1036, Lý Thái Tổ sau khi dời đô, đã đổi Hoan Châu thành châu Nghệ An, huyện Hoan Đường vẫn giữ nguyên tên gọi như trước đó Năm
1041, Lý Nhật Quang, con trai thứ 8 của Lý Thái Tổ vào trấn thủ Nghệ An đã
có rất nhiều công lao trong việc phát triển nông nghiệp, giáo dục Ông đã cho đắp đê phòng lũ dọc sông Lam, xây dựng hệ thống giáo dục trong dân gian để dạy chữ Hán và truyền bá đạo lý Khổng Mạnh
Trang 15Đến thời nhà Trần, vùng đất từ Nghệ An trở vào vẫn là vùng biên ải của
Tổ quốc và dân vùng này được coi là “Trại” để phân biệt với “Kinh” ở vùng phía
Bắc Vì vậy, nhà Trần trong chính sách tuyển chọn nhân tài đã đặt lệ lấy hai
Trạng nguyên: “Kinh Trạng nguyên” dành cho các lộ phía Bắc và “Trại Trạng
nguyên” dành cho Thanh Hóa và Nghệ An để khuyến khích việc học của
phương Nam Đến năm 1275, nhà Trần bỏ lệ lấy “Trại Trạng nguyên”
Thời nhà Hồ, Hồ Quý Ly đã đổi tên huyện Hoan Đường thành huyện Thạch Đường Nhà Minh sang xâm chiếm nước ta đã tách thành 3 huyện là Thạch Đường, Kệ Giang và Sa Nam Sau khi Lê Thái Tổ đánh thắng quân Minh, năm 1467 nhà Hậu Lê đã sắp xếp lại bản đồ hành chính và đổi tên
huyện Hoan Đường thành huyện Nam Đường, bao gồm tả ngạn sông Lam, từ
Hữu Biệt lên tận Tam Sơn thuộc huyện Anh Sơn ngày nay Huyện Nam Đường có 8 tổng: Nộn Liễu, Lâm Thịnh, Hoa Lâm, Đại Đồng, Đô Lương, Thuần Trung, Bạch Hà và Lãng Điền gồm 90 xã, thôn, phường, trại, giáp, vạn, sách
Đến đời vua Minh Mệnh thứ 3 – 1829, nhà Nguyễn đổi phủ Anh Đô làm Anh Sơn, phủ lỵ đặt tại Hà Nam (xã Vân Diên hiện nay) Năm 1840, 4 tổng Đô Lương, Thuần Trung, Bạch Hà, Lãng Điền của huyện Nam Đường
và tổng Đặng Sơn của huyện Thanh Chương được tách ra để thành lập huyện Lương Sơn (Đô Lương và Anh Sơn hiện nay)
Năm 1886, Đồng Khánh lên làm vua (để tránh phạm húy), chữ
“Đường” được đọc chệch thành chữ “Đàn” Huyện Nam Đàn lúc bấy giờ có 4
tổng là Nộn Liễu, Lâm Thịnh, Hoa Lâm, Đại Đồng bao gồm 77 xã thôn
* Điều kiện tự nhiên
Nam Đàn là vùng đất linh thiêng, tựa như một thung lũng rộng lớn với dãy Đại Huệ ở phía Bắc, dãy Thiên Nhẫn ở phía Nam và Tây Nam cùng hàng trăm núi non xếp trùng trùng điệp điệp, như những đàn voi, đàn ngựa rong ruổi, che chắn và bảo vệ cho vùng đất này Sông Lam như một con rồng xanh
Trang 16biếc uốn lượn chảy quanh Hai bên bờ Lam Giang, làng mạc sầm uất, đồng ruộng phì nhiêu như câu hát cổ nghìn năm vọng mãi:
“Nam Đàn gió thổi phi phong Núi non mây bá giăng mùng xung quanh Lam Giang một dải xanh xanh Vòng qua Nhẫn Đụn băng mình về xuôi” [26, 13]
Thời tiết và khí hậu của huyện Nam Đàn tương đối khắc nghiệt.Hằng năm, mùa hanh khô kéo dài từ tháng 1 đến tháng 3 dương lịch, mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 8, mùa mưatừ tháng 9 đến tháng 12 Lượng mưa hàng năm cao nhất là 2,228 mm, thấp nhất là 1,402 mm, trung bình là 1,428 mm Bão lụt thường xảy ra vào tháng 9 và tháng 10 dương lịch, gây úng lụt trên diện tích rộng, có lúc kéo dài trong một thời gian dài
Hoàng giáp Bùi Huy Bích đã miêu tả tóm tắt và khá đúng trong 4 câu
thơ chữ Hán ghi trong “Nghệ An thi tập” như sau:
“Hạ lai phong tự hỏa Thu khứ vũ như ma Thập nguyệt giang hoàn lạo Trùng cửu cúc vị hoa”
Dịch nghĩa:
Hè đến gió Lào như lửa đốt Thu qua mưa phùn lấm tấm sa Tháng mười sông còn tràn nước lũ Mồng 9 tháng 9 cúc chưa nở hoa [46, 6]
* Lịch sử văn hóa
Thông qua các di chỉ khảo cổ học, ngôn ngữ và phong tục, tập quán thì
có thể khẳng định rằng, Nam Đàn là một vùng đất ngàn năm văn hiến Các nhà khảo cổ học đã phát hiện vết tích của văn hóa Sơn Vi, văn hóa Quỳnh
Trang 17Văn, văn hóa Bàu Tró, văn hóa Đông Sơn khi khai quật di tích núi Trăn (Nam Xuân - Nam Đàn) và tìm thấy lưỡi cày, lưỡi cuốc, lưỡi rìu, mũi nhọn bằng đồng cùng đồ gốm khá phong phú của thời tiền sử
Cuối thời Hùng Vương, cư dân Nam Đàn đã sống định cư theo triền núi Đại Huệ từ Nam Hưng, Nam Nghĩa xuống Nam Giang khai hoang phát rẫy Bên vùng hữu ngạn sông Lam, cư dân Nam Đàn định cư theo triền núi Thiên Nhẫn và phát triển mạnh mẽ nền nông nghiệp lúa nước
Nam Đàn có truyền thống quật khởi chống giặc ngoại xâm từ thời lập nước cho đến ngày nay Bùi Dương Lịch thế kỷ XVIII viết: “Huyện Đông Thành và huyện Nam Đường vĩ nhân đã nhiều, mà khí tiết cũng thiên về mặt cương cường quả cảm [37, 212] Le Breton, nguyên Hiệu trưởng Quốc học Vinhđầu thế kỷ XX viết về Nghệ Tĩnh nói chung: “Nghệ Tĩnh trong tất cả mọi thời đại, từ cổ đại cho đến ngày nay là một cái lò phản kháng và là một
cái lò trí thức về truyền thống văn hóa” Truyền thống vẻ vang ấy đã được
khẳng định qua những mốc son lịch sử chói lọi của dân tộc
Đầu tiên là khởi nghĩa Mai Thúc Loan chống lại sự đô hộ của nhà
Đường thế kỷ thứ VIII.Sách “Tiên chân bảo huấn chân kinh” có ghi 2 bài thơ
về ông Trong đó có những câu:
“Hùng cứ Hoan Châu đất một phương Vạn An thành lũy Vạn An hương Bốn phương dậy tiếng hô Mai Đế Trăm trận sức dư át Lý Đường”
(Bản lưu tại đền Vua Mai, ở Nam Đàn)
Từ đầu thế kỷ X cho đến giữa thế kỷ XIX, bao sự kiện trọng đại của lịch sử nước nhà đã in dấu ấn lên đất Nam Đàn Đây là địa bàn đại thắng quân Chămpa, Chân Lạp của quân và dân ta dưới thời Lý; là hành cung Nam Hoa
của Trần Trùng Quang; là đất “lập cước” và xây thành Lục Niên của Lê Lợi;
Trang 18là nơi vua Quang Trung và La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp chọn để xây dựng Sùng Chính Viện
Năm 1858, thực dân Pháp vũ trang xâm lược nước ta, mở đầu bằng đại bác bắn vào cửa biển Đà Nẵng Từ đó đến năm 1945, Nam Đàn là mảnh đất bất khuất kiên cường với khởi nghĩa Giáp Tuất năm 1874, tiếp đến là những ngày rầm rập hưởng ứng chiếu Cần Vương, là phong trào Đông Du và Duy Tân của nhà chí sĩ kiệt xuất Phan Bội Châu
Trong thời đại Hồ Chí Minh, Nam Đàn luôn đi tiên phong trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Nam Đàn đã tổ chức xây dựng các tổ chức tiền
thân của Đảng như Hội Phục Việt sau đổi thành Đảng Tân Việt và là nơi sinh
ra người Bí thư Tỉnh ủy Đảng Cộng sản đầu tiên của Nghệ An - ông Nguyễn Tiềm người làng Dương Liễu Nam Đàn tiến hành rầm rộ Cao trào Xô - Viết trong 2 năm 1930 - 1931, chủ động khôi phục phong trào sau Xô - Viết (1933
- 1939) Từ đó tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng
tháng Tám năm 1945 Đến thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, giải
phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Nam Đàn cùng với nhân dân cả nước
đã đóng góp sức người, sức của cho các chiến trường, góp phần làm nên những chiến công vang dội trước giặc ngoại xâm, viết nên những trang sử hào hùng của dân tộc
Lịch sửđấu tranh dựng nước và giữ nước của Nam Đàn đã sinh ra những người con kiệt xuất như Mai Hắc Đế, Tống Tất Thắng, Phan Bội Châu,
Lê Hồng Sơn, Nguyễn Tiềm, Trần Quốc Hoàn và người anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh
Bên cạnh truyền thống yêu nước quật khởi chống xâm lăng, Nam Đàn còn là mảnh đất có truyền thống hiếu học, trước hết là đất khoa bảng, rạng danh đất văn vật, hiếu học, khổ học, là mảnh đất ươm mầm phát triển mạnh của trường học và nhiều thế hệ thầy giáo tài danh từ khi lập nước cho đến nay Nam Đàn là quê hương của 38 vị đại khoa Việt Nam tiêu biểu như: Trại
Trang 19Trạng nguyên Trương Xán đời Trần, Đình nguyên Thám hoa Nguyễn Đức Đạt; Thám hoa Nguyễn Văn Giao đời Nguyễn; Đình nguyên Tiến sĩ Vương Hữu Phu, Hoàng giáp Nguyễn Hữu Lập, Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc
Thời hiện đại cũng có rất nhiều người nổi tiếng như: Bộ trưởng Bộ nội
vụ Trung tướng Trần Quốc Hoàn; Bộ trưởng Bộ quốc phòng Tạ Quang Bửu;
Bộ trưởng Tạ Quang Ngọc; Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng; Thứ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo GS TSKH Bành Tiến Long; Thứ trưởng Bộ
tư pháp PGS TS Hoàng Thế Liên; Trưởng đoàn đàm phán Thương mại Việt -
Mỹ Nguyễn Đình Lương, Phó Viện Trưởng Viện kiểm soát nhân dân tối cao Dương Thanh Biểu, Thiếu tướng Nguyễn Phong Phú - Phó chính uỷ Quân khu 4, Tổng Giám đốc Binh đoàn Trường Sơn Thiếu tướng Lương Sỹ Nhung Nam Đàn còn có các Giáo sư như:Nguyễn Thạc Cát,Nguyễn Văn Trương,Phạm Như Cương, Nguyễn Thúc Hào, Nguyễn Văn Ngọ,Nguyễn Thúc Hải,Nguyễn Đình Bảng, Nguyễn Xuân Quỳnh, Tạ Quang Hải, Phạm Thị Ngọc Yến, Nguyễn Trọng Các; các Phó giáo sư như: Đại tá Trần Đình Mai, Nguyễn Quang Hồng, Trần Văn Thụy Ngoài ra, còn có các Tiến sĩ, Thạc sĩ trong nước và quốc tế, các danh nhân trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học, chính trị, xã hội
Nam Đàn là địa phương có nền văn học dân gian mang sắc thái điển hình của xứ Nghệ với hát phường vải, hát đò đưa, ca dao, hò vè, truyện kể.Văn học thành văn với chủ đề trung tâm là lòng yêu nước.Thời phong kiến, các nhà Nho trở thành nhà học thuật, nhà thơ, nhà văn.Thời kỳ cận hiện đại,
họ lại là các chí sĩ hoạt động cách mạng, trong đó nổi tiếng và thành danh hơn
cả là Phan Bội Châu và Hồ Chí Minh
Nam Đàn còn là đất của nghệ thuật kiến trúc với hệ thống thành luỹ, lăng mộ, tháp, đình, đền phong phú đa dạng và có tính mỹ thuật cao như thành Vạn An, thành Lục Niên, Tháp Nhạn ở Hồng Long, lăng của Kinh Bắc Hầu - Bùi Tôn Trụ ở rú Co, lăng Tiến sĩ Võ Duy Dương ở Bến Kén, đình
Trang 20Hoành Sơn, đình Trung Cần, đình Đông Châu, đền Vua Mai ở Vân Diên, đền Xuân Hồ thờ Giáng tiên Liễu Hạnh
1.1.2 Nam Trung - Mảnh đất giàu truyền thống
đi theo con đường huyện đã được rải nhựa qua núi Nam Sơn, đi theo con đê
hữu ngạn sông Lam, khoảng 10 km nữa là tới
Một hướng khác để đến Nam Trung là từ thị trấn Đức Thọ (Hà Tĩnh) qua cầu Thọ Tường - Đức Thọ rẽ phải, đi theo con đường huyện Đức Châu qua Nam Cường ở phía Nam cầu Yên Xuân rồi ngược theo đê sông Lam khoảng 3 km Hoặc sau khi đi qua thị trấn Đức Thọ, đến Tùng Ảnh quê hương Tổng Bí thư Trần Phú, qua cầu Linh Cảm rẽ phải, theo quốc lộ 15A, đi hết địa phận xã Nam Kim, rồi rẽ phải đi vào đường liên xã giữa đồng lúa Nam Trung Con đường lâu đời nhất là từ Vinh theo đường 12/9 vào đê 42 (đê Tả Lam) qua cầu Yên Xuân sang đê hữu ngạn sông Lam đi ngược lên Trung Cần
Từ đời Gia Long trở về trước, Nam Trung có tên là Trang Cần Cung thuộc xã Nam Hoa Thượng, tổng Nam Hoa, huyện Thanh Chương, trấn Nghệ
An Năm 1831, vua Minh Mạng đã thực hiện cuộc cải cách hành chính lớn trên phạm vi toàn quốc, cho đổi đơn vị hành chính cấp trấn thành tỉnh Tổng Nam Hoa đổi thành tổng Nam Kim.Từ năm 1910, tổng Nam Kim được tách
ra và nhập vào huyện Nam Đàn
Hiện nay, Nam Trung là tên gọi của xã gồm 3 làng: Dương Liễu, Trung Cần, Đông Châu trước đây, tức là do 2 xã Nam Dương và Nam Trung nhập
Trang 21lại, ra đời ngày 24/3/1969, có diện tích đất tự nhiên là 84.922 ha, đất nông nghiệp 44.699 ha, đất chuyên dùng 7.469 ha, đất thổ cư 3.087 ha, đất chưa sử dụng 29.667 ha có 6361 nhân khẩu, trong đó nữ có 3.343, lao động có 3.031
Nam Trung hiện nay có 14 xóm: từ xóm 1 đến xóm 6 (làng Dương Liễu - gồm 3 xóm cũ: Trung Chính, De Đình và Tân Hoa) Từ xóm 7 đến xóm 11(làng Trung Cần: xóm Gát, xóm Bãi, xóm Vũng, xóm Hác; xóm Bàu, xóm Chùa Cồn) Xóm 12, 13, 14 (làng Quang Thái cũ)
; xưa Trung Cần là Trang Cần Cung, đến đời Lê tách riêng thành 1 xã Xã Nam Dương cũ là làng Dương Liễu, đầu thế kỷ XIX nằm trong xã Nam Hoa Thượng, xa xưa gọi là Hoài Liễu, thời Tây Sơn đổi là Dương Lĩnh, đầu đời Nguyễn mới gọi là Dương Liễu; sau Cách mạng tháng Tám nhập với Trung Cần thành xã Tân Hợp
Nhìn tổng quát, có thể nói Nam Trung là hình ảnh thu nhỏ của tổng Nam Kim: trước mặt là sông, sau lưng là núi - núi Đông Sơn (Rú Hốc) là ngọn núi cuối cùng của nhánh phía Đông của dãy Thiên Nhẫn, dừng lại ở đất
làng Dương Liễu, còn gọi với tên khác là núi “Đầu Voi” Nam Trung là vùng đất được ví von với nhiều hình tượng sinh động và linh thiêng, nào là “thanh
gươm yên ngựa” của núi Thiên Nhẫn, rồi là “nghìn ngựa ruổi rong”; “cánh cung chinh chiến”, “vầng trăng thượng tuần” , “trang sách học trò”, “lò lửa mùa hè” [9, 12]
Từ trên đỉnh Đông Sơn, nhìn về phía Đông và Đông Nam, ta có thể thấy toàn bộ vùng đất thuộc các xã Nam Trung, Nam Cường, Nam Phúc… được bao bọc bởi một số ngọn núi lớn thuộc vùng hạ lưu sông Lam Khi nhìn
xa hơn về hướng Nam, ta thấy dãy Hồng Lĩnh chạy dài trên vùng đất Nghi Xuân (Hà Tĩnh) - quê hương của đại thi hào Nguyễn Du và nhà doanh điền
Trang 22Nguyễn Công Trứ Chếch về hướng Đông Bắc có rú Thành, thuộc địa phận huyện Hưng Nguyên Đây là lỵ sở của trấn Nghệ An từ đầu thế kỷ XV đến thế
kỷ XVIII với tên gọi Lam Thành - Phù Thạch; gắn liền với cuộc kháng chiến chống quân Minh đầu thế kỷ XV, với bao sự kiện, nhân vật lịch sử trong các cuộc khởi nghĩa của Trần Ngỗi, Trần Quý Khoáng, Lê Lợi tổ chức lãnh đạo (1407 - 1426) Dưới chân núi Thành còn có dấu tích của trường thi Hương Nghệ An, nơi hàng vạn sỹ tử Nghệ An, Hà Tĩnh lều chõng, bút nghiên về dự thi từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII
Khi nhìn về phía Tây Nam, ta thấy dãy Thiên Nhẫn với thế núi hùng vĩ,
trông như “ngàn ngựa rong ruổi” Trong dãy Thiên Nhẫn, có núi Hoàng Tâm,
nơi Bình Định vương Lê Lợi và Bộ chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn chọn làm đại bản doanh khi chuyển về hoạt động trên đất Nghệ An (1424 - 1426) Dấu tích thành Lục Niên và đại bản doanh xưa vẫn còn.Trên đường đi đến thành Lục Niên, người ta vẫn còn nhìn thấy dấu tích nhà ở của La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp và phần mộ của ngài cùng với Chính thất phu nhân.Bên cạnh đó là núi Bùi Phong với dấu tích của Sùng Chính viện - nơi Quang Trung Nguyễn Huệ mong muốn trở thành nơi đào tạo nhân tài cho vương triều của mình.Phía Nam là các huyện Hương Sơn, Đức Thọ thuộc tỉnh Hà Tĩnh
* Truyền thống văn hóa
Nam Đàn là vùng đất có truyền thống hiếu học và khoa bảng, đã sản sinh ra nhiều nhân tài cho đất nước.Trong đó, xã Nam Trung xưa lại là cái nôi khoa bảng của huyện Nam Đàn, cùng với các xã Hoành Sơn, Xuân Hồ, Xuân Liễu Bởi vậy nên mới có câu ca:
“Làng ta khoa bảng thật nhiều Như cây trên núi, như diều trên không”
Đất Trung Cần là nơi có nhiều người đậu đạt trong các kỳ thi Hương,
thi Hội, thi Đình dưới các triều đại phong kiến trước đây Theo sách “Khoa
Trang 23bảng Nghệ An” (1075 - 1919) do Đào Tam Tỉnh biên soạn, Nghệ An có hai
làng nổi tiếng về số người khoa bảng cao, đó là làng Quỳnh Đôi huyện Quỳnh
Lưu và làng Trung Cần huyện Nam Đàn Theo “Nho tiên tục bi ký” của “Nam
Kim tổng Từ vũ hậu tự” được chép lại trong “Nam Đàn xưa và nay” thì chỉ
trong khoảng nửa cuối của thế kỷ XIX, ở Trung Cần đã có đến hàng chục người đỗ Đại khoa và Trung khoa, trong đó có một người đỗ Thám hoa là Nguyễn Văn Giao và một người đỗ Hoàng giáp là Nguyễn Hữu Lập
Trung Cần - Nam Trung là đất hiếu học, là cái nôi nuôi dưỡng nhân tài cho đất nước, là quê hương của những con người kiệt xuất trong lịch sử dân tộc Tiêu biểu nhất có thể kể đến như: Lại bộ Thượng thư Nhập nội hành khiển, tước Nghĩa Quận công Tiến sĩ Tống Tất Thắng - người khai khoa cho đất Trung Cần, được nhân dân kính trọng tôn là Thành hoàng làng; Trung Quận công Tạo sĩ Nguyễn Nhân Mỹ - người có công khôi phục triều Lê
Trung Hưng; dòng họ Nguyễn Trọng với Tam thế ngũ Hoàng hoa thời Lê
Trung Hưng gồm Lại bộ Thượng thư Cần Quận công Tiến sĩ Nguyễn Trọng Thường, Hàn lâm viện Thị độc Tiến sĩ Nguyễn Trọng Đang, Kim hoa điện Học sĩ Tiến sĩ Nguyễn Đường, các Cử nhân thời Nguyễn như Nguyễn Trọng
Võ, Nguyễn Trọng Ngọc, Nguyễn Minh Khiêm, Nguyễn Trọng Lượng, Nguyễn Chương Đạt; họ Nguyễn Hữu với Đình nguyên Hoàng giáp đệ nhất danh Hữu Tham tri bộ Binh Nguyễn Hữu Lập và Hàn lâm viện Thị độc Học sĩ
Thám hoa Nguyễn Văn Giao là “Thúc điệt đăng khoa đồng triều”, Tri phủ
Hoài Nhân Phó bảng Nguyễn Tư Tái, Cử nhân Nguyễn Trọng Dực; họ Lê
Nguyên “Ngũ thế kế hoa” xứng đáng là gương mặt khoa cử thời Nguyễn, tiêu
biểu nhất là Tổng đốc Tế tửu Cử nhân Lê Nguyên Trung, Tiến sĩ Ngự sử Lê
Bá Hoan, Hồng lô Tự khanh Lê Bá Đôn,…
Thời Pháp có Nguyễn Hữu Khang người Trung Cần là Tiến sĩ Luật đầu tiên của Việt Nam tại Pháp; Ở Mỹ có Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thái (Rechar Thái)
Trang 24Thời cận hiện đại có những danh nhân như Bí Thư tỉnh uỷ đầu tiên của Nghệ An, Xứ uỷ Trung kỳ Nguyễn Tiềm; Uỷ viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ nội vụ Trần Quốc Hoàn (Nguyễn Trọng Cảnh); các chiến sĩ Xô viết như Nguyễn Thị Phia (Cử Phia), Nguyễn Hữu Nhượng (Xứ uỷ Trung Kỳ), Nguyễn Hữu Đang, Trần Ngọc Thiện, Trần Đình San, Hà Sâm Những cán
bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước như Nguyễn Hữu Dụng, Nguyễn Thị Đông, Trần Văn Được, Lê Trọng Khoan, Nguyên Phổ, Phạm Bích, Nguyễn Hữu Lương, Nguyễn Văn Kích, Nguyễn Hữu Hùng; Hoạ sĩ bậc thầy Nguyễn
Tư Nghiêm, Giáo sư họa sỹ Nguyễn Trọng Các; Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình Tiến sĩ Nguyễn Hữu Hoài; Hiệu trưởng trường Nguyễn Ái Quốc 5 - Nguyễn Trọng Trường từng được Bác Hồ chọn vào tổ thư ký của Bác (Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi), Hiệu trưởng trường thông tin quân báo của Bộ quốc phòng Đại tá Nguyễn Trọng Kháng
Hiện nay, ở Nam Trung phần lớn con em đều tốt nghiệp trung học, cao đẳng, đại học Điển hình như gia đình Nguyễn Hy Lạng có hai cha con là Nguyễn Hữu Khôi và Nguyễn Hữu Nam đều là Tiến sĩ Nguyễn Hữu Khôi được phong hàm Giáo sư năm 2007.Trung Cần còn có Tiến sĩ Y khoa Nguyễn Hữu Chánh, Tiến sĩ Nông nghiệp Vương Nam Trung, Thạc sĩ Tự động hoá Nguyễn Nam Trung.Họ Nguyễn Trọng có Tiến sĩ Nguyễn Trọng Nhuận, Giáo
sư họa sỹ Nguyễn Trọng Các.Ngoài ra Trung Cần còn có nhiều Thạc sĩ, Kỹ
sư, Cử nhân trong nước và quốc tế
Xã Nam Trung từ xưa đến nay đã hình thành, tạo dựng một bề dày văn hoá phát triển từ đời này qua đời khác, ngày càng phong phú đa dạng
Về di tích lịch sử văn hóa: Đình Trung Cần - một công trình được xây dựng uy nghi với kiến trúc đẹp, độc đáo là dựa vào thần thế, nhân tài, vật lực và truyền thống lịch sử oai hùng của vùng đất Trung Cần xưa Thuở trước, đình là nơi tập trung Thần tổ, Thành hoàng của 21 xã thôn của tổng Nam Kim hội tụ
về đây để làm lễ cầu đảo cầu mưa trong những năm hạn hán nặng nề Tại đây,
Trang 25lễ Kỳ phúc (cầu yên) hàng năm được tổ chức vào ngày 15 tháng 2 âm lịch; lễ hội được tổ chức khá quy mô, có rước bài vị sắc thần về đình tế lễ rồi được rước quanh làng rồng rắn nhộn nhịp; phần hội có các trò chơi dân gian như vật
võ, đánh côn, múa kiếm, thi bơi, đánh cờ người, đu tiên
Ngoài đình Trung Cần, Nam Trung còn có hệ thống đền thờ, trong đó thờ Tiến sĩ Tống Tất Thắng - người khai khoa cho làng xã, Tam Toà đại vương Lý Nhật Quang, thần núi Cao Sơn Cao Các và Tứ vị Thánh nương; đền thờ Tạo sĩ Nguyễn Nhân Mỹ, đền thờ Đường Cảnh Thành hoàng, đền thờ Đức Ông sông nước; có 3 chùa thờ Phật: chùa Bàu (Hoa Bảo tự), chùa Giai, chùa Bà; có nhà Văn Thánh xã, nhà Văn Thánh tổng thờ các danh nhân khoa bảng;
có nhiều nhà thờ họ hoành tráng như nhà thờ họ Nguyễn Trọng, họ Nguyễn Hữu, họ Lê, họ Trần, họ Nguyễn Nhân
Đặc biệt, Nam Trung còn có “Bản sơ đồ cụm Đình và Đền thờ” được
bố trí theo phương vị Ngũ hành với đình Dương Liễu làm trung tâm; có chợ Rồng - chợ lớn nhất trong tổng Nam Hoa, nằm trên bến sông Lam, hàng hóa thuyền bè trao đổi nhộn nhịp, náo nhiệt Nam Trung còn có đường lũy Nam Hoa Thượng với chiều dài hàng chục cây số, phần lớn nằm trên đất Trung Cần và Dương Liễu Đó vừa là lũy chiến hào, vừa là con đường giao thông chiến lược, con đường hành quân, vận lương huyết mạch của đời xưa Bãi Mồ Ngô ra đời trong các cuộc chiến ác liệt giữa nghĩa quân Lam Sơn và quân Minh xâm lược.Khi Lê Lợi tuyên đọc Bình Ngô Đại cáo đã khẳng định đây là
mồ chôn quân Minh trên cánh đồng Đại Trại
Cánh đồng Đại Trại là một trong những trang trại lớn do Uy Minh
vương Lý Nhật Quang lập nên, sử triều Lý viết: “Đồng Đại Trại là cánh đồng
thẳng cánh cò bay” nó nằm giữa hai làng Trung Cần phía Nam và Dương
Liễu phía Bắc Đây là cánh đồng rộng nhất, màu mỡ nhất vùng Nam Hoa Triều Trần cũng cử người trong vương tộc vào đây khai phá đất đai, lập ấp và trở thành dòng họ cổ nhất trong số 30 họ về sinh sống ở đây, dòng họ gắn liền
Trang 26với tên tuổi Điện Quận công Trần Mậu Long Từ cuối đời Trần đến thời Trịnh
- Nguyễn phân tranh, nơi đây là chiến trường ác liệt.Vua Quang Trung Nguyễn Huệ trên đường hành quân ra Bắc diệt quân Thanh cũng đã từng nghỉ chân tại đây để tuyển thêm quân lính Trải qua các thời kỳ lịch sử, các thế lực phong kiến tranh đấu giành giật, dân cư xóm làng mở rộng, Đại Trại ngày càng bị thu hẹp
Nam Trung là đất giàu truyền thống Trước hết là truyền thống hiếu học, phát triển nghề dạy học rồi nghề y dược, nghề lý số (xem mạch đất đai, đặt mồ, xem tướng) Nghề nông là nghề gốc của làng xã với những lợi thế về diện tích ruộng đất lớn, nguồn nước dồi dào, có nhiều công trình thủy lợi được hình thành từ xa xưa, nhân dân có kinh nghiệm phong phú được tích lũy qua quá trình sinh sống, thích nghi với môi trường khắc nghiệt nơi đây Cùng với nghề nông, nhân dân cũng thông thạo các nghề phụ như trồng bông, trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải, nghề trồng lạch, nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm.Ngoài
ra còn có các nghề thủ công như nghề mộc, nghề nề, nghề đánh bắt tôm cá và các hoạt động thương mại buôn bán khắp lưu vực sông Lam
Nam Trung có những hoạt động văn hoá nghệ thuật cổ truyền làng xã phong phú như hát phường vải, thơ, ca, hò vè, ví dặm, đò đưa, truyện kể Đây
là đất có tiếng về dệt vải, dệt lụa nên hát phường vải, hát ví, hát dặm rất phổ biến và phát triển.Tương truyền chí sĩ Phan Bội Châu cũng đã từng có mặt trong các đêm hát phường vải và để lại nhiều giai thoại lý thú Cùng với hát là truyện kể, người Nam Trung rất thích nói chuyện Trạng uống nước chè xanh, thích nghe huyền thoại Cố Bợ, truyện Ông Đùng, truyện người thợ mộc Nam Hoa, truyền thuyết đình Trung Cần, đình Dương Liễu
Về văn học thành văn có nhiều tác giả, tác phẩm truyền lại.Nguyễn
Trọng Thường có “Mặc Trai sứ tập” và 5 bài thơ trong “Bi ký biểu văn tạp
lục”.Lê Nguyên Trung có tác phẩm “Chí Trai văn thi tập” Nguyễn Hữu Lập
san dịch, chép taytruyện Kiều năm 1870, đó là bản Kiều cổ, quý hiếm
Trang 27Nguyễn Hữu Lập còn để lại các trước tác: “Văn sách thi đình” năm 1862,
“Đăng Hoàng Hạ lâu ký” và “Thi pháp tắc lệ” Lê Bá Đôn là người kiểm duyệt “Khâm định Việt sử phú”; “Sứ trình loại biên” (viết trong thời kỳ làm
Chánh sứ sang nhà Thanh) Nổi tiếng và tài hoa hơn cả là Nguyễn Văn Giao
để lại 16 tác phẩm viết về lịch sử, văn học, khoa cử, ngôn ngữ, ngoài ra ông
còn có “Tam khôi bị lục”, “Quất lâm di khảo”, “Điệp tự vận”, “Nam sử lược
thuyết” Bên cạnh đó còn có các nhà Nho như Nguyễn Hữu Liễn (1855 -
1933), Hồ Hữu (1898 - 1977), Nguyễn Bá Tường , Phạm Bá Thanh (1875 - 1941) Thời cận đại có thơ Nguyễn Xuân Linh, thơ Hồ Khải Đại
Các làng Dương Liễu, Trung Cần đã xây dựng Hương ước từ lâu đời.Đây là văn bản pháp lý của làng bao gồm các điều ước về dân sự, hình sự, đạo lý, phong tục tập quán có liên quan đến đời sống xã hội của làng Hương ước quy định khá cụ thể những điều ước về hương ẩm, hội họp, ăn nói Ví dụ trong Hương ước làng Trung Cần có điều khoản ghi: “Khi xã hội họp, không được ồn ào lộn xộn Nếu cần tranh cãi thì cứ việc tranh cãi để đi đến thuận tình.Không hiểu thì giúp nhau Nói càn, nói tục, phỉ báng, đùa cợt thì phạt tiền
2 quan Say rượu, nói năng buông tuồng làm rối trật tự thì phạt 5 quan và tuần phu lôi ra ngoài cuộc họp Hung hăng đi đến đập nhau thì phạt 20 quan, tuần phu giam giữ lại Chống lại không tuân hành thì đánh 60 roi, gạch tên ra khỏi
sổ làng và trình lên quan trên”.Hương ước còn định “Lệ mừng lão” một tấm vải điều có viết chữ “Thọ” để thể hiện sự tôn kính người già
Nam Trung khuyến khích các phong tục mang tinh thần sống chan hoà cởi mở với bà con láng giềng, làng xã, tổ chức cưới hỏi và ma chay có văn hoá Một đám cưới từ Hoành Sơn về Trung Cần, các cụ đồ Dương Liễu đón ngõ với vế đối:
“Gái Dương Liễu đi chợ Liễu, mặt hoa mày liễu nom đẹp như tiên” Một nhà nho Trung Cần trong đám cưới đã đối:
“Trai Nam Hoa đỗ Thám Hoa, áo gấm thêu hoa ăn nhờ lộc thánh”
Trang 28Nam Trung khi có ngày hội mùa hoặc hội đón xuân về, nhân dân tổ chức nhiều trò chơi dân gian như cưỡi ngựa, đánh đu, đánh cờ người, hát xoan, hát ghẹo, thi cỗ, thi bánh, thi xôi, thi nấu cơm Mùa xuân còn có lễ hội
riêng với phần lễ và phần hội như “Lễ khai canh” và “Lễ mắc ách trâu”; “Lễ
hội Kỳ phúc” đình Trung Cần; “Lễ hội Rước nước”, “Khai hạ kỳ yên” ở đình
Dương Liễu, sau khi tế lễ xong thì rước rồng rắn diễu hành quanh làng
Về kinh tế: Nam Trung là trung tâm của tổng Nam Hoa, với nền văn hiến lâu đời, có các dòng họ lớn; lại gần núi Thiên Nhẫn, gần sông Lam, đất đai rộng lớn, nhiều ao hồ, bàu đầm thuận lợi cho việc sản xuất trao đổi buôn bán ở các chợ trong vùng Nhân dân nơi đây giỏi các nghề thủ công và thương mại.Chính vì vậy, xã Nam Trung là xã giàu có nhất cả vùng Nam Hoa
Nói tóm lại, Nam Trung là nơi “địa linh nhân kiệt”, thời nào cũng có
nhân tài làm rạng rỡ dòng họ, quê hương xứ sở, làm vẻ vang cho đất nước Nam Trung là đất văn vật, có truyền thống văn hóa lâu đời, là cái nôi nuôi dưỡng nhân tài cho các dòng họ lớn như: Trần, Hồ, Lê, Nguyễn Hữu, Nguyễn Trọng, Nguyễn Nhân… Các dòng họ này góp phần tô đậm bề dày văn hoá, vinh danh làng xã Nam Trung, huyện Nam Đàn
1.1.3 Những dòng họ tiêu biểu ở Nam Trung
* Họ Trần - Dương Liễu [86]
“Dương Liễu họ Trần, Trung Cần họ Nguyễn” Thủy tổ của họ Trần -
Dương Liễu là cụ Trần Nhật Thăng - con cháu hậu duệ của Trần Nhật Cảnh, Trần Nhật Duật, dời về làng Dương Liễu, tổng Nam Hoa thời Lý Trong quá trình khai phá mở mang làng xã từ thuở sơ khai, dòng họ Trần - Dương Liễu
đã để lại dấu ấn nổi bật về xây dựng cuộc sống, khai hoang mở đất; sự nghiệp
về võ công, bảo vệ đất nước, xóm làng
Họ Trần - Dương Liễu có nhiều nhân khẩu, nhiều đất đai cư trú canh tác, nhiều mồ mả, nhiều đền thờ, nhà thờ ở làng Dương Liễu và Trung Cần
Trang 29Dấu ấn của họ Trần còn để lại rõ rệt qua các địa danh trong làng xã, trong phổ
chí, địa bạ, như là “Đội Lầu”, “Lầu Ông Quán”, “đồng Cột Phướn”, “am Ba
Quán” Những vùng đất cao ráo và màu mỡ ở Dương Liễu tiếp sau cánh
đồng Đại Trại và các giáp Bắc, Bảo, Trung… đều là “đất họ Trần”
Họ Trần có nhiều nhà thờ tổ tiên ở làng Dương Liễu và Trung Cần, trong
đó có cả đền Giáp Bảo “Bảo sơn chi tự bi” (bia đền thờ thần Bảo Sơn) ở đó
thờ 4 vị thần họ Trần: Đặc tấn Phụ quốc Thượng tướng quân Cẩm y vệ quân vụ
sự, Điện Quận công Trần Mậu Long; Bích Vũ hầu Trần Mậu Dị; Diên Khánh hầu Trần Mậu Phổ; Cẩn sự lang Tri phủ Trường Khánh Trần Mậu Xuân
Tại nhà thờ họ Trần, ở xóm Chùa Giai, Trung Cần còn có câu đối cổ từ
thuở Nam Hoa - “Ngũ Hoa”:
“Nhật lệ Đông A, loan lĩnh chu hồi Thiên Nhẫn hạ Vân kình để trụ, giang đàm khâm đái Ngũ Hoa gian”
Những tư liệu làng xã cũ mà họ Trần - Dương còn lưu giữ cho đời sau như: Bản sơ đồ tưởng niệm, thần tích thần hiệu, văn tế đình đền làng Dương Liễu đã khẳng định một điều: Họ Trần Dương Liễu - Nam Trung là một dòng họ mang nhiều sắc thái làng xã lâu đời, có truyền thống rõ rệt
* Họ Nguyễn Hữu - Trung Cần [83]
Họ Nguyễn Hữu - Trung Cần có nguồn gốc xuất phát từ họ Nguyễn Hữu ở làng Thượng Trưng, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc; do tham gia phò Lê chống Mạc nên bị nhà Mạc truy sát, phải đốt hết gia phả chỉ còn lại tên và mật danh; một bộ phận con cháu dòng họ phải thay tên đổi họ di cư, lánh nạn về phía Nam xứ Thanh, Nghệ Tĩnh Thủy tổ của họ Nguyễn Hữu - Trung Cần tên là Nguyễn Hữu Nhuận Ốc, đời Lê Sơ đậu Tú tài Khi bị truy sát, cụ chạy đến làng Dương Liễu sinh sống, sau đó dời về làng Trung Cần là quê vợ để định cư lâu dài Họ Nguyễn Hữu góp công lớn trong việc khai phá vùng đất Quan Châu từ Kim Sa qua Bồ Đề, thuộc xã Nam Trung ngày nay
Trang 30Trong suốt quá trình phát triển, đến nay dòng họ Nguyễn Hữu đã trải qua 18 đời và trở thành một dòng họ có truyền thống về hiếu học, khoa bảng nổi tiếng của vùng Thời kỳ phong kiến, dòng họ có: 1 Thám hoa, 1 Hoàng giáp, 1 Phó bảng, 12 Cử nhân, 21 Tú tài, 3 Đầu xứ, trong đó có hai người đậu Giải nguyên thi Hội và thi Đình là Thám hoa Nguyễn Văn Giao và Đình nguyên Hoàng giáp Nguyễn Hữu Lập Những nhân vật tiêu biểu của họ Nguyễn Hữu như: Nguyễn Công Tôn làm đến chức Huấn đạo; Nguyễn Danh
Tá được phong hàm Đại lý Tự khanh; Nguyễn Danh Tề cai quản 13 đạo quân, được phong tước Yên Lĩnh hầu; Nguyễn Danh Cung được phong tước Hoàng Lĩnh bá; Nguyễn Trọng Dực làm Giám sát Ngự sử, Hàn Lâm viện Thị độc Học sĩ; Nguyễn Văn Giao được truy phong Hồng lô Tự khanh; Nguyễn Hữu Lập làm đến chức Hữu Tham tri bộ Binh, Sung Cơ mật viện Đại thần Đặc biệt, Thám hoa Nguyễn Văn Giao còn là thầy giáo, là nhà thơ, nhà văn hóa với 16 đầu sách thể hiện một trí tuệ, tài năng uyên bác; Hoàng giáp Nguyễn
Hữu Lập là người san dịch và chép tay bản Kiều nôm cổ
Hiện nay dòng họ Nguyễn Hữu - Trung Cần có 1 Giáo sư, 14 Tiến sĩ,
20 Thạc sĩ Tiêu biểu như: Tiến sĩ Luật đầu tiên của Việt Nam tại Pháp Nguyễn Hữu Khang; Nguyên Thứ trưởng thường trực Bộ Giáo dục Nguyễn Hữu Dụng; Tiến sĩ Nguyễn Hữu Phong; Vụ trưởng Nguyễn Văn Kích, Giáo
sư Tiến sĩ Nguyễn Hữu Khôi, Họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm
Dòng họ Nguyễn Hữu là một dòng họ lớn và có nhiều đóng góp cho quê hương, xứng đáng là một trong những đại diện tiêu biểu cho cộng đồng làng xã tại đất Nam Trung
* Họ Hồ - Trung Cần [85]
Thủy tổ của họ Hồ - Trung Cần là cụ Hồ Quý Uyên, vốn gốc ở làng Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An, thuộc dòng dõi Trạng nguyên Hồ Hưng Dật Cụ Uyên rời quê hương, dời về đất Trung Cần khai cơ lập nghiệp dưới thời Lê Trung Hưng Trải hơn 400 năm lịch sử phát triển, họ Hồ ở Nam
Trang 31Trung trở thành một trong những dòng họ lớn nơi đây Đặc biệt, cùng với họ Trần ở Dương Liễu, họ Hồ chính là dòng họ phát triển về mặt võ công.Có nhiều người làm tướng lĩnh, lập nên nhiều chiến công trong giai đoạn lịch sử đất nước có nhiều biến động Tiêu biểu có thể kể đến các nhân vật như: Đặc tiền phụ quốc Tướng quân Trụ quốc thự vệ Tả tham Đốc thị Cận thần Hồ Quý Dung,Phụng binh Chánh Trung úy Song Xuyên bá Hồ Đường,Mậu lâm Tả lang Tấn trị công thần Quảng tiến lộc Đại phu kiêm Tế tửu Hồ Yên Ninh,Thiên hộ tráng tiết Tướng quân Hồ Nghĩa thời Lê Trung Hưng;Hợp ty tráng sĩ Thiên hộ vận kỵ Hồ Thanh Trung; Triều thí lang tướng sĩ Thừa hoa điện trị sự Hồ Phác Trọng thời Tây Sơn
Hiện nay con cháu họ Hồ - Trung Cần tập trung đông nhất ở các xóm từ
6 đến 10xã Nam Trung Nhiều gia đình trong dòng họ có con em học giỏi, đậu đạt vào các trường đại học danh tiếng, góp phần tô điểm thêm cho truyền thống hiếu học của làng xã
* Họ Nguyễn Nhân - Trung Cần [87]
Họ Nguyễn Nhân - Trung Cần có nguồn gốc từ dòng họ Nguyễn Viết ở Thanh Hóa, thuộc dòng dõi của Binh bộ Tả thị lang - Đoan Khánh hầu Thái bảo Nguyễn Viết Khang, thời Lê Chiêu Tôn Vì tôn phò nhà Lê cho nên khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê lập ra nhà Mạc, gia quyến, họ hàng, bà con họ Nguyễn Viết chạy loạn về đất Hoan Châu, sinh cơ lập nghiệp Từ đó, dòng họ lấy quê mới là Trang Cần Cung, phủ Đức Quang (sau là làng Trung Cần, thuộc tổng Nam Hoa, huyện Nam Đàn) làm nơi sinh sống lâu dài
Trong thời gian này, nhiều dòng họ từ các nơi khác kéo về đây, khai phá mở rộng đất đai, lập thành các xóm dọc phía Đông làng Trung Cần Nhưng họ Nguyễn Nhân có nhiều nhân lực, thế lực hơn cả; đã phát triển mạnh
mẽ và hình thành một vùng dân cư mới trở nên giàu có, trước hết là xóm
Quan Châu - “quan xóm Bàu, giàu xóm Bãi”
Trang 32Nhân vật nổi bật nhất của dòng họ Nguyễn Nhân là Trung Quận công Tạo sĩ Nguyễn Sĩ Mỹ Ông là con cả của Thái bảo Nguyễn Viết Khang, là người có trí dũng và mưu lược, văn võ song toàn Nối nghiệp cha, ông Mỹ
tiếp tục phò trợ nhà Lê, lập được nhiều chiến công, được phong là “Kim tử
Vinh lộc đại phu”
Sau đó, Nguyễn Sĩ Mỹ theo Nguyễn Kim, Trịnh Kiểm khôi phục nhà
Lê Trung Hưng; được ban chữ “Nhân” thay cho chữ“Sĩ” và 12 mỹ tự: “Trung
hưng”, “Khôi phục”, “Kiệt tiết”, “Tuyên lực”, “Hiệp mưu”, “Tá lý”, tước
Chánh Đại vương Trung Quận công; được ban “thác đao điền” và có một bản
sơ đồ gốc quyền sở hữu Ông còn có công khai phá thêm các vùng cầu Mới, cầu Vùng, Đuồi Hác, Bãi nổi, Bến Hến, Rào Cùng, góp phần mở rộng đất đai
cư trú của làng xã lên thành 12 xóm
Ngày nay trên đất Nam Trung còn lưu lại nhà thờ lớn của họ Nguyễn Nhân ở xóm Bãi, có khu lăng mộ riêng thờ Đại vương Trung Quận công Tạo
sĩ Nguyễn Nhân Mỹ trên cánh đồng Đại Trại gần chùa Hoa Bảo Ngoài ra còn
có nhà Thánh Võ nhân dân lập nên để thờ phụng ông Nguyễn Nhân Mỹ - Tiến
sĩ võ đầu tiên của đất Trung Cần
* Dòng họ Lê - Trung Cần [84]
Dòng họ Lê đã định cư và sinh sống ở đất Trung Cần được khoảng gần
500 năm với 21 đời.Thủy tổ dòng họ Lê là cụ Lê Nhân Hậu thuộc dòng dõi nhà Lê Cụ Hậu rời đất Thanh Hóa vào lập nghiệp ở xóm Bàu, làng Trung Cần, tổng Nam Hoa (nay là xóm 7, xã Nam Trung, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An) Vào thời điểm đó, nhà Lê Sơ suy yếu, nhà Mạc cướp ngôi và họ Trịnh, họ Nguyễn tranh giành quyền lực Cụ Lê Nhân Hậu thuộc dòng dõi của một vị tướng quân, do bối cảnh bất lợi nên đã giả làm người đóng cối xay, lân
la tìm đến đất Trung Cần và định cư ở đó Hiện nay tại xóm Khoa Trường (xóm 7), xã Nam Trung còn có Nhà thờ Thủy tổ họ Lê từ nhiều đời để lại
Trang 33Dòng họ Lê nổi tiếng là dòng họ “Ngũ thế kế hoa” tức 5 đời liên tiếp
học hành đỗ đạt, từ Cử nhân cho đến Tiến sĩ Bắt đầu từ cụ Lê Nguyên Trung
đỗ Cử nhân năm Quý Dậu (1814) niên hiệu Gia Long 12, làm quan Tổng đốc hai tỉnh Bình Định và Phú Yên, sau giữ chức Tế tửu Quốc Tử Giám Con trai ông là Lê Nguyên Thứ đậu Cử nhân, không ra làm quan Cháu nội là Lê Bá
Đôn đỗ Giải nguyên, giữ chức Đốc thị Học sĩ, được phong tước “Hồng Lô tự
khanh” Chắt là Lê Bá Hoan, đỗ Tiến sĩkhoa Tân Mão (1892) niên hiệu Thành
Thái 4 làm đến chức Ngự sử đài Chiu là Lê Nguyên Khái, đỗ Cử nhân năm Mậu Ngọ (1918)
Đỗ đạt và sống dưới thời Nguyễn, chán ghét chế độ quan trường, những nhân vật dòng họ Lê - Trung Cần lui về ở ẩn, sống cuộc đời thanh đạm, vui vầy, chăm lo cho con cháu, cho quê hương Cụ Lê Nguyên Trung đã bỏ ruộng lộc điền vào công điền để chia cho dân nghèo và vợ của những người lính tráng (chỉ để lại một ít làm ruộng hương hỏa).Đồng thời, cụ cũng chính là người có công bảo vệ đình Trung Cần trước ý định dỡ đình vào Huế để dựng điện Thái Hòa của vua Tự Đức
Họ Lê - Trung Cần với những con người tiêu biểu là “Ngũ thế kế hoa”
đã phản ánh gương mặt khoa cử Nho học triều Nguyễn và cả gương mặt xã hội của triều đại đó nữa Hiện nay, họ Lê là một trong những dòng họ đông đảo nhất xã Nam Trung, phát triển mạnh và phân chia thành nhiều chi nhánh, sinh sống làm ăn khắp các vùng Thanh Chương, Nam Đàn
1.2 Sự phát triển của dòng họ Nguyễn Trọng (thế kỷ XV đến năm 2014)
1.2.1 Nguồn gốc dòng họ
Theo gia phả gốc của chi họ Nguyễn Trọng tại làng Dương Liễu thì Thủy tổ của họ Nguyễn Trọng là ông Nguyễn Quyên giữ chức quan Bác sĩ trong Quốc Tử Giám thời Lê Sơ Ông Quyên vốn quê ở Hà Đông - Hà Nội vào Nghệ An rồi nhập cư ở làng Ước Lệ (xã Hưng Đạo, huyện Hưng
Trang 34Nguyên), sau dời về đất Trung Cần, xã Nam Trung, huyện Nam Đàn ngày nay, là “đất văn hiến lâu đời có màu sắc tốt đẹp, địa linh chung tú”
“Nhẫn Lam giang sơn tại tả hữu
Hà thành Hưng huyện tố uyên nguyên”
Ở nơi quê hương mới, dòng họ Nguyễn Trọng phát triển thành nhiều chi họ và định cư ở nhiều vùng miền khác nhau:
Họ Nguyễn Trọng ở làng Trung Cần, Nam Trung, Nam Đàn, Nghệ An
Họ Nguyễn Trọng ở làng Dương Liễu, Nam Trung, Nam Đàn, Nghệ An
Họ Nguyễn Trọng ở Nghi Thạch, Nghi Lộc, Nghệ An
Họ Nguyễn Trọng ở xã Thanh Văn và xã Thanh Lương, Thanh Chương, Nghệ An
Họ Nguyễn Trọng ở Hưng Mỹ, Hưng Nguyên, Nghệ An
Họ Nguyễn Trọng ở Hưng Long, Hưng Nguyên, Nghệ An
Họ Nguyễn Trọng ở Đức La, Đức Thọ, Hà Tĩnh
Họ Nguyễn Trọng ở Sơn Tiến, Hương Sơn, Hà Tĩnh
Họ Nguyễn Trọng ở Cát Đằng, Ý Yên, Nam Định
Họ Nguyễn Trọng ở Xuân Liễu, Nam Đàn, Nghệ An
Trong đó tiêu biểu nhất là chi họ của Cần Quận Công Lại bộ Tả thị lang Nguyễn Trọng Thường ở xóm Khoa Trường, làng Trung Cần, xã Nam Trung, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, có ba đời cha con, ông cháu, chú cháu tiếp nối nhau đậu Tiến sĩ, vinh danh bảng vàng; lại có 4 đời nối tiếp nhau 5 lần được giữ trọng trách làm sứ giả đại diện cho quốc gia dân tộc gánh trọng trách giao hảo với Trung Hoa Nổi tiếng với câu ca:
“Quốc thể ngũ niên trùng cống phỉ
Thư hương tam thế ngũ hoàng hoa”
Dịch nghĩa:
“Năm lần đi sứ phong độ làm rạng danh quốc thể
Ba đời nghiên bút rõ mạch thư hương”
Trang 351.2.2 Sự phát triển của dòng họ Nguyễn Trọng
Từ đời thứ nhất với Thủy tổ là cụ Nguyễn Quyên cho đến năm 2014, dòng họ Nguyễn Trọng ở xã Nam Trung đã trải qua 25 đời con cháu với lịch sử phát triển hơn 500 năm Suốt chiều dài của lịch sử dân tộc, dòng họ Nguyễn Trọng phát triển có thăng, có trầm nhưng vẫn duy trì được dòng tộc và cốt cách của mình, có nhiều đóng góp cho quê hương đất nước, có ảnh hưởng to lớn cho đến ngày nay và còn mãi về sau Nhìn xuyên suốt quá trình hình thành, phát triển của dòng họ Nguyễn Trọng, các gia đình, các đời, các chi đều cố gắng giữ gìn và phát huy những phẩm chất và truyền thống tốt đẹp, hình thành gia phong dòng họ Đó là những vấn đề bản chất, được kết tinh từ những kinh nghiệm thực tiễn của ông cha, cội nguồn cho sự phát triển của gia đình, gia tộc, là bài học giá trị làm người và duy trì dòng họ đến mãi muôn đời
Trải qua 25 đời, một vấn đề có tính quy luật về sự phát triển và hưng thịnh được hình thành, đó là dòng họ Nguyễn Trọng không hoàn toàn phát triển theo đường thẳng từ chi trưởng lan ra mà phát triển theo đời, các chi, các gia đình khác nhau và theo sự chuyển dịch gen di truyền, sự hưng thịnh của
xã hội, vận mệnh đất nước Việt Nam qua các chặng đường lịch sử Có những chi họ, những gia đình phát triển rực rỡ, nhưng cũng có chi họ, gia đình mai một theo năm tháng (có gia đình sinh nhiều dưỡng ít, cá biệt có trường hợp sinh mà không dưỡng được)
Sự phát triển của dòng họ Nguyễn Trọng theo số lượng (con cháu đông đúc, sống thọ) và chất lượng (phẩm chất, tài năng, vị trí xã hội gắn với gia đình) Dòng họ phát triển số lượng tỷ lệ thuận với thời gian và sự ra đời của các tiểu chi, nhánh Sự phát triển về chất lượng thường theo đời cùng với sự xuất hiện của những người con ưu tú, xuất chúng do môi trường, bối cảnh xã hội và sự kế thừa, bùng phát gen di truyền qua các đời, các chi
Trang 36Trong phần này, chúng tôi chỉ nêu lên khái quát sự phát triển của dòng
họ Nguyễn Trọng từ Thủy tổ đến các tiểu chi rồi bắt đầu tách nhánh chứ không đi sâu vào các nhánh Cụ thể là từ đời thứ nhất đến đời thứ 18 thì dòng
họ Nguyễn Trọng căn bản đã định hình thành các nhánh nhỏ
Đời thứ nhất: Thủy tổ là cụ Nguyễn Quyên, làm quan Bác sĩ - một
chức quan dạy học chuyên việc sưu tầm, nghiên cứu, giải thích các kinh sách,
tư liệu trong Quốc Tử giám đời Lê Cụ Quyên sinh ra cụ Nguyễn Hoạt
Đời thứ2 là cụ Nguyễn Hoạt.Cụ Hoạt sinh ra cụ Nguyễn Duy Tân Đời thứ3 là cụ Nguyễn Duy Tân, tự là Trúc Hiên tiên sinh, làm tới
chức Viên ngoại lang Vệ tứ thành, tước Văn Trung bá Cụ bà là Nguyễn Thị Liệt, sinh được 5 người con: Ôn, Lương, Cung, Kiệm, Nhượng đều là người
có tiếng tăm Các cụ Ôn, Lương, Cung, Kiệm đều đỗ Hương giải Cụ Nhượng sung vào Tường sinh Cụ Ôn nhờ học giỏi, được giữ chức Huấn đạo
Đời thứ 4 là cụ Nguyễn Cung, làm quan Huấn tượng Vệ đô tri, kiêm
Tứ ti xá nhân, tước Văn Khê hầu Cụ bà là Trần Thị Thiện, sinh được 3 người con trai là Khoan, Sự, Cự
Đời thứ 5 là cụ Nguyễn Khoan, được sung vào Tường quân, tự là Bút
Xuyên tiên sinh Cụ bà là Trần Thị Hưu, sinh được 4 người con trai là: Ngâm, Tuynh, Tùng, Bách
Đời thứ 6 là cụ Nguyễn Ngâm, được sung vào Tường sinh Cụ bà là
Nguyễn Thị Hoàn, người thôn Bách Phương, xã Phù Long.Hai cụ sinh được 3 người con trai là Tuấn, Vật, Nhân
Cụ Nguyễn Vật, lấy cụ bà Lê Thị Chiêm, người xã Quang Hoa Cụ Vật
và cụ Chiêm sinh ra cụ Nguyễn Nghĩa, tự là Phúc Tâm, thụy Cương Chính
Cụ Nguyễn Nghĩa là Thủy tổ của chi họ Nguyễn Trọng ở làng Kim Lũ, huyện Thanh Trì, phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, thủ đô Hà Nội
Cụ Vật đi chu du lấy thêm vợ và sinh ra cụ Thủy tổ của chi họ Nguyễn Trọng ở xã Thanh Văn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An
Trang 37Đời thứ 7 là cụ Nguyễn Nhân, được phong Dương vũ uy dũng công
thần, sau thăng làm Phụ quốc Thượng tướng quân Kim ngô vệ thự vệ sự, tước Đoan Thắng hầu Vợ là cụ bà Nguyễn Thị Trực, sinh ra cụ Nho Thần
Đời thứ 8 là cụ Nguyễn Nho Thần, tự Huệ Lực, thụy Trinh Ỷ, hiệu là
Linh Ứng đại sư, làm Quốc tử giám Quốc tử sinh, Trung Xá sinh Cụ bà là Hồ Thị Say, hiệu Từ Quang Hai cụ sinh được 6 người con (từ 5 người này chia thành 5 chi phái)
* CHI HỌ NGUYỄN TRỌNG - TRUNG CẦN
Đời thứ 9: Thủy tổ chi ở Trung Cần là cụ Nguyễn Tá, tự Huệ Thịnh,
hiệu là Huyền Thông chân nhân Cụ bà chính thất là Hồ Thị Lai, hiệu là Tuấn Đức phu nhân Hai cụ sinh được 4 người con, trong đó có 3 người con gái: Thị Viên, Thị Đỏ, Thị Sa; người con trai duy nhất húy là Phì
Đời thứ 10 là cụ Nguyễn Phì, tự Huệ Đức, thụy là Trinh Phác tiên sinh,
đỗ Sinh đồ hiệu sinh bản phủ triều Lê Vợ là cụ bà Phạm Thị Lộc, hiệu là Thận Thục phu nhân Hai cụ sinh được 6 người con: 3 người con gái là Thị Uyên, Thị Khương, Thị Vi; 3 người con trai là Phèn, Thơm, Cây
Cụ Nguyễn Phèn, húy là Ba, tự là Duy Lượng, Lê triều đỗ Sinh đồ Vợ
là cụ bà Hồ Thị Hoặc Hai cụ sinh toàn con gái
Cụ Nguyễn Cây mất sớm
Đời thứ 11 là cụ Nguyễn Thơm, là ưu binh triều Lê, nhậm chức Thiên
hộ trong lực lượng Cấm Vệ quân Cụ bà là Trần Thị Trọng Hai cụ sinh được
7 người con, trong đó có 4 người con trai Các cụ Giai, Lượng, Vân mất sớm
Đời thứ 12 là cụ Nguyễn Tịnh con thứ hai của cụ Nguyễn Thơm, tự
Trọng Nghi, làm đến chức Cai tổng Cụ bà là Thị Mỗ Hai cụ sinh được 2 người con trai là cụ Trọng Hoành và cụ Trọng Xanh
Cụ Trọng Hoành, tự Trọng Tế sinh được cụ Trọng Châu (vô hậu)
Trang 38Đời thứ 13 là cụ Trọng Xanh, tự Phác Tài, là Ưu binh triều Lê giữ
chức Tri Chiêm tổng Cụ sinh được 2 người con trai là cụ Trọng Thanh (vô hậu) và cụ Nguyễn Cai
Đời thứ 14 là cụ Nguyễn Cai, làm Y đạo (thầy thuốc), tự Huệ Khánh,
thụy là Phác Trực phủ quân Cụ bà húy Hồ Thị Hiền, hiệu là Từ Nhân phu nhân Hai cụ sinh được 10 người con, trong đó có 7 người con trai là: Phẩm,
Ấn, Quyết, Đoán, Dao, Cửu, Tuần
Cụ Nguyễn Ấn và cụ Nguyễn Quyết mất sớm
Cụ Nguyễn Đoán có con là Nguyễn Trọng Vũ phiêu cư bạt quán không
rõ tung tích
Cụ Nguyễn Dao không có con
Cụ Nguyễn Tuần có 2 con là Nguyễn Thăng, Nguyễn Cối (vô hậu)
Từ đời thứ 14 chi Trung Cần chia ra làm 2 tiểu chi:
Tiểu Chi 1 xuất phát từ cụ Nguyễn Phẩm Nay có ông Nguyễn Trọng
Ngọ con ông Nguyễn Trọng Chung quyền tộc trưởng Chi này thờ cúng 6 vị: Nguyễn Trọng Phẩm, Nguyễn Trọng Ấn, Nguyễn Trọng Quyết, Nguyễn Trọng Đoán, Nguyễn Trọng Dao, Nguyễn Trọng Tuần
Tiểu Chi 2 do ông Nguyễn Trọng Tứ quyền tộc trưởng thờ ông Nguyễn
Trọng Cửu
Tính từ đời ông Nguyễn Cai đến năm 2014 thì chi họ đã phát triển qua
11 đời Chi họ có nhà thờ Tổ - giờ đang là nhà thờ Đại tôn ở xóm Khoa Trường làng Trung Cần, nay là xóm 7, Nam Trung, Nam Đàn, Nghệ An
Tiểu chi ông Nguyễn Trọng Ngọ quyền tộc trưởng
Đời thứ 15 là cụ Nguyễn Phẩm, thụy là Đốc hậu Trưởng lão phủ quân
Có vợ là người họ Phạm Hai cụ sinh hạ được 5 người con trai: Tuynh, Tằng, Tần, Thái, Đỏ
Cụ Nguyễn Tuynh, sinh ra cụ Nguyễn Ngọ, Nguyễn Đình đều mất sớm
Trang 39Cụ Nguyễn Tần (vô hậu), cụ Nguyễn Thái có con là Nguyễn Nội (vô hậu), cụ Nguyễn Đỏ mất sớm
Đời 16 là cụ Nguyễn Tằng sinh được 6 người con trai: Tam, Hợi,
Thiêm, Đỏ, Đụn, Tân
Đời 17làcụ Nguyễn Đụn húy là Hương, sinh ra cụ Nguyễn Khắc Cẩm
có ông Nguyễn Khắc Minh thừa tự
Đời 17 là cụ Nguyễn Tân, tự là Tiên Tài, có ông Nguyễn Khắc Nghi
thừa tự
Tiểu chi ông Nguyễn Trọng Tứ quyền tộc trưởng (Ký hiệu A2)
Đời thứ 15 là cụ Nguyễn Cửu, là ưu binh triều Lê, thụ chức Thiên hộ
Tráng tiết tướng quân trong lực lượng Cấm Vệ quân triều đình, tước Hoa Trung bá, thụy là Anh dũng phủ quân, được tuyển vào chức Thị trù (đầu bếp)
Cụ sinh được 3 người con trai là Quỳnh, Sênh, Thuật Cụ Nguyễn Sênh không
rõ, còn cụ Nguyễn Thuật mất sớm
Đời thứ 16 là cụ Nguyễn Quỳnh, làm Trùm Trưởng điếm, tự Lân Vũ
bá, thụy Cương quả Trưởng lão phủ quân Cụ sinh được 6 người con, trong đó
có 5 người con trai là Tải, Tý, Hiên, Kiền (Phạm Hữu Bằng), Đài
Cụ Nguyễn Tải với cụ Nguyễn Hiên mất sớm, cụ Nguyễn Đài không có con nối dõi
Đời thứ 17 là cụ Nguyễn Tý, tự Bá Hân Cụ sinh được 3 người con,
trong đó có 2 người con trai là Trọng Lượng và Trọng Thận Từ đây, chi họ chia làm 2 nhánh:
Nhánh Nguyễn Trọng Lượng do ông Nguyễn Trọng Trí thờ cúng
Nhánh Nguyễn Trọng Thận do ông Nguyễn Trọng Phan thờ cúng
* CHI HỌ NGUYỄN TRỌNG - DƯƠNG LIỄU
Đời thứ 9 là cụ Nguyễn Báo - Thủy tổ của chi Dương Liễu, di cư lên
làng Dương Liễu cách quê hương Trung Cần qua cánh đồng Đại Trại để an cư
Trang 40lập nghiệp Cụ sinh được 1 người con trai tên là Của và 1 người con gái tên là Thị Đỏ
Đời thứ 10 là cụ Nguyễn Phúc Hựu, húy Của, thường gọi là ông Hộ
Vợ là cụ Lê Thị Doan Hai cụ sinh được 5 người con trai là Nguyễn Phúc Tộ, Nguyễn Tắc Cẩn, Nguyễn Trâu Lâu, Nguyễn Trị, Nguyễn Khâm Minh Các
cụ Phúc Tộ, Tắc Cẩn, Trị, Khâm Minh mất sớm
Đời thứ 11 là cụ Nguyễn Trâu Lâu có vợ là cụ Phạm Thị Đậu Hai cụ
sinh được 2 người con trai là Nguyễn Hữu Cập, Nguyễn Bá Diên và 4 người con gái là Thị Của, Thị Nhiêu, Thị Voi, Thị Chép Cụ Bá Diên vô hậu
Đời thứ 12 là cụ Nguyễn Hữu Cập, húy là Dương Vợ là cụ Lê Thị
Khoan Hai cụ sinh được 3 người con trai là Hữu Chi, Hữu Bản, Hữu Dung và
3 người con gái là Thị An, Thị Bình, Thị Đỏ Hai cụ còn có 1 người con nuôi
là Hữu Thi
Đời thứ 13 là cụ Nguyễn Hữu Bản, húy Lạnh, đậu Sinh đồ làm đến
chức Xã quan Vợ là cụ Nguyễn Thị Nhuế Sinh được 3 người con trai là: Sỹ Mưu, Hữu Thuật, Hữu Đạo và 5 người con gái là Thị Lam, Thị Phi, Thị Phu, Thị Toàn, Thị Thiềm
Cụ Nguyễn Sỹ Mưu hiệu là Che, đậu Sinh đồ Vợ là cụ Nguyễn Thị Dung sinh người con trai là Nguyễn Sỹ Tuân Cụ Nguyễn Sỹ Tuân sinh Nguyễn Bá Hài đậu Giám sinh, hiệu là Thanh Doãn tiên sinh Nguyễn Bá Hài sinh Nguyễn Phi Khuê và Nguyễn Phi Thiệu đều đỗ Sinh đồ
Cụ Nguyễn Hữu Thuật sinh con là Nguyễn Hữu Triều (vô hậu)
Đời thứ 14 là cụ Nguyễn Hữu Đạo, húy Xa, tên gọi là Hanh, thiên tư
linh lợi, tính hạnh thực thà, đậu Sinh đồ cùng lúc với anh là Nguyễn Sỹ Mưu
Vợ là cụ Trần Thị Thành, là con của Trần Quận công, tính nết cần kiệm, khuôn dung thùy mị Hai cụ sinh được 8 người con, trong đó có 3 người con trai là Nguyễn Nhật Ân, Nguyễn Nghiện, Nguyễn Bá Cẩm