Để góp thêm tài liệu làm cơ sở xây dựng các biện pháp phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ Cnaphalocrocis medinalis Guenee hại lúa đạt hiệu quả cao nhằm ngăn chặn sự phát sinh gây hại nặng, chúng
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60 62 01 10
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thanh
Nghệ An, 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp hoàn toàn trung thực, có được qua các thí nghiệm do bản thân tiến hành
và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan các thí nghiệm để thu thập số liệu trong luận văn đã được chính bản thân tôi tiến hành tại Trạm BVTV huyện Hưng Nguyên và trên địa bàn
xã Hưng Tây huyện Hưng Nguyên với sự đồng ý và hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Thanh
Nếu sai tôi xin chịu trách nhiệm trước Khoa và Nhà trường
Nghệ An, ngày 01 tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn
Bùi Quang Hùng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của Thầy Cô giáo Khoa Nông Lâm Ngư, Trạm BVTV huyện Hưng Nguyên, chính quyền địa phương nơi nghiên cứu, đồng nghiệp, gia đình, bạn bè
Để hoàn thành tốt luận văn này, trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
và kính trọng đến TS Nguyễn Thị Thanh người đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tận tình cho tôi thực hiện luận văn này
Xin cám ơn Trạm BVTV huyện Hưng Nguyên, các anh chị đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi về thời gian, cơ sở vật chất, thiết bị cho tôi hoàn thành tốt luận văn Xin cám ơn chính quyền địa phương và bà con nông dân xã Hưng Tây đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong việc điều tra và thu thập mẫu vật Tôi xin chân thành cám ơn gia đình, người thân, bạn bè đã động viên giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Nghệ An, ngày 01 tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn
Bùi Quang Hùng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
CHƯƠNG I TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 5
1.1 Cơ sở khoa học 5
1.1.1 Đặc điểm sinh học sinh thái sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenee) 5
1.1.2 Hệ sinh thái nông nghiệp và dịch hại cây trồng 6
1.1.3 Biến động số lượng côn trùng 8
1.1.4 Sự điều chỉnh số lượng quần thể 10
1.2.Tình hình nghiên cứu trên thế giới 12
1.2.1 Nghiên cứu về thành phần sâu hại lúa 12
1.2.2 Nghiên cứu về thiên địch của sâu hại lúa 12
1.2.3 Nghiên cứu về sâu cuốn lá nhỏ 13
1.3 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 20
1.3.1 Nghiên cứu về thành phần sâu hại lúa 20
1.3.2 Nghiên cứu về thiên địch sâu hại lúa 21
1.3.3 Nghiên cứu về sâu cuốn lá nhỏ 22
1.4 Tình hình nghiên cứu sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenee) trên địa bàn tỉnh Nghệ An 26
CHƯƠNG II NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Nội dung nghiên cứu 28
2.2 Phạm vi nghiên cứu 28
2.3 Vật liệu nghiên cứu 28
2.4 Phương pháp thực nghiệm 28
2.4.1 Điều tra thành phần sâu hại trên cây lúa 28
Trang 62.4.2 Điều tra thành phần thiên địch của sâu hại lúa 29
2.4.3 Phương pháp nuôi sinh học sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenee) 30
2.4.4 Điều tra diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ hại lúa 31
2.4.5 Thử nghiệm hiệu lực phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenee) của một số loại thuốc hóa học 32
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 33
2.6 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 33
CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
3.1 Thành phần sâu hại lúa và thiên địch của chúng ở xã Hưng Tây, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, vụ Hè thu năm 2014 34
3.1.1 Thành phần sâu hại lúa tại xã Hưng Tây, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An 34
3.1.2 Thành phần sâu hại lúa phổ biến theo giai đoạn sinh trưởng lúa tại xã Hưng Tây, huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An 36
3.1.3 Thành phần thiên địch sâu hại lúa tại xã Hưng Tây, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An 38
3.2 Một số đặc điểm sinh học, sinh thái của sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenee) hại lúa 40
3.2.1 Thời gian các pha phát dục của sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenee) 40
3.2.2 Đặc điểm hình thái pha sâu non sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenee)ở các tuổi khác nhau 46
3.2.3 Vị trí đẻ trứng sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenee) 46
3.2.4 Vị trí hóa nhộng của sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenee) 48 3.2.5 Tỷ lệ ký sinh ong đen kén trắng (Cotesia angustibasis Gahan) trên sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenee) 49
3.3 Mức độ gây hại sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenee) 50
3.3.1 Biểu hiện gây hại sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenee) 50
Trang 73.3.2 Diện tích lá và số lượng lá bị sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis
Guenee) gây hại 51
3.3.3 Đánh giá mức độ gây hại của sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis
Guenee) ở các mật độ sâu khác nhau 54 3.4 Diễn biến số lƣợng của sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenee)
tại xã Hƣng Tây, huyện Hƣng Nguyên, tỉnh Nghệ An, vụ Hè thu năm 2014 55
3.5 Hiệu lực phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenee) của
một số loại thuốc hóa học 59
3.6 Dự tính dự báo sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenee) tại xã
Hƣng Tây, huyện Hƣng Nguyên, tỉnh Nghệ An 61 KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ 64 TÀI LIỆU THAM KHẢO 66 PHỤ LỤC ẢNH
PHỤ LỤC SỐ LIỆU
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Diện tích nhiễm sâu CLN (Cnaphalocrocis medinalis Guenee) trên địa
bàn tỉnh Nghệ An vụ Hè Thu - Mùa từ năm 2010 đến năm 2013 3 Bảng 3.1 Thành phần sâu hại lúa tại xã Hưng Tây, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An vụ Hè Thu năm 2014 35 Bảng 3.2 Thành phần sâu hại phổ biến theo giai đoạn sinh trưởng của lúa tại xã Hưng Tây, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, vụ Hè Thu năm 2014 37 Bảng 3.3 Thành phần thiên địch sâu hại lúa tại xã Hưng Tây, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, vụ Hè Thu năm 2014 39 Bảng 3.4 Thời gian các pha phát dục sâu CLN(Cnaphalocrocis medinalis Guenee)41
Bảng 3.5 Đặc điểm hình thái pha sâu non sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis
medinalis Guenee) hại lúa 44
Bảng 3.6 Vị trí đẻ trứng của trưởng thành sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis
Bảng 3.14 Hiệu lực phòng trừ sâu CLN (Cnaphalocrocis medinalis Guenee) của
một số loại thuốc hóa học 59
Bảng 3.15 Bảng dự tính dự báo sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis
Guenee)tại xã Hưng Tây, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An 62
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ chung về tác động của các yếu tố lên quần thể côn trùng 9 Hình 1.2 Vùng tác động của các nhóm thiên địch đối với sâu hại 11
Hình 3.1 Vòng đời sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenee) 43
Hình 3.2 Kích thước pha sâu non sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis
Guenee) 45
Hình 3.3 Kích thước sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenee)ở các tuổi khác nhau 46 Hình 3.4 Vị trí đẻ trứng của trưởng thành sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis
medinalis Guenee) 48
Hình 3.5 Vị trí hóa nhộng của sâu CLN (Cnaphalocrocis medinalis Guenee) 49 Hình 3.6 Vết cắn của sâu CLN (Cnaphalocrocis medinalis Guenee) ở các tuổi
khác nhau 50 Hình 3.7 Sâu CLN nhả tơ khâu 2 mép lá làm tổ 51 Hình 3.8 Diện tích lá bị sâu cuốn lá nhỏ gây hại ở các tuổi sâu khác nhau 52 Hình 3.9 Diễn biến số lượng sâu cuốn lá nhỏ trên lúa trà sớm vụ Hè Thu 2014 tại xã Hưng Tây, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An 56 Hình 3.10 Diễn biến số lượng sâu CLN trên lúa trà muộn vụ Hè Thu 2014 tại xã Hưng Tây huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An 58 Hình 3.11 Hiệu lực phòng trừ của một số loại thuốc hóa học trừ sâu CLN 60
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cây lúa tên khoa học là Oryza sativa L là một trong năm loại cây lương
thực chính của thế giới, là cây trồng thân thiết, lâu đời nhất của nhân dân ta và nhiều dân tộc trên thế giới Đối với người dân Việt Nam trồng lúa là một nghề truyền thống từ rất xa xưa và kinh nghiệm sản xuất lúa đã hình thành, tích luỹ và phát triển cùng sự hình thành và phát triển của dân tộc Những tiến bộ khoa học
kỹ thuật trong nước và trên thế giới trên lĩnh vực nghiên cứu và sản xuất lúa đã thúc đẩy mạnh mẽ ngành trồng lúa nước ta vươn lên, bắt kịp trình độ tiên tiến của thế giới
Lúa là cây lương thực chính, là loại thực phẩm hạt quan trọng nhất trong bữa
ăn hàng ngày của 17 nước châu Á, 8 nước châu Phi và 7 nước châu Mỹ La Tinh Đối với các nước đang phát triển, lúa gạo cung cấp 27% năng lượng, 20% protein trong khẩu phần ăn hàng ngày Trên thế giới hàng năm lượng gạo xuất khẩu khoảng 15 triệu tấn với giá bình quân năm 2005 trên dưới 250 USD/tấn [27] Bên cạnh đó gạo còn là nguồn nguyên liệu rất quan trọng trong ngành dược phẩm, tất cả các viên nén của thuốc tân dược đều dùng tá dược là tinh bột gạo, sản xuất vitamin B1 chữa bệnh tê phù
Gạo dùng làm nguyên liệu để sản xuất rượu, bia Từ rơm rạ người ta xản xuất ra giấy caton chất lượng cao, ngoài ra còn dùng để nuôi trồng rất nhiều loài nấm có giá trị kinh tế cao
Cách mạng xanh trong nông nghiệp Việt Nam mấy chục năm qua gắn liền với việc thay đổi cơ cấu mùa vụ và mở rộng ngày càng nhiều các giống nhập nội
từ Viện lúa quốc tế và Trung Quốc Sự thay đổi mạnh mẽ và toàn diện hệ thống canh tác lúa với những đặc trưng là giống lúa cải tiến, phân bón hoá học và hoá chất bảo vệ thực vật được sử dụng ngày càng nhiều đã dẫn đến những thay đổi sâu sắc về sinh thái đồng ruộng Một số loài trước đây gây hại đáng kể, nhiều năm gây hại nghiêm trọng, song hơn 10 năm trở lại đây có thể coi chúng không
còn là dịch hại nữa như sâu gai (Dicladispa armigera), sâu cắn gié (Mythimna
separata) Trong khi đó một số loài trước đây là dịch hại thứ yếu, thì trong 20
Trang 12năm trở lại đây đã trở thành loại dịch hại chủ yếu, trong đó có sâu cuốn lá loại
nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenee) [27]
Sâu cuốn lá nhỏ hại lúa Cnaphalocrocis medinalis Guenee (Lepidoptera:
Pyralidae) là một trong nhứng đối tượng dịch hại chính trên cây lúa Sâu cuốn lá nhỏ phân bố khắp các vùng trồng lúa trong nước và trên thế giới Trưởng thành sâu cuốn lá nhỏ thường vũ hóa vào ban ngày và đẻ trứng vào ban đêm Sâu non
nở ra nhả tơ và cuốn dọc lá thành một bao nằm trong đó và gặm ăn biểu bì mặt trên lá (không ăn biểu bì mặt dưới lá tạo thành những vệt trắng dài, các vệt này
có thể nối liền nhau tạo thành từng mảng Chính vì vậy, sâu cuốn lá gây hại làm giảm khả năng quang hợp, đặc biệt nếu gây hại trên lá đòng hoặc lá cận đòng làm giảm năng suất rõ rệt [14]
Trong những năm gần đây, nhiều giống lúa với tiềm năng năng suất cao được áp dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp, đưa sản lượng lúa tăng lên rõ rệt Việc thay đổi cơ cấu giống đã tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng dịch hại phát sinh và gây hại, trong đó sâu cuốn lá nhỏ là một trong những đối tượng dịch hại chính
Theo Chi cục BVTV Nghệ An, sâu cuốn lá nhỏ phát sinh gây hại và bùng phát thành dịch vào vụ Hè Thu – Mùa năm 2010 với mật độ sâu cuốn lá nhỏ lứa
3, lứa 4, lứa 5 nơi cao 70 - 150 con/m2, cục bộ 300 - 400 con/m2 Tổng diện tích nhiễm sâu cuốn lá nhỏ lứa 3 là 20901,70 ha; lứa 4 là 41465,20 ha; lứa 5 là 60832,20 ha Trong đó diện tích nhiễm nặng lứa 3 là 4140,00 ha, lứa 4 là 20366,20 ha, lứa 5 là 29090,80 ha Số liệu diện tích nhiễm sâu cuốn lá nhỏ lứa 3, lứa 4, lứa 5 phát sinh trên địa bàn tỉnh Nghệ An từ năm 2010 đến năm 2013 được thể hiện Bảng dưới đây
Trang 13Bảng 1.1 Diện tích nhiễm sâu CLN (Cnaphalocrocis medinalis Guenee)
trên địa bàn tỉnh Nghệ An vụ Hè Thu - Mùa từ năm 2010 đến năm 2013
Đơn vị tính: Ha
Năm
Tổng DTN
DTN Nặng
Tổng DTN
DTN Nặng
Tổng DTN
DTN Nặng
2010 20901,70 4140,00 41465,20 20366,20 60832,20 29090,80
2011 1510,00 0,00 10679,00 1708,60 10899,60 1649,40
2012 3023,00 199,00 6221,20 440,00 328,00 20,00
(Nguồn: Chi cục BVTV Nghệ An)
Để phòng trừ đối tượng dịch hại này, hàng năm nông dân cả nước đã sử dụng hàng trăm tấn thuốc trừ sâu hóa học để phun Lượng thuốc này góp phần gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, gây chết các loài thiên địch có ích, gây ô nhiễm môi trường
Để góp thêm tài liệu làm cơ sở xây dựng các biện pháp phòng trừ sâu cuốn
lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenee) hại lúa đạt hiệu quả cao nhằm ngăn
chặn sự phát sinh gây hại nặng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Xác định
tình hình phát sinh, mức độ gây hại của sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenee) trên cây lúa và biện pháp phòng trừ tại xã Hưng Tây, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định được thành phần sâu hại, thiên địch của sâu hại lúa và một số
đặc điểm sinh học sinh thái của sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis
Guenee), tình hình phát sinh, mức độ gây hại, biện pháp phòng trừ để góp thêm dẫn liệu làm cơ sở chỉ đạo phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ tại xã Hưng Tây, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An
Trang 143 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Cung cấp thêm một số dẫn liệu về đặc điểm sinh học, sinh thái, quy luật
phát sinh gây hại của sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenee) làm cơ
sở để từ đó đề xuất các biện pháp phòng trừ thích hợp nhằm hạn chế tới mức thấp nhất sự gây hại sâu cuốn lá nhỏ hại lúa
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Xác định tình hình phát sinh gây hại và đặc điểm sinh học của sâu cuốn lá
nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenee) góp phần tích cực cho công tác dự tính
dự báo cũng nhƣ công tác chỉ đạo phòng trừ hiệu quả nhằm nâng cao năng suất chất lƣợng sản phẩm đồng thời đƣa ra đƣợc những khuyến cáo hợp lý hiệu quả trong công tác phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ
Trang 15CHƯƠNG I TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học
1.1.1 Đặc điểm sinh học sinh thái sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenee)
Trưởng thành có xu tính ánh sáng mạnh, con cái vào đèn nhiều hơn con đực Chúng thường vũ hóa vào ban đêm và hoạt động giao phối ngay sau khi vũ hóa 2 - 3 ngày thì đẻ trứng Theo tài liệu cục BVTV 1985, trong điều kiện tự nhiên ở đồng ruộng Việt Nam, mỗi ngài có thể đẻ trung bình 50 quả trứng trong suốt thời gian sống của nó 3 - 7 ngày Tuy nhiên sức đẻ trứng của ngài cái cuốn
lá nhỏ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó yếu tố thức ăn khi ăn thêm sau vũ hóa cũng ảnh hưởng đến số lượng trứng đẻ Khả năng đẻ trứng của ngài còn phụ thuộc vào điều kiện thời tiết (Nhiệt độ)
Khi nghiên cứu về vị trí đẻ trứng, tác giả Hà Quang Hùng [12] cho biết trứng được đẻ cả mặt trên và mặt dưới lá, tỷ lệ trứng đẻ mặt trên lá vụ mùa 1985
là 19,20% và mặt dưới lá là 80,80% Vụ mùa 1989 cho thấy trứng đẻ ở mặt trên
lá lúa là 22,10% và mặt dưới lá lúa là 77,90%
Trứng mới đẻ có màu trong, sau chuyển thành màu kem khi sắp nở Thời gian phát dục của pha trứng dài hay ngắn chủ yếu phụ thuộc vào điều kiện nhiệt
độ Trong điều kiện khí hậu Việt Nam, nhiều kết quả nghiên cứu xác định thời gian phát dục của pha trứng khoảng 3 - 4 ngày [35]
Trứng của ngài cuốn lá có hình bầu dục, dài khoảng 0,50 - 0,70mm; nhiệt
độ và ẩm độ không khí ảnh hưởng rất lớn tới thời gian phát dục pha trứng của cuốn lá nhỏ Ở nhiệt độ và ẩm độ không khí ảnh hưởng rất lớn đến thời gian phát dục pha trứng của sâu cuốn lá nhỏ Ở nhiệt độ 24oC và ẩm độ trên 80% thì thời gian trứng nở là 4 ngày Từ tuổi 2 sâu bắt đầu nhả tơ và cuốn lá làm tổ, gặm chất xanh của lá, sâu cuốn lá Thời gian trung bình mỗi tuổi sâu là 3 ngày Khả năng sống và phát triển của sâu non không chỉ phụ thuộc vào nguồn thức ăn mà còn phụ thuộc vào nhiệt độ và ẩm độ của môi trường
Sâu non cuốn lá nhỏ gây hại thời kỳ mạ cũng như các giai đoạn của lúa, nhưng phá mạnh nhất là khi lúa đẻ nhánh đến ngậm sữa Khi cây lúa có nhiều lá
Trang 16bị cuốn thì khả năng quang hợp của cây lúa bị giảm, dẫn tới giảm năng suất, đặc biệt khi lá đòng bị hại [22] Vòng đời sâu cuốn lá nhỏ chịu ảnh hưởng rõ rệt yếu
tố nhiệt độ Nhiệt độ càng gần tới ngưỡng tối thích thì thời gian phát dục các pha càng ngắn Ở nhiệt độ 20oC - 24oC, thời gian phát dục của pha trứng 4 - 5 ngày, pha sâu non 23 - 35 ngày, pha nhộng 7 - 9 ngày, pha trưởng thành 3 - 8 ngày, vòng đời 37 - 44 ngày Còn ở nhiệt độ 26oC - 29oC thì vòng đời của sâu cuốn lá nhỏ được rút ngắn lại chỉ còn 27,94 4,24 ngày [11]
1.1.2 Hệ sinh thái nông nghiệp và dịch hại cây trồng
* Hệ sinh thái tự nhiên và hệ sinh thái nông nghiệp
Hệ sinh thái tự nhiên là một hệ thống bao gồm các sinh vật tác động qua lại với môi trường bằng các dòng năng lượng tạo nên cấu trúc dinh dưỡng nhất định,
sự đa dạng về loài và chu trình tuần hoàn vật chất
Hệ sinh thái nông nghiệp vốn là hệ sinh thái tự nhiên được con người biến đổi để sản xuất lương thực, thực phẩm, sợi và các sản phẩm nông nghiệp khác
Hệ sinh thái đồng ruộng là sự tồn tại của sinh vật (bao gồm các sinh vật sống như cây trồng, cỏ dại, chuột, sâu hại, côn trùng ăn thịt, ký sinh, chim, ếch, ) trong môi trường nhất định (đất, nước, không khí, )
Hệ sinh thái nông nghiệp có khả năng tạo ra khối lượng nông sản có ích cho con người Con người không ngừng cải tạo, hoàn chỉnh theo hướng có lợi cho mình, cho hệ sinh thái nông nghiệp đơn giản, ít thành phần hơn hệ sinh thái tự nhiên
Hệ sinh thái nông nghiệp kém bền vững cho nên muốn tồn tại phải có tác động của con người Tuy nhiên, cây trồng theo quy luật tự nhiên là thức ăn của nhiều loài sinh vật Hệ sinh thái nông nghiệp càng được chăm sóc, cây trồng càng trở thành nguồn thức ăn tốt cho sinh vật đó Chúng hoạt động mạnh, tích luỹ số lượng phát triển thành dịch tác động đến toàn bộ hệ sinh thái nông nghiệp Các loài sinh vật gây hại cho cây chiếm giữ những khâu nhất định trong chuỗi dây chuyền dinh dưỡng, tham gia một cách tự nhiên vào chu trình chuyển hoá vật chất tự nhiên [12]
* Dịch hại cây trồng là trạng thái tự nhiên của hệ sinh thái nông nghiệp
Trang 17Thực tiễn sản xuất nông nghiệp cho thấy một trong những nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất về năng suất và phẩm chất của cây trồng là dịch hại Dịch hại làm giảm năng suất và làm cho cây trồng không thể tiến hành tạo năng suất một cách bình thường Sinh vật gây hại còn tiết ra các chất có tác động làm rối loạn hoạt động sống của tế bào, làm ảnh hưởng đến phẩm chất cây trồng, làm giảm giá trị hàng hoá của nông sản Nói chung, dịch hại gây tổn hại cho cây trồng nông nghiệp ở nhiều mặt (số lượng và chất lượng nông sản), mức độ gây hại khác nhau tuỳ thuộc vào loại cây trồng và vùng sinh thái
Sâu hại cây trồng là trạng thái tự nhiên của hệ sinh thái nông nghiệp Nói về tác hại của một loài sinh vật nào đó, thực ra là xét dưới góc độ lợi ích của nó đối với con người Trong tự nhiên không có loài sinh vật gây hại cũng không có sinh vật nào hoàn toàn có lợi Thực ra, mỗi loài sinh vật đều có một vị trí nhất định trong mạng lưới dinh dưỡng của hệ sinh thái, chúng thực hiện những chức năng riêng trong chu trình chuyển hoá vật chất của tự nhiên Ở vòng tuần hoàn vật chất các loại sinh vật tồn tại hài hoà với nhau khi hệ sinh thái hoạt động bình thường
Do đó, đảm bảo cho hệ sinh thái tồn tại và phát triển Trên cơ thể cây trồng và xung quanh các loài cây trồng có rất nhiều loại sinh vật khác nhau cùng tồn tại Trong số đó, có loài cần thiết cho hoạt động sống của cây trồng, thiếu chúng cây không thể sống được một cách bình thường Bên cạnh đó, có loài sinh vật lấy cây làm thức ăn Mặc dù vậy, không phải tất cả tất cả sinh vật lấy cây trồng làm thức
ăn đều là dịch hại đối với con người: côn trùng ăn cỏ dại trở thành côn trùng có ích Côn trùng bắt mồi, ký sinh là yếu tố điều hoà quần thể dịch hại, tạo điều kiện cho dịch hại giữ được số lượng thích hợp cho hệ sinh thái
Như vậy “Sinh vật có lợi hay có hại không phải là thuộc tính của một sinh vật nào đó mà là đặc tính của loài đó trong mối quan hệ dinh dưỡng nhất định của mỗi hệ sinh thái” Các loài sinh vật vừa là điều kiện tồn tại của nhau vừa là yếu tố hạn chế nhau trong chuỗi dinh dưỡng của chu trình tuần hoàn vật chất Vì vậy, dịch hại cây trồng là trạng thái tự nhiên của hệ sinh thái nông nghiệp [12]
* Mối quan hệ giữa sâu hại và cây trồng
Trang 18Mật độ quần thể sâu hại và thức ăn có quan hệ mật thiết với nhau Khi lượng thức ăn nhiều thì mật độ sâu hại cao Như vậy, yếu tố thức ăn ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất giữa cơ thể sâu hại và môi trường Nó làm kéo dài hoặc rút ngắn vòng đời hoặc pha phát dục, làm tăng cường hoặc hạn chế khả năng sinh sản của sâu hại từ đó làm thay đổi quy luật phát sinh của loài sâu hại ở từng vùng sinh thái nhất định
Cây trồng là nguồn thức ăn chính của sâu hại vì vậy loài sâu hại và số lượng sâu hại có liên quan đến cây trồng (Sự sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng, )
1.1.3 Biến động số lượng côn trùng
Các quy luật điều chỉnh số lượng của sinh vật là một trong những vấn đề trung tâm của sinh thái học hiện đại Sự khủng hoảng trong công tác bảo vệ thực vật càng làm tăng giá trị thực tiễn của vấn đề Việc sử dụng không hợp lý và quá lạm dụng các loại thuốc hoá học trừ sâu, bệnh, cỏ dại đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sống cũng như đã làm suy giảm tính đa dạng sinh học và sự phát triển bền vững của hệ sinh thái nông nghiệp Bên cạnh đó còn tiêu diệt một
số lượng không nhỏ các loài côn trùng có ích mà trong nhiều trường hợp chính những loài này lại có vai trò tích cực đối với việc kìm hãm sự bùng phát dịch của các loài sâu hại Vì vậy đã làm cho số lượng của các quần thể có lợi cũng như có hại biến đổi theo chiều hướng không mong muốn
Số lượng của các loài sâu hại nói riêng và côn trùng nói chung thường có sự dao động giữa các pha với nhau và từ thế hệ này sang thế hệ khác Sự biến động
số lượng của sâu hại có mối quan hệ với thiên địch và yếu tố gây bệnh Đối với côn trùng ăn thịt, sự điều chỉnh số lượng quần thể quan trọng là sự cạnh tranh trong loài Sự cạnh tranh trong loài là cơ chế điều hoà cao nhất Cơ chế này tác động ở mức độ số lượng cao, khi nguồn thức ăn dự trữ bị cạn kiệt và sự át chế lẫn nhau của các cá thể cùng loài Ngoài sự cạnh tranh, các mối quan hệ trong loài có một số cơ chế cơ bản tự điều hoà số lượng như tác động tín hiệu thường xảy ra trong sự tiếp xúc giữa các cá thể cùng loài
Trang 19Trên cơ sở xem xét hàng loạt dẫn liệu về sự biến động số lượng và các dạng
cơ chế điều hoà số lượng, Viktorov (1967) đã tổng hợp khái quát thành sơ đồ chung của biến động số lượng côn trùng Một trong những đặc trưng của quần thể là mật độ cá thể trong quần thể được xác định bởi sự tương quan của các quá trình tăng thêm và giảm bớt đi số lượng cá thể Tất cả các yếu tố biến động số lượng đều tác động đến các quá trình này khi chúng làm thay đổi sức sinh sản, tỷ
lệ tử vong và sự phát tán của các cá thể Các yếu tố vô sinh mà trước tiên là điều kiện khí hậu, thời tiết tác động biến đổi lên côn trùng được thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua thức ăn, thiên địch
Sự điều hoà được đảm bảo bằng sự tồn tại của các mối liên hệ ngược trở lại Điều đó phản ánh ảnh hưởng của mật độ quần thể lên sức sinh sản, tỷ lệ tử vong
và sự di cư trực tiếp thông qua mối quan hệ bên trong loài cũng như sự thay đổi đặc điểm của thức ăn và đặc tính tích cực của thiên địch Chính nhờ mối quan hệ ngược này đã đảm bảo cho quần thể luôn cân bằng giữa sự tăng lên và giảm xuống của số lượng cá thể trong quần thể [27]
Hình 1.1 Sơ đồ chung về tác động của các yếu tố lên quần thể côn trùng [18]
Thức ăn
Quan hệ trong loài
Sức sinh sản, tỷ lệ chết, di cư
Thiên địch
Mật độ quần thê Yếu tố
vô sinh
Trang 20Các sinh vật ăn côn trùng chuyên hoá có khả năng thực hiện sự điều hoà số lượng cá thể ở cả mật độ thấp được xác nhận trong thực tiễn của phương pháp sinh học đấu tranh chống côn trùng gây hại Còn đối với các loài ký sinh và ăn thịt chuyên hoá chúng có thể hoạt động trong phạm vi rộng hơn của mật độ quần thể vật chủ (con mồi) nhờ khả năng tăng số lượng với sự gia tăng mật độ của sâu hại Điều này đã được ghi nhận trong thực tế ở những trường hợp khả năng khống chế sự bùng phát sinh sản hàng loạt của sâu hại bởi sinh vật ăn côn trùng chuyên hoá Vai trò quan trọng của ký sinh, ăn thịt được coi là yếu tố điều hoà số lượng của côn trùng và được thể hiện ở hai phản ứng đặc trưng là phản ứng số lượng và phản ứng chức năng
Phản ứng số lượng thể hiện khi gia tăng quần thể vật mồi và vật chủ thì kéo theo sự gia tăng số lượng vật ăn thịt, vật ký sinh Phản ứng chức năng được biểu thị ở chỗ khi mật độ quần thể vật mồi (vật chủ) gia tăng thì số lượng cá thể của chúng bị tiêu diệt bởi vật ăn thịt (vật ký sinh) cũng tăng lên
Như vậy, sự điều hoà số lượng côn trùng được thực hiện bằng một hệ thống hoàn chỉnh các cơ chế điều hoà liên tục kế tiếp nhau Các cơ chế điều hoà rất tốt
ở cả những loài có số lượng cao và cả những loài có số lượng thấp Phòng trừ tổng hợp sâu bệnh hại cây trồng (IPM) dựa trên mối quan hệ tương hỗ giữa cây trồng - sâu hại - thiên địch trong hệ sinh thái nông nghiệp và các nguyên tắc sinh thái, tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái nông nghiệp [18]
1.1.4 Sự điều chỉnh số lượng quần thể
Điều hoà tự nhiên gồm cả trạng thái cân bằng và phá vỡ cân bằng Những yếu tố vô sinh của môi trường có tác động quan trọng trong hai trạng thái này Khi trong môi trường khá ổn định, có một cơ chế điều hoà mật độ là nguyên nhân chính gây nên sự thay đổi mật độ thì những yếu tố vô sinh chỉ tác động theo kiểu gián tiếp là chủ yếu
Quần thể sinh vật sống trong môi trường không phải chỉ thích nghi một cách bị động với những tác động của môi trường mà có thể làm thay đổi môi trường theo hướng có lợi cho mình Do đó, điều chỉnh số lượng phù hợp với
Trang 21dung tích sống của môi trường là một chức năng rất quan trọng với bất kỳ quần thể nào (cơ chế duy trì trạng thái cân bằng của quần thể)
Hình 1.2 Vùng tác động của các nhóm thiên địch đối với sâu hại [24]
A - Vùng tác động của thiên địch đa thực, B - Vùng tác động của thiên địch chuyên hóa (trừ vi sinh vật gây bệnh), C - Vùng tác động của vi sinh vật gây bệnh, D - Vùng tác động của cơ chế cạnh tranh trong loài
Cơ chế tổng quát điều chỉnh số lượng của quần thể chính là mối quan hệ nội tại được hình thành ngay trong các cá thể cấu trúc nên quần thể và trong mối quan hệ của các quần thể sống trong quần xã và hệ sinh thái
Trong quá trình điều chỉnh số lượng quần thể thì mật độ có vai trò rất quan trọng, nó như một “tín hiệu sinh học” thông báo cho quần thể biết phải phản ứng như thế nào trước biến đổi của các yếu tố môi trường
Đối với vật chủ - vật ký sinh, mối quan hệ giữa chúng là một trong các cơ chế điều chỉnh mật độ của cả hai quần thể gọi là mối quan hệ “dãy thức ăn 3 bậc”: Vật chủ (bậc 1) - Vật ký sinh bậc 1 (bậc 2) - Vật ký sinh bậc 2 (bậc 3) Mối quan hệ này trong tự nhiên tạo ra một cân bằng động giữa số lượng vật chủ và vật
ký sinh Các yếu tố phụ thuộc mật độ giúp cho quần thể điều chỉnh số lượng,
Giới hạn được xác định bởi nguồn tài nguyên
Cạnh tranh trong loài
Thiên địch đa thực Thiên địch chuyên hoá Bệnh dịch
Thời gian
Trang 22ngăn ngừa tình trạng dư thừa dân số và xác lập trạng thái cân bằng bền vững thông qua hai quá trình tự điều chỉnh là sinh sản và sự tử vong [24]
1.2.Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.2.1 Nghiên cứu về thành phần sâu hại lúa
Trên thế giới có khoảng 800 loài sâu hại lúa [18] Chiu S.F (1980) [41] có nhận xét ở các nước trồng lúa khác nhau, các loài sâu hại chính trên lúa cũng khác nhau; ở vùng nam Trung Quốc các loài sâu hại chính trên lúa là sâu đục thân bướm 2 chấm sâu đục thân 5 vạch, sâu cuốn lá nhỏ, rầy nâu, rầy xanh đuôi đen, sâu năn, bọ trĩ
Ở mỗi vùng sinh thái có số loài sâu hại chính trên cây lúa khác nhau Các kết quả nghiên cứu đã ghi nhận ở châu Á có số loài sâu hại chính trên lúa nhiều nhất 28 loài, châu Úc 9 loài, châu Phi 15 loài, châu Mỹ 13 loài (Kiritani, 1979) [46]
Các giai đoạn sinh trưởng khác nhau của cây lúa cũng có số lượng loài sâu hại chính khác nhau, giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng có khoảng 22 loài, giai đoạn làm đòng đến trỗ có khoảng 8 loài và giai đoạn chín có 3 - 4 loài (Norton
et al, 1990) [47]
Nhìn chung sâu hại trên lúa rất phong phú về chủng loài Tuy nhiên, mỗi giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây và mỗi một vùng trồng lúa khác nhau
có một phức hợp loài sâu hại chính khác nhau
1.2.2 Nghiên cứu về thiên địch của sâu hại lúa
Thiên địch của sâu hại rất đa dạng và phong phú, chúng có vai trò rất quan trọng không những góp phần điều chỉnh mật độ quần thể sâu hại phát triển dưới ngưỡng gây hại kinh tế ở một điều kiện cụ thể nào đó mà còn giúp con người hạn chế số lần phun thuốc hóa học trên đồng ruộng, bảo vệ môi trường sinh thái ổn định
Số lượng côn trùng các loài ký sinh rất phong phú, ở Trung Quốc có tới 30
loài ong ký sinh, trong đó loài có khả năng ký sinh cao nhất là (Apanteles
cypris) và (Elamus sp.) Trong năm tỷ lệ ký sinh sâu non do loài (Apanteles cypris) ở lứa 3 chiếm 36,2%, lứa 4 chiếm 21,6% (CABI, 1999) [39] Chen và
Trang 23Chiu (1983) [40] cho thấy có 25 loài thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ, trong đó có
21 loài ong ký sinh, 2 loài nhện ăn thịt và 2 loài nấm gây bệnh
Trong 3 nhóm thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ là nhóm bắt mồi ăn thịt, nhóm
ký sinh và nhóm vi sinh vật gây bệnh thì nhóm ký sinh đặc biệt là nhóm ký sinh chuyên tính có mối quan hệ rất chặt chẽ, có vai trò rất quan trọng trong việc làm giảm mật độ quần thể sâu cuốn lá nhỏ trên đồng ruộng (CABI, 1999) [39] W.H.Reissing và et al (1986) [48] cho biết trên đồng ruộng vùng nhiệt đới các
kẻ thù tự nhiên của sâu cuốn lá nhỏ hoạt động rất tích cực, chúng tấn công sâu cuốn lá nhỏ ở các pha phát dục Ngoài nhóm thiên địch bắt mồi và ký sinh, nhóm
vi sinh vật gây bệnh cho sâu cuốn lá nhỏ bao gồm các loài nấm, vi khuẩn, vi rút có vai trò không nhỏ trong việc làm tăng chết tự nhiên của sâu cuốn lá nhỏ trên đồng ruộng, làm giảm mật độ sâu cuốn lá nhỏ cùng với các nhóm thiên địch khác
1.2.3 Nghiên cứu về sâu cuốn lá nhỏ
1.2.3.1 Nghiên cứu về tên và thành phần loài
Theo nghiên cứu của Abraham xuất xứ tên gọi và phân loại của sâu CLN như sau:
Tên thường gọi: Cnaphalocrocis medinalis (Guenee, 1854)
Salbia medinalis Guenee 1854
Botys rutilalis Walker 1859
Botys iolealis Walker 1859
Cnaphalocrosis jolynalis Lederer 1863
Botys acerrimalis Walker 1865
Marasmia medinalis castensziana Rothschild
Cnaphalocrocis iolealis Walkel
Trang 24Nghiên cứu của Reissig et al 1986 cũng như của Dale 1994 đã ghi nhận có
4 loài sâu CLN thuộc họ ngài sáng (Pyralidea), bộ cánh vảy (Lepidoptera) đó là:
Cnaphalocrocis medinalis Guenee
Marasmia (Susumia) exigua Butler
Marasmia patnalis (Bradley)
Và Marasmia Ruralis (Walker)
Trong số chúng phổ biến là Cnaphalocrosis medinalis Guenee [15]
1.2.3.2 Nghiên cứu về sự phân bố
Phạm vi phân bố của sâu cuốn lá nhỏ rất rộng, chúng có mặt ở 3 trong 6 châu lục đó là châu Á, châu Phi và châu Đại Dương Châu Á là một trong những châu lục có diện phân bố sâu CLN tập trung nhất điển hình như Trung Quốc, Ấn
Độ, Thái Lan, Bangladesh, Butan, Philippin, Singapo, Malaysia, Indonesia, Ở châu Đại Dương sâu CLN gây hại ở quần đảo Xamoa, đảo Carolin, Úc, [39].Bản đồ phân bố sâu CLN được CIE thể hiện năm 1987, sau đó Khan và cộng sự bổ sung năm 1988 [45] rồi được Barion và cộng sự hoàn chỉnh năm
1991 (CABI, 1999) [39] Theo đó sâu cuốn lá nhỏ có phạm vi phân bố rộng Chúng có mặt ở 3 trong số 6 châu lục 6 châu lục, đó là Châu Á, châu Phi và châu Đại Dương Ở các châu này sâu CLN xuất hiện và gây hại hầu hết các nước trồng lúa Châu Á là châu lục có diện tích phân bố sâu CLN phổ biến và tập trung nhất Hầu như các nước châu Á đều thấy sự có mặt của loài sâu này Như vậy sâu CLN phân bố chủ yếu ở vùng Nam và Đông Nam châu Á thuộc những nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa và cũng là nơi có diện tích trồng lúa lớn nhất thế giới
1.2.3.3 Nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh thái
Trước khi bắt đầu hoạt động gây hại, sâu CLN cuốn lá tạo thành tổ bằng cách nhả tơ khâu 2 mép lá lại với nhau để bảo vệ chính nó, sâu chỉ gặm ăn phần chất xanh (thịt lá) để lại lớp biểu bì mặt dưới lá màu trắng, trong suốt, chạy dọc theo gân chính Trường hợp cây bị hại nặng, bộ lá trở lên khô xác (Shen et al, 1984) [49] Do đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng quang hợp của cây lúa dẫn đến năng suất lúa bị giảm sút, thậm chí có thể bị mất trắng
Trang 25Ở Trung Quốc, Cnaphalocrocis medinalis Guenee phân bố ở diện rộng
CABI (1999) [39] dẫn tài liệu của Chang et al (1981) cho rằng loài này xuất hiện và gây hại ở phía Bắc Trung Quốc từ mùa xuân đến đầu mùa hè Tại vùng Tây Nam, chúng qua đông và bắt đầu vào mùa thu Qua nhiều năm nghiên cứu,
họ thấy rằng ở quần thể sâu hại này, sức đẻ trứng trung bình là 153 trứng/con cái Theo Gu và Chang (1987), sâu CLN rất phù hợp với điều kiện thời tiết, khí
hậu ở Trung Quốc Các giai đoạn phát dục của Cnaphalocrocis medinalis
Guenee ngắn lại khi nhiệt độ cao, Sau khi qua đông, hoạt động sinh sản của con cái trở lại bình thường (dẫn bởi CABI, 1999) [39] Chang et al (1981) cho rằng
có 5 lứa sâu trong một năm ở Trung Quốc Vào tháng 8 và tháng 9, quần thể sâu hại tạm ngừng sinh trưởng Ngài sống từ 4 - 7 ngày (dẫn bởi CABI, 1999) [39] Theo nghiên cứu của Hirao (1982) [44], tại Trung Quốc sự bùng phát dịch của
Cnaphalocrocis medinalis Guenee gây ra vào các năm 1967, 1970, 1971, 1974,
1981 Đặc biệt tại tỉnh Jiangsu dịch sâu CLN xảy ra vào các năm 1973, 1977,
1979 Barrion et al (1991) [38] khi nghiên cứu về sâu cuốn lá nhỏ ở Philipin thấy rằng thời gian từ trứng đến trưởng thành là 25 - 52 ngày, trứng là 3 - 6 ngày, sâu non 15 - 36 ngày, nhộng 6 - 9 ngày, khả năng đẻ của con cái 15 - 36 ngày Tuy nhiên theo Gonxales (1974) [43], thời gian đẻ trứng của sâu CLN từ
o
C là 35 - 49,2 ngày Vòng đời kéo dài 73,5 ngày ở nhiệt độ 17,5oC Tỷ lệ trứng nở từ 80 - 100% trong điều kiện nhiệt độ 17,5oC – 30
lá lúa giai đoạn làm đòng, thời gian phát dục là 18,5 - 20,5 ngày Thời gian
Trang 26nhộng là 5,3 ngày ở nhiệt độ 30oC; 5,8 ngày ở nhiệt độ 27,5oC và 7,6 ngày ở nhiệt độ 25oC Ở hầu hết các điều kiện nhiệt độ khác nhau con đực thường sống lâu hơn con cái (dẫn bởi CABI, 1999) [39]
1.2.3.4 Nghiên cứu về phạm vi ký chủ
Ký chủ chính của sâu cuốn lá nhỏ là cây lúa (Oryza sativa L.) Những cây
ký chủ phụ của sâu cuốn lá nhỏ như cây ngô, cây cao lương, cây lúa mì và một số loại cỏ như cỏ lồng vực, cỏ lá tre, cỏ gà nước, cỏ lá tranh, cỏ đuôi phụng Sâu cuốn lá nhỏ có thể tồn tại trên đồng khi thiếu vắng cây ký chủ chính, sự di chuyển của chúng qua các mùa vụ nhờ các cây trồng là các ký chủ phụ quanh ruộng lúa
1.2.3.5 Nghiên cứu về tập tính ăn
Thí nghiệm thử sức ăn của loài sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis
Guenee) trên giống chống và giống nhiễm được kiểm tra bằng hệ thống máy ghi điện tử (The Electronic monitoring System - EMS) do R.C Saxena và Z.R Khan thí nghiệm năm 1991 Thí nghiệm được tiến hành trên giống chống TKM.6 và giống nhiễm IR.36 với sâu non tuổi 3 Kết quả cho thấy sau 60 phút quan sát, trên giống nhiễm IR.36 sâu non ăn trung bình gần 27 phút, trong khi trên giống TKM.6 sâu non chỉ ăn trung bình 10,8 phút Trong 24h, trên giống nhiễm sâu non tuổi 3 ăn hết 3,36 ± 0,5cm2 lá, còn trên giống chống sâu non chỉ ăn hết 2,29
± 0,04cm2 (Độ tin cậy P < 0,05) Điều này chứng tỏ khả năng gây hại trên giống
chống thấp hơn giống nhiễm [45]
1.2.3.6 Nghiên cứu về thiên địch
Sâu cuốn lá nhỏ có một tập hợp thiên địch phong phú gồm 3 nhóm: Bắt mồi, ký sinh, vi sinh vật gây bệnh Trên thế giới đã phát hiện 103 loài thuộc họ cánh màng và bộ hai cánh ký sinh trên 3 pha phát dục (Trứng, sâu non, nhộng) của sâu cuốn lá nhỏ Con số này chung cho một số nước ở Châu Á như Philipin,
Ấn Độ, Nhật Bản, là hơn 60 loài Ít nhất đã ghi nhận được 19 loài bắt mồi thuộc
bộ nhện lớn, bộ cánh nửa, bộ cánh màng Nhóm sinh vật gây bệnh cho sâu cuốn
lá nhỏ gồm một số loài nấm, vi khuẩn, virus Các sinh vật gây bệnh cho sâu cuốn
Trang 27lá nhỏ chủ yếu ở pha sâu non bao gồm: Beauveria bassiana Balls, Penicillium
Oxalicum Curric, Syncephalastrum racemosum Cohn, Bacilus thuringinsis
Berliner, (Chiu, 1980; IRRI, 1987; JICA, 1981; Joshi ct al., 1987) [41]
Các loài ký sinh sâu cuốn lá nhỏ được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn Nghiên cứu của Yashumatshu (1964) cho thấy nhiều loài ký sinh có vai trò lớn
trong việc hạn chế sâu cuốn lá nhỏ như các loài ong ký sinh sâu non Apanteles
cipris, Cotesia flavipes, Bracon sp., ong ký sinh nhộng Xanthopimpla spp.,
Ong ký sinh đa phôi (Copidosomopsis nacoleiae) và ong ký sinh mắt đỏ (Trichogramma sp.) là những ký sinh quan trọng của pha trứng sâu cuốn lá nhỏ
1.2.3.7 Nghiên cứu về biện pháp phòng trừ
Trước hết cần quan niệm khách quan và hợp lý về các loài sâu ăn lá lúa Bình thường khái niệm sâu ăn lá lúa không đồng nghĩa với sâu hại Nó chỉ thực hiện chức năng trong hệ sinh quần đồng ruộng, tham gia thực hiện chu chuyển dòng năng lượng trong tự nhiên Tác động ăn lá của sâu có lợi cho cây lúa khi bộ
lá quá rậm rạp, đồng thời đây cũng là nguồn dinh dưỡng cho nhiều thiên địch trên ruộng lúa, tạo nên mạng lưới thức ăn bền vững trong hệ sinh quần ruộng lúa Chỉ khi sâu phát triển quá mức gây hại đáng kể cho cây lúa thì được xem là dịch hại của cây trồng Các nhóm biện pháp trong phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ được nghiên cứu trên thế giới gồm: Biện pháp sử dụng giống kháng, biện pháp canh tác, biện pháp biện pháp sinh học, biện pháp hóa học
Biện pháp sử dụng giống kháng:
Ở Trung Quốc các chương trình nghiên cứu chọn giống chống chịu cuốn lá nhỏ đã được tiến hành (Peng 1982), ở Ấn Độ (Nadarajan và Nair 1983) và ở Viện lúa Quốc tế IRRI (Gonxales, 1974) Trên 17.914 loài trong tập đoàn quỹ gen lúa thế giới được khảo nghiệm, có 35 loài (0,2%) là có tính chống cuốn lá nhỏ, 80 loài (0,45%) có mức chống trung bình, 4 loài có tính chống tốt nhất (Darukasail, Choorapundi Balam và Gara) Nhiều giống lúa được chọn lọc từ 10 nước: Bangladesh, Trung Quốc (Trung Hoa và Đài L o a n , Ấn Độ, Indonesia, Italy, Malaysia, Philippines, Srilanca và Thái Lan được nhập vào quỹ gen Quốc tế ở IRRI Hầu hết các giống được khảo nghiệm (8.297) là từ Ấn Độ, 16 giống từ
Trang 28Bangladesh có khả năng chống hoặc chống ở mức trung bình cuốn lá nhỏ Bộ sưu tập giống lúa dại của IRRI có khoảng 1000 loài, 8 trong số 257 loài được khảo nghiệm là có tính chống và 3 giống có tính chống mức trung bình cuốn lá nhỏ Trong khi đó không có giống lúa nào của Mỹ có tính chống cuốn lá nhỏ, chỉ
có khoảng 2 trong 632 dòng có tính chống cuốn lá nhỏ được lai tạo có năng suất cao, thấp cây, đẻ nhánh khoẻ, chịu phân ở Đông Nam Á thì chưa có giống nào chống sâu cuốn lá nhỏ [48] Các giống lúa chống chịu sâu cuốn lá nhỏ cũng góp phần tích cực trong việc hạn chế mức gây hại của chúng
Biện pháp canh tác:
Biện pháp canh tác là một biện pháp có ảnh hưởng lớn đến mật ñộ sâu cuốn
lá nhỏ có mặt trên đồng ruộng Cần chú ý tiêu diệt kí chủ phụ quanh bờ là nơi cư trú của chúng mỗi khi chuyển vụ, là nguồn sâu quan trọng để chuyển sang vụ sau, cỏ bấc là một trong những cây kí chủ chính để sâu cuốn lá nhỏ tồn tại và phát triển Những ruộng lúa gần mương máng nhiều cỏ bấc thì có mật độ sâu cao hơn những nơi khác
Phương pháp bón phân hợp lý, cân đối NPK, đặc biệt không nên bón phân đạm quá muộn (tức là không nên bón đạm sau khi lúa bước sang giai đoạn tượng khối sơ khởi), vì nếu bón đạm muộn thì sẽ kéo dài thời gian sinh trưởng cây lúa, bộ lá xanh non, thu hút trưởng thành đến tập trung và đẻ trứng, yếu tố này rất thuận lợi cho sâu cuốn lá nhỏ phát sinh và gây hại
Bằng các công thức bón lót toàn bộ hay chỉ 1/2 lượng bón lót và 1/2 lượng còn lại bón thúc hoặc bón vãi toàn bộ vào ngày thứ 15 sau cấy hoặc bón toàn bộ bằng cách vo viên dúi gốc vào ngày thứ 15 sau cấy hoặc là 1/2 lượng đạm bón vào ngày thứ 15 sau cấy và 1/2 lượng còn lại vào ngày thứ 35 Tất cả các công thức trên đều được theo dõi ở 2 mức phân bón là 76 kg N/ha và 150 kg N/ha, kết quả cho thấy tất cả các công thức bón lót đều bị sâu cuốn lá nhỏ gây hại nặng hơn sau đó mới đến bón thúc [36]
Mật độ cấy cũng có ảnh hưởng lớn đến mật độ sâu cuốn lá nhỏ phát sinh phát triển, không nên cấy mật độ quá dày, nên cấy với khoảng cách khoảng 22,5
x 20 cm cũng có tác dụng hạn chế mật độ sâu cuốn lá nhỏ trên đồng ruộng Việc
Trang 29bố trí thời vụ gieo cấy cũng ảnh hưởng đến mật độ sâu cuốn lá nhỏ nếu bố trí cấy thời vụ sớm thì cây lúa sinh trưởng nhanh có tác dụng tránh được lứa sâu cuốn lá gây hại vào khoảng cuối tháng 8 đến đầu tháng 9 giúp cho cây lúa ít bị ảnh hưởng của lứa sâu này [16]
Biện pháp sinh học:
Đấu tranh sinh học là một trong những giải pháp trong hệ thống phòng trừ tổng hợp đem lại hiệu quả về kinh tế, an toàn môi trường và giữ cân bằng sinh thái Việc lợi dụng kẻ thù tự nhiên của sâu cuốn lá nhỏ để khống chế mật độ của chúng dưới ngưỡng gây hại là mục tiêu của các nhà bảo vệ thực vật với rất nhiều giải pháp khác nhau như nuôi, nhân thả thiên địch, nhập nội, bảo vệ và tăng cường hoạt động của thiên địch bằng cách hạn chế sử dụng thuốc trừ sâu, không
sử dụng những loài thuốc có độ độc cao với thiên địch, tạo môi trường thuận lợi cho thiên địch phát triển
Tại Quảng Đông Trung Quốc loài ong Trichogramma japonicum
Aslimead đã được sử dụng để diệt trứng sâu cuốn lá nhỏ có tác dụng làm giảm
tỷ lệ lá lúa bị sâu hại là 92,8% so với đối chứng Lượng ong thả là 15 vạn con/ha nếu mật độ là 5 trứng / khóm, có thể thả liên tục 3 - 4 lần cách nhau 1 - 2 ngày
Ong Apanteles cypris cũng là loài ong kí sinh chuyên tính trên sâu non tuổi nhỏ
rất phổ biến tại Trung Quốc Việc phun lên cây lúa chất Kairomon và chất tiết từ tuyến nước bọt của sâu non đã làm tăng tỷ lệ kí sinh tới 15 - 25% (Theo Chen C.C., S.F Chiu (1983) [40]
Biện pháp hoá học
Có rất nhiều loại thuốc trừ sâu khác nhau dùng để phòng trừ sâu CLN Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc hoá học trong phòng trừ sâu hại nói chung và sâu CLN nói riêng đòi hỏi rất thận trọng bởi những tác động tiêu cực của chúng với quần thể thiên địch, môi trường sinh thái và sức khoẻ con người Biện pháp hữu ích nhất là phun thuốc để trừ sâu CLN ít nhất là 30 ngày sau cấy hoặc 40 ngày sau sạ Mức độ thiệt hại trên lá đòng cao hơn 50% từ giai đoạn làm đòng - chín
có thể sử dụng các loại thuốc trừ sâu để phun Ruộng lúa sẽ tránh được thiệt hại
do sâu CLN gây ra khi quản lý tốt nước và dinh dưỡng Nhóm thuốc Pyrethroid
Trang 30và các thuốc trừ sâu có phổ rộng có thể tiêu diệt được sâu non song có thể gây rủi ro cho cây lúa vì sự bùng phát của các loài dịch hại thứ yếu như rầy nâu đó
là nguyên nhân gây mất cân bằng sinh học Ở một vài quốc gia, nông dân sử dụng tới 40% số lần phun để trừ sâu CLN, trong điều kiện nghiên cứu khi nông dân không phun giai đoạn đầu vụ thì không làm thiệt hại kinh tế, tăng thu nhập
từ 15 - 30% và tiết kiệm được chi phí thuốc trừ sâu Việc giảm sự phun có thể giảm ảnh hưởng đến sức khoẻ người nông dân do thuốc trừ sâu gây ra Rất nhiều thông tin nghiên cứu về thuốc trừ sâu CLN do Valencia et al (1979, 1982), Endo et al (1981), Hirao (1982), Saroja et al (1982), Endo et al (1987) (được trích dẫn bởi CABI, 1999) [39]
Ngày nay, xu hướng sử dụng những thuốc trừ sâu có phổ hẹp, ít hoặc không ảnh hưởng đến thiên địch và các loài sinh vật khác đã và đang được tích cực khuyến cáo Thuốc trừ sâu có nguốn gốc vi sinh và thảo mộc được chú trọng
1.3 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
1.3.1 Nghiên cứu về thành phần sâu hại lúa
Việt Nam nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa thuộc khu vực Đông Nam Á Với đặc điểm khí hậu và địa hình rừng núi phân cách, tạo nên nhiều sinh cảnh đa dạng đã làm cho Việt Nam trở thành một trung tâm hình thành và phát triển nhiều hệ động vật và thực vật phong phú đặc điểm khí hậu nhiệt đới làm cho côn trùng phát triển mạnh mẽ, nhiều loài gần như phát triển quanh năm [35]
Hàng năm, ở Việt Nam có khoảng 30 vạn ha (chiếm 10% diện tích gieo trồng cây nông nghiệp) bị sâu bệnh phá hoại Riêng miền Bắc, sâu bệnh làm tổn thất 1,2 triệu tấn thóc hàng năm Những nguyên nhân cơ bản gây nên tổn thất lớn lao về năng suất và phẩm chất là do dịch hại phá Trong khi chúng ta phấn đấu vất vả để tăng năng suất cây trồng nói chung, cây lương thực nói riêng, thì tổn thất do sâu bệnh, cỏ dại gây ra còn quá lớn, chiếm 20 - 25% có khi tới 30% tổng sản lượng [33] Trong hơn nửa thế kỷ qua, sản xuất nông nghiệp thế giới
đã có những biến đổi mạnh về kỹ thuật so với canh tác cổ truyền như trồng dày, bón nhiều đạm, gieo trồng trên diện tích lớn v.v… Tất cả những thay đổi đó đã
Trang 31tạo điều kiện cho nhiều loài sâu bệnh phát triển thuận lợi
1.3.2 Nghiên cứu về thiên địch sâu hại lúa
Theo Phạm Văn Lầm, Bùi Hải Sơn, Trần Thị Hường (1993) [19] ở nước ta qua các tài liệu nghiên cứu cho thấy đã phát hiện 344 loài thiên địch sâu hại lúa, trong đó 199 loài bắt mồi ăn thịt chiếm 57,8% tổng số loài ăn thịt và 137 loài côn trùng ký sinh chiếm 39,8%, còn lại là nhóm vi sinh vật gây bệnh cho sâu hại Thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ rất đa dạng và phong phú Ghi nhận của Phạm Văn Lầm (2000) [21] có 72 loài thiên địch tấn công Vụ Mùa năm 1994 tại vùng Gia Lâm - Hà Nội, Đặng Thị Dung (1995) [8] đã thu được 12 loài bắt mồi
ăn thịt sâu cuốn lá nhỏ trong đó phổ biến nhất là 5 loài nhện, đặc biệt là nhện Sói, nhện Linh Miêu có số lượng lớn hơn so với các loài khác
Theo nghiên cứu của Vũ Quang Côn (1989) [6] thì trong nhóm thiên địch sâu cuốn lá nhỏ ong ký sinh có tới 34 loài trong đó có 23 loài ký sinh bậc 1; 8 loài ký sinh bậc 2; hiệu quả ký sinh đạt 15 - 30% Ngoài lực lượng ký sinh như nhiều tác giả cho biết là lực lượng quyết định có liên quan đến việc làm tăng tỷ lệ chết tự nhiên của sâu cuốn lá nhỏ trên đồng ruộng thì lực lượng thứ 2 cũng có vai trò quan trọng trong việc hạn chế mật độ sâu cuốn lá nhỏ trên đồng ruộng là nhóm bắt mồi Kết quả điều tra thành phần côn trùng bắt mồi của Trần Đình Chiến (1993) [7] cho biết có 43 loài thuộc 6 bộ côn trùng và 1 bộ nhện lớn ăn thịt trong đó bộ cánh cứng là chủ yếu có 30 loài chiếm 69,77%, bộ cánh nửa 4 loài,
bộ cánh thẳng 3 loài, bộ cánh da 1 loài, bộ bọ ngựa 1 loài và bộ nhện lớn 2 loài Phạm Văn Lầm (1989) [16] thu được 10 loài nhện lớn ăn mồi Khi nghiên cứu thành phần nhóm nhện lớn bắt mồi ở vùng Gia Lâm - Hà Nội cho biết có 27 loài thuộc 7 họ khác nhau trong đó phổ biến là nhện nhảy có 9 loài, nhện lưới có
8 loài, các họ khác có 2 - 4 loài [33]
Theo Phạm Văn Lầm (1993) [19] khi nghiên cứu về biến động số lượng nhóm nhện lớn bắt mồi ăn thịt trên đồng ruộng vụ lúa Xuân và vụ Mùa cho thấy mật độ nhện lớn bắt mồi ăn thịt tăng dần từ đầu vụ cho đến cuối vụ, đỉnh cao là giai đoạn lúa làm đòng - trỗ Quy luật tích lũy của nhóm nhện lớn bắt mồi ăn thịt
Trang 32tỷ lệ thuận với quy luật tích lũy của quần thể sâu hại chính trên lúa Nhưng đỉnh cao mật độ quần thể nhện lớn bắt mồi ăn thịt chậm hơn so quần thể sâu hại chính Theo Bùi Hải Sơn (1993) [19] mật độ quần thể nhện lớn bắt mồi trên ruộng cấy giống nhiêm rầy có mật độ cao hơn ruộng cấy giống kháng rầy
Mỗi vụ khác nhau thì diễn biến nhện lớn bắt mồi ăn thịt cũng khác nhau, mật độ quần thể nhện lớn bắt mồi ăn thịt đầu vụ Xuân là 0,2 - 2,8 con/m2, đỉnh cao là 73,8 - 175,9 con/m2, mật độ này bao giờ cũng thấp hơn mật độ quần thể nhện lớn bắt mồi ăn thịt đầu vụ Mùa là 4,0 - 19,7 con/m2, đỉnh cao 76,9 - 201,6 con/m2 Các điều kiện canh tác như giống lúa, chế độ nước, số vụ lúa/năm đều ảnh hưởng đến số lượng tích lũy quần thể nhện lớn bắt mồi ăn thịt (Phạm Văn Lầm, Bùi Hải Sơn, Trần Thị Hường (1993) [19]
1.3.3 Nghiên cứu về sâu cuốn lá nhỏ
1.3.3.1 Thành phần loài sâu cuốn lá nhỏ ở Việt Nam
Ở Việt Nam có 3 loài sâu cuốn lá nhỏ là Cnaphalocrocis medinalis Guenee,
Marasmia limbalis Wil thuộc họ Pyralidae và loài Brachmia sp thuộc họ
Gelechiidae Trong đó loài Marasmia limbalis rất ít xuất hiện ở miền Bắc nhưng
khá phổ biến trên lúa ở Đức Trọng tỉnh Lâm Đồng (Vũ Quang Côn (1987) [5]
Trong số chúng phổ biến là loài Cnaphalocrocis medinalis Guenee
1.3.3.2 Phân bố của sâu cuốn lá nhỏ ở Việt Nam
Theo kết quả điều tra cơ bản sâu bệnh hại cây trồng 1967 - 1968, 1977 -
1979 của Viện Bảo vệ thực vật (1976,1999), sâu cuốn lá nhỏ Cnaphalocrocis
medinalis Guenee là loài côn trùng hại phổ biến trên cây lúa ở nước ta Loài sâu
hại này có sự phân bố rộng rãi khắp các vùng trồng lúa từ miền Bắc đến miền Nam, từ đồng bằng, duyên hải đến trung du, miền núi [36] [37]
1.3.3.3 Ký chủ của sâu cuốn lá nhỏ
Cây lúa là cây ký chủ chính của sâu cuốn lá nhỏ Theo Nguyễn văn Hành
(1988) [10] đã ghi nhận được 5 loài cỏ dại như cỏ mần trầu (Eleusine), cỏ gà nước (Paspalum), cỏ môi (Leersia), cỏ lồng vực cạn (Echinochloa) và cỏ lông là
cây ký chủ phụ của sâu cuốn lá nhỏ
Theo Trần Huy Thọ (1983) [31], sâu CLN sống trên các ký chủ như cỏ
Trang 33mần trầu, cỏ gà nước, cỏ lông, cỏ trứng ếch Tác giả Vũ Quang Côn (1987) [5] cho rằng tỷ lệ ký chủ phụ của sâu CLN như sau: cỏ môi 79,45%, cỏ chỉ 0,02%,
cỏ tranh 0,01%, cỏ bấc 10,95%, cỏ lá tre có 6,04%, cỏ lồng vực có 1,73% và cỏ mần trầu là 1% Trần Văn Rao (1982) [25] nhận định sâu CLN qua đông chủ yếu trên các cây cỏ dại, còn trên ruộng mạ là không đáng kể Nghiên cứu của Nguyễn Văn Hành (1988) [9] cho thấy sự có mặt của sâu CLN trên lúa chét 1,3%, cỏ mần trầu 53,2%, cỏ gà nước 19,2%, cỏ lồng vực cạn 13,8%, cỏ trứng ếch 12,5%
1.3.3.4 Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái của sâu cuốn lá nhỏ
Kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm (nhiệt độ 27oC - 32oC, độ ẩm
80 - 90%) cho thấy thời gian pha trứng là 4 - 5 ngày, thời gian pha sâu non kéo dài từ 13 - 14 ngày, thời gian pha nhộng 6 - 7 ngày, thời gian trưởng thành trước
đẻ trứng 3 - 5 ngày [2] Như vậy thời gian một chu kỳ vòng đời của sâu cuốn lá nhỏ kéo dài khoảng 26 - 31 ngày Một năm sâu cuốn lá nhỏ có 8 lứa, trên lúa xuân có 2 lứa sâu cuốn lá nhỏ, trên lúa mùa trà chính vụ cũng có 2 lứa sâu cuốn
lá nhỏ và lứa thứ 6 (vào tháng 9) có mật độ sâu non đạt đỉnh cao Những lứa sâu cuốn lá nhỏ này thường gây hại nghiêm trọng cho cây lúa [5]
Theo Hồ Khắc Tín (1982), trưởng thành sâu cuốn lá nhỏ có xu tính ánh sáng mạnh, trưởng thành cái bay vào đèn nhiều hơn trưởng thành đực Hoạt động giao phối xảy ra ngay sau khi trưởng thành vũ hóa và sau giao phối 2 - 3 ngày thì bắt đầu đẻ trứng Mỗi trưởng thành cái đẻ trung bình 76 trứng [35]
Sức đẻ trứng của trưởng thành sâu cuốn lá nhỏ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố ăn thêm sau vũ hóa Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Hành (1988) [9] lượng trứng đẻ ra trung bình của một con cái trên dưới 100 trứng Nếu trưởng thành cái được ăn thêm nước đường pha loãng thì lượng trứng trung bình
sẽ nhiều hơn Sức đẻ trứng của trưởng thành cái sâu cuốn lá nhỏ trong điều kiện miền Bắc thay đổi ở các lứa khác nhau trong năm: trưởng thành cái ở lứa 1 có sức đẻ trứng cao nhất, đạt trung bình 266,8 trứng/cái Chỉ tiêu này giảm dần và đến lứa thứ 8 thì sức đẻ trứng của trưởng thành cái đạt thấp nhất trung bình là 50,4 trứng/cái
Trang 341.3.3.5 Nghiên cứu mức độ gây hại của sâu cuốn lá nhỏ
Trên đồng ruộng sâu cuốn lá nhỏ gây hại từ giai đoạn mạ đến giai đoạn lúa trổ, nặng nhất ở giai đoạn đòng – trổ [35] Theo Đỗ Xuân Bành (1990) [1] cứ 1%
lá bị hại thì tỷ lệ giảm năng suất giai đoạn lúa đẻ nhánh là 0,15 - 0,18%, giai đoạn lúa đứng cái – làm đồng là 0,7 - 0,8%, giai đoạn đòng già – trổ là 1,15 - 1,2% nhưng giai đoạn này ít xảy ra vì lúc này là đòng đã cứng, sâu không cuốn tổ được Theo Nguyên Văn Hành [9] cho biết nếu bông lúa có một lá bị hại năng suất giảm 3,7%, 2 lá bị hại thì năng suất giảm 6%, 3 lá hại năng suất giảm 15%, 4
lá hại năng suất giảm 20-30% sản lượng Theo Nguyễn Trường Thành [30] thì trên giống CR203 nếu có 20 - 30% số lá hại thì sẽ làm giảm năng suất từ 1,9 - 2,3%, giống Nếp cái hoa vàng có tỷ lệ gây hại như trên thì năng suất giảm từ 4,2 - 5,2% Đánh giá thiệt hại của sâu cuốn lá nhỏ đối với cây lúa có rất nhiều tác giả nhận định giai đoạn lúa đẻ nhánh và làm đòng là nguồn thức ăn thích hợp với sâu CLN [33] Theo Nguyễn Văn Hành, Trần Huy Thọ (1989) [10] trên bông lúa nếu số lá
bị hại là 1, 2, 3 và 4 năng suất lúa bị giảm tương ứng 3, 6, 7 và 15% Trường hợp chỉ có lá đòng bị hại, các lá khác còn nguyên thì năng suất giảm 20 - 30%
Qua nghiên cứu hàm lượng các chất dinh dưỡng đạt đỉnh cao vào giai đoạn lúa đẻ nhánh, làm đòng – trổ, chính vì vậy các giai đoạn này rất hấp dẫn đối với trưởng thành cuốn lá nhỏ đến đẻ trứng Tuy nhiên tác hại của sâu cuốn lá nhỏ có ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất là giai đoạn lúa làm đòng – trổ do lúc này cây lúa không còn khả năng đền bù Giai đoạn này nếu cây lúa bị hại sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của hạt và gié lúa, số hạt ít, bông ngắn, trọng lượng nghìn hạt giảm, tỷ lệ lép cao hoặc gây hiện tượng lúa trỗ nghẹn đòng dẫn đến năng suất lúa giảm [33] Giai đoạn lúa Làm đòng - Trổ, ngưỡng phòng trừ 24 sâu non/m2 (Nguyễn Trường Thành, 1986) [30]
1.3.3.6 Nghiên cứu về thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ
Trần Huy Thọ (1996) [32], vụ Mùa 1993 khi nghiên cứu khi nghiên cứu thành phần ký sinh sâu non cuốn lá nhỏ thu được kết quả: lứa 1 sâu cuốn lá nhỏ bị
ký sinh chủ yếu bởi ong Apenteles sp, tỷ lệ ký sinh đạt 25 - 100% Cuối lứa 1 đầu lứa 2 ký sinh sâu non chủ yếu là ong Goniozus hanoiensis Ong Temelucha ký sinh
Trang 35với tỷ lệ thấp hơn đạt 7,3 - 28% Cuối vụ mùa ong ký sinh đa phôi
Copidosomopsis nacoleiae phát triển mạnh, tỷ lệ ký sinh đạt rất cao lên tới 92,7%
Kết quả nghiên cứu của Hà Quang Hùng (1986) [11] cho thấy ở địa bà Hà Nội sâu cuốn lá nhỏ có 27 loài ký sinh và bắt mồi ăn thịt của 3 pha: trứng, sâu non và nhộng
Vụ mùa 1993 tỷ lệ ký sinh sâu non sâu cuốn lá nhỏ của tập hợp các loài ong
ký sinh cao nhất đạt 87,6% Theo Phạm Văn Lầm (1989) [16] đỉnh cao ký sinh không phụ thuộc mật độ sâu cuốn lá nhỏ mà tùy thuộc vào từng thời điểm trong các tháng Pha nhộng sâu cuốn lá nhỏ có 5 loài ong cự ký sinh, tỷ lệ nhộng ký sinh là 27,5% ở vụ Xuân và 20% vụ Mùa Như vậy cả 3 pha trứng, sâu non, nhộng đều có rất nhiều loài ong ký sinh, tỷ lệ ong ký sinh đạt cao tuy nhiên thành phần và tỷ lệ ký sinh của các loài thay đổi khác nhau tùy thuộc vào từng vùng sinh thái, nắm bắt được thành phần ký sinh ở từng khu vực giúp chúng ta bảo vệ, duy trì và tạo điều kiện cho chúng gia tăng mật độ, khống chế số lượng sâu cuốn
lá nhỏ trên đồng ruộng kìm hãm sự bùng phát số lượng sâu gây thành dịch để bảo
vệ năng suất lúa
Phạm Văn Lầm (1992) [17] cho biết trứng cuốn lá nhỏ chủ yếu bị ký sinh
do ong (Trichogramma Japonicum) sau đó đến (Trichogramma chilonis) Pha sâu non cuốn lá nhỏ có tới 4 loài ký sinh đó là ong đen to (Cardiahiles sp), tỷ lệ
ký sinh đạt 48 - 58%, ong nâu đen (Goniozus hanoiensis) tỷ lệ ký sinh 51,4% và ong kén trắng đơn (Apanteles cypris Nixon) là 53% Loài (Apanteles cypris
Nixon) là loài ong ký sinh chuyên tính rất quan trọng đối với sâu cuốn lá nhỏ, tỷ
lệ ký sinh đạt 30%
1.3.3.7 Nghiên cứu về biện pháp phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ
Xu hướng phòng trừ tổng hợp là giải pháp mục tiêu chung của nền nông nghiệp các nước, đặc biệt các nước có nền nông nghiệp tiên tiến để sản phẩm cây trồng, nông sản đem lại bảo đảm sạch và an toàn cũng như bảo vệ môi trường sinh thái Muốn thực hiện tốt phòng trừ tổng hợp đối với sâu cuốn lá nhỏ nói riêng và các loài dịch hại khác nói chung thì phải nắm được đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của chúng để đưa ra các biện pháp phòng trừ hợp lý, hiệu quả
Trang 36Các biện pháp này phải được phối hợp hài hòa dựa trên đặc điểm sinh thái từng vùng, ngày nay biện pháp sinh học đã được con người chú trọng Do đó, nhận biết tìm hiểu lực lượng thiên địch của mỗi loài sâu hại góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu quả của biện pháp đấu tranh sinh học
Theo Nguyễn Công Thuật (1996) [33], cho rằng để phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ cần thực hiện các biện pháp canh tác, sinh học và biện pháp hóa học Ngoài các biện pháp trên thì biện pháp cơ giới vật lý cũng là biện pháp quản lý sâu cuốn
lá nhỏ (Hồ Khắc Tín, 1982) [35]
Biện pháp canh tác: Gieo cấy với mật độ thích hợp, bón phân cân đối hợp
lý, đặc biệt không bón thừa đạm là biện pháp hạn chế đáng kể thiệt hại của sâu cuốn lá nhỏ (Nguyễn Công Thuật, 1996) Đối với sâu cuốn lá nhỏ cấy với mật độ vừa phải, bón phân cân đối hợp lý, không bón đạm quá mức là biện pháp hạn chế mật độ sâu cuốn lá nhỏ (Nguyễn Công Thuật, 1996) [33] Theo Hồ Khắc Tín việc diệt ký chủ phụ quanh bờ ruộng là nơi trú ẩn và tích lũy sâu cuốn lá nhỏ nhằm cắt nguồn chu chuyển tích lũy của chúng
Biện pháp cơ giới vật lý: Theo Hồ Khắc Tín (1982) [35] cho rằng việc dùng lược chải sâu kết hợp với phun thuốc hóa học hoặc bẫy đèn là biện pháp diệt trừ sâu cuốn lá nhỏ
Biện pháp sinh học: Tác giả Nguyễn Công Thuật (1996) [33] và Hồ Khắc Tín (1982) [35] đều nhận định việc bảo vệ các loài thiên địch là rất cần thiết để khống chế sâu cuốn lá nhỏ trên đồng ruộng
Biện pháp hóa học: Sử dụng thuốc khi mật độ sâu đến ngưỡng phòng trừ
Sử dụng các loại thuốc đặc hiệu có tính nội hấp lưu dẫn, thấm sâu để phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ Trong 15 loại thuốc trừ sâu được sử dụng phổ biến trên đồng ruộng có 5 loại độ độc cấp 4 và 5 loại độ độc cấp 3 với bọ rùa đỏ và bộ cánh cứng cánh ngắn (Nguyễn Trường Thành, 2002) [28]
1.4 Tình hình nghiên cứu sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis
Guenee) trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Theo Nguyễn Huy Khánh (2014), thành phần sâu hại trên cây lúa vụ Xuân tại Diễn Châu, tỉnh Nghệ An gồm 25 loài thuộc 8 bộ và 13 họ côn trùng Trong
Trang 37đó, 3 bộ Lepidoptera, Hemiptera và Homoptera có số lƣợng nhiều nhất, cụ thể:
bộ Lepidoptera (bộ cảnh vảy) có 9 loài chiếm 36,00%, bộ Hemiptera (bộ cánh nửa) 5 loài chiếm 20,00%, bộ Homoptera (bộ cánh đều) có 5 loài chiếm 20,0% Trong đó sâu CLN là một trong những loài dịch hại chủ yếu, sau vụ Mùa 2013, tại huyện Diễn Châu, Nghệ An có 2 loài sâu cuốn lá nhỏ xuất hiện trên cỏ môi và
cỏ bấc đuôi chuột đó là loài (Cnaphalocrocis medinalis Guenee) và (Marasmia
ruralis Walker) nhƣng chủ yếu là loài (Cnaphalocrocis medinalis Guenee) chiếm
94,12 - 98,18% [13]
Theo Đoàn Văn Tài (2010) [27], tập hợp côn trùng ký sinh sâu cuốn lá nhỏ
có 18 loài thuộc 9 họ của 2 bộ, trong đó bộ ong ký sinh (Hymenoptera) có 17 loài thuộc 8 họ (chiếm 94,44%), bộ ruồi (Diptera) có 1 loài (chiếm 5,56%); trong đó
có 8 loài ký sinh tập đoàn, 1 loài ngoại ký sinh, và có 1 loài ký sinh nhộng; trong
các loài ký sinh thì loài ong ký sinh đa phôi Copidosomopsis coni là phổ biến
nhất
Trang 38CHƯƠNG II NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung sau:
(1) Điều tra thành phần sâu hại lúa và thiên địch của chúng ở xã Hưng Tây, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An
(2) Xác định một số đặc điểm sinh học, sinh thái của sâu cuốn lá nhỏ
(Cnaphalocrocis medinalis Guenee) hại lúa
(3) Điều tra diễn biến số lượng của sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis
medinalis Guenee) vụ Hè Thu 2014 tại xã Hưng Tây, huyện Hưng Nguyên, tỉnh
Nghệ An
(4) Thử nghiệm và đánh giá hiệu lực phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ
(Cnaphalocrocis medinalis Guenee) của một số loại thuốc hóa học
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung xác định thành phần sâu hại lúa và thiên địch của chúng ở
xã Hưng Tây, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An Đồng thời xác định tình hình phát sinh gây hại, thời gian phát dục, hình thái, vị trí đẻ trứng, hóa nhộng của sâu
cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenee) và thử nghiệm, đánh giá hiệu
lực phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ của một số loại thuốc hóa học sử dụng phổ biến hiện nay
2.3 Vật liệu nghiên cứu
- Cây trồng: Giống lúa NA2
- Thuốc trừ sâu: REGENT 800WG, OBAONE 95WG, CLEVER 150SC
2.4 Phương pháp thực nghiệm
2.4.1 Điều tra thành phần sâu hại trên cây lúa
- Phương pháp điều tra áp dụng theo Quy chuẩn kỹ thuật điều tra về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng QCVN 01 - 38:2010/BNNPTNT [3] Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại lúa QCVN 01 - 166: 2014/BNNPTNT [4]
Trang 39- Chọn ruộng điều tra: Chọn ruộng điều tra đại diện cho các yếu tố chính ở khu vực điều tra (Giống, thời vụ, chân đất) Mỗi ruộng điều tra 10 điểm phân bố ngẫu nhiên trên đường chéo góc Lúa gieo thẳng điều tra theo khung (kích thước 40cm x 50cm), điểm điều tra cách bờ ít nhất 2m
- Giai đoạn điều tra: 3 - 4 lá, đẻ nhánh, đẻ nhánh rộ, cuối đẻ nhánh, đứng cái, làm đòng, ôm đòng, trổ - phơi mao, chín sữa
- Phương pháp điều tra: Quan sát kỹ các điểm điều tra phát hiện sâu hại, thiên địch Thu mẫu, ngâm côn trùng trong cồn 70% Ghi chép các loài sâu hại xuất hiện tại các điểm điều tra ở các giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây lúa
- Chỉ tiêu theo dõi: Loài sâu, tỷ lệ các điểm có sâu ở các giai đoạn sinh trưởng phát triển của lúa (3 - 4 lá, đẻ nhánh, đứng cái, làm đòng, trổ, chín sữa)
- Quy định mức phổ biến tương ứng với tần suất xuất hiện:
O: Không xuất hiện Không có điểm nào có sâu
-: Rất ít phổ biến Dưới 5% điểm điều tra có sâu
+: Ít phổ biến > 5 - 20% điểm điều tra có sâu
++: Phổ biến > 20 - 50% điểm điều tra có sâu
+++: Rất phổ biến > 50% điểm điều tra có sâu
2.4.2 Điều tra thành phần thiên địch của sâu hại lúa
Kết hợp với điều tra thành phần côn trùng thiên địch và nhện bắt mồi của sâu hại với điều tra diễn biến của sâu cuốn lá nhỏ
- Thời gian điều tra: 7 ngày/lần
* Phương pháp điều tra:
- Đối với các loài bắt mồi: quan sát kỹ các điểm điều tra, thu mẫu
- Đối với ong ký sinh thu mẫu theo 3 cách:
Trang 40+ Thu thập kén ngoài đồng ruộng cho trong ống nghiệm có nút bông ẩm, đợi ong vũ hóa
+ Dùng vợt thu mẫu ong ký sinh
+ Thu mẫu sâu non cuốn lá nhỏ tuổi 1 ngoài đồng ruộng, nuôi trong ống nghiệm có nút bông ẩm, thu mẫu ong ký sinh đã vũ hóa
- Chỉ tiêu theo dõi: Thành phần thiên địch của sâu hại lúa
Quy định mức phổ biến tương ứng với tần suất xuất hiện
O: Không xuất hiện Không có điểm nào có thiên địch
-: Rất ít phổ biến Dưới 5% điểm điều tra có thiên địch
+: Ít phổ biến > 5 - 20% điểm điều tra có thiên địch
++: Phổ biến > 20 - 50% điểm điều tra có thiên địch
+++: Rất phổ biến > 50% điểm điều tra có thiên địch
2.4.3 Phương pháp nuôi sinh học sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenee)
Tiến hành thu thập nhộng hoặc trưởng thành ngoài đồng ruộng, thả vào lồng lưới cách li có đặt sẵn cây lúa sạch trồng trong chậu vại Để trưởng thành đẻ trứng, tiến hành thu trứng để nuôi cá thể
Thí nghiệm được tiến hành trong điều kiện bán tự nhiên Cắt lá lúa có trứng đặt vào trong ống nghiệm kích thước 20mm x 20mm, hàng ngày theo dõi để xác định thời kỳ phát dục của pha trứng Tiếp tục nuôi sâu non, hàng ngày thay thức
ăn Sau mỗi lần thay thức ăn sử dụng bảng đo diện tích lá đo thủ công xác định diện tích lá bị sâu ăn để biết được sức ăn của sâu non (n = 30 cá thể)
Lá lúa được cuốn bông để giữ ẩm Quan sát sự lột xác chuyển tuổi được thực hiện vào buổi chiều, hàng ngày vệ sinh thay thức ăn cho sâu và ghi chép