LỜI CAM ĐOAN Luận văn thạc sỹ “Ảnh hưởng của thức ăn, mật độ ương đến tỷ lệ sống và tăng trưởng của cá Chuối hoa Channa maculata Lacépède, 1801 giai đoạn cá giống”, chuyên ngành nuôi tr
Trang 11
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
_
NGUYỄN THANH HUYỀN
ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN, MẬT ĐỘ ƯƠNG ĐẾN TỶ LỆ SỐNG VÀ TĂNG TRƯỞNG CỦA
CÁ CHUỐI HOA (Channa maculata Lacépède, 1801)
GIAI ĐOẠN CÁ GIỐNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
NGHỆ AN - 2015
Trang 22
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
_
NGUYỄN THANH HUYỀN
ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN, MẬT ĐỘ ƯƠNG ĐẾN TỶ LỆ SỐNG VÀ TĂNG TRƯỞNG CỦA
CÁ CHUỐI HOA (Channa maculata Lacépède, 1801)
GIAI ĐOẠN CÁ GIỐNG
Chuyên ngành: Nuôi trồng thủy sản
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn thạc sỹ “Ảnh hưởng của thức ăn, mật độ ương đến tỷ lệ sống
và tăng trưởng của cá Chuối hoa (Channa maculata Lacépède, 1801) giai đoạn cá giống”, chuyên ngành nuôi trồng thủy sản là của riêng tôi Luận văn đã
sử dụng thông tin từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, các thông tin có sẵn đã được trích rõ nguồn gốc
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu đã có được trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi
sự giúp đỡ trong việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được trích rõ nguồn gốc
Tác giả
Nguyễn Thanh Huyền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc
nhất đến thầy PGS.TS Nguyễn Hữu Dực người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong
suốt quá trình làm đề tài
Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn đến ThS Nguyễn Đình Vinh chủ nhiệm
nhiệm vụ quỹ gen cấp nhà nước "Khai thác và phát triển nguồn gen cá Chuối
hoa (Channa maculata Lacépède), cá Lóc đen (Channa striata Bloch), cá Ngạnh (Cranoglanis sinensis Peters) ở Bắc Trung Bộ” đã tạo điều kiện hỗ trợ
vật liệu, cơ sở vật chất và kinh phí để thực hiện đề tài
Tiếp đến tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến ban lãnh đạo Chi Cục Nuôi Trồng Thủy Sản Nghệ An, trại cá Nam Giang thuộc Công Ty Cổ Phần Giống Thủy Sản Nghệ An, Ban giám hiệu, Phòng Sau Đại Học và Khoa Nông Lâm Ngư Trường Đại Học Vinh đã tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành tốt khóa học này
Con xin gửi lời cảm ơn đến bố mẹ người đã có công sinh thành, giáo dưỡng để con có được như ngày hôm nay
Cuối cùng tôi xin cảm ơn đến tập thể lớp cao học 21 - NTTS và đồng nghiệp, những người đã luôn động viên, giúp đỡ và cổ vũ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập
M c d đã có nhiều cố gắng, song luận văn tốt nghiệp không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự góp , ch bảo của Hội đồng khoa học, thầy, cô và các bạn
Vinh, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thanh Huyền
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
Chương 1.TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
1.1 Một số đặc điểm sinh học cá Chuối hoa 3
1.1.1 Vị trí phân loại 3
1.1.2 Hình thái và đặc điểm nhận dạng 4
1.1.3 Đặc điểm phân bố 5
1.1.4 Đặc điểm sinh sản 5
1.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng và sinh trưởng 5
1.2 Tình hình nghiên cứu về dinh dưỡng trong nuôi cá lóc (cá chuối) hiện nay 6
1.2.1 Sơ lược nhu cầu dinh dưỡng của cá lóc 6
1.2.2 Tình hình nghiên cứu về sử dụng thức ăn trong nuôi cá lóc 9
1.3 Tình hình sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá Lóc ở Việt Nam 10
1.3.1 Tình hình sản xuất và ương nuôi cá giống 10
1.3.2 Tình hình nuôi thương phẩm cá Lóc 11
1.4 Tiềm năng phát triển nghề nuôi cá lóc ở Nghệ An 11
1.5 Tình hình sử dụng thức ăn trong nuôi cá lóc hiện nay 12
1.6 Ảnh hưởng của mật độ đến tốc độ sinh trưởng của cá 13
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1 Nội dung nghiên cứu 14
2.2 Đối tượng nghiên cứu 14
2.3 Vật liệu nghiên cứu 15
2.3.1 Cá thí nghiệm 15
Trang 62.3.2 Thức ăn và các dụng cụ, thiết bị thí nghiệm 15
2.4 Phương pháp nghiên cứu 16
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 16
2.4.2 Phương pháp thu mẫu và các chỉ tiêu đánh giá thí nghiệm 18
2.4.3 Phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu 18
2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 20
2.5 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 20
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21
3.1 Các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm 21
3.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống tích lũy của cá Chuối hoa ở các công thức thí nghiệm 22
3.3 Ảnh hưởng của thức ăn lên tốc độ tăng trưởng của cá Chuối hoa (Channa maculata Lacépède, 1801) giai đoạn cá giống 24
3.3.1 Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng chiều dài toàn thân của cá Chuối hoa giống 24
3.3.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng về khối lượng thân cá Chuối hoa giai đoạn cá giống 30
3.4 Hệ số chuyển hóa thức ăn của cá Chuối hoa ở thí nghiệm thức ăn 35
3.5 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến tỷ lệ sống của cá Chuối hoa giai đoạn cá giống 36
3.6 Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng của cá Chuối hoa 38
3.6.1 Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng về chiều dài của cá Chuối hoa 38
3.6.2 Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng khối lượng cá Chuối hoa giống 42
3.6.3 Hệ số chuyển hóa thức ăn của cá chuối hoa ở thí nghiệm mật độ 47
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49 PHỤ LỤC
Trang 7CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU TRONG LUẬN VĂN
DWG Daily Weighi gain Tăng trưởng tuyệt đối
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Hình thái ngoài cá Chuối hoa (C maculata Lacepède, 1801) 3
Hình 2.1 Cá Chuối hoa giai đoạn ương 14
Hình 2.2 Hệ thống giai thí nghiệm 15
Hình 2.3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của thức ăn 16
Hình 2.4 Sơ đồ bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của mật độ 17
Hình 3.1 Nhiệt độ trung bình trong quá trình ương nuôi cá thí nghiệm 21
Hình 3.2 Tỷ lệ sống (%) của cá Chuối hoa khi sử dụng các thức ăn khác nhau 23
Hình 3.3 Chiều dài trung bình của cá thí nghiệm 26
Hình 3.4 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài cá thí nghiệm qua các giai đoạn (cm/ngày) 28
Hình 3.5 Tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều dài thân cá thí nghiệm 29
Hình 3.6 Tăng trưởng tích lũy (g) khối lượng toàn thân của cá thí nghiệm 32
Hình 3.7 Tăng trưởng khối lượng tuyệt đối (g/ngày) về khối lượng cá thí nghiệm 33
Hình 3.8 Tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng toàn thân cá Chuối hoa 35
Hình 3.9 Tỷ lệ sống của cá Chuối hoa khi ương nuôi ở các mật độ khác nhau 37
Hình 3.10 Tăng trưởng tích lũy(cm) chiều dài toàn thân cá Chuối hoa ương nuôi với mật độ khác nhau 39
Hình 3.11 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối (cm/ngày) về chiều dài toàn thân của cá Chuối hoa ương nuôi với mật độ khác nhau 40
Hình 3.12 Tốc độ tăng trưởng tương đối (%/ngày) về chiều dài toàn thân của cá Chuối hoa ương nuôi ở các mật độ khác nhau 41
Hình 3.13 Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng khối lượng (g/con) tích lũy của cá Chuối hoa ương nuôi ở mật độ khác nhau 43
Hình 3.14 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng cá Chuối hoa ương nuôi ở mật độ khác nhau 45
Hình 3.15 Tăng trưởng tương đối về khối lượng(%/ngày) của cá Chuối hoa ương nuôi ở các mật độ khác nhau 46
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm 21 Bảng 3.2 Tỷ lệ sống tích lũy của cá chuối hoa (%) 22 Bảng 3.3 Tăng trưởng về chiều dài cá Chuối hoa ở các thức ăn thí nghiệm 24 Bảng 3.4 Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng tích lũy (cm) chiều dài toàn
thân của cá thí nghiệm 25 Bảng 3.5 Ảnh hưởng của thức ăn lên tăng trưởng tuyệt đối(cm/ngày) về chiều
dài của cá thí nghiệm 27 Bảng 3.6 Ảnh hưởng các loại thức ăn đến tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều
dài thân cá thí nghiệm (%/ngày) 29 Bảng 3.7 Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng khối lượng của cá Chuối hoa 30 Bảng 3.8 Tốc độ tăng trưởng tích lũy (g) khối lượng của cá thí nghiệm 31 Bảng 3.9 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối (g/ngày) của khối lượng toàn thân của cá
thí nghiệm 32 Bảng 3.10 Tốc độ tăng trưởng tương đối (%/ngày) về khối lượng cá thí nghiệm 34 Bảng 3.11 Hệ số chuyển hóa thức ăn của cá Chuối hoa với các thức ăn khác
nhau 36 Bảng 3.12 Tỷ lệ sống tích lũy (%) của cá Chuối hoa ở các mật độ nuôi 36 Bảng 3.13 Tăng trưởng theo chiều dài của cá Chuối hoa ở các mật độ 38 Bảng 3.14 Tăng trưởng tích lũy (cm) chiều dài toàn thân của cá Chuối hoa ương
nuôi với mật độ khác nhau 38 Bảng 3.15 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối (cm/ngày) về chiều dài toàn thân của cá
Chuối hoa ương nuôi với mật độ khác nhau 39 Bảng 3.16 Tốc độ tăng trưởng tương đối (%/ngày) về chiều dài toàn thân cá
Chuối hoa ương nuôi ở các mật độ khác nhau 41 Bảng 3.17 Tăng trưởng về khối lượng cá Chuối hoa ở các mật độ thí nghiệm 42 Bảng 3.18 Khối lượng trung bình cá thí nghiệm ở các mật độ khác nhau (g/con) 43 Bảng 3.19 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng(g/ngày) của cá Chuối hoa
ương nuôi ở mật độ khác nhau 44 Bảng 3.20 Tăng trưởng tương đối về khối lượng ở các mật độ ương khác nhau 46 Bảng 3.21 Hệ số chuyển hóa thức ăn của cá chuối hoa với các mật độ khác nhau 47
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngành thủy sản Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh
tế đất nước Quy mô của ngành thủy sản ngày càng mở rộng và vai trò của ngành thủy sản cũng tăng lên không ngừng trong nền kinh tế quốc dân
Tiềm năng về mặt nước nuôi trồng thuỷ sản của tỉnh Nghệ An tương đối lớn Theo số liệu thống kê của Chi Cục Nuôi Trồng Thủy Sản, hiện nay trên địa bàn tỉnh có khoảng 23.610 ha diện tích mặt nước đưa vào nuôi trồng thủy sản, trong đó diện tích nuôi cá nước ngọt là 21.000 ha, sản lượng đạt 34.593 tấn [3]
Ngoài ra, theo quy hoạch một loạt các hồ thủy điện, hồ chứa lớn nhỏ với hàng nghìn hecta diện tích mặt nước đang được xây dựng (Bản Vẽ, Khe Bố, Bản Mồng, Nhạn Hạc, Khe Bu, Thác Muối, Khe Là, ) sẽ tạo nên một tiềm năng lớn cho phát triển nuôi trồng thủy sản
Nguồn lợi cá nước ngọt của Nghệ An nói riêng và vùng Bắc Trung bộ nói chung khá phong phú, phân bố tự nhiên dọc theo các lưu vực sông Riêng khu hệ cá sông Lam đã có 157 loài và phân loài thuộc 52 họ và phân họ nằm trong 17 bộ [23]
Cá Chuối hoa (Channa maculata) loài cá xương nước ngọt, thuộc họ cá
quả (Channidae) Thân gần tròn, màu xám nâu xen lẫn những đốm xám nhạt, có một số hàng chấm đen, bụng hơi trắng Cá Chuối hoa là loài cá dữ, vồ mồi, ăn cá con, ếch nhái, sâu bọ, động vật thủy sinh, thường sống ở thủy vực tĩnh hoặc chảy yếu, có nhiều thực vật thủy sinh Cá Chuối hoa thường làm tổ đẻ trứng, bảo vệ trứng và con Cá Chuối hoa có thịt ngon, có giá trị kinh tế cao, đồng thời là loài
có tên trong sách đỏ Việt Nam (2007) được xếp bậc EN (Nguy cấp) [24] và nó cũng có tên trong trong danh mục loài thủy sản cần được bảo vệ [2]
Theo sách đỏ Việt Nam - phần động vật - trang 315 thì khoảng 10 - 15 năm gần đây sản lượng cá giảm sút nghiêm trọng, số lượng cá trưởng thành ước tính giảm tới trên 80% Nhiều vùng Cá Chuối hoa trở nên khan hiếm, có thể coi như không còn Nguyên nhân chính là nơi cư trú bị chia cắt, có biến đổi lớn, thu
Trang 11hẹp trên 50% do xây dựng các công trình thủy lợi, thay đổi chế độ canh tác trên đồng ruộng như trồng các cây ngắn ngày, tưới tiêu khoa học, phun thuốc trừ sâu,
bị đánh bắt quá mức nhất là vào mùa sinh sản Mặt khác, nhiều năm liên tiếp cá
bị bệnh lở loét, lan truyền nhanh thành dịch, làm chết hàng loạt Tuy nhiên chưa
có quy chế khai thác và bảo vệ loài cá này Cần giảm cường độ khai thác cá Chuối hoa ở vùng đồng bằng và ven biển Giảm việc dùng thuốc trừ sâu trong nông nghiệp, chống ô nhiễm các vực nước Cần nghiên cứu kỹ hơn loài cá này, tạo nguồn giống cung cấp cho các vùng nuôi và phục hồi tái tạo nguồn lợi tự nhiên [24]
Trong những năm gần đây, dinh dưỡng của các loài cá nước ngọt nói chung, cá lóc nói riêng được các nhà khoa học, nhà sản xuất thức ăn và người nuôi cá rất quan tâm Hiện nay, các nghiên cứu về thức ăn và mật độ của cá Chuối hoa hầu như chưa có Việc tìm ra loại thức ăn tốt cho hiệu quả kinh tế cao, cũng như mật độ ương nuôi phù hợp là điều cần thiết trong việc sản xuất giống nhằm chủ động nguồn giống, giúp ích rất nhiều trong việc khai thác hợp lý, bảo
vệ nguồn lợi tự nhiên cũng như thuần hóa trở thành đối tượng nuôi đem lại hiệu quả kinh tế
Xuất phát từ những lý do trên tôi đã thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của thức ăn, mật độ ương đến tỷ lệ sống và tăng trưởng của cá Chuối hoa (Channa maculata Lacépède, 1801) giai đoạn cá giống”
2 Mục tiêu của đề tài
Xác định được mật độ ương nuôi tối ưu, thức ăn phù hợp nhằm nâng cao
tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của cá Chuối hoa giai đoạn cá giống
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Một số đặc điểm sinh học cá Chuối hoa
Loài Cá Chuối hoa: Channa maculata (Lacépède, 1801)
Tên tiếng Anh: Blotched snackehead
Tên Tiếng Việt: Cá Chuối hoa
Hình 1.1 Hình thái ngoài cá Chuối hoa (C maculata Lacepède, 1801)
Theo các hệ thống phân loại của các tác giả trước năm 2000 như (Mai Đình Yên 1978) và (1992), (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương 1993) thì
họ cá lóc có tên là Ophicephalidae Giống cá chuối là Ophiocephalus [14]
Hiện tại, theo Fishbase [35] thì trên thế giới có 34 loài thuộc giống Channa
Trong 34 loài này, ở Việt Nam có 13 loài gồm:
- Cá Trèo đồi (C.asiatica)
Trang 13- Cá tràu tiến vua (C.hoaluensis)
- Cá tràu ninh bình (C.longistomata)
- Cá tràu hà nam (C.hanamensis)
- Cá tràu suối (C.gachua)
Chỉ có 3 loài trong số đó gồm: Channa striata, C.gachua và C.orientalis phân bố rộng trên cả nước Các loài C asiatica, C maculata, C hoaluensis, C
longistomata và C hanamensis chỉ phân bố ở Bắc bộ hoặc Bắc bộ và Bắc`Trung
bộ Các loài C micropeltes, C melasoma, C marulius và C luciudus chỉ phân
bố ở Nam bộ, Nam Trung bộ và Tây Nguyên
1.1.2 Hình thái và đặc điểm nhận dạng
Cá chuối hoa có thân dài, tròn, về phía đuôi dẹp bên Đầu dài nhọn Vảy hình tấm ở đỉnh đầu tương đối bé Mắt lớn ở hai bên đầu Khe mang lớn Que mang ở cung mang I là 6 - 11, phát triển không đều, dạng to, ngắn, có nhiều chồi gai nhỏ và thường có 3 - 5 cái tương đối lớn Rạch miệng xiên kéo dài về phía sau quá viền sau của mắt Toàn thân phủ vảy lớn Đường bên gián đoạn Đoạn trước chạy từ sau nắp mang tới khỏi tia thứ 5 - 6 của vây hậu môn Đoạn sau thấp hơn 1 hàng vảy và tiếp tục đi vào giữa cuống đuôi [29]
Miệng rất lớn Trên hai hàm, xương lá mía và xương khẩu cái đều có nhiều răng Lưỡi nhọn dài Lỗ mũi mỗi bên 2 lỗ Lỗ trước hình ống, lỗ sau hình nón tù cách tương đối xa ổ mắt Trên đầu, hai bên má có hệ thống lỗ nhỏ sắp xếp
có qui luật Vây lưng không có tia gai Gốc rất dài, khởi điểm ở trước khởi điểm vây bụng Vây ngực, vây đuôi tròn, vây bụng bé và ở mặt bụng Cá có màu xám nâu, xen kẽ với các vạch chấm đen có các vân chấm đen Dọc thân có hai hàng
Trang 14chấm đen Gốc vây lưng cũng có một hàng chấm đen lớn Ở đầu có một vạch đen gẫy khúc chạy từ dưới ổ mắt đến gốc vây ngực Trên các vây lưng, vây hậu môn
và vây đuôi có nhiều chấm đen nhỏ xếp thành hàng
1.1.4 Đặc điểm sinh sản
Đến mùa sinh sản cá thường ghép đôi làm tổ ở gần bờ ao, đầm, ruộng nước [9] Cá từ 1 năm tuổi trở lên đã có khả năng sinh sản Mùa sinh sản là từ tháng 4 - 8 hàng năm Cá thường đẻ vào sáng sớm sau những trận mưa rào một hai ngày nơi có thực vật thủy sinh [29] Chúng dọn sạch cây thủy sinh, tạo thành mặt thoáng để đẻ trứng vào đó Cá bố mẹ thường quanh quẩn bên tổ để bảo vệ trứng và cá con Chúng sống ở nước ngọt nhưng cũng có thể sống ở nước lợ, nơi
có nồng độ muối thấp [9]
1.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng và sinh trưởng
Cá sinh trưởng tương đối nhanh Con lớn nhất đến 5kg, nhìn chung cá 1 tuổi thân dài 19 - 39 cm nặng 95 - 760g; cá 2 tuổi thân dài 38,5 - 40 cm, nặng
625 - 1.395g; cá 3 tuổi thân dài 45 - 59cm, nặng 1.467 - 2.031g (con đực và cái chênh lệch lớn); khi nhiệt độ trên 20oC sinh trưởng nhanh, dưới 150C sinh trưởng chậm [29]
Cá lóc thuộc loại cá dữ, thức ăn chủ yếu là cá, ếch, rắn, côn trùng, giun đất, nòng nọc, và giáp xác [22] Khi bắt đầu ăn thức ăn ngoài, cá lóc ăn phiêu sinh động vật và thức ăn ưa thích của chúng là nhóm giáp xác, nhóm Rotifer cũng xuất hiện nhiều trong dạ dày Theo (Victor 1992) cũng nhận thấy khi được nuôi đơn trong điều kiện dinh dưỡng thấp (tỉ lệ dạ dày rỗng cao 75%), thức ăn
Trang 15cho cá cung cấp không thích hợp, cá phụ thuộc vào thức ăn tự nhiên và lúc này chúng thể hiện tính ăn lẫn nhau rất lớn[7]
Theo (Nguyễn Anh Tuấn và ctv,(2004) [21], cá lóc có miệng cận trên và
to, nhờ vậy cá có thể ăn được mồi có kích thước lớn Răng hàm, răng lá mía và răng khẩu cái khá to, bén Hàm dưới có răng chó cho thấy cá lóc thuộc nhóm cá
ăn động vật kích thước lớn và bắt được mồi sống Ngoài tự nhiên cá lóc trưởng thành là loài cá dữ và lúc trưởng thành thường ăn với khối lượng thức ăn lớn là
các loại cá con, cá tạp
Cá mới nở còn sử dụng dinh dưỡng từ khối noãn hoàng Từ ngày thứ 4-5 khi noãn hoàng đã hết, cá bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài lúc này cá bột ăn được các loài động vật phù du vừa cỡ miệng chúng như luân trùng, trứng nước
Khi cá dài cỡ 5 - 6 cm chúng có thể rượt bắt các loại tép và cá có kích thước nhỏ hơn chúng Khi cơ thể đạt chiều dài trên 10cm, cá đã có tập tính ăn như cá trưởng thành
Cá lóc là loài cá dữ ăn động vật điển hình Lược mang dạng hình núm Thực quản ngắn, vách dầy, bên trong thực quản có nhiều nếp nhăn Dạ dày to hình chử Y Quan sát ống tiêu hóa của cá cho thấy cá chiếm 63.01%, tép 35.94%, ếch nhái 1.03% và 0.02% là bọ gạo, côn trùng và mùn vã hữu cơ [21]
1.2 Tình hình nghiên cứu về dinh dưỡng trong nuôi cá lóc (cá chuối) hiện nay
1.2.1 Sơ lược nhu cầu dinh dưỡng của cá lóc
1.2.1.1 Nhu cầu protein
Protein là vật chất hữu cơ chủ yếu xây dựng lên các tổ chức mô của cá cũng như của động vật, protein chiếm khoảng 60 - 75% tổng số vật chất khô của
cơ thể Cá sử dụng protein để đáp ứng nhu cầu amino acid Protein sau khi được các enzyme protease thực hiện quá trình tiêu hóa hóa học giải phóng các amino acid tự do Các amino acid này sẽ được hấp thu qua thành ống tiêu hóa đi vào máu, được máu vận chuyển đến các cơ quan, các tổ chức mô khác nhau, ở đó chúng sẽ tham gia vào quá trình tổng hợp protein mới
Trang 16Người ta chia nhu cầu protein của cá làm hai loại: nhu cầu duy trì và nhu cầu sản xuất Nhu cầu protein phụ thuộc vào việc sử dụng các amino acid để xây dựng nên các protein mới hoặc thay thế các protein già cũ Thức ăn thiếu protein
se làm tốc độ sinh trưởng của cá cũng như của động vật giảm vì chúng phải huy động các nguồn protein từ các tổ chức trong cơ thể để đáp ứngnhu cầu amino acid Ngược lại thức ăn quá dư thừa protein thì chỉ một phần từ protein thức ăn sẽ được sử dụng để tổng hợp nên các protein mới trong cơ thể, phần còn lại sẽ được chuyển hóa thành năng lượng hoặc bài tiết ra ngoài Protein là thành phần có giá thành cao nhất trong thức ăn vì vậy, nếu hàm lượng protein trong thức ăn quá cao
sẽ gây ra lãng phí làm giảm hiệu quả nuôi [8], [13], [15]
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu chất đạm của cá bao gồm loài, kích cỡ cá, nhiệt độ nước, mật độ cá thả, khẩu phần ăn, năng lượng không phải từ chất đạm trong thức ăn và chất lượng chất đạm trong thức ăn… [13], [15], [39]
Mohanty và Samantaray (1996) đã sử dụng 6 nghiệm thức thức ăn nuôi thí
nghiệm cá lóc đen (Channa striata Bloch, 1793) giai đoạn có cùng mức năng
lượng dựa trên bột cá và bánh dầu đậu phộng và chứa 350 - 600g đạm/kg thức ăn (mỗi mức cách nhau 50kg đạm/kg thức ăn) cho ăn với khẩu phần ăn 10% khối lượng thân/ngày trong điều kiện phòng thí nghiệm để xác định ảnh hưởng của các mức chất đạm trong thức ăn khác nhau lên tăng trưởng của cá Trên cơ sở tăng trưởng, sự tích lũy chất đạm trong mô hàng ngày thì nhu cầu chất đạm trong thức ăn của cá bột được xác định khoảng 35% protein thức ăn khi bột cá được sử dụng như nguồn đạm chính Có sự tăng đáng kể chất đạm trong cơ thể cá khi chất đạm trong thức ăn tăng dần Cá ăn thức ăn chất đạm cao thì hàm lượng chất béo trong thịt có khuynh hướng thấp hơn và độ ẩm cao hơn [ 15]
Trần Thị Thanh Hiền và cộng sự nghiên cứu nhu cầu đạm của cá Lóc
bông (Channa micropeltes) giống nhỏ (2,6 g/con) và giống lớn (6,07 g/con) được
thực hiện trên hệ thống 20 bể nhựa với nước tuần hoàn và có sục khí Cá được cho ăn 5 loại thức ăn có hàm lượng đạm từ 14% đến 54% (năng lượng 4,2 kcal/g) trong 50 ngày Kết quả phân tích đường cong bậc hai cho thấy hàm lượng đạm cho tăng trưởng tối đa ở cá giống nhỏ là 50,8% và giống lớn là 46,5% Hàm
Trang 17lượng đạm từ 30,7 - 36,8% (giống nhỏ) và 27,8 - 32,8% (giống lớn) là khoảng thích hợp cho sự tăng trọng của cá và giảm giá thành sản xuất [10]
1.2.1.2 Nhu cầu năng lượng
Dos Santos và Jobling (1988) cho rằng năng lượng trong thức ăn có ảnh hưởng đến tăng trưởng của cá Daniels và Robinson (1986), Prather và Lovell (1974) cũng cho rằng nếu năng lượng trong thức ăn quá cao sẽ làm giảm tăng trưởng, đặc biệt là ở thức ăn có hàm lượng đạm cao [15]
Theo Cruz (1975), Smith (1976) và Popma (1982) thì cả chất đạm và chất béo là những nguồn năng lượng cao có sẵn cho cá, còn chất bột đường được xem như là nguồn năng lượng rẻ tiền có giá trị khác nhau giữa các loài
Cá ăn tạp (rô phi, cá nheo) tiêu hóa hơn 70% năng lượng thô ở tinh bột chưa nấu chín, trong khi cá hồi lưng đỏ (một loài cá ôn đới ăn động vật) có thể tiêu hóa ít hơn 50% [15]
Khi nghiên cứu tỷ lệ P/E thì thấy khả năng sinh trưởng của cá lóc đen
giống (Channa striata) cao nhất thu được khi cho ăn thức ăn chứa 40% đạm với
tỷ lệ P/E là 90,9mg đạm/kcal Hiệu quả sử dụng chất đạm (PER) bị ảnh hưởng bởi việc tăng năng lượng 400 đến 480kcal/100g (thức ăn) ở tất cả các mức đạm, ngoại trừ 40% (khẩu phần với năng lượng 440kcal/100g cho thấy PER cao nhất)
Hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) thấp nhất thu được ở tỷ lệ P/E là 90,9mg đạm/kcal (Samantaray và Mohanty, 1997) [13], [15]
1.2.1.3 Nhu cầu chất bột đường
Theo nghiên cứu của một số tác giả thì khi chất bột đường vượt quá nhu cầu có thể làm giảm tiêu thụ thức ăn hoặc làm giảm việc sử dụng tối ưu các thành phần khác trong thức ăn (Lovell, 1989; Wilson, 1994) [15]
Theo Shimeno (1974) thì cá chép ăn chứa 3 - 47% tinh bột và 28 - 63% đạm thì khả năng tiêu hóa chất bột đường và chất đạm trong thức ăn hầu như không đổi (lần lượt là 87 - 91% và 88 - 89%) Khả năng tiêu hóa CH-10 trong thức ăn chứa 9% tinh bột chỉ đạt 57% và có khuynh hướng giảm khi tăng chất bột đường trong thức ăn Khi cá ăn thức ăn chứa 10 - 20% chất bột đường là dextrin và tinh bột thì việc tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn có khuynh
Trang 18hướng thấp hơn một ít so với thức ăn đối chứng là chất bột đường tự do (CH-O) Thức ăn chứa 40% chất bột đường làm giảm sự chịu đựng đường, hoạt động của một số men và khả năng tiêu hóa chất bột đường và chất đạm và kết quả làm chậm sinh trưởng
1.2.2 Tình hình nghiên cứu về sử dụng thức ăn trong nuôi cá lóc
Thức ăn nuôi cá lóc hiện nay, các hộ sử dụng chủ yếu là nguồn cá tạp (Trần Thị Thanh Hiền, 2009) [11] ngoài ra người nuôi còn sử dụng thêm các loại thức ăn tươi sống khác như ốc bưu vàng, cua đồng vào mùa lũ và nhất là các phụ phẩm của các nhà máy chế biến thủy sản như đầu cá tra, ba sa vào mùa khô do giá cá tạp cao và ngày càng khan hiếm, nên một số ít hộ chuyển sang cho ăn xen
kẽ thức ăn tự chế biến, thức ăn công nghiệp và cá tạp trong quá trình nuôi
Hiện nay, đã có nhiều nghiên cứu đóng góp đáng kể trong việc thay thế thức ăn cá tạp của cá lóc nuôi bằng thức ăn chế biến, phụ phẩm nhà máy, hạn chế việc sử dụng cá tạp trong nuôi trồng thủy sản, góp phần bảo vệ nguồn thủy sản là điều rất cần thiết Các nghiên cứu về thức ăn chế biến, ngoài việc tìm ra những công thức thức ăn phù hợp tính ăn, nhu cầu dinh dưỡng cho cá lóc, mà từng bước tìm ra thay thế các nguồn nguyên liệu khác nhau dể tìm, giá thành hạ như sử dụng bột đậu nành, cám gạo có bổ sung các vitamin, chất tạo mùi để thay thế bột
cá, với tỷ lệ thay thế phù hợp, vẫn đảm bảo tỷ lệ sống và tốc độ tăng tưởng cá lóc nuôi so với nuôi bằng thức ăn là cá tạp (Trần Thị Thanh Hiền và ctv, 2009) [11]
Trong chế biến thức ăn thủy sản, bột cá được xem là nguồn protein tốt nhất Tuy nhiên, sản lượng bột cá ngày càng khan hiếm, giá thành ngày càng tăng nên giá thành thức ăn cũng tăng cao, làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của người nuôi Kết quả nghiên cứu chi thấy khi sử dụng bột đậu nành hoặc kết hợp bột đậu nành với các nguồn protein khác có thể thay thế bột cá dao động từ 30 -
75% khi làm thức ăn cho một số loài cá Đối với cá lóc giống (Channa striata)
khi thay thế protein bột cá bằng protein bột đậu nành trong công thức thức ăn thì khả năng thay thế đạt 30% [15]
Trang 191.3 Tình hình sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá Lóc ở Việt Nam 1.3.1 Tình hình sản xuất và ương nuôi cá giống
Ở Việt Nam, nghề nuôi cá Lóc ở các tỉnh miền Nam phát triển rất mạnh
và đem lại hiệu quả khá cao cho người nuôi Chính vì vậy từ lâu đã có nhiều nghiên cứu về loài cá này, trong đó đáng chú ý là những nghiên cứu của Đại Học Cần Thơ
Giống như các nước Đông Nam Á khác, ở Việt Nam cũng có rất nhiều các nghiên cứu về cá Lóc trong mối quan hệ của chúng với nền nông nghiệp lúa nước Nguyễn Văn Công, Dương Thị Kiều Ngân và Nguyễn Thanh Phương
nghiên cứu về tính nhạy cảm của cá Lóc (Channa striata) mới nở với thuốc trừ
sâu chứa hoạt chất Diazinon Qua nghiên cứu cho thấy khi cá đẻ trên ruộng, giai đoạn bắt đầu đớp khí trời có nguy cơ bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi phun Diazinon [6]
Nguyễn Văn Công và cộng sự nghiên cứu về ảnh hưởng của nhiệt độ (24,3oC và 34oC) và DO (DO < 2, DO > 5mg/L) lên khả năng ức chế hoạt tính
Cholinesterase (ChE) của Basudin 50EC (diazinon) ở cá Lóc giống (Channa
striata) có trọng lượng 18,47 ± 2,49g Kết quả cho thấy cá Lóc có nhiều nguy cơ
bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi việc sử dụng Basudin dưới điều kiện môi trường trên đồng ruộng [5]
Nguyễn Văn Công và cộng sự (2006) nghiên cứu ảnh hưởng của diazinon lên hoạt tính enzyme cholinesterase (ChE) và tăng trọng tương đối - Specific
Growth Rate (SGR) của cá Lóc (Channa striata) được đánh giá ở ba mức nồng
độ diazinon 0,016 mg/L, 0,079 mg/L và 0,35 mg/L pha từ Basudin 50EC bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên trong thời gian 60 ngày trong hệ thống bể composite có sục khí liên tục Kết quả cho thấy việc xác định hoạt tính ChE có thể dùng làm chỉ thị
để phát hiện ra sinh vật bị ảnh hưởng bởi diazinon Hoạt chất này rất độc và đã làm giảm sinh trưởng cá trong điều kiện phòng thí nghiệm [4]
Về sinh sản của cá Lóc, Bùi Minh Tâm và cộng sự (2008) đã nghiên cứu
về ảnh hưởng của liều lượng và phương pháp tiêm HCG ở cá Lóc bông
(Channa micropeltes) với 2 thí nghiệm: Thí nghiệm 1 được thực hiện theo cách
Trang 20truyền thống với liều lượng HCG 1.000 và 1.500 IU/kg cá cái Thí nghiệm thứ
2, cá đực được tiêm 1.000, 2.000 và 3.000 IU/kg chia ra làm 24, 48 và 72 giờ
trước khi tiêm cá cái 500 IU/kg Kết quả cho thấy để kích thích Channa
micropeltes sinh sản, kích dục tố HCG được tiêm 2.000 - 3.000 IU/kg cho cá
đực và 500 IU/kg cho cá cái và tiêm cá đực trước khi tiêm cá cái [19]
Nguyễn Huấn và Dương Nhựt Long (tiến hành khảo sát hiện trạng sản xuất giống trong dân gian và nghiên cứu kỹ thuật kích thích sinh sản cá Lóc bông
(Channa micropeltes) tại 2 tỉnh An Giang và Đồng Tháp [12]
Trong thời gian gần đây Nguyễn Văn Việt, Nguyễn Hồng Hải (2006), Trường Cao Đẳng Thủy Sản IV đã hoàn thiện quy trình sản xuất giống cá Chuối
hoa (Channa maculatus) ở miền Bắc với tỷ lệ đẻ, tỷ lệ thụ tinh đạt rất cao, trên
80% [26]
1.3.2 Tình hình nuôi thương phẩm cá Lóc
Cá Lóc có thịt thơm ngon nên rất được ưa chuộng Nghề nuôi cá Lóc đã
có truyền thống nhiều năm ở Nam Bộ, phổ biến ở các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Kiên Giang, Đồng Nai Nuôi cá Lóc thâm canh trong ao hoặc trong bè đều đạt được năng xuất khá cao (trong bè thường đạt từ 40 - 110 kg/m3
bè nuôi) Tỉnh An Giang, năm 2003 sản lượng nuôi các loài cá Lóc đã đạt 5.294 tấn, trong
đó riêng cá Lóc đen chiếm khoảng 30% Năm 2006, ở tỉnh Khánh Hoà sau 5 tháng nuôi cá Lóc trên cát, đàn cá có khoảng 2.000 con, trong đó hơn 1.000 con đạt khoảng 700 g/con [12]
1.4 Tiềm năng phát triển nghề nuôi cá lóc ở Nghệ An
Nghề nuôi cá nước ngọt ở Nghệ An hiện nay chủ yếu theo quy mô nhỏ hộ gia đình, với đối tượng nuôi chủ yếu là các loài cá truyền thống, nên năng suất và sản lượng chưa cao Tuy nhiên, trong những năm gần đây nghề nuôi cá nước ngọt đang trên đà phát triển cả về quy mô và sản lượng do quá trình để đa dạng hóa đối tượng nuôi và du nhập một số đối tượng nuôi mới có giá trị, trong đó có loài cá lóc
Trang 21Với diện tích mặt nước ngọt khoảng 19.000/50.000 ha; Tổng chiều dài
sông suối trên địa bàn tỉnh khoảng 9.828 km Sông lớn nhất là sông Lam (sông Cả) có chiều dài là 532 km (trên đất Nghệ An là 361 km) Hơn 620 hồ đập lớn nhỏ với tổng diện tích mặt thoáng trung bình 6.823 ha[3]
Tiềm năng về mặt nước nuôi trồng thủy sản của tỉnh Nghệ An tương đối lớn Theo số liệu điều tra của ngành thủy sản tổng diện tích nuôi nước ngọt 56.669 h, trong đó diện tích có thể đưa vào nuôi trồng thủy sản năm 2013 ước đạt 19.000 ha, đạt 3,35% diện tích tiềm năng [3]
Ngoài ra, theo quy hoạch một loạt các hồ thủy điện, hồ chứa lớn nhỏ với
hàng nghìn ha diện tích mặt nước đang được xây dựng (Bản Vẽ, Khe Bố, Bản
Mồng, Nhạn Hạc, Khe Bu, Thác Muối, Khe Là, ) sẽ tạo nên một tiềm năng lớn
cho phát triển nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là tận dụng được diện tich mặt nước trên các con sông, ao hồ lớn nhỏ, các đập, hồ thủy điện để xây dựng mô hình nuôi cá lóc thương phẩm với quy mô công nghiệp bằng hình thức nuôi trên các lồng bè Ở miền núi, dọc các con sông lớn, cư dân nông nghiệp đã dựa vào nguồn nước dồi dào phát triển nghề nuôi cá lồng, bè Tính đến năm 2012, tổng số lồng nuôi cá trên sông hiện có là 535 lồng Với nhu cầu về sử dụng thịt cá lóc làm thực phẩm coi là một tiềm năng lớn để nghề nuôi cá lóc phát triển, nâng cao về mặt chất lượng cũng như sản lượng
1.5 Tình hình sử dụng thức ăn trong nuôi cá lóc hiện nay
Thức ăn nuôi cá lóc hiện nay, các hộ sử dụng chủ yếu là nguồn cá tạp (Trần Thị Thanh Hiền, 2009)[11]ngoài ra người nuôi còn sử dụng thêm các loại thức ăn tươi sống khác như ốc bưu vàng, cua đồng vào mùa lũ và nhất là các phụ phẩm của các nhà máy chế biến thủy sản như đầu cá tra, ba sa vào mùa khô do giá cá tạp cao
và ngày càng khan hiếm, nên một số ít hộ chuyển sang cho ăn xen kẽ thức ăn tự chế biến, thức ăn công nghiệp và cá tạp trong quá trình nuôi
Hiện nay, đã có nhiều nghiên cứu đóng góp đáng kể trong việc thay thế thức ăn cá tạp của cá lóc nuôi bằng thức ăn chế biến, phụ phẩm nhà máy, hạn chế việc sử dụng cá tạp trong nuôi trồng thủy sản, góp phần bảo vệ nguồn thủy sản là điều rất cần thiết Các nghiên cứu về thức ăn chế biến, ngoài việc tìm ra những
Trang 22công thức thức ăn phù hợp tính ăn, nhu cầu dinh dưỡng cho cá lóc, mà từng bước tìm ra thay thế các nguồn nguyên liệu khác nhau dể tìm, giá thành hạ như sử dụng bột đậu nành, cám gạo có bổ sung các vitamin, chất tạo mùi để thay thế bột
cá, với tỷ lệ thay thế phù hợp, vẫn đảm bảo tỷ lệ sống và tốc độ tăng tưởng cá lóc
nuôi so với nuôi bằng thức ăn là cá tạp (Trần Thị Thanh Hiền và ctv, 2009)[11]
1.6 Ảnh hưởng của mật độ đến tốc độ sinh trưởng của cá
Mật độ thả cá là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến năng suất ao và việc sử dụng thức ăn Năng suất ao cao nhất có thể đạt được với mật độ thích hợp, mật độ nuôi thay đổi sẽ ảnh hưởng đến năng suất cá nuôi Nếu mật độ quá thấp thì sẽ gây lãng phí diện tích và thức ăn trong ao Nếu mật độ quá cao sẽ cho năng suất thấp vì cá chậm lớn (Gecking, 1987) Năng suất cá nuôi đạt mức cao nhất với một mật độ nào đó Tuy nhiên, mật độ thả cá ban đầu cũng phải tính đến
để đảm bảo sự sinh trưởng bình thường của cá khi cá lớn Mặt khác, hiệu quả kinh tế trong nuôi cá ao cũng cần phải tính toán ở mức năng suất nào đó cho hiệu quả cao nhất Để giải quyết vấn đề này, biện pháp nuôi cá với mật độ thả thay đổi theo từng giai đoạn có thể được áp dụng Khi cá nhỏ nuôi mật độ cao và khi cá lớn thì được nuôi với mật độ thưa Phương pháp này giúp ta sử dụng diện tích ao nuôi hợp lý
Trang 23Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
- Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống của cá chuối hoa giai đoạn cá giống
- Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ sinh trưởng của cá chuối hoa giai đoạn cá giống
- Ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống của cá chuối hoa giai đoạn cá giống
- Ảnh hưởng của mật độ đến tốc độ sinh trưởng của cá chuối hoa giai đoạn
cá giống
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là loài cá Chuối hoa Channa maculata Lacépède,
1801 giai đoạn cá giống
Hình 2.1 Cá Chuối hoa giai đoạn ương
Trang 242.3 Vật liệu nghiên cứu
2.3.1 Cá thí nghiệm
Cá Chuối hoa (Channa maculata Lacépède, 1801) giống từ nguồn sinh
sản nhân tạo tại Công ty Cổ Phần Giống Nuôi Trồng Thủy Sản Nghệ An
2.3.2 Thức ăn và các dụng cụ, thiết bị thí nghiệm
- Thức ăn thí nghiệm: Thức ăn sử dụng trong quá trình thí nghiệm gồm
ba loại:
+ Giun quế
+ Cá tạp
+ Thức ăn tự chế (50% bột cá nhạt, 50% bột khô đậu nành)
- Các dụng cụ thí nghiệm: Cân, thước đo, các thiết bị đo môi trường,
xô, vợt
- Giai thí nghiệm:
Giai có kích thước: Dài x rộng x cao: 2m x 1,5m x 1,2m
Giai được mắc cách đáy ao 20 cm, cao hơn mặt nước 30cm, dưới có cột gạch để cố định giai
Hình 2.2 Hệ thống giai thí nghiệm
Trang 252.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
2.4.1.1 Thí nghiệm xác định loại thức ăn phù hợp cho cá chuối hoa giai đoạn
cá giống
Sơ đồ khối nghiên cứu:
Hình 2.3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của thức ăn
Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp ngẫu nhiên hoàn toàn với 3 công thức thí nghiệm tương ứng 3 loại thức ăn khác nhau, trong đó:
Mỗi công thức được lặp lại 3 lần
Giun quế Cá tạp Thức ăn tự chế (50% bột cá nhạt,
50% bột khô đậu nành)
Điều kiện thí nghiệm:
Cá chuối hoa giống được ương trong giai cước mịn có thể tích 2.7m3
Mật độ thả cá là 30 con/m3 Mỗi giai thả 91 con/giai
- Chế độ cho ăn: Cho cá ăn hàng ngày, mỗi ngày cho ăn vào lúc 7 giờ và
16 giờ Lượng cho ăn bằng 10 ÷ 12% trọng lượng cơ thể/ngày
Cá thí nghiệm
G1 G4 G9 G2 G5 G8 G3 G6 G7
Quản lý và chăm sóc giai ương
Thu thập số liệu 15ngày/lần
Kết quả nghiên cứu và thảo luận Kết luận và đề
xuất ý kiến
Trang 26- Cách chăm sóc và quản lý: Trong thời gian thí nghiệm thường xuyên vệ sinh giai nuôi 7 ngày/lần
2.4.1.2 Thí nghiệm xác định mật độ phù hợp trong ương nuôi cá chuối hoa giai đoạn cá giống
Sơ đồ bố trí thí nghiệm:
Trong đó
Mật độ ương
Thí nghiệm xác định ảnh hưởng của mật độ đến tốc độ tăng trưởng và tỷ
lệ sống của cá chuối hoa giống được tiến hành ngẫu nhiên với 3 công thức mật
độ khác nhau, mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần theo sơ đồ sau:
Hình 2.4 Sơ đồ bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của mật độ
Cá thí nghiệm
G2 G3 G5 G1 G4 G7 G6 G8 G9
Quản lý và chăm sóc giai ương
Thu thập số liệu 15 ngày/ lần
Kết quả nghiên cứu và
thảo luận
Kết luận và đề xuất
Trang 27Cá được nuôi trong giai có kích thước 2.7m3 với các mật độ khác nhau, cùng sử dụng thức ăn như nhau là cá tạp lấy tại trại Nam Giang thuộc công ty Giống thủy sản Nghệ An
* Quản lý và chăm sóc
- Chuẩn bị thức ăn cho cá thí nghiệm
+ Đối với cá tạp thì ta nấu lên sau đó bằm nhỏ rồi bỏ vào vợt rồi cho
cá ăn
+ Đậu nành được làm thành bột mịn bằng máy nghiền
+ Bột cá nhạt thì ta xay cá khô lên bằng máy xay chuyên dùng
- Quản lý môi trường giai ương
Trong thời gian ương nuôi thường xuyên vệ sinh giai 7 ngày/lần, đảm bảo giai sạch sẽ, nước lưu thông dễ dàng
- Khẩu phần cho ăn bằng 10% khối lượng cá có trong giai
- Định kỳ 15 ngày cân, đo một lần và kiểm tra tỷ lệ sống của cá ở các giai thí nghiệm
2.4.2 Phương pháp thu mẫu và các chỉ tiêu đánh giá thí nghiệm
- Phương pháp thu mẫu: Mẫu giống cá chuối hoa được thu hoàn toàn ngẫu
nhiên từ các giai ương trước thời điểm cho cá ăn, số lượng mẫu 30 con/ giai
- Trước khi bố trí thí nghiệm, cá được xác định khối lượng trung bình ban đầu bằng cách cân tổng lượng cá và cân từng con (30 con) để tính trung bình khối lượng cá ở mỗi giai
- Các ch tiêu đánh giá mẫu thí nghiệm
+ Tỷ lệ sống: Tỷ lệ sống của cá được xác định bằng cách đếm số cá còn lại sau mỗi lần đo sau so số cá ban đầu
+ Tăng trưởng: Xác định tốc độ tăng trưởng trung bình, tăng trưởng tương đối và tăng trưởng tuyệt đối của chiều dài, khối lượng toàn phần
2.4.3 Phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu
2.4.3.1 Xác định các chỉ tiêu môi trường
+ Nhiệt độ: Dùng nhiệt kế thủy ngân Đo 2 lần/ngày vào lúc 6 giờ và 14 giờ
Trang 28+ pH: Dùng Test Kit để đo pH Đo pH 2 lần/ngày vào 6 giờ và 14 giờ + Hàm lượng oxy hòa tan (DO): Dùng Test Kit để đo DO 2 lần/ngày vào 6 giờ và 14 giờ
2.4.3.1.1 Xác định các chỉ tiêu về tỉ lệ sống
Tỷ lệ sống của cá thí nghiệm được xác định theo công thức:
Tỷ lệ sống (%) = Tổng số cá khi thu được (con) 100
Tổng số cá đưa vào ương nuôi (con)
2.4.3.1.2 Xác định các chỉ tiêu về tốc độ tăng trưởng
Trong thời gian thí nghiệm, chế độ chăm sóc và quản lý tương tự nhau Định kỳ 15 ngày/ lần tiến hành thu mẫu kiểm tra tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của cá
Các công thức tính toán và xử lý số liệu:
- Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối (Daily Weighi gain - DWG)
Trang 29W 1 khối lượng cá tại thời điểm t1(g)
L 2 Chiều dài cá tại thời điểm t2(cm)
L 1 Chiều dài cá tại thời điểm t1(cm)
T 1 thời điểm thu mẫu lần trước (ngày)
T 2 Thời điểm thu mẫu kiểm tra (ngày)
- Hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR: Feed Conversion Rate)
FCR = Tổng khối lượng thức ăn đã sử dụng (kg)
Tổng khối lượng tăng thêm (kg)
2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được cập nhật trong suốt quá trình thí nghiệm được tổng hợp và xử
lý trên phần mềm Excel 2007, phương pháp thống kê sinh học trên phần mềm SPSS16.0 qua các phép kiểm định Turkey với α = 0,05
2.5 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 03/ 2015 đến tháng 05/2015
Địa điểm nghiên cứu: Trại cá Nam Giang thuộc Công ty CP Giống Nuôi Trồng Thủy Sản Nghệ An
Trang 30Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm
Chất lượng nước đóng vai trò quan trọng trong nuôi trồng thủy sản Sự sống, sinh trưởng và phát triển, sinh sản của các loài động vật dưới nước có phụ thuộc rất lớn vào các yếu tố môi trường
Các yếu tố môi trường nước như: nhiệt độ, pH, DO là những thông số cơ bản để đánh giá sơ bộ mức độ phù hợp của chất lượng nước trong ao hồ với sự sinh trưởng và phát triển của đối tượng nuôi, từ đó đưa ra biện pháp quản lý chất lượng nước phù hợp giúp nuôi thủy sản sinh trưởng và phát triển tốt
Bảng 3.1 Các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm
Trang 31Kết quả nghiên cứu cho thấy (Bảng 3.1 và Hình 3.1), nhiệt độ trong quá trình thí nghiệm dao động 22 ÷ 30oC (trung bình 25,5 ÷ 26,7) Biến động nhiệt độ trong ngày là không lớn Theo Dương Nhựt Long (2006)[17] nhiệt độ thích hợp cho quá trình sống của cá dao động từ 20 ÷ 350C, khi nhiệt độ dưới 150
C sinh trưởng chậm, trên 200C sinh trưởng nhanh Như vậy, nhiệt độ trên phù hợp để cá phát triển
pH là một yếu tố môi trường quan trọng nó ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp lên tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá lóc pH thích hợp nhất của cá lóc
là từ 6,5 ÷ 8,0 nhưng chúng có thể sống ở pH cao hơn Theo Boyd (1998)[32] thì giới hạn pH thích hợp cho nuôi thủy sản trong khoảng 6,5 ÷ 9,0 Qua theo dõi biến động pH trong quá trình ương, pH trung bình giữa buổi sáng và buổi chiều 7,21 ÷ 7,35 (Bảng 3.1) Giá trị này được xem là phù hợp cho sinh trưởng và phát triển của các loài thủy sản (Boyd, 1998) [32]
Oxy hòa tan chủ yếu biến động theo ngày, buổi chiều thường cao hơn buổi sáng Nhiệt độ càng cao thì nồng độ oxy hòa tan càng giảm Nguyên nhân chủ yếu do quá trình quang hợp của thực vật thủy sinh Kết quả theo dõi hàm lượng oxy trong nước trong quá trình thí nghiệm cá Chuối hoa giống đạt trung bình giữa buổi sáng và buổi chiều trong khoảng 4,55 ÷ 4,82 mg/l Hàm lượng oxy hòa tan phù hợp với sự phát triển của cá
3.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống tích lũy của cá Chuối hoa ở các công thức thí nghiệm
Theo dõi ảnh hưởng của các công thức thức ăn đến tỷ lệ sống của cá Chuối hoa giai đoạn cá giống chúng tôi thu được các kết quả trên bảng 3.2
Bảng 3.2 Tỷ lệ sống tích lũy của cá chuối hoa (%)
15 88,58±2.33b 87,35±0,53b 83,33±0,93a
30 70,37±2,45a 67,90±4,28a 63,89±4,04a
45 60,80±1,42c 56,17±1,42b 52,47±1,41a
60 57,72±0,53c 53,09±0,53b 45,06±1,93a
Độ lệch chuẩn đ t sau dấu (±) Các giá trị trong c ng một hàng có số mũ là chữ
cái khác nhau thì có nghĩa khác biệt (p<0,05)
Trang 32Kết quả ở Bảng 3.2 cho thấy, sử dụng thức ăn là giun quế (TA1) trong thí nghiệm cho tỷ lệ sống cao nhất 57,72 ± 0,53 (%), tiếp đến nghiệm thức sử dụng thức ăn là cá tạp (TA2) trong thí nghiệm có tỷ lệ sống đạt 53,09 ± 0,53 (%), sử dụng thức ăn tổng hợp (TA3) trong thí nghiệm có tỷ lệ sống thấp nhất 45,06±1,93 (%)
Kết quả phân tích phương sai một nhân tố cho thấy tỷ lệ sống của cá ở các giai đoạn kiểm tra và khi kết thúc thí nghiệm có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
Trong quá trình theo dõi các thí nghiệm thức ăn cho thấy cá Chuối hoa sinh trưởng khá tốt, cá không bị bệnh trong suốt quá trình thí nghiệm Ở nghiệm thức sử dụng thức ăn tổng hợp (TA3) trong thí nghiệm có tỷ lệ sống thấp hơn hai nghiệm thức sử dụng thức ăn giun quế (TA1) và nghiệm thức sử dụng thức ăn là
cá tạp (TA2), vì có thể do thức ăn tổng hợp do mình tự phối trộn có thể có hàm lượng đạm thấp, mùi vị chưa phù hợp với tính ăn của cá Chuối hoa
Hình 3.2 Tỷ lệ sống (%) của cá Chuối hoa khi sử dụng các thức ăn khác nhau
Trang 333.3 Ảnh hưởng của thức ăn lên tốc độ tăng trưởng của cá Chuối hoa
(Channa maculata Lacépède, 1801) giai đoạn cá giống
3.3.1 Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng chiều dài toàn thân của cá Chuối hoa giống
Bảng 3.3 Tăng trưởng về chiều dài cá Chuối hoa ở các thức ăn thí nghiệm
Chiều dài trung bình cá thả (cm) 5,6±0,20a 5,6±0,20a 5,6±0,20a Chiều dài trung bình cá thu (cm) 10,767±0,012c
9,533±0,051b 8,633±0,065a DWGL (cm/ngày) 0,086±0,0c 0,066±0,0b 0,051±0,001aSGRL (%/ngày) 1,090±0,002c 0,887±0,009b 0,721±0,013a
Độ lệch chuẩn đ t sau dấu (±) Các giá trị trong c ng một hàng có số mũ là chữ
cái khác nhau thì có nghĩa khác biệt (p<0,05)
Cá Chuối hoa khi bố trí thí nghiệm có chiều dài trung bình là 5,6cm/ con sau 60 ngày thí nghiệm chiều dài đạt cao nhất ở công thức thức ăn 1 (10,767cm/ con) sau đó đến nghiêm thức TA2 (9,533cm/con) và thấp nhất là nghiệm thức TA3 (8,633cm/ con)
Về tăng trưởng tuyệt đối (cm/ngày) và tăng trưởng tương đối (%/ ngày) chiều dài cá khi kết thúc thí nghiệm đều cao nhất ở nghiệm thức TA1 (DWGL = 0,086 cm/ ngày; SGRL = 1,090%/ ngày), tiếp đến là TA2 (DWGL = 0,066cm/ ngày; SGRL SRG = 0,877%/ ngày) và thấp nhất là TA3 (DWGL = 0,051cm/ ngày; SGRL = 0,721%/ ngày)
Kết quả phân tích thống kê cho thấy chiều dài trung bình, tốc độ tăng trưởng bình quân ngày và tốc độ tăng trưởng đặc trưng của cá Chuối hoa sau 60 ngày có ý nghĩa về mặt thống kê (p<0,05) Như vậy, thức ăn có ảnh hưởng đến tăng trưởng về chiều dài thân của cá
Trang 343.3.1.1 Ảnh hưởng của thức ăn lên quá trình tăng trưởng tích lũy (cm) về chiều dài cá Chuối hoa giống
Cá Chuối hoa giai đoạn đưa vào ương nuôi có chiều dài trung bình là
5,6 ±0,20cm Các thí nghiệm được bố trí trong giai có kích thước là 2.7m3 cá bắt mồi và sinh trưởng bình thường Qua theo dõi ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng tích lũy của cá được ương nuôi với các công thức khác nhau và cho kết quả thể hiện qua Bảng 3.4 và Hình 3.3
Bảng 3.4 Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng tích lũy (cm) chiều dài toàn
thân của cá thí nghiệm
10,767cm; TA2 đạt 9,533cm và TA3 đạt 8,633cm