Ta có thể kể đến một số bài viết và công trình nghiên cứu khoa học về Nguyễn Minh Châu như: Nguyễn Minh Châu - tài năng và sáng tạo nghệ thuật, Nxb Văn hóa - Thông tin, 2001, Công trình
Trang 1
TRẦN VĂN LỰC
TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU
TỪ GÓC NHÌN CỦA LÍ THUYẾT DIỄN NGÔN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2015
Trang 2TRẦN VĂN LỰC
TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU
TỪ GÓC NHÌN CỦA LÍ THUYẾT DIỄN NGÔN
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60.22.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
TS LÊ THANH NGA
NGHỆ AN - 2015
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của luận văn 4
7 Cấu trúc của luận văn 5
Chương 1 LÍ THUYẾT CHUNG VỀ DIỄN NGÔN VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN MINH CHÂU 6
1.1 Khái niệm diễn ngôn và diễn ngôn trong nghiên cứu văn học 6
1.1.1 Khái niệm diễn ngôn 6
1.1.2 Diễn ngôn như một khái niệm của nghiên cứu ngôn ngữ học 8
1.1.3 Diễn ngôn như một phạm trù của tu từ học và thi pháp học 10
1.2 Tình hình giới thiệu, nghiên cứu diễn ngôn ở Việt Nam 12
1.2.1 Tình hình giới thiệu lí thuyết diễn ngôn ở Việt Nam 12
1.2.2 Tình hình vận dụng lí thuyết diễn ngôn trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam và định hướng nghiên cứu diễn ngôn truyện ngắn Nguyễn Minh Châu 20
1.3 Về tác giả Nguyễn Minh Châu 24
1.3.1 Nguyễn Minh Châu, vài nét về tiểu sử, con người 24
1.3.2 Nhìn chung về những sáng tác của Nguyễn Minh Châu trước 1975 29
1.3.3 Nhìn chung về những sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau 1975 30
Chương 2 DIỄN NGÔN TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU TRƯỚC 1975 33
2.1 Hoàn cảnh diễn ngôn truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trước 1975 33
2.1.1 Những quy ước của thời đại nhìn từ sự kiện lịch sử 33
2.1.2 Những quy ước của thời đại nhìn từ "mệnh lệnh" văn nghệ 34
2.1.3 Những quy ước của truyền thống văn học dân tộc 37
Trang 42.2.1 Mô tả hiện thực chiến tranh 39
2.2.2 Con người với ý thức công dân 44
2.2.3 Sự hiện diện của con người dân sự, thế sự (con người cá nhân, cá thể) 47
2.3 Những đặc điểm và khả năng (của sự) diễn giải các vấn đề trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trước 1975 51
2.3.1 Diễn giải các vấn đề bằng ngôn ngữ mang khuynh hướng sử thi 51
2.3.2 Diễn giải các vấn đề bằng ngôn ngữ mang màu sắc lãng mạn 56
2.3.3 Diễn giải các vấn đề bằng ngôn ngữ mang màu sắc thế sự 60
Chương 3 DIỄN NGÔN TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU SAU 1975 63
3.1 Hoàn cảnh diễn ngôn truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 63
3.1.1 Sự dịch chuyển quyền lực chính trị sang quyền lực thế sự, quyền lực quân sự sang quyền lực dân sự trong ý thức thời đại 63
3.1.2 Sự nới lỏng giám sát của quyền lực chính trị - quân sự của các "mệnh lệnh" từ lãnh đạo Đảng và các nhà quản lí văn nghệ và từ bản thân nhà văn 66
3.1.3 Sự khao khát đi tìm quyền lực mới như trả một món nợ tinh thần đối với văn học, với công chúng văn học 69
3.2 Những nội dung quyền lực dân sự và ý thức thế sự trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 72
3.2.1 Hướng đến các vấn đề rộng lớn của hiện thực - thế sự 72
3.2.2 Hướng đến các vấn đề của cá nhân - cá thể 76
3.2.3 Nhận thức mang màu sắc đối thoại với diễn ngôn chính trị 81
3.3 Đặc điểm chiến lược diễn giải của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 85
3.3.1 Sự mở rộng giới hạn của tự sự trên bình diện kết cấu cốt truyện 85
3.3.2 Sự đổi mới ngôn ngữ trần thuật 90
3.3.3 Sự đổi mới giọng điệu trần thuật 94
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1 Nguyễn Minh Châu thuộc số nhà văn tiêu biểu trong cả hai giai đoạn sáng tác trước và sau 1975 Nếu trước 1975, ông là tác giả của những tiểu thuyết, truyện ngắn góp phần quan trọng làm nên diện mạo của nền văn học “sử thi”, mà vẫn
khẳng định một cách rõ rệt dấu ấn, phong cách riêng, thì sau 1975, ông lại là “người
mở đường tài năng và tinh anh” của văn học Việt Nam đổi mới (phần in nghiêng là
chữ dùng của Nguyên Ngọc) Nghiên cứu sáng tác của Nguyễn Minh Châu là góp phần tiếp tục nhận diện nền văn học Việt Nam hiện đại
2 Khi nhắc đến Nguyễn Minh Châu trước 1975, người ta có thể nghĩ ngay đến một cây bút tiểu thuyết đẳng cấp, nhắc đến Nguyễn Minh Châu sau 1975, nhất là vào những thập niên 80 của thế kỉ trước, những thành tựu của ông lại nhỉnh hơn ở khu vực truyện ngắn Nhưng thực sự thì, trước 1975, những truyện ngắn của nhà văn này cũng thuộc loại rất đáng để đọc và suy ngẫm Tìm hiểu truyện ngắn của ông trong cái nhìn xuyên suốt về cả hai thời kì, không chỉ nhìn thấy sự vận động của phong cách truyện ngắn nhà văn, mà qua đó có thể có những nhận thức lí thú về tiến trình vận động của văn học Việt Nam nói chung, dù có khi chỉ là trên một vài phương diện
3 Trong chương trình phổ thông hiện nay, Nguyễn Minh Châu là tác giả quan trọng với hai tác phẩm (được viết trong hai giai đoạn trước và sau 1975) được đưa vào giảng dạy Tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sẽ góp phần hỗ trợ việc giảng dạy tác phẩm của nhà văn
4 Diễn ngôn là một lý thuyết cho đến nay còn khá mới mẻ ở Việt Nam Việc vận dụng lí thuyết này để nghiên cứu một trường hợp tiêu biểu, lí thú như Nguyễn Minh Châu có thể coi là một thử nghiệm, nếu thành công sẽ góp phần nhỏ trong việc giới thiệu nó, góp thêm một công cụ, nhằm làm rộng hơn con đường nghiên cứu văn học của chúng ta
2 Lịch sử vấn đề
Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu có giá trị cũng như nhiều luận văn, luận án, tìm hiểu sáng tác của Nguyễn Minh Châu trên cả hai thể loại tiểu
Trang 6thuyết và truyện ngắn Theo cuốn Nguyễn Minh Châu - về tác gia và tác phẩm, do
Mai Hương tuyển chọn và biên soạn, thư mục tài liệu nghiên cứu tác gia và tác phẩm đã có đến 150 bài viết và công trình ngiên cứu lớn nhỏ về ông
Ta có thể kể đến một số bài viết và công trình nghiên cứu khoa học về Nguyễn
Minh Châu như: Nguyễn Minh Châu - tài năng và sáng tạo nghệ thuật, Nxb Văn hóa
- Thông tin, 2001, Công trình nghiên cứu khoa học của Tôn Phương Lan về Phong
cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu, NXb Khoa học Xã hội, 2002, Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu - tác phẩm và lời bình, Nxb Văn học, 2007, Nguyễn Minh Châu
và công cuộc đổi mới văn học sau 1975, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, 2007, Nguyễn Minh Châu - tác phẩm và lời bình, Nxb Văn học, 2014… Trong số đó, ta
không thể không chú ý đến một số công trình như: Nguyễn Minh Châu - tài năng và
sáng tạo nghệ thuật, ở đây, Mai Hương đã tuyển chọn và giới thiệu 59 bài viết,
nghiên cứu, đánh giá về tác giả và tác phẩm Nguyễn Minh Châu Cuốn sách được chia làm bốn phần: phần một; Nguyễn Minh Châu phác thảo chân dung và sự nghiệp, phần hai; Nguyễn Minh Châu và nỗ lực cách tân “dũng cảm rất điềm đạm”, phần ba; Cảm nhận từ thế giới nghệ thuật đặc sắc của Nguyễn Minh Châu, phần bốn; Hồi nhớ
về Nguyễn Minh Châu Trong đó có một số bài viết như: “Nhớ về Nguyễn Minh Châu” (Nguyên Ngọc), “Nguyễn Minh châu hay định nghĩa về người viết văn” (Vương Trí Nhàn), Nguyễn Minh Châu và bài học đổi mới tư duy” (Lã Nguyên),
“Nguyễn Minh Châu và sự trăn trở của một ngòi bút đầy trách nhiệm” (Đinh Trí Dũng), “Nguyễn Minh Châu - một cây bút văn xuôi đầy triển vọng (Phan Cự Đệ)
“Cửa sông, một hình ảnh về quê hương ta trong chiến đấu” (Phong Lê) Công trình nghiên cứu về Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu, Tôn Phương Lan Đây
không phải là công trình nghiên cứu chuyện biệt về truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu nhưng rõ ràng để khái quát về phong cách nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu không thể không có truyện ngắn Trong công trình này, tác giả đã đi sâu vào tìm hiểu
tư tưởng nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Minh Châu, tìm hiểu hệ thống nhân vật cũng như nghệ thuật trần thuật, những đặc điểm ngôn ngữ và giọng điệu… từ đó khắc họa và khái quát những đặc điểm cơ bản về phong cách nghệ
Trang 7thuật của nhà văn Cuốn Nguyễn Minh Châu và công cuộc đổi mới văn học sau 1975,
người viết đã đặt vấn đề nghiên cứu sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu trong
sự vận động đổi mới của văn xuôi trong những năm đổi mới sau 1975 Từ đó người viết đã chỉ ra sự vận động và đổi mới trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu (trong
đó có truyện ngắn) trên ba phương diện:
- Thứ nhất; về quá trình đổi mới ý thức nghệ thuật mà trọng tâm là đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người, từ con người được thể hiện trên bình diện xã hội với những vận động xuôi chiều đến con người cá nhân trong quan hệ phức tạp của đời thường
- Thứ hai; Về thế giới nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu trước
1975 chủ yếu là nhân vật loại hình, sau 1975 có các dạng nhân vật tư tưởng, nhân vật tính cách, nhân vật thế sự Nghệ thuật xây dựng nhân vật cũng được đổi mới nhờ vào các thủ pháp tăng cường độc thoại nội tâm, khắc họa nhân vật qua các chi tiết ngoại hình sinh động
- Thứ ba; về đổi mới kết cấu nghệ thuật trần thuật, từ cốt truyện hành động bên ngoài chiếm ưu thế trong các sáng tác trước 1975 chuyển sang cốt truyện không
có biến cố trong các sáng tác sau 1975
Các bài viết, luận văn, luận án, các công trình nghiên cứu về Nguyễn Minh Châu nói chung và về truyện ngắn của ông nói riêng là rất nhiều và đã đi sâu vào tìm hiểu khám phá ở một số phương diện cụ thể Tuy nhiên, nghiên cứu truyện ngắn của ông từ góc nhìn của lí thuyết diễn ngôn là một vấn đề khá mới ở thời điểm hiện nay
Trong phạm vi của luận văn này, chúng tôi muốn vận dụng lí thuyết diễn ngôn để tìm hiểu về truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trước và sau 1975
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Vận dụng lí thuyết diễn ngôn nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Minh Châu thấy được những đặc điểm cơ bản trong sáng tác của nhà văn trong cả hai thời kì trước và sau 1975
Tìm hiểu sự quy định hay chi phối của điều kiện xã hội đến sự diễn ngôn văn học
Trang 83.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn hướng tới ba nhiệm vụ
3.2.1 Nghiên cứu các vấn đề lí thuyết về diễn ngôn, mô tả một cách khái quát hành trình sáng tạo của Nguyễn Minh Châu
3.2.2 Nghiên cứu tập trung vào diễn ngôn truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trước 1975
3.2.3 Nghiên cứu diễn ngôn truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là diễn ngôn truyện ngắn Nguyễn Minh Châu
4.2 Phạm vi khảo sát
Phạm vi khảo sát là truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trước 1975 và sau 1975,
chủ yếu tập trung ở tập truyện ngắn Những vùng trời khác nhau, Nhà xuất bản Văn học, 1970 và Tuyển tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Văn học Hà Nội, 2009
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thống kê, phân loại
5.2 Phương pháp so sánh, đối chiếu
5.3 Phương pháp loại hình
6 Đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần nhỏ vào việc nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Minh Châu dưới góc nhìn diễn ngôn văn học
- Thấy được sự tiếp nối và sáng tạo của Nguyễn Minh Châu trong hai giai đoạn sáng tác trước và sau 1975 để từ đó thấy được những đóng góp của Nguyễn Minh Châu cho nền văn học nước nhà
- Từ góc nhìn của lí thuyết diễn ngôn, luận văn sẽ gợi ý thêm một cách đọc - hiểu truyện ngắn nói chung và truyện ngắn Nguyễn Minh Châu nói riêng
- Kết quả của luận văn có thể vận dụng thêm vào việc giảng dạy truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu ở trường phổ thông
- Có thể làm tài liệu tham khảo cho giáo viên, học sinh khi tìm hiểu về Nguyễn Minh Châu và truyện ngắn của ông
Trang 97 Cấu trúc của luận văn
Trên cơ sở nhiệm vụ, mục đích nghiên cứu đã đề ra, luận văn được triển khai thành 3 chương
Chương 1 Những vấn đề chung
Chương 2 Diễn ngôn truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trước 1975
Chương 3 Diễn ngôn truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975
Trang 10Chương 1
LÍ THUYẾT CHUNG VỀ DIỄN NGÔN VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC
CỦA NGUYỄN MINH CHÂU
1.1 Khái niệm diễn ngôn và diễn ngôn trong nghiên cứu văn học
1.1.1 Khái niệm diễn ngôn
Thuật ngữ diễn ngôn được dùng ngày nay có nguồn gốc từ châu Âu, được
dịch từ thuật ngữ Discourse “Theo tác giả Diệp Quang Ban trong cuốn Giao tiếp
diễn ngôn và cấu tạo văn bản, nhà ngôn ngữ học người Bỉ E.Buysen là người đầu
tiên sử dụng discourse như một khái niệm chuyên môn trong tác phẩm Hoạt động
nói năng và văn bản (1943) Từ những năm sáu mươi của thế kỉ XX, nghiên cứu
diễn ngôn (hay còn gọi là phân tích diễn ngôn) trở thành một trào lưu khoa học phát triển rầm rộ ở châu Âu và diễn ngôn trở thành một khái niệm trung tâm, được lưu hành rộng rãi trong khoa học xã hội và nhân văn” [58] Tuy nhiên, cho đến nay, khái niệm diễn ngôn vẫn chưa có sự thống nhất rõ ràng về cách hiểu
Trần Đình Sử trong "Khái niệm diễn ngôn" đã nói: “Trong thời gian gần đây trong nghiên cứu văn học, xã hội học, khái niệm diễn ngôn đã được sử dụng nhiều, song nhìn kĩ các tài liệu tiếng Việt khi sử dụng khái niệm này hiện còn có phần lúng túng” Và tác giả bài viết đã đưa ra sáu nội dung cơ bản của khái niệm diễn ngôn
1 Hiểu tổng quát, diễn ngôn là thực tiễn giao tiếp của con người trong xã hội Nhấn mạnh thực tiễn giao tiếp xã hội để phân biệt với lời nói cá nhân Mọi lời nói cá nhân đều phụ thuộc vào diễn ngôn xã hội Hoạt động diễn ngôn xã hội thể hiện một trạng thái ngôn ngữ, tri thức, quyền lực trong xã hội của diễn ngôn đó mà các cá nhân đều phụ thuộc vào
2 Diễn ngôn là cách nói năng, phương thức biểu đạt về con người, thế giới,
về các sự việc trong đời sống Diễn ngôn biểu hiện thành hình thức ngôn ngữ, như các cuộc thảo luận, tranh tụng, phát biểu, diễn thuyết, diễn đạt thành khái niệm, cụm
từ, hệ thống các từ ngữ, các thuật ngữ, phạm trù, các từ then chốt, thể hiện hệ thống tri thức thịnh hành, chân lí phổ biến trong xã hội Do đó nghiên cứu diễn ngôn là
Trang 11nghiên cứu ngôn ngữ Nhưng diễn ngôn không phải là cách nói thế nào trong tương quan với nói cái gì, không phải là hình thức Diễn ngôn là hiện tượng tư tưởng Diễn ngôn không phải là công cụ diễn đạt, mà là bản thể tư tưởng, bản thân tư tưởng, mọi tư tưởng đều biểu hiện thành diễn ngôn Diễn ngôn là điều kiện tồn tại của tư tưởng Do đó nghiên cứu diễn ngôn chính là nghiên cứu tư tưởng
3 Chức năng của diễn ngôn là kiến tạo bức tranh thế giới bằng ngôn ngữ, là gọi tên các sự vật, hiện tượng, là thực tiễn giao tiếp diễn ngôn cũng không phải tiếp cận thế giới theo lối nhận thức luận, xem con người có khả năng nhận thức chân lí như thế nào Chức năng diễn ngôn là kiến tạo sự thật, chân lí Ví dụ diễn ngôn tòa
án là dựa vào tri thức luật pháp, hồ sơ để kiến tạo nên tội của phạm nhân để khép vào hình phạt, mặc dù có thể đúng, có thể oan, sai, có thể giảm nhẹ cho đối tượng nào đó Đó là chân lí của tòa Ví dụ diễn ngôn phê bình là kiến tạo nên giá trị hay tội lỗi của một cuốn sách nào đó, dựa vào nghị quyết hay pháp luật hay vào lí thuyết nào đó, còn chuyện sách ấy có giá trị thế nào là việc khác Diễn ngôn văn học, chính trị, triết học, pháp luật, tôn giáo, đạo đức, mĩ học…đều như thế
4 Diễn ngôn kiến tạo bức tranh thế giới, sự thật, chân lí theo các quy tắc, cơ chế của nó, ví như thẩm quyền của chủ thể, của ngữ cảnh, của quan hệ giao tiếp, của chiến lược, trật tự nhất định Dựa vào quyền lực nó có thể là áp đặt, cưỡng bức, bắt học tập, cải tạo, có thể trao đổi, đối thoại, hoặc có thể trình bày, giải thích để tiếp nhận Diễn ngôn có thể vẽ ra một bức tranh rất xấu, đen tối về một đối tượng và bức tranh tươi sáng về đối tượng khác Có cái cho phép nói, có cái lại cấm đoán, không khuyến khích, có cái lại chủ trương Vì thế nghiên cứu diễn ngôn là nghiên cứu các
cơ chế kiến tạo đó
5 Diễn ngôn là hiện tượng giao tiếp cho nên nó là tiếng nói của một chủ thể quyền lực trong xã hội ấy, là ngôn ngữ của kẻ chiếm địa vị thống trị về tư tưởng Các chủ thể diễn ngôn do địa vị khác nhau mà có trật tự diễn ngôn khác nhau, để thuyết phục họ có chiến lược diễn ngôn khác nhau, từ tuyên bố, ra lệnh, cho đến đối thoại, trao đổi hay trình bày, diễn giải quan điểm của mình Như thế nghiên cứu diễn ngôn là đi tìm xem các chủ thể xã hội đứng đằng sau diễn ngôn, xem đó là tiếng nói của ai, vào thời điểm nào
Trang 126 Diễn ngôn là hiện tượng siêu văn bản, liên văn bản, nó thể hiện trong các văn bản nhưng không đồng nhất với văn bản, không giới hạn trong các văn bản Nó gắn với chủ thể diễn ngôn, song không có tác giả cụ thể Diễn ngôn là hiện tượng xã hội, có tính chỉnh thể, tính liên tục, tính thống nhất, tính hệ thống Nó gắn với ý thức hệ xã hội, người ta có thể dùng ý thức hệ để gọi tên diễn ngôn: diễn ngôn tư sản, vô sản, diễn ngôn mác xít, diễn ngôn hiện đại, hậu hiện đại Nó cũng gắn với các lĩnh vực tri thức, cho nên có thể lấy lĩnh vực tri thức mà gọi tên nó: ví dụ diễn ngôn văn học, diễn ngôn vật lí, diễn ngôn thi ca, diễn ngôn tính dục Diễn ngôn do
đó có tính chỉnh thể hữu hạn Do đó nghiên cứu diễn ngôn không thoát li văn bản cụ thể, nhưng không giới hạn trong bất cứ văn bản nào, bởi tính liên văn bản của nó, không câu nệ vào văn bản cụ thể, mà hướng đến khái quát các cơ chế chung trong việc kiến tạo nên diễn ngôn
1.1.2 Diễn ngôn như một khái niệm của nghiên cứu ngôn ngữ học
Nền tảng của hướng tiếp cận ngôn ngữ học về diễn ngôn là những luận điểm
của F.de Saussure trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương Trong công trình này,
Saussure phân biệt ngôn ngữ và lời nói Ngôn ngữ là một hệ thống, một kết cấu tinh thần trừu tượng, khái quát trong khi lời nói là sự vận dụng ngôn ngữ trong những hoàn cảnh cụ thể, bởi các cá nhân cụ thể Ngôn ngữ là bản thể xã hội, thuộc về cộng đồng trong khi lời nói thuộc về cá nhân Ngôn ngữ là những cấu trúc tiên nghiệm và bất biến trong khi lời nói là bình diện sinh thành Ông chỉ ra đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học là ngôn ngữ, sản phẩm của xã hội kết đọng lại trong óc mỗi người chứ không phải là lời nói
Sự đối lập lời nói/ ngôn ngữ trong quan điểm của Saussure đã làm nền tảng cho sự phân biệt giữa diễn ngôn và văn bản Văn bản là cấu trúc ngôn ngữ mang tính chất tĩnh, còn diễn ngôn là cấu trúc lời nói mang tính động David Crystal cho rằng “Phân tích diễn ngôn tập trung vào cấu trúc của ngôn ngữ nói xuất hiện một cách tự nhiên trong các diễn ngôn như lời đàm thoại, phỏng vấn, bình luận và lời nói Phân tích văn bản tập trung vào các cấu trúc của ngôn ngữ viết, trong các văn bản như tiểu luận, thông báo, biển chỉ đường và các chương sách” [58]
Trang 13Michael Stubbs (1983) phân biệt: “một văn bản có thể được viết ra, trong khi một diễn ngôn có thể được nói ra, một văn bản có thể được tương tác trong khi một diễn ngôn thì không tương tác”
Trong Diễn ngôn tự sự (Narrative discourse), trên cơ sở phân biệt discourse
và story, G.Gennette cho rằng diễn ngôn tự sự là cách thức trình bày một câu
chuyện Tác giả đã phân chia diễn ngôn tự sự thành các phạm trù ngữ pháp như: thời, thức, và giọng Trong đó, thời và thức nằm ở cấp độ mối quan hệ giữa câu chuyện và diễn ngôn tự sự, giọng chỉ ra mối quan hệ giữa hoạt động kể và diễn ngôn tự sự, giữa hoạt động kể và câu chuyện Gennette đã dùng những phạm trù
ngữ pháp này để phân tích cấu trúc tự sự của Đi tìm thời gian đã mất của M.Proust
Cũng trong giai đoạn này, khái niệm diễn ngôn bắt đầu được sử dụng rộng rãi và đặc biệt trở thành một khái niệm trung tâm trong trường phái Phân tích diễn ngôn (hay còn gọi là nghiên cứu diễn ngôn), một hướng nghiên cứu có phạm vi và ảnh hưởng rất rộng rãi, bao trùm rất nhiều lĩnh vực như ngôn ngữ học, xã hội học, tâm lí xã hội học, nghiên cứu văn học…
Theo Diệp Quang Ban, “trong cách hiểu ngắn gọn nhất, phân tích diễn ngôn
là một cách tiếp cận phương pháp luận đối với việc phân tích ngôn ngữ bên trên bậc câu, gồm các tiêu chuẩn như tính kết nối, hiện tượng hồi chiếu… Hiểu một cách cụ thể hơn thì Phân tích diễn ngôn là đường hướng tiếp cận tài liệu ngôn ngữ nói và viết bậc trên câu (diễn ngôn/văn bản) từ tính đa diện hiện thực của nó, bao gồm các mặt ngôn từ và ngữ cảnh tình huống, với các mặt hữu quan thể hiện trong khái niệm ngôn vực mà nội dung hết sức phong phú đa dạng” [58]
Nếu như ngữ pháp văn bản chuyên nghiên cứu văn bản một cách biệt lập, hoàn toàn tách rời khỏi ngữ cảnh thì phân tích diễn ngôn nhằm làm nổi bật mối quan hệ chặt chẽ giữa kết cấu ngôn từ bên trong văn bản với những yếu tố ngoài văn bản (hay còn gọi là ngôn vực) Các yếu tố này bao gồm trường (field) (hoàn cảnh bao quanh diễn ngôn), thức (mode) (vai trò của ngôn ngữ trong tình huống), không khí chung (tennor) (các vai xã hội trong giao tiếp)
Trong giai đoạn này, chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi ngôn ngữ học Saussure và chủ nghĩa cấu trúc, các nhà nghiên cứu văn học và ngôn ngữ tập trung vào khám
Trang 14phá cấu trúc tĩnh tại, bất biến của các diễn ngôn và văn bản Tư tưởng này đã loại trừ tất cả thuộc tính ngẫu nhiên, cá thể của lời nói, chỉ chú ý đến phương diện ổn định, bất biến của ngôn ngữ như một bản thể xã hội Và đối tượng hướng tới của các nhà nghiên cứu không phải là những văn bản/ diễn ngôn cụ thể, mà họ chỉ coi
đó là chất liệu, thông qua việc phân tích các văn bản/ diễn ngôn cụ thể như Câu
chuyện mười ngày, Đi tìm thời gian đã mất, họ cố gắng chỉ ra những cấu trúc khái
quát, những thuộc tính bản chất của văn học nói chung Mỗi nhà nghiên cứu đều
cố gắng tìm ra một mô hình phi thời gian cho các văn bản, theo những cách thức khác nhau
1.1.3 Diễn ngôn như một phạm trù của tu từ học và thi pháp học
Theo Bakhtin, ngôn ngữ khác với diễn ngôn, trong từ điển, ngôn ngữ là thuần tuý công cụ, không có tác giả, không có người đọc, tự thân cũng không có ý nghĩa Còn diễn ngôn thì khác, nó gần với khái niệm tekst, vừa có tác giả, có ý nghĩa, có người đọc
Trong thiên Diễn ngôn của tiểu thuyết, mở đầu Bakhtin viết: “ý chính của
tôi là khắc phục quan niệm trừu tượng về ngôn ngữ của phái hình thức chủ nghĩa tách rời ngôn ngữ khỏi tư tưởng, hình thức và nội dung thống nhất trong ngôn ngữ, mà ngôn ngữ này vì cần được hiểu là một hiện tượng xã hội, mà mọi hoạt động của nó, mọi thành tố của nó, từ thanh âm đến ý nghĩa trừu tượng, đều mang tính xã hội” [78] Cái ngôn ngữ có sự thống nhất nội dung và hình thức ấy thực chất là diễn ngôn Đối với Bakhtin, diễn ngôn không phải là ngôn ngữ, cả hai có thể chỉ là một đối tượng, nhưng nội hàm khác nhau, nền tảng tư tưởng khác nhau Ngôn ngữ là đối tượng của ngôn ngữ học truyền thống, còn diễn ngôn là đối tượng của khoa học xã hội nhân văn, trong ngôn ngữ học truyền thống, ngôn ngữ là hình thức, công cụ, tư tưởng là nội dung, có thể độc lập với hình thưc, còn diễn ngôn thì khác, nó là ngôn ngữ có tư tuởng, có tính hoạt động xã hội, tức tính thực tiễn Trong lí luận diễn ngôn nội dung và hình thức cùng quan hệ của chúng như cách hiểu truyền thống không còn có ý nghĩa nữa, cũng tức là nói chúng ta không thể nào phân biệt nội dung và hình thức của diễn ngôn, nội dung của diễn ngôn, tức là hình thức, hình thức tức là nội dung, từ đây chúng ta không chỉ nhìn thấy quan
Trang 15điểm cơ bản của Bakhtin về diễn ngôn, mà còn nhìn thấy con đường cơ bản để nghiên cứu diễn ngôn nữa
Trong Những vấn đề thi pháp Dostoievski ông có một chương chuyên nghiên cứu ngôn ngữ của Dostoievski gọi là “Slovo trong tiểu thuyết của Đostoievski” được dịch là “Lời văn trong tiểu thuyết của Dostoievski” Sách Trung Quốc dịch tên chương này là Diễn ngôn trong tiểu thuyết của Dostoievski Mở đầu chương ông đã
tuyên bố, “Ngôn ngữ của Dostoievski chỉ cái chỉnh thể ngôn ngữ sống động, cụ thể, chứ không phải cái ngôn ngữ như đối tượng nghiên cứu chuyên biệt của ngôn ngữ học, cái gọi là chỉnh thể ngôn ngữ mà Bakhtin hay dùng, thực chất là diễn ngôn
Trong bài Ngôn ngữ của tiểu thuyết ông đã dùng ngoặc đơn để chua thêm nội dung
của nó [78]
Trong lời nói đầu công trình nghiên cứu tiểu thuyết của Dostoievski, Bakhtin viết: “Cuốn sách này chỉ xem xét sáng tác nhà văn dưới góc độ thi pháp”, như vậy, diễn ngôn theo ông nằm trong thi pháp học Diễn ngôn đây là “hình thức nghệ thuật”, là “hình thức tư duy”, “kiểu tư duy”, mấy từ đó có nghĩa như là chiến lược phát ngôn của nhà văn, một phương diện, theo Bakhtin là “hoàn toàn chưa được khám phá” Trong công trình này Bakhtin không nghiên cứu riêng lẻ từng tác phẩm của Dostoievski, tức là không nghiên cứu từng văn bản Diễn ngôn thể hiện trong văn bản nhưng là siêu văn bản
Vì thế ông lưu ý đến tính chất chỉnh thể của thể loại, chỉnh thể của nhà văn như là một chủ thể phát ngôn Ngoại trừ chương I có nội dung phê phán các công trình nghiên cứ của người đi trước, bắt đầu từ chương II trở đi, ông nghiên cứu một diễn ngôn mới trong tiểu thuyết của Dostoievski là diễn ngôn phức điệu (đa thanh,
có người dịch là đa âm) Chương “Nhân vật và lập trường tác giả đối với nhân vật trong sáng tác của Dostoievski” Nhan đề của chương gợi nhớ đến nhan đề công
trình Tác giả và nhân vật trong hoạt động thẩm mĩ, trong đó tác giả là một kiểu chủ
thể tư duy thẩm mĩ Khái niệm “lập trường tác giả” là một khái niệm mới nhằm chỉ một phương châm, chiến lược phát ngôn để làm mới tiểu thuyết Một là xây dựng tiểu thuyết phức điệu, đối lập lại tiểu thuyết độc thoại; Tác giả không còn là chúa tể
Trang 16quy định tư tưởng tác phẩm mà nhân vật chỉ hoạt động theo ý đồ tác giả Hai là nhân vật là các ý thức độc lập, luôn giữ cho mình tiếng nói cuối cùng Ngôn ngữ tiểu thuyết là đa ngữ và đối thoại, mà tác giả đã mô tả thành nhiều hình thức đối thoại đa giọng, từ việc đối thoại, nửa trực tiếp đến giễu nhại, nghiêm túc buồn cười, các navan, nghịch dị Xét ra, các nguyên tắc thi pháp của Dostoievski chính là các quy tắc diễn ngôn để ông thoát ra khỏi hình thức độc thoại ngự trị lâu dài trong tiểu thuyết cổ điển Diễn ngôn mới của Dostoievski tiềm ẩn trong tiểu thuyết của ông, giới phê bình văn học do chưa có ý thức về diễn ngôn, chưa có quan niệm về tính đối thoại, cho nên không phát hiện ra được nguyên tắc đối thoại đó Khái niệm diễn ngôn giúp ta hiểu đúng thực chất cách nghiên cứu thi pháp của Bakhtin Đó không phải là hình thức thông thường, không phải lối tư duy nghệ thuật thông thường, mà
là hình thức vượt lên hình thức đã có, vượt qua kiểu tư duy đã có Có thể nói đó là ý nghĩa đích thực của nghiên cứu thi pháp và phong cách học, tu từ học
1.2 Tình hình giới thiệu, nghiên cứu diễn ngôn ở Việt Nam
1.2.1 Tình hình giới thiệu lí thuyết diễn ngôn ở Việt Nam
Trong cuốn Discourse, tác giả Sara Mills cho rằng diễn ngôn là thuật ngữ
“có phạm vi nghĩa khả hữu rộng nhất so với bất cứ thuật ngữ nào khác thuộc lí luận văn học và văn hóa”
Người đầu tiên sử dụng discourse như một khái niệm chuyên môn trong tác
phẩm Hoạt động nói năng và văn bản (1943) Khái niệm diễn ngôn cũng đã manh nha hình thành khá sớm T.A.Vandijk, trong Handbook of Language and Social
Psychology (Cẩm nang ngôn ngữ và tâm lí xã hội) cho rằng: “Mặc dù có nguồn gốc
từ khoảng 2000 năm của thuật hùng biện, phân tích diễn ngôn như một ngành độc lập trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn đã nổi lên kể từ giữa những năm 1960”
Sau thời kì thống trị của cấu trúc luận, nó lại xuất hiện với những hàm nghĩa mới trong các công trình nghiên cứu hậu cấu trúc và giải cấu trúc của M.Foucault, J.Derrida, R.Barthes… Ngày nay, diễn ngôn trở thành một thuật ngữ quan trọng trong các công trình nghiên cứu của các trường phái Phân tích diễn ngôn phê phán, chủ nghĩa Hậu hiện đại, chủ nghĩa Thuộc địa và Hậu thuộc địa, Lý luận nữ quyền,
Trang 17chủ nghĩa Tân duy sử… Trải qua quá trình phát triển lâu dài, diễn ngôn liên tục được sử dụng trong những bối cảnh mới và được bồi đắp thêm những nét nghĩa mới Điều này khiến cho nghĩa gốc của nó trở nên nhòe mờ, những nét nghĩa khái quát bị che khuất, và các nét nghĩa thứ sinh lại đan bện chồng chéo, khó phân tách
Ở Việt Nam, vấn đề diễn ngôn được giới thiệu sớm nhất trong lĩnh vực ngôn
ngữ học Có thể kể tên các công trình như: Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt của Trần Ngọc Thêm (1985), Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Giao tiếp diễn ngôn và
cấu tạo văn bản của Diệp Quang Ban (1998, 2009), Dụng học Việt ngữ của Nguyễn
Thiện Giáp (2000), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2 của Đỗ Hữu Châu (2001), Phân
tích diễn ngôn - một số vấn đề lí luận và phương pháp của Nguyễn Hoà (2003), Từ điển tu từ - phong cách - thi pháp học của Nguyễn Thái Hoà (2005).v.v
Khi xem xét lịch sử sử dụng thuật ngữ diễn ngôn ở ta, không thể không nhắc tới một số công trình nghiên cứu về diễn ngôn của nước ngoài được dịch sang tiếng Việt, xuất hiện gần như đồng thời với những công trình biên soạn và nghiên cứu về
diễn ngôn của các nhà ngôn ngữ học trong nước, như: Dụng học, một số dẫn luận
nghiên cứu ngôn ngữ của George Yule (Hồng Nhâm, Trúc Thanh, Ái Nguyên dịch,
1997); Dẫn nhập phân tích diễn ngôn của David Nunan (Hồ Mỹ Huyền, Trúc Thanh dịch, 1998); Phân tích diễn ngôn của Gillian Brown, George Yule (Trần Thuần dịch, 2002), Dẫn luận ngữ pháp chức năng của Mark Halliday (Hoàng Văn
Vân dịch, 2004).v.v Có thể nói rằng, những bước phát triển về nghiên cứu diễn ngôn của ta có được chính là một phần dựa trên sự tham chiếu những công trình như trên
Trong nghiên cứu văn học, các nhà nghiên cứu Việt Nam bắt đầu đến với lí thuyết diễn ngôn thông qua tìm hiểu những công trình của các nhà nghiên cứu văn
học nước ngoài như: Những vấn đề thi pháp Doxtoievxki và Lí luận và thi pháp tiểu
thuyết của M.Bakhtin (1993), Độ không của lối viết của R.Barthes (1997), Văn học hậu hiện đại thế giới, những vấn đề lí thuyết (2003), Các khái niệm và các thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kì thế kỉ XX của
I.P.Lin (2003), Logic học về các vấn đề thể loại văn học của Kate Hambuger
Trang 18(2004), Thi pháp văn xuôi (2004) của Tz.Todorov, Bản mệnh lí thuyết của A.Compagnon (2006), Nhập môn Foucault của L.A.Fillingham, M.Susser (2006),
Dẫn luận về văn chương kì ảo của Tz.Todorov (2006), Thi học và ngữ học của
R.Jakobson (2008), Những huyền thoại của R.Barthes (2008).v.v Thông qua việc
dịch và giới thiệu những công trình như vậy, nhận thức về nghiên cứu diễn ngôn văn học ngày càng được bồi đắp thêm
Trên cơ sở tìm hiểu các công trình của nước ngoài bàn về diễn ngôn và diễn ngôn văn học như đã nêu ở trên, các nhà nghiên cứu văn học ở Việt Nam đã có những phân tích, trao đổi, bàn luận về việc hiểu khái niệm diễn ngôn, lí thuyết diễn ngôn, từ đó vận dụng lí thuyết này vào phân tích các hiện tượng văn học
Trong bài viết Bản chất xã hội thẩm mĩ của ngôn từ văn học của học giả
Trần Đình Sử (2004), khi giới thiệu M.Foucault với bình diện nghiên cứu mới về
“discourse” (Trần Đình Sử dịch là ngôn từ, nhưng nội hàm khái niệm được xác định ở đây tương đương khái niệm diễn ngôn), tác giả đã nêu những luận điểm được coi là cốt lõi nhất trong lí thuyết diễn ngôn của M.Foucault như: “ngôn từ là hoạt động thực tiễn chủ yếu của con người, là hình thức biểu hiện ngôn ngữ của một quần thể người trong một điều kiện xã hội, lịch sử nhất định”, “cơ chế thầm kín chi phối quá trình biểu đạt ý nghĩa của ngôn từ đó là hình thái xã hội, trạng thái tri thức của con người và cơ chế quyền lực trong xã hội” Từ hiểu biết này, chúng ta nhận ra rằng, khi coi mỗi tác phẩm văn học là một diễn ngôn, thì để hiểu diễn ngôn ấy, một trong những việc chúng ta cần thực hiện là phải tìm hiểu những yếu tố đã chi phối
sự biểu đạt của tác phẩm Cũng trong bài viết vừa nêu, trên cơ sở giới thiệu, phân tích quan niệm của M.Bakhtin và M.Foucault về diễn ngôn, Trần Đình Sử chỉ ra con đường hợp lí để tìm hiểu ngôn từ văn học là phải xuất phát từ sự thống nhất giữa ngôn từ và ý thức Và chỉ dẫn này giúp chúng ta hiểu rõ hơn thao tác cần thực hiện khi nghiên cứu văn học từ góc độ diễn ngôn
Năm 2008, trong bài viết Những bậc tiên phong của tư duy hậu hiện đại nhà
nghiên cứu Phương Lựu đã giới thiệu và chỉ ra “một số vấn đề trọng điểm” trong quan niệm về diễn ngôn của M.Foucault: tri thức, quyền lực, trách nhiệm Tri thức
Trang 19hệ hình tri thức là “nhận thức chung của cộng đồng” trong một thời đại nhất định
“Hệ hình tri thức là cái gì gần như vô thức bao trùm lên từng thời đại, khiến cho cùng một hiện tượng lại được nhận biết rất khác nhau qua từng thời đại” Tri thức luôn gắn bó chặt chẽ với quyền lực - “Cái gọi là chân lý tuyệt đối chẳng qua là được quyết định bởi địa vị quyền uy cùng hình thái ý thức đại diện cho nó”.“Cùng với tri thức và quyền lực, trách nhiệm cũng là một trọng điểm nghiền ngẫm và suy tư của M.Foucault” “Nếu tri thức là hư cấu của từ ngữ, quyền lực là hư cấu của sự vật, thì trách nhiệm là hư cấu của chủ thể” Và “mặc dù trong từng lúc có thể đột xuất lên một khía cạnh nào đó, nhưng xét trong cả quá trình nghiên cứu bất kỳ vấn đề gì thì
tư duy của M.Foucault đều được song hành bởi ba phương diện đó” Với việc giới thiệu và diễn giải ngắn gọn, sáng rõ ba vấn đề trọng yếu trong hệ thống lí thuyết của M.Foucault, tác giả Phương Lựu không chỉ cho chúng ta thấy rõ vai trò tiên phong của M.Foucault (cùng với J.Lacan) đối với sự hình thành và phát triển của tư duy hậu hiện đại, mà còn cho chúng ta hiểu rõ hơn quan niệm rất sâu sắc của M.Foucault về diễn ngôn
Năm 2009, tác giả Lã Nguyên, trong bài viết Chủ nghĩa hậu hiện đại như
một hệ hình thế giới quan, đã bàn về một số “luận điểm nòng cốt” trong hệ hình thế
giới quan của chủ nghĩa hậu hiện đại, mà “văn hóa là một hệ thống kí hiệu” và “thế giới là một văn bản” là hai luận điểm rất đáng chú ý với người nghiên cứu diễn ngôn Trước hết, văn hóa là một hệ thống kí hiệu “Ngôn ngữ, tư duy ngôn ngữ, hoạt động của con người như một “thực tại diễn ngôn” luôn luôn là vấn đề trung tâm thu hút sự chú ý của chủ nghĩa hậu hiện đại Tuy có bất đồng trong tiểu tiết, nhưng về đại thể, các lí luận gia của chủ nghĩa hậu hiện đại đều nhất trí cho rằng, chính ngôn ngữ quyết định tư duy và mọi hoạt động đời sống Chính ngôn ngữ chi phối người nói, chứ không phải người nói điều khiển ngôn ngữ” Và “sự hiểu biết của chúng ta về thế giới chỉ có thể đạt được trong ngôn ngữ và bằng ngôn ngữ Sự hiểu biết ấy không phải là sản phẩm của “thế giới như nó vốn có”, mà là kết quả của “lịch sử các văn bản” Thứ hai, thế giới là một văn bản “Với chủ nghĩa hậu hiện đại, cái được gọi là hiện thực khách quan chẳng qua là một văn bản, một diễn
Trang 20ngôn, một “câu chuyện” “Văn hoá - của thời nào cũng thế - là tổng số của các văn bản, hoặc liên văn bản Phải đặt vào “trường diễn ngôn của văn hoá” mới có thể hiểu được các văn bản “Theo Foucault, mỗi thời đại bao giờ cũng chỉ có một hệ thống tri thức duy nhất được tạo ra bởi hoạt động diễn ngôn của các khoa học khác nhau Ông gọi hệ thống tri thức được tạo ra bởi hoạt động ngôn ngữ như thế là
“épistémè”, tạm dịch là “trường” (hoặc “không gian”) tri thức thời đại” “Trường tri thức thời đại” chính là chuẩn mực làm thành bộ “mã ngôn ngữ” Nó tự động chi phối và điều chỉnh từ trong nội tại cách thức hành ngôn và tư duy của cá nhân Nó vừa bị lệ thuộc vào cấu trúc nội tại của các tương quan quyền lực, vừa hoạt động giống như một kiểu “diễn ngôn toàn trị”, một sức mạnh áp đặt hợp thức Cho nên,
“trường tri thức thời đại” không thể mang tính khách quan, trung tính Những diễn giải như vậy tiếp tục bồi đắp cho chúng ta hiểu biết về diễn ngôn, đồng thời gợi ý cho việc xác lập vấn đề nghiên cứu khi tìm hiểu diễn ngôn văn học
Năm 2013, trong bài viết “Khái niệm diễn ngôn trong nghiên cứu văn học
hôm nay”, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã trình bày ngắn gọn, khái quát các vấn
đề cơ bản của nghiên cứu diễn ngôn: nội hàm khái niệm và nguyên nhân nảy sinh vấn đề diễn ngôn Theo tác giả, “Một thuật ngữ mới chỉ xuất hiện khi nào phát hiện chỗ khiếm khuyết trong hệ hình tiếp cận cũ” [78] Việc F de Sausure đối lập ngôn ngữ với lời nói, chỉ nghiên cứu ngôn ngữ - hệ thống các nguyên tắc chi phối việc sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng, cú pháp đã bỏ ngỏ phạm vi lời nói và đây là cơ sở để các nhà ngữ học sau F de Sausure mở ra lĩnh vực nghiên cứu
mới có tên gọi phân tích diễn ngôn Theo tác giả Khái niệm diễn ngôn trong nghiên
cứu văn học hôm nay, về cơ bản, có ba hướng nghiên cứu diễn ngôn trên thế giới:
hướng nghiên cứu diễn ngôn trong ngôn ngữ học, nghiên cứu diễn ngôn trong văn học và nghiên cứu diễn ngôn theo hướng xã hội học, lịch sử tư tưởng Ở mỗi hướng nghiên cứu, tác giả đã xác định những đại diện tiêu biểu và chỉ ra những luận điểm
cơ bản về lí thuyết diễn ngôn của từng hướng Theo chúng tôi, đây là một công trình tổng thuật có giá trị về nghiên cứu diễn ngôn, giúp người đọc có ý niệm cơ bản về tình hình nghiên cứu diễn ngôn trên thế giới
Trang 21Cũng năm 2013, trong “Diễn ngôn”: Xung quanh chuyện từ dùng và thuật
ngữ đối ứng, Lê Thời Tân đã cho ta ý niệm rõ hơn về thuật ngữ diễn ngôn Tác giả
bài viết này chỉ ra sự tương đồng và khác biệt trong nghiên cứu diễn ngôn của các nhà tự sự học như R.Barthes, Tz.Todorov, G.Genette với các nhà ngôn ngữ học Tiếp nối tinh thần của các nhà ngôn ngữ học cấu trúc luận, các nhà tự sự học này gạt qua một bên câu chuyện lời nói để nghiên cứu sáng tác tự sự dưới góc nhìn ngữ pháp học cấu trúc luận, tức là đã “văn bản hóa” sáng tác nghệ thuật ngôn từ truyện
kể để tiếp cận nó theo cách mà F.de Saussure xưa kia từng dùng tiếp cận ngôn ngữ; tuy nhiên, “không gian” nghiên cứu của các nhà tự sự học cấu trúc luận hoàn toàn khác biệt với khu vực nghiên cứu của các nhà ngữ học Trên thực tế, các đại biểu R.Barthes, Tz.Todorov, G.Genette không phải là những nhà ngôn ngữ học thực sự
mà là những người vận dụng tinh thần ngôn ngữ học cấu trúc luận vào nghiên cứu văn bản tự sự, từ đó đưa đến những ý hướng đặc biệt khi tiếp cận diễn ngôn
Năm 2013, trong phần mở đầu bản dịch Diễn ngôn như một phạm trù của Tu
từ học và Thi pháp học hiện đại (V.I.Chiupa), nhà nghiên cứu - dịch giả Lã Nguyên
giới thiệu: “nếu các học giả Âu - Mĩ có công hoàn thiện thuật ngữ này như một phạm trù của ngôn ngữ học và xã hội học, thì M.Bakhtin và các nhà nghiên cứu Nga lại đặt nền móng để xây dựng khái niệm ấy thành một phạm trù của thi pháp học và
tu từ học hiện đại Về phương diện này, không thể không kể tới những đóng góp to lớn của hai Giáo sư Ngữ văn học nổi tiếng: Natan Davidovich Tamarchenko và Valeri Igorovich Chiupa” [16] Trong bài viết “Diễn ngôn”, V.I Chiupa khẳng định: diễn ngôn không phải là hệ thống kí hiệu, mà là hệ thống kí hiệu biểu hiện, được tạo
ra từ sự liên đới với các thẩm quyền giao tiếp diễn ngôn: thẩm quyền sáng tạo, thẩm quyền của cái được biểu đạt và thẩm quyền tiếp nhận “Tác phẩm văn học ở mọi quy mô đều có thể xem là một đơn vị phát ngôn duy nhất, tức là một diễn ngôn, là
sự kiện của sự kiện (giao tiếp) hiện thực hoá một chiến lược giao tiếp nào đó trong khuôn khổ của một hình thái diễn ngôn nhất định” [16] Theo V.I Chiupa, diễn ngôn tựu trung là hoạt động phiên dịch những ý nghĩa nào đấy từ một ngôn ngữ hi hữu của “lời nói bên trong” - sự thể hiện ý đồ của tác giả qua bức tranh thế giới
Trang 22Đây cũng là quan điểm của N.D Tamarchenko Trong hệ thống bài giảng về Thi pháp học lí thuyết, N D Tamarchenko cho rằng: tác giả, để truyền thụ một nghĩa nào đó cần tạo ra một cấu trúc nhất định Ông nêu ví dụ: bất cứ ai, khi viết một bức thư nào đó (kể cả thư cho đối tác trong kinh doanh) cũng đều phải cân nhắc nên thể hiện bức thư theo hình thức như thế nào Tác giả của tác phẩm nghệ thuật cũng hành xử như vậy (phải cân nhắc cách thể hiện từ ngữ, cú pháp) Và độc giả - người tiếp nhận, để hiểu nghĩa tác phẩm, cần phân tích cấu trúc tác phẩm, nói một cách rõ ràng hơn, cần phân tích cách kiến tạo bức tranh thế giới của người sáng tạo để xác định được điều tác giả muốn nói Có thể nói, với người nghiên cứu diễn ngôn văn học, những luận điểm như trên của N D Tamarchenko và V I Chiupa là những điểm tựa lí thuyết quan trọng
Bên cạnh những công trình lược thuật, tổng thuật, dịch thuật về diễn ngôn như trên, còn phải kể tới các công trình biên soạn của các nhà nghiên cứu khác ít
nhiều đề cập tới vấn đề diễn ngôn, như: Chủ nghĩa cấu trúc và văn học của Trịnh
Bá Đĩnh (2002), Sự đỏng đảnh của phương pháp do Đỗ Lai Thúy biên soạn và giới thiệu (2004), Tác phẩm như là quá trình của Trương Đăng Dung (2007),
Lí luận - phê bình văn học thế giới thế kỉ XX, tập 1, 2 do Lộc Phương Thủy chủ
biên (2007).v.v…
Cùng với những công trình giới thiệu quan niệm của các học giả trên thế giới
về diễn ngôn, nhất là của M Bakhtin và M Foucault, trong những năm gần đây xuất hiện một số bài viết, chuyên luận vận dụng quan điểm diễn ngôn của các học giả này để phân tích các hiện tượng văn học Dưới đây, chúng tôi điểm qua một vài công trình đáng chú ý
Diễn ngôn về tính dục trong văn xuôi hư cấu Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến
1945 của Trần Văn Toàn là một chuyên luận hữu ích với người nghiên cứu diễn
ngôn Trong công trình này, tác giả đã giới thiệu khái quát quan niệm về tính dục của M.Foucault: Theo M.Foucault: “Không nên nghĩ về tính dục như một cái gì đó tồn tại khách quan mà quyền lực cố gắng kiềm chế hoặc như một lĩnh vực mờ tối
mà tri thức cố gắng từng bước khám phá ra Tính dục là một tạo tác mang tính lịch
Trang 23sử (historical construct)” Một cách khái quát, tính dục có nguồn gốc từ những thiết chế văn hóa hơn là từ những cơ chế sinh học Vận dụng quan niệm này của M.Foucault, Trần Văn Toàn đã đi vào phân tích diễn ngôn về tính dục trong văn xuôi hư cấu Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến 1945 Nhà nghiên cứu ý thức rất rõ là mình đang nghiên cứu về diễn ngôn tính dục chứ không phải là nghiên cứu tính dục
Và theo tác giả thì “việc tìm hiểu về diễn ngôn tính dục nếu có một ý nghĩa nào đó thì chính là ở chỗ: nó giúp ta nhận thấy những nguyên nhân chiều sâu trong việc kiến tạo và hình thành nên những con người ở một thời đại cụ thể”
Tiểu thuyết Việt Nam đương đại nhìn từ góc độ diễn ngôn của Nguyễn Thị
Hải Phương cũng là một công trình nghiên cứu văn học theo lí thuyết diễn ngôn Trong công trình này, tác giả đã giới thuyết về diễn ngôn - diễn ngôn văn học - diễn ngôn tiểu thuyết, trên cơ sở đó trình bày các khuynh hướng nổi bật của diễn ngôn tiểu thuyết Việt Nam đương đại, chỉ ra cơ chế văn hóa xã hội chi phối sự hình thành và vận hành các khuynh hướng diễn ngôn đó, lí giải tại sao chúng lại là những khuynh hướng giữ vị trí quan trọng trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại Tác giả
đã đi vào nghiên cứu hệ thống nhân vật chính để xem xét khả năng biểu đạt tư tưởng của chúng, đồng thời xem xét các phương thức diễn ngôn được biểu đạt qua
hệ thống từ ngữ, biểu tượng, hệ thống tu từ…
Qua việc điểm một số công trình, chuyên luận, bài viết về diễn ngôn ở trên,
có thể thấy, diễn ngôn đang là vấn đề được quan tâm một cách nghiêm túc trong nghiên cứu văn học ở ta Dù có thể còn vấn đề này khác cần bàn lại trong một số bài viết, công trình hay chuyên luận đã nêu, nhưng hướng đi của chúng vẫn là những gợi mở cần lưu tâm, kết quả của những công trình đó là những kinh nghiệm đáng quý cho những người tiếp tục muốn tìm hiểu và đọc văn chương từ góc độ diễn ngôn
Từ việc tóm lược tình hình nghiên cứu diễn ngôn trên thế giới và ở Việt Nam như trên, đối chiếu với thực tế nghiên cứu văn học theo lí thuyết diễn ngôn tại Việt Nam, có thể thấy, mặc dù trong nghiên cứu văn học hiện nay, lý thuyết diễn ngôn
đã được quan tâm vận dụng, vẫn chưa có sự thống nhất về quan niệm diễn ngôn và
Trang 24“phần nhiều vẫn đi theo ngữ học và văn hóa học” [79] Trong khi đó khái niệm diễn
ngôn văn học vẫn ít được nhắc đến
1.2.2 Tình hình vận dụng lí thuyết diễn ngôn trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam và định hướng nghiên cứu diễn ngôn truyện ngắn Nguyễn Minh Châu
1.2.2.1 Tình hình nghiên cứu diễn ngôn trong văn học ở Việt Nam
Văn học là nghệ thuật ngôn từ, nhưng cho đến nay trong hầu hết các tài liệu
lí luận văn học ở Việt Nam đều chỉ hiểu ngôn từ như một phương tiện biểu đạt, một công cụ bề ngoài, chưa đi sâu tìm hiểu bản chất xã hội, thẩm mĩ của nó, và do đó cũng chưa đi đến hiểu rõ bản chất của ngôn từ văn học với tư cách là một diễn ngôn (Trần Đình Sử)
Hiện nay GS Trần Đình Sử, Lã Nguyên, Trần Thiện Khanh và một số tác giả khác đã có nhiều bài viết và những bài dịch từ tiếng nước ngoài về lí thuyết diễn ngôn nói chung và những bài viết trực tiếp về diễn ngôn về văn học nói riêng Những bài viết, bài dịch của họ đã tạo cơ sở, tiền đề cho viêc nghiên cứu diễn ngôn trong văn học Việt Nam
Đã có một số bài viết vận dụng lí thuyết diễn ngôn để nghiên cứu về văn học Việt Nam như: “Về một diễn ngôn tính dục trong văn xuôi nghệ thuật Việt Nam” (từ đầu thế kỉ 20 đến 1945) của tác giả Trần Văn Toàn, bài viết về phong trào thơ mới “Phong trào Thơ mới như một diễn ngôn lịch sử” của tác giả Nguyễn Hữu Sơn Những bài viết này đã viết về những diễn ngôn trong văn học Việt Nam thời kì trước 1945 Bài viết của tác giả Trần Văn Toàn đã vận dụng quan điểm diễn ngôn của Foucault để khai thác diễn ngôn tính dục trong văn xuôi Việt Nam từ đó đi đến khái quát đây là một diễn ngôn mới mẻ trong một thời kì mà mọi quan hệ đều được quy chuẩn vào đạo đức nho học thì người dám đưa ra quan niệm về tính dục được cho là “lệch chuẩn” với truyền thống đó là Lê Hoằng Mưu Trần Văn Toàn đã nhìn vấn đề tính dục không phải là hiện tượng xấu mà tính dụng như là một biểu hiện của văn hóa Tác giả viết: “Tính dục (sexuality) là một hiện tượng văn hóa Theo Foucault: “Không nên nghĩ về tính dục như một cái gì đó tồn tại khách quan mà quyền lực cố gắng kiềm chế hoặc như một lĩnh vực mờ tối mà tri thức cố gắng từng
Trang 25bước khám phá ra Tính dục là một tạo tác mang tính lịch sử (historical construct)” Luận điểm này của Foucault, thực chất là một đối thoại với quan điểm, mà Freud là một đại diện tiêu biểu, cho rằng tính dục là một thực thể tồn tại độc lập với nhận thức của chúng ta vì thế chúng ta có thể tìm hiểu về nó, kiểm soát nó Tính dục, trong những phân tích của Foucault không phải là cái được phát hiện ra (discovered) mà là cái được tạo ra (produced) bởi những diễn ngôn (discourse) nhằm hợp thức hóa những quan hệ quyền lực, nhằm thực hiện một dự đồ nào đó” Dưới góc nhìn về tính dục như một diễn ngôn, tác giả bài viết đã phát hiện, khám phá về diễn ngôn tính dụng trong văn xuôi Viêt nam từ đầu thế kỉ 20 đến 1945 qua một số tác giả như: Lê Hoằng Mưu, Nhất Linh, Khái Hưng, Vũ Trọng Phụng Qua
đó đã phát hiện ra việc tiếp thu những khuynh hướng văn học mới từ các nước phương Tây Tác giả viết: “Cần phải ghi nhận (và điều này là đặc biệt quan trọng để chúng ta nói đến sự hình thành một diễn ngôn mới về tính dục) trong nhận định của Thạch Lam: sự hiện diện của Freud - một tên tuổi lớn của tâm lí học và triết học phương Tây về tình dục và vô thức (Thạch Lam chuyển ngữ là “vô giác”) như một ảnh hưởng được tiếp nhận khá rộng rãi trong giới cầm bút Việt Nam thời kì này” [90] Rõ ràng, khi nhìn một loại hình văn học từ góc nhìn diễn ngôn, tác giả bài viết
đã có những phát hiện mới về một giai đoạn văn học
Ở bài viết “Phong trào Thơ mới như một diễn ngôn lịch sử”, tác giả Nguyễn Hữu Sơn trong cũng đã khám phá phong trào thơ mới từ góc nhìn diễn ngôn và đã phát hiện, làm nổi bật được những thành tựu và đóng góp của diễn ngôn thơ mới đặt trong tương quan với giai đoạn trước và sau nó Đặc biệt là sự ảnh hưởng của văn học phương Tây đã tạo cho thơ mới một diễn ngôn hết sứ mới mẻ Tác giả viết: “Nhấn mạnh tính lịch sử của phương thức diễn ngôn Thơ mới với tất cả các mối quan hệ giá trị và đặc điểm, nội dung và hình thức, kế thừa và đổi mới, phát triển và hạn chế, tiến
bộ và giới hạn lịch sử… Chứng dẫn và phân tích hiện tượng nhiều thi nhân tiếp nhận ảnh hưởng nguồn thơ phương Tây như Thế Lữ, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hàn Mặc
Tử, Bích Khê, Nguyễn Vỹ, Mộng Sơn, Huy Cận, Đoàn Văn Cừ, Nguyễn Xuân Sanh,
Vũ Hoàng Chương, Đoàn Phú Tứ đã tạo nên một hệ thống diễn ngôn thi ca in đậm
Trang 26tính lịch sử và có một số phận lịch sử” Từ góc nhìn diễn ngôn, Nguyễn Hữu Sơn đã
có hướng khám phá mới về một trào lưu văn học
Từ góc nhìn diễn ngôn, GS Trần Đình Sử trong bài viết “Khái niệm diễn ngôn trong nghiên cứu văn học hôm nay”, đã có cái nhìn bao quát về diễn ngôn văn học qua các thời kì khác nhau: Văn học là diễn ngôn, từ quan điểm này có thể nhận thấy lịch sử văn học là quá trình thay thế các hình thái diễn ngôn Văn học trung đại, theo quan điểm của nhà nghiên cứu Nga, là nghệ thuật sử dụng các từ có sẵn Các nhà thơ Việt Nam từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, đến Nguyễn Khuyến, dù tài năng bậc thầy, vẫn nằm trong giới hạn văn học sáng tạo bằng các từ, các công thức
có sẵn Tất nhiên mức độ tài năng, cá tính có thể đem lại các sắc thái khác biệt, nhưng tính chất chung là không thay đổi Giai đoạn này ứng với văn học truyền thống phương Tây Phải đến thế kỉ XVIII, khi ý thức cá nhân trỗi dậy, đổi thay ý thức chân lí, xuất hiện hình thái diễn ngôn thẩm mĩ lấy cá tính làm trung tâm mới xuất hiện hình thái tu từ mới Nhà văn lúc này mới đi tìm ngôn từ mới phù hợp với cảm xúc mới và sáng tạo nên các dòng văn học lãng mạn, cảm thương, chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa hiện đại Văn học
Việt Nam từ những năm 30 - 1945 ứng với giai đoạn này
Bước sang giai đoạn văn học cách mạng, hiện thực xã hội chủ nghĩa, từ năm
1945 cho đến 1986 văn học Việt Nam lấy tuyên truyền, giáo dục làm mục đích, sáng tác theo các chỉ dẫn phép tắc nghiêm ngặt, hạn chế tự do sáng tạo, nhà văn lại sáng tác theo những công thức định sẵn, trên thực tế là trở lại với hình thái tu từ có sẵn như thời trước hình thái thẩm mĩ tự do Đó là lí do vì sao sáng tác rập khuôn, nhiều khuôn sáo, công thức, ít đa dạng, thiếu sinh khí Đây là giai đoạn văn học mà diễn ngôn nhà văn bị soi xét kĩ lưỡng nhất Chỉ một biểu hiện nhỏ như trong tập
truyện ngắn Sương tan của nhà văn Hoàng Tiến cũng bị chỉ trích là “đồi trụy”
Nguyễn Minh Châu cựa quậy đổi thay diễn ngôn, nhưng phải đến sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái văn học Việt Nam mới tạo ra một diễn ngôn khác với diễn ngôn chính thống một thời Còn có thể nói đến các trào lưu văn học như là các hình thái diễn ngôn trong lịch sử văn học
Trang 27Tóm lại khái niệm diễn ngôn văn học, hay văn học như là diễn ngôn đem lại một cái nhìn mới, bước ngoặt mới đối với lí luận văn học nói chung và lịch sử, phê bình văn học nói riêng Từ đây lí luận văn học sẽ là một diễn ngôn khác về văn học
so với các bộ lí luận văn học đã có
1.2.2.2 Định hướng nghiên cứu diễn ngôn truyện ngắn Nguyễn Minh Châu
Hiện nay có ba cách hiểu về diễn ngôn:
- Diễn ngôn như một phạm trù của văn hóa
- Diễn ngôn như một phạm trù của ngôn ngữ
- Diễn ngôn như một phạm trù của văn học
Ở phạm vi của luận văn này, chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu diễn ngôn truyện ngắn Nguyễn Minh Châu ở phạm trù diễn ngôn văn học
Khi vận dụng lí thuyết diễn ngôn vào tìm hiểu truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn bởi hai lẽ: thứ nhất, cho đến nay, mặc dù đã được giới thiệu ở Việt Nam, nhưng chủ yếu những tri thức về diễn ngôn vẫn tồn tại trong dạng những bài viết khá nhỏ, lẻ, chưa có một công trình thực sự hệ thống Thứ hai, việc vận dụng lí thuyết diễn ngôn vào nghiên cứu văn học ở Việt Nam, và nghiên cứu văn học Việt Nam vẫn còn khá manh mún Vì vậy, về cơ bản, chúng tôi
ít có sự kế thừa của người đi trước, kể cả trên hai bình diện phương pháp và thao tác Tuy nhiên, trong quá trình hoàn thành luận văn, chúng tôi sẽ nỗ lực vận dụng,
kế thừa tối đa những tri thức ít nhiều có được từ những nghiên cứu trước nay
Nguyễn Minh Châu là nhà văn sáng tác trên hai giai đoạn Ở mỗi giai đoạn, các tác phẩm của ông đều có nét độc đáo, có dấu ấn rất rõ ràng Trước 1975, truyện ngắn của ông viết theo quy ước của diễn ngôn thời đại, nhưng vẫn có những điểm lóe sáng, ở sự khác biệt trong một chừng mực nhất định so với truyện ngắn nói riêng và văn xuôi nói chung cùng thời Khi nghiên cứu diễn ngôn truyện ngắn của nhà văn giai đoạn này, chúng tôi, bên cạnh chỉ ra sự tuân thủ những quy ước thời đại, sẽ cố gắng trừu xuất và phân tích sự khác biệt, nhằm góp một tiếng nói khẳng định những bứt phá âm thầm vốn để góp phần tạo tiền đề cho những đổi mới mạnh
mẽ của tác giả trong giai đoạn sau Sau 1975, Nguyễn Minh Châu thuộc số nhà văn
đi tiên phong, thậm chí là "người mở đường tài năng và tinh anh" cho văn học trong
Trang 28giai đoạn lịch sử mới Chúng tôi sẽ cố gắng phân tích diễn ngôn truyện ngắn của ông để chỉ rõ điều đó
Ngày nay, có không ít ý kiến cho rằng văn học (trong đó có truyện ngắn) Việt Nam 1945 - 1975 hoàn toàn lãng quên việc khám phá con người theo đúng nghĩa của
từ này, coi như đó là một lí do để nghi ngờ giá trị của nó Nghiên cứu diễn ngôn truyện ngắn Nguyễn Minh Châu ở cả hai giai đoạn, chúng tôi không nhằm đưa ra cái nhìn đối lập nhằm phủ nhận các truyện ngắn của nhà văn ở giai đoạn trước Mọi phân tích của luận văn đều hướng đến khẳng định những đóng góp của ông cho cả hai giai đoạn văn học, mà những đóng góp ấy đều xuất phát từ sự nhất quán của một quan niệm, một thái độ đối với văn chương, cuộc đời và phận người
1.3 Về tác giả Nguyễn Minh Châu
1.3.1 Nguyễn Minh Châu, vài nét về tiểu sử, con người
Nguyễn Minh Châu sinh ngày 20/10/1930; mất ngày 23/1/1989 Quê ở làng Văn Thai, tên nôm là làng Thơi, một làng nghèo chuyên nghề đánh cá ở xã Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Tên khai sinh của Nguyễn Minh Châu là Nguyễn Thí, chỉ tới khi đi học, bố mẹ mới đổi tên cho ông thành Minh Châu (Theo lời kể của bà Nguyễn Thị Doanh, vợ của Nguyễn Minh Châu) Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình khá giả, nhưng sa sút sau cách mạng tháng Tám
Năm 1945,Nguyễn Minh Châu tốt nghiệp trường Kỹ nghệ Huế với bằng Thành chung Tháng 1 năm 1950, đang học chuyên khoa trường Huỳnh Thúc Kháng tại Vinh - Nghệ Tĩnh thì ông gia nhập quân đội Cùng năm, ông gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam Năm 1951, ông được cử đi học trường sĩ quan lục quân Trần Quốc Tuấn
Từ năm 1952 đến 1956, Nguyễn Minh Châu công tác tại Ban tham mưu các tiểu đoàn 722, 706 thuộc sư đoàn 320, tham gia chiến đấu ở vùng tả ngạn, hữu ngạn sông Hồng Hoàn cảnh công tác của một cán bộ tham mưu tác chiến của tiểu đoàn, rồi trung đoàn giúp Nguyễn Minh Châu thông thuộc nhiều vùng xóm làng miền Bắc, nhất là vùng Hà Nam Ninh và Thái Bình Nguyễn Minh Châu viết thành công
tiểu thuyết đầu tay Cửa sông, chính một phần nhờ vốn sống trong thời gian này
Trang 29Từ năm 1956 đến 1958, Nguyễn Minh Châu là trợ lý văn hóa trung đoàn 64 thuộc sư đoàn 320 Năm 1959, nhà văn tham dự hội nghị bạn viết toàn quân Năm
1960 được điều động về cục Văn hoá quân đội, về Tạp chí Văn nghệ quân đội, vừa
làm biên tập vừa làm phóng viên Tại đây Nguyễn Minh Châu bắt đầu viết văn và cho in những truyện ngắn đầu tay nhưng chưa gây được sự chú ý
Năm 1961, ông theo học trường Văn hóa Lạng Sơn Năm 1962, Nguyễn
Minh Châu về công tác tại phòng Văn nghệ quân đội, sau chuyển sang tạp chí Văn
nghệ quân đội
Từ năm 1962 đến năm 1964, Nguyễn Minh Châu cho in 12 truyện ngắn trên
Tạp chí Văn nghệ quân đội: Buổi tập cuối năm, Gốc sắn, Trên vùng đất sỏi, Ghi
chép ở đại đội… Đây là những truyện ngắn viết trong khoảng thời gian hoà bình
ngắn ngủi ở Miền Bắc
Năm 1964, giặc Mỹ đánh phá sông Gianh, Bến Thủy, Hồng Gai, Nguyễn Minh Châu đi vào khu IV, Quảng Bình Khoảng tháng mười năm ấy, Nguyễn
Minh Châu có Tuổi trẻ cầm súng, tháng mười một có Kỉ niệm hạm tàu Đến năm
1967, nhà văn đã đóng góp vào công cuộc chống Mỹ một tiểu thuyết tương đối có
chất lượng: “Cửa sông” Cuốn tiểu thuyết vừa ra đời đã được bạn đọc khen ngợi
và được xem như sự báo hiệu “tác giả là một nhà tiểu thuyết tài năng” (Nguyễn
Đình Thi) Theo sát cuộc chiến đấu của quân và dân miền Bắc, Nguyễn Minh
Châu có mặt hầu hết ở các binh chủng: Câu chuyện trên trận địa, Những vùng trời
khác nhau viết về người lính phòng không; Trong ánh đèn gầm, Mảnh trăng cuối rừng viết về người chiến sĩ giao thông ở Trường Sơn; Kỉ niệm hạm tàu, Cửa sông
viết về lực lượng hải quân…
Nguyễn Minh Châu bắt đầu viết truyện ngắn từ năm 1954 nhưng sự nghiệp sáng tác của ông thật sự được đánh giá cao chỉ từ trong kháng chiến chống Mỹ với
hai cuốn tiểu thuyết Cửa sông (1966), Dấu chân người lính (1972) và tập truyện ngắn Những vùng trời khác nhau (1970)
Nguyễn Minh Châu còn quan tâm đến hoạt động phê bình, dựng chân dung văn học Những bài viết của Nguyễn Minh Châu đã được Tôn Phương Lan tập hợp
Trang 30và giới thiệu trong cuốn Phê bình - tiểu luận Trang giấy trước đèn Trang giấy
trước đèn đã thể hiện những băn khoăn của tác giả khi ngồi trước trang giấy trắng
để chế tác ra những bản thảo Những khát khao về sự đổi mới văn học thể hiện rõ
trong bài viết Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa
Miền Nam hoàn toàn giải phóng, Nguyễn Minh Châu đến với miền Nam Tháng 5 - 6 (1975) nhà văn đi Sài Gòn, đồng bằng sông Cửu Long, tháng 10 cùng
năm ông đi cửa Việt (Quảng trị) rồi viết tiểu thuyết Miền Cháy Năm 1982, tác giả cho ra mắt cuốn tiểu thuyết Những người đi từ trong rừng ra Từ thực tế cuộc sống,
từ trang viết đã được thể nghiệm, Nguyễn Minh Châu đã nhận ra sở trường ngòi bút của mình, và các truyện ngắn của ông lần lượt xuất hiện, đề cập tới những vấn đề của đời sống và con người thời hậu chiến Nhà văn chuyển những trăn trở của mình sang các vấn đề đạo đức của con người sau cuộc chiến Như ông đã nói: “tôi đã tìm
ra địa bàn cho tiếng nói truyện ngăn của mình: Tôi muốn dùng ngòi bút tham gia trợ lực vào cuộc đấu tranh giữa cái tốt và cái xấu bên trong mỗi con người, một cuộc giao tranh không có gì ồn ào nhưng xảy ra từng ngày, từng giờ và khắp mọi lĩnh vực của đời sống” [11; 101] Nhận thức trên đây đã được nhà văn thể hiện trong các
truyện ngắn Về một cách sống (sau này đổi tên là Hạng), Người đàn bà trên chuyến
học (Liên Xô)
Năm 1984, Nguyễn Minh Châu lần lượt cho đăng trên báo Văn nghệ các
truyện ngắn Dấu vết nghề nghiệp, Hai con nhóc (sau này có tên Hương và Phai),
Khách ở quê ra Các truyện ngắn mới đăng này vừa thu hút sự chú ý đáng kể, vừa
Trang 31gây những luồng dư luận khác nhau trong giới viết văn và phê bình Đáng chú ý
nhất là truyện ngắn Khách ở quê ra
Nguyễn Minh Châu, từ đó, trở thành nhà văn được chú ý nhất của dư luận Tháng 6 năm 1985, đã có một cuộc thảo luận với nhan đề: “Trao đổi về truyện ngắn những năm gần đây của Nguyễn Minh Châu” do Tuần báo Văn nghệ tổ chức Cuộc thảo luận đã thu hút rất nhiều ý kiến của các nhà văn nhà nghiên cứu, phê bình văn
học (báo Văn nghệ tường thuật, đăng hai kì, số 27 và 28) Tập truyện Bến quê được
in thành sách riêng Hiện tượng “Nguyễn Minh Châu” đã trở thành trung tâm của sự chú ý của giới nghiên cứu phê bình Trần Đình Sử đánh giá: “Trong số những nhà văn trăn trở tìm tòi đổi mới tư duy nghệ thuật và tiếng nói nghệ thuật, Nguyễn Minh Châu là một ngòi bút gây nhiều hứng thú [32; 382] “Rõ ràng cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu đã đem lại những hiện tượng mới và chủ đề mới có ý nghĩa bức thiết với đời sống hôm nay” [32; 391] Lại Nguyên Ân cho rằng: “Sáng tác của Nguyễn Minh Châu - đặc biệt là truyện ngắn - ra mắt dăm bảy năm gần đây, đã trở thành gần như một loại sự kiện, ít ra là đối với giới văn học” [32; 1335]
Năm 1987, trong không khí cởi mở của công cuộc đổi mới của đất nước, Nguyễn Minh Châu dự cuộc gặp mặt của Tổng bí thư Trung ương Đảng Nguyễn Văn Linh với các văn nghệ sĩ Bài viết dự định phát biểu tại đây, sau cho đăng trên
Văn nghệ số 49 và 50 với nhan đề “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ
minh hoạ” Cũng trong năm này, ông cho in tiểu thuyết Mảnh đất tình yêu tại Nhà xuất bản Tác phẩm mới Những năm sau đó, nhiều tác phẩm có giá trị của ông lần
lượt ra đời và tiếp tục khẳng định tư cách tiên phong của nhà văn trong công cuộc
đổi mới văn học như Có lau, Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát
Như mọi nhà văn chân chính, mối quan tâm lớn trước hết ở Nguyễn Minh Châu là quan hệ giữa văn học và đời sống, với thời đại Ngay từ thời kì đầu cầm bút, nhà văn đã quan niệm: “Văn học bao giờ cũng phải trả lời câu hỏi của ngày hôm nay, bao giờ cũng phải đối mặt với những người đương thời về những câu hỏi
cấp bách của đời sống” (Nhà văn, đất nước và dân tộc mình)
Tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đặc biệt là những sáng tác từ năm 1975 đã thể hiện “mối quan hoài sâu sắc” và thường trực của nhà văn với số phận và nỗi đau
Trang 32khổ của con người Điều đáng chú ý là ở Nguyễn Minh Châu giữa những quan niệm, nhận thức được phát biểu trực tiếp với tác phẩm luôn có sự thống nhất, quá trình sáng tác cũng là quá trình nhà văn tự tìm kiếm và xác định ngày càng toàn diện và sâu sắc quan niệm nghệ thuật của mình
Nguyễn Minh Châu qua đời ngày 23 tháng 1 năm 1989 tại Hà Nội, thọ 59 tuổi Nguyễn Khải đã đánh giá: “Nguyễn Minh Châu là người kế tục xuất sắc những bậc thầy của nền văn xuôi Việt Nam và cũng là người mở đường rực rỡ cho những cây bút trẻ tài năng sau này” [32; 87]
Những tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đã xuất bản gồm có: Cửa sông (tiểu thuyết, Nxb Văn học,1967), Những vùng trời khác nhau (tập truyện ngắn, Nxb Văn học,1970), Dấu chân người lính (tiểu thuyết, Nxb Thanh niên,1972), Từ giã tuổi thơ (tiểu thuyết, viết cho thiếu nhi, Nxb Kim Đồng, 1974), Miền cháy (tiểu thuyết, Nxb Văn học, 1978), Lửa từ những ngôi nhà (tiểu thuyết, Nxb Văn học, 1877), Những
ngày lưu lạc (tiểu thuyết viết cho thiếu nhi, Nxb Kim Đồng, 1981, Những người đi
từ trong rừng ra (tiểu thuyết, Nxb Quân đội nhân dân, 1982), Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (tập truyện ngắn, Nxb Tác phẩm mới, 1983), Mảnh trăng cuối rừng (tập truyện ngắn, Nxb Văn học, 1984), Đảo đá kì lạ (viết cho thiếu nhi, Nxb
Kim Đồng, 1985), Bến quê (tập truyện ngắn, Nxb Tác phẩm mới,1987), Mảnh đất
tình yêu (tiểu thuyết, NxbTác phẩm mới,1987), Chiếc thuyền ngoài xa (tập truyện
ngắn, Nxb Tác phẩm mới,1987), Cỏ lau (tập truyện vừa, Nxb Văn học,1989), Trang
giấy trước đèn (tiểu luận phê bình, Nxb Khoa học xã hội,1994), Mẹ con chị Hằng
(tập truyện ngắn, Nxb Quân đội nhân dân, 1999), Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn
Minh Châu, (Nxb Văn học, 2009), Tuyển tập Nguyễn Minh Châu, (Nxb Văn học,
2012); và nhiều bút kí, truyện ngắn khác đăng trên các báo…
Với những cống hiến xuất sắc của mình trong hoạt động văn học nghệ thuật, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã được nhận: Giải thưởng Bộ quốc Phòng năm (1984
- 1989) cho toàn bộ tác phẩm của ông viết về chiến tranh và người lính Giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam (1988 - 1989) cho tập truyện vừa Cỏ lau Giải thưởng Hồ
Chí Minh về văn học nghệ thuật cho các tác phẩm Dấu chân người lính, Cửa sông,
Cỏ lau, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành
Trang 33Đánh giá về sự nghiệp văn học của Nguyễn Minh Châu, nhà văn Nguyễn Khải trân trọng khẳng định: “Mãi mãi nền văn học kháng chiến cách mạng ghi nhớ những cống hiến to lớn của anh Châu Anh là người kế tục xuất sắc các bậc thầy của nền văn xuôi Việt Nam và cũng là người mở đường cho những cây bút trẻ đầy tài năng sau này Anh Châu là bất tử” [32; 508]
1.3.2 Nhìn chung về những sáng tác của Nguyễn Minh Châu trước 1975
Văn học Việt nam thời kì 1945 - 1975 phát triển trong hoàn cảnh xã hội đặc biệt Thời kì này đất nước trải qua hai cuộc kháng chiến vô cùng gian khổ và ác liệt Lịch sử yêu cầu văn học thời kì này là thứ vũ khí sắc bén phục vụ cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội Vì vậy nên văn học thường nghiêng về phản ánh các sự kiện có ý nghĩa lịch sử Những vấn đề văn học đề cập lúc này là những vấn đề cốt lõi, liên quan đến sự sống còn của dân tộc Đây là thời
kì mà văn học được đánh giá là “có đặc điểm gần gũi và mang tính tương đồng về nội dung và nghệ thuật” Các sáng tác thời kì này mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn Truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu mặc dù vẫn có những tìm tòi riêng, nhưng vẫn nằm trong quy luật chung đó về đại thể Khuynh hướng sử thi thể hiện ở cách nhìn nhận, đánh giá của tác giả trước những vấn đề có ý nghĩa lịch
sử và có tính chất dân tộc Nhân vật chính trong các tác phẩm thường là những con người có lí tưởng cao đẹp, ý chí kiên cường, đại diện cho tinh hoa và khí phách của dân tộc Phẩm chất quý báu của họ được thể hiện ở ý thức về bổn phận, nghĩa vụ công dân, ở lẽ sống đúng đắn và tình cảm lớn mang tính chất thời đại Cảm hứng cơ bản trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu trong thời gian này thể hiện ở sự nồng nhiệt của cái tôi trữ tình hướng tới lí tưởng cách mạng, ở việc khẳng định lí tưởng
và vẻ đẹp của con người chiến đấu bảo vệ Tổ quốc; ở thái độ ca ngợi chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng; ở sự khẳng định niềm tin vững chắc vào
tương lai tươi sáng của dân tộc
Trước 1975, Nguyễn Minh Châu đã có hơn 10 truyện ngắn và bút kí in trên
Tạp chí Văn nghệ quân đội Nhưng phải đến tiểu thuyết Cửa sông (1967) thì con
đường văn học của Nguyễn Minh Châu, theo đánh giá của đa số những các nhà
nghiên cứu, mới thực sự định hình Tiếp đến tập truyện ngắn Những vùng trời khác
Trang 34nhau (1970) và nhất là tiểu thuyết Dấu chân người lính (1972), đã đưa tên tuổi
Nguyễn Minh Châu vào danh sách những cây bút văn xuôi hàng đầu của văn học
Việt Nam thời kì chống Mỹ
Ngay từ khi xuất hiện, các tác phẩm của Nguyễn Minh như: Cửa sông, Dấu
chân người lính, đã được độc giả đón nhận nồng nhiệt Đã có rất nhiều đánh giá ghi
nhận những thành công của nhà văn ở hai tiểu thuyết này Phong Lê đánh giá: “Cửa
sông chưa phải là tác phẩm hay theo cái nghĩa mỗi lần đọc lại đều có thể khám phá
những khía cạnh mới, khơi mãi không hết, làm động đến những chỗ sâu thẳm trong
tâm hồn và tư tưởng chúng ta Nhưng Cửa sông cũng đã có một cái gì khiến cho ta khi đọc xong phải nghĩ ngợi” [43] và “Cửa sông là hình ảnh thu nhỏ của hậu
phương chúng ta trong chiến đấu chống Mĩ, một hậu phương vững vàng không có
gì làm lung lay được” [43] Tôn Phương Lan cho rằng: “Bụi thời gian giờ đây đã
phủ lên không ít trang sách của văn học một thời nhưng vẻ đẹp thầm kín của Cửa
sông là điều khó bị lãng quên [38] Với Dấu chân người lính, Vương Trí Nhàn nhận
xét: “Trong Dấu chân người lính cuộc sống đã xao động hẳn lên, báo hiệu một cái
gì đó, mạnh mẽ, dữ dội, thực tế hiện ra với nhiều mảng khác nhau, có mảng mờ nhạt nhưng có những mảng rực rỡ, óng ánh” [32; 300] Lại Nguyên Ân, Thiếu Mai, Nguyễn Kiên, Vương Trí Nhàn, Nguyễn Văn Long, Trần Đình Sử, Nguyễn Thanh Hùng… cũng đều có nhiều những bài viết công phu về giai đoạn sáng tác này của Nguyễn Minh Châu và hầu hết các tác giả nói trên đều thống nhất khẳng định ông là một tài năng văn xuôi của nền văn học Việt Nam đương thời đã, đang và sẽ gặt hái được thành công lớn trong sự nghiệp sáng tác của mình
1.3.3 Nhìn chung về những sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau 1975
Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, Nguyễn Minh Châu nhanh chóng hoà nhập với cuộc sống mới, thời đại mới Là nhà văn nhạy cảm với những biến đổi
của đời sống xã hội sau chiến tranh, ông lần lượt cho ra đời những tiểu thuyết: Miền
cháy (1977), Lửa từ những ngôi nhà (1977), Những người đi từ trong rừng ra
(1982), Mảnh đất tình yêu (1987) cùng các tập truyện ngắn Bến quê, Người đàn bà
trên chuyến tàu tốc hành, Cỏ lau mang những sắc điệu mới trong bút pháp cũng
như giọng điệu Các tác phẩm này được các nhà nghiên cứu đánh giá cao Phần lớn
Trang 35họ đều thấy ở Nguyễn Minh Châu “sự không chịu dừng lại” mà đã có dấu hiệu tìm tòi đổi mới Điều này càng chứng tỏ Nguyễn Minh Châu luôn luôn trăn trở tìm kiếm một lối đi riêng biệt để thể hiện một cách chính xác hơn, chân thực hơn những vấn
đề nóng bỏng của đời sống Nếu như chia sáng tác của Nguyễn Minh Châu thành hai giai đoạn cụ thể thì những sáng tác cuối thập kỉ bảy mươi, đầu thập kỉ tám mươi
là một giai đoạn có tính chất quá độ Để rồi sau đó ít lâu ông trở thành một trong những nhà văn tiên phong trong công cuộc đổi mới văn học Mai Hương trong bài
viết “Nguyễn Minh Châu và di sản văn học của ông” đã có nhận xét: “Bằng sự thôi
thúc của lương tâm và trách nhiệm, Nguyễn Minh Châu lại nhanh chóng cùng dân tộc bước vào một cuộc chiến đấu mới, cuộc chiến đấu cho quyền sống của từng con người” [32; 95]
Sau 1975, với ba tập truyện ngắn: Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành,
Bến quê, Cỏ lau, Nguyễn Minh Châu đã trở thành một “hiện tượng” văn học thu hút
được sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà phê bình văn học Đã có nhiều cách hiểu khác nhau, thậm chí trái ngược nhau về tác phẩm của ông trên cơ sở phân tích kĩ lưỡng ở nhiều góc độ khác nhau Có người khen, có người chê và cũng có người chưa vội bày tỏ quan điểm đánh giá Điều này thể hiện trong ý kiến có tính chất tổng hợp của Trần Đình Sử: “Người mến mộ anh nhiều, người chưa thích anh cũng không ít, kẻ còn băn khoăn chưa có những nhận định cũng không phải là con số có thể bỏ qua” [32; 382]
Sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau 1975 tiếp tục đề tài viết về người lính
và về cuộc sống, con người đời thường Khi viết về người lính sau chiến tranh, tác giả đã không né tránh những cái bình thường, và thậm chí là tầm thường của một con người - cái mà trong thời chiến không thể nói Hồ Hồng Quang đã có nhận xét:
“Cái nhìn của Nguyễn Minh Châu về người lính có nhiều đổi mới Ngay với các nhân vật được anh tôn vinh như những anh hùng, những con người thánh thiện vẫn
có những khuyết điểm, thậm chí có những phút đớn hèn, đốn mạt” [68] Đề tài người lính được tác giả thể hiện trong thời kì sau chiến tranh đã thể hiện sự đổi mới cách nhìn về người lính bằng sự bổ sung những góc nhìn mới, sọi chiếu từ nhiều khía cạch khác nhau chứ không phải chỉ ca ngợi một cách phiến diện, một chiều
Trang 36như ở giai đoạn trước Ở mảng sáng tác viết về để tài cuộc sống thường nhật, Nguyễn Minh Châu vẫn thể hiện là một nhà văn luôn luôn tìm tòi đổi mới trong các sáng tác của mình Lã Nguyyên trong bài viết "Nguyễn Minh Châu và bài học đổi mới tư duy nghệ thuật" đã nhận xét: “Lấy nhân bản làm nền tảng cho hệ thống về thế giới, Nguyễn Minh Châu quả đã góp phần khơi nguồn cho dòng sông văn chương trở về với đời sống bình thường đích thực của nó Thay vì câu chuyện về chiến tranh, súng đạn, Nguyễn Minh Châu hôm nay thả bút cho tình đời" [63]
Dù viết đề tài nào, Nguyễn Minh Châu cũng luôn luôn ý thức sâu sắc về trách nhiệm của một nhà văn đối với các sáng tác của mình Ông luôn tìm tòi, đổi mới, ông không chấp nhận kiểu “văn nghệ minh họa” và ông đã kêu gọi “hãy đọc lời ai điếu” cho nó Với những trăn trở luôn chân thành và nghiêm túc về nhiệm vụ, con đường của văn học, Nguyễn Minh Châu đã trở thành một trong những hiện tượng đáng chú ý nhất trong thời kì đổi mới văn học nước nhà những năm sau 1975
“Trong số những nhà văn trăn trở tìm tòi đổi mới tư duy nghệ thuật, Nguyễn Minh
Châu là một ngòi bút gây nhiều hứng thú Bắt đầu từ truyện ngắn Bức tranh rồi tập
Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành hay tập Bến quê”, truyện ngắn của Nguyễn
Minh Châu xuất hiện như một hiện tượng văn học mới” [32; 382]
Nguyễn Minh Châu miệt mài sáng tác, cho đến những ngày cuối đời nằm trên giường bệnh ông vẫn tiếp tục viết tác phẩm nói về miền quê thân thiết của
mình: Phiên chợ Giát có thể nói rằng, Nguyễn Minh châu đã cống hiến cho nghề
văn đến hơi thở cuối cùng Cái chết của nhà văn đã gây nhiều xúc động, luyến tiếc, nhất là vào thời điểm văn học nước ta đang có những chuyển động phong phú, sâu
sắc và phức tạp Sau khi ông mất, nhiều nhà phê bình đã viết bài tưởng niệm Khóc
Nguyễn Minh Châu (Nguyên Ngọc) Nhớ Nguyễn Minh Châu (Nguyễn Khải), Một ngọn lửa luôn cháy sáng (Nam Hà), Nhớ tiếc một tài năng (Hồ Phương), Với Nguyễn Minh Châu (Xuân Thiều), Nhớ mãi Nguyễn Minh Châu (Nguyễn Kiên), Thương nhớ nhà văn Nguyễn Minh Châu (Hữu Thỉnh)… Tất cả đều có chung một
nhận xét: Nguyễn Minh Châu là nhà văn có nhân cách lớn, một tài năng văn học thật sự Sau khi nhà văn qua đời, những sáng tác của ông vẫn tiếp tục thu hút các
nhà nghiên cứu tiếp nhận, khám phá, trên những góc nhìn mới
Trang 37Chương 2 DIỄN NGÔN TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU
TRƯỚC 1975
2.1 Hoàn cảnh diễn ngôn truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trước 1975
2.1.1 Những quy ước của thời đại nhìn từ sự kiện lịch sử
Cách mạng Tháng tám thành công đã đưa đất nước vào kỉ nguyên độc lập Tuy nhiên niềm vui được sống trong hòa bình, độc lập của dân tộc ta chỉ tính được bằng ngày Tổ quốc lại bị thực dân Pháp quay lại xâm lược một lần nữa Toàn thể dân tộc Việt Nam đứng lên kháng chiến với tinh thần "thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nộ lệ" Trong suốt cuộc kháng chiến trường kì, gian khổ, hơn lúc nào hết con người Việt Nam lại càng bộc lộ rõ những phẩm chất cao đẹp của mình Khi cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, miền Bắc bước vào thời kì xây dựng xã hội chủ nghĩa trong niềm vui, niềm tự hào dân tộc Đất nước vẫn phải chịu nỗi đau chia cắt Miền Nam phải đối đầu với kẻ thù hung bạo nhất trong lịch sử là đế quốc Mĩ Kẻ thù không chỉ dày xéo ở miền Nam mà còn điên cuồng leo thang bắn phá miền Bắc Đất nước một lần nữa lại chìm ngập trong khói lửa chiến tranh, nhân dân ta lại phải dốc lòng dốc sức để đấu tranh cứu nước
Diễn ngôn văn học Việt Nam từ cách mạng tháng tám năm 1945 đến năm
1975 là diễn ngôn văn học của chế độ mới, vận động và phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng, có sự thống nhất về khuynh hướng tư tưởng, về tổ chức và về quan niệm nhà văn kiều mới - nhà văn chiến sĩ Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc ở miền Nam, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đã tác động mạnh mẽ sâu sắc đến đời sống của toàn dân tộc, trong đó có văn học nghệ thuật Văn học thời kì này dưới sự lãnh đạo của Đảng đã trở thành “thứ vũ khí sắc bén” phục vụ cho công cuộc cách mạng Hòa chung vào không khí của thời đại, nhà văn cũng là những chiến sĩ sẵn sàng hi sinh cho tổ quốc Xác định nhiệm vụ của văn học thời kì này là
ca ngợi tổ quốc, ca ngợi cuộc cách mạng dân tộc nên mỗi chặng đường phát triển gắn với lịch sử dân tộc văn học gắn với một nhiệm vụ, chủ đề riêng
Trang 38Chặng đường từ năm 1945 đến năm 1954 Chủ đề bao trùm là ca ngợi Tổ quốc và quần chúng cách mạng, tập trung phản ánh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, kêu gọi tinh thần đoàn kết nhân dân, cổ vũ phong trào Nam tiến, biểu dương những tấm gương vì nước quên mình Văn học gắn bó sâu sắc với đời sống cách mạng và kháng chiến
Chặng đường từ năm 1955 đến 1964 chủ đề bao trùm là xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước Văn học, một mặt tập trung thể hiện hình ảnh người lao động, ngợi ca những đổi thay của đất nước và con người trong bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội với tràn đầy niềm vui, lạc quan, tin tưởng, mặt khác mô tả một cách da diết nỗi đau đất nước bị chia cắt và thể hiện ý chí thống nhất đất nước
Ở chặng đường từ năm 1965 đến năm 1975, văn học chủ yếu tập trung viết
về cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ Chủ đề bao trùm là ca ngợi tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Hầu hết các nghiên cứu lí luận văn học đều chỉ ra rằng, phần lớn, nếu không muốn nói là tuyệt đại đa số các nhà văn đều thể hiện trong tác phẩm của mình những câu chuyện của thời đại mà anh ta đang sống Điều đó thể hiện trong đối tượng phản ánh, trong thái độ tiếp cận, đánh giá đối tượng phản ánh và trong
cả cách diễn giải của anh ta về đối tượng Nguyễn Minh Châu không là một ngoại
lệ Bắt đầu thành công từ những năm 1960, các sáng tác của nhà văn chịu ảnh hưởng của diễn ngôn văn học thời kì này Sáng tác của ông phải tuân theo những quy ước của thời đại, điều mà chúng ta sẽ phân tích cụ thể trong các phần sau này của luận văn
2.1.2 Những quy ước của thời đại nhìn từ "mệnh lệnh" văn nghệ
Diễn ngôn văn học thời kì trước 1975 nói chung, diễn ngôn truyện ngắn Nguyễn Minh Châu nói riêng nằm trong quy định, trong “mệnh lệnh” của Đảng Nền văn học vận động theo hướng cách mạng hóa, quần chúng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước trên tinh thần "văn hóa cũng là một mặt trận và anh chị em văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy"; trong sự hướng đến miêu tả
Trang 39một cách "chân thật", "hùng hồn" công cuộc kháng chiến kiến quốc và để lại những tấm gương kháng chiến kiến quốc tiêu biểu Đối tượng miêu tả và phục vụ, trước hết là quần chúng Cách mạng, là lực lượng công - nông - binh Có một thời kì văn học chỉ nghe cồn cào, vang vọng những tiếng thét xung phong trên chiến trường, tiếng hát say sưa trên công trường, đồng ruộng, tiếng reo mừng chiến thắng cảm động và chân thành Cái bi nếu có được đề cập đến cũng là bi tráng kiểu như: “Và anh chết trong khi đang đứng bắn/ Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng/ Chợt thấy
anh, giặc hốt hoảng xin hàng/ Có thằng sụp xuống chân anh tránh đạn” (Dáng đứng
Việt Nam, Lê Anh Xuân) chứ không phải là bi lụy Đó là nền văn học đáp ứng yêu
cầu của lịch sử, vì mục tiêu chung của toàn dân tộc Gắn bó với vận mệnh chung của đất nước, văn học gắn với từng chặng đường phát triển của tổ quốc, theo sát từng nhiệm vụ chính trị vừa cụ thể vừa mang tầm vóc khái quát Tổ quốc trở thành nguồn cảm hứng lớn trong các sáng tác của tác giả giai đoạn này
Xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng là một đề tài lớn của văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975 Chủ nghĩa xã hội là mơ ước, là cái đích hướng tới của toàn dân tộc, là khát vọng vươn tới tầm cao mới của cuộc sống mới Trung tâm chú
ý của nhà văn là con người mới, là mối quan hệ mới giữa người lao động, là sự hòa hợp giữa cái chung và cái riêng, giữa cá nhân và tập thể Văn học thời kì này đề cao người lao động, ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của người lao động Trên thực tế
đề tài đấu tranh thống nhất đất nước và xây dựng xã hội chủ nghĩa không có sự tách biệt mà hoàn toàn gắn bó mật thiết với nhau
Văn học thời kì này vận động, phát triển thống nhất dưới sự lãnh đạo, sự quan tâm lãnh đạo toàn diện và sát sao của Đảng Nền văn nghệ mới ấy phải đảm bảo những yêu cầu quan trọng nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ vẻ vang mà tổ chức và lịch sử đã tin cậy giao phó Đó là nền văn học với nội dung xã hội chủ nghĩa, tính dân tộc, tính Ðảng và tính nhân dân sâu sắc Để thực hiện những nhiệm vụ chính trị quan trọng này, văn nghệ sĩ phải mang tinh thần dấn thân cao độ, không ngại va chạm, không ngại gian lao, hăng hái thâm nhập vào đời sống thực tế, để thể hiện tư cách một nghệ sĩ tốt trên nền tảng của một công dân tốt
Trang 40Trong hoàn cảnh đất nước thời kì trước 1975, với những quy ước, “mệnh lệnh” nên văn học mang những đặc điểm cơ bản của nền văn học mới: phản ảnh và phục vụ cuộc sống, có thể xem đó là nguyên tắc sinh tử của văn học nghệ thuật Cuộc đời cũng là nơi xuất phát cũng là nơi đi tới của văn học Cách mạng tháng tám
đã tạo nên một bước chuyển dịch lớn về hoàn cảnh sống và sáng tác của nhà văn đưa họ đến với cuộc sống phong phú sôi động của nhân dân Ðến với cuộc sống của nhân dân để tìm nguồn cảm hứng mạnh mẽ, chân chính cho sự sáng tạo nghệ thuật,
để hiểu biết, khám phá, sáng tạo Trên thực tế nhiều nhà văn đã không ngại khó khăn, gian khổ để đến với đồng ruộng, nhà máy, công trường, hải đảo, miền núi xa xôi hẻo lánh để tìm kiếm chất liệu nghệ thuật Ðặc biệt, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ, nhiều nhà văn đã đến với đời sống ác liệt ở chiến trường, vừa sáng tác, vừa chiến đấu Nguyễn Minh Châu thuộc số nhà văn luôn đi đầu trên mặt trận văn nghệ phản ánh cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước
Cửa sông, Dấu chân người lính, Vùng trời, Chuyện đại đội chính là những tác
phẩm, sản phẩm của tinh thần ấy
Một trong những đặc điểm lớn của văn học thời kì này là nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn
Trong hoàn cảnh chiến tranh kéo dài suốt 30 năm, vấn đề dân tộc được đặt lên hàng đầu; văn học Việt Nam không thể là tiếng nói của cá nhân mà tất yếu phải đề cập tới số phận chung của cả cộng đồng, của toàn đân tộc Văn học mang đậm chất sử thi tập trung phẩn ánh những vấn đề cơ bản nhất có ý nghĩa sống còn của đất nước Nhân vật chính thường tiêu biểu cho lí tưởng chung của dân tộc, gắn bó số phận mình với đất nước, thể hiện kết tinh những phẩm chất cao quý của cả cộng đồng Lời văn
"sử thi" cũng thường mang giọng điệu ngợi ca, trang trọng và đẹp một cách tráng lệ, hào hùng Khuynh hướng sử thi đòi hỏi người cầm bút nhìn cuộc đời bằng con mắt có tầm bao quát lịch sử, dân tộc và thời đại Trên tinh thần đó, trong những tháng năm chiến tranh đầy gian khổ, hi sinh nhưng lòng vẫn tràn đầy mơ ước hướng tới tương lai Cảm hứng lãng mạn chủ yếu thể hiện trong việc khẳng định phương diện lí tưởng của cuộc sống mới và vẻ đẹp của con người mới, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách