1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thi pháp thơ nguyễn bình phương

182 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thi Pháp Thơ Nguyễn Bình Phương
Tác giả Vũ Thị Luyến
Người hướng dẫn TS. Lê Thị Hồ Quang
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý Luận Văn Học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 182
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những năm đầu thế kỷ XXI, cùng với Nguyễn Bình Phương, văn học Việt Nam xuất hiện một số gương mặt mới với những thể nghiệm đáng ghi nhận như: Võ Thị Hảo, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Tạ

Trang 1

VŨ THỊ LUYẾN

THI PHÁP THƠ NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Nghệ An, 2015

Trang 2

VŨ THỊ LUYẾN

THI PHÁP THƠ NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG

Chuyên ngành: Lý luận văn học

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn tới quý thầy cô trong khoa Ngữ Văn, trường Đại học Vinh đã tận tình dìu dắt, truyền dạy kiến thức cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như nghiên cứu luận văn này Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và tri ân sâu sắc nhất tới Tiến sĩ Lê Thị Hồ Quang, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi giải quyết các vấn đề trong đề tài, định hướng, gợi mở, truyền đạt cho tôi những kiến thức vô cùng quý báu và tận tình chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn

bè đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi, quan tâm, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình làm luận văn

Với trình độ và kiến văn còn hạn chế, luận văn này không thể tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi hy vọng sẽ nhận được những ý kiến đóng góp, nhận xét từ phía quý thầy cô và bạn bè về những vấn đề thực hiện trong luận văn này!

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Vinh, tháng 09/2015

Tác giả luận văn

Vũ Thị Luyến

Trang 4

NHÀ THƠ NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG

Trang 5

QUY ƢỚC VIẾT TẮT

Nxb: Nhà xuất bản TP: Thành phố Tr: Trang

Cách chú thích tài liệu trích dẫn: số thứ tự tài liệu đứng trước, số

trang đứng sau Ví dụ: [40; 12] nghĩa là số thứ tự của tài liệu trong mục Tài

liệu tham khảo là 40, nhận định trích dẫn nằm ở trang 12 của tài liệu này

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của luận văn 5

7 Cấu trúc luận văn 5

Chương 1 6

THƠ TRÊN HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO 6

CỦA NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG 6

1.1 Nguyễn Bình Phương – con người và văn nghiệp 6

1.1.1 Cuộc đời, con người 6

Nói đến ấn tượng về Nguyễn Bình Phương, có thể gói gọn trong một chữ

“lặng” Là một nhà văn được tôi luyện trong môi trường quân đội, ông chọn cho mình lối sống trầm lặng, không ồn ào, ngại tiếp xúc và ít xuất hiện chốn đông người Trong cuộc trò chuyện với Hạnh Đỗ, phóng viên báo Tiền

Phong, ông chia sẻ: “Tôi vẫn gặp gỡ, uống rượu với bạn bè Nhưng không

ham Vài ba người tụ tập có thể là tinh túy, nhưng năm người trở nên là nhức đầu” [10] Ấn tượng rụt rè, khó tính, ngại giao tiếp mà nhiều người nhận thấy

ở Nguyễn Bình Phương cũng làm ta khó hình dung về tác giả này Hạnh Đỗ cũng chia sẻ cảm nhận của mình về ông: dáng vẻ nhỏ nhắn, thư sinh, mang vẻ nghệ sĩ hơn nhà quản lý của tác giả khi trực tiếp gặp mặt đã xóa nhòa ấn

tượng về sự khó gần ấy Nói về bản thân mình, nhà thơ tự nhận: “Là một công chức đơn điệu, điển hình Sớm vác ô đi, tối vác về” [10] Nguyễn Bình

Phương cũng tự nhận “tạng” của mình “có lẽ hơi u uất một chút” Thực tế,

theo như cảm nhận của Việt Quỳnh: “Gần anh, sẽ cảm giác một sự chan hòa,

Trang 7

ấm áp, giản dị, gần gũi từ ánh mắt đến nụ cười Anh thường nói ít, nhưng câu nào cũng ngấm vào lòng người nghe” [48] 6Sách là một phần không thể thiếu được trong cuộc sống của ông Ông ham

đọc sách, có thể dành cả đêm để đọc sách và nghiễn ngẫm về chúng Ban

ngày chính là thời điểm sáng tác của ông Nguyễn Bình Phương là một người rất “thèm” viết, cẩn thận và tỉ mỉ trong sáng tác Viết đối với Nguyễn Bình

Phương “giống như đi theo một lực hút bí ẩn không biết phía trước là gì Tôi

kệ bản năng dẫn dắt Để nó trôi dạt lênh đênh” [10] Nhà thơ cũng chia sẻ:

“Viết ra được thì thích Thấy người khỏe ra” [10] 7Nguyễn Bình Phương là một người lính gắn bó thời thanh xuân của mình

trong quân đội, một nhà văn, nhà thơ đầy những trang viết trữ tình, chủ yếu phản ánh cuộc sống bề bộn, đầy lo toan, bất an Đây là tác giả có tâm và có tầm, hứa hẹn nhiều đóng góp cho nền văn học Việt Nam đương đại 7

1.1.2 Văn nghiệp 7

Mỗi tác phẩm là một trải nghiệm và chắt lọc tinh tế từ trái tim đến lý trí, sự thực Dù là sáng tác thơ trữ tình hay văn xuôi thì tác giả cũng phải chuẩn bị cho mình một góc riêng của cái tôi để tiếp nhận, thích nghi và “chiều lòng”

nó Việc chuyển đổi luân phiên trong tâm hồn của một nhà văn sang tâm hồn của một thi sĩ đôi khi không phải điều dễ dàng Ít có nhà thơ nào chọn con

đường sáng tác bền bỉ và đầy khó nhọc như Nguyễn Bình Phương Ông đã

dành rất nhiều thời gian và tâm huyết của mình để mang đến cho bạn đọc một tác phẩm nghệ thuật trọn vẹn Nỗ lực đó đã giúp Nguyễn Bình Phương gặt hái được nhiều kết quả đáng ngưỡng mộ và thành công khi thể nghiệm trên cả hai thể loại thơ và tiểu thuyết 7

1.1.2.1 Về tiểu thuyết 8

Nguyễn Bình Phương là một trong những gương mặt văn xuôi đương đại nổi bật, một nhà văn có sức sáng tác dồi dào Hầu hết các tác phẩm mới của ông khi ra đời đều được đón nhận nồng nhiệt và tạo nên sức hút đặc biệt với bạn đọc Sức hấp dẫn từ những cuốn tiểu thuyết của ông không chỉ được tính bằng

Trang 8

số lượng độc giả mà còn được đông đảo giới nghiên cứu, phê bình, báo chí,

dư luận quan tâm tìm hiểu 8Văn học Việt Nam đang vận động theo hướng “hòa nhập với tiến trình văn học thế giới” như một tất yếu Đây là lẽ tồn tại của văn học nói chung và của tiểu thuyết nói riêng Cuộc vận động đã thúc đẩy những nhà tiểu thuyết của ta nỗ lực hơn nữa trong cuộc đổi mới đầy nhọc nhằn này, đem đến cho tiểu thuyết những thể nghiệm đầy mới mẻ cả về nội dung lần hình thức thể hiện Những năm đầu thế kỷ XXI, cùng với Nguyễn Bình Phương, văn học Việt Nam xuất hiện một số gương mặt mới với những thể nghiệm đáng ghi nhận như: Võ Thị Hảo, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Tạ Duy Anh, …

Trong đó có những lối viết hấp dẫn thực sự, có những giọng văn còn chưa sâu, có những thể nghiệm còn chưa tới đích, song các nhà văn đều cháy hết mình trên từng trang viết trong một nỗ lực chung, làm mới văn chương

Nguyễn Bình Phương cũng không nằm ngoài đường đua ấy Ông được

đánh giá là một cây bút trẻ có nhiều đóng góp cho công cuộc hiện đại hoá tiểu thuyết 8Nguyễn Bình Phương không phải là cái tên mới mẻ đối với giới phê bình và các nhà nghiên cứu nhưng đối với nhiều độc giả đây còn là một cái tên khá xa

lạ Tuy nhiên, khi nhắc đến những tiểu thuyết của ông thì người đọc dễ dàng nhận ra một lối viết lạ, đầy hấp dẫn Ông được biết đến nhiều với hàng loạt

tiểu thuyết nổi bật như: Vào cõi (Nxb Thanh niên, 1991), Những đứa trẻ chết

già (Nxb Văn học, 1994), Người đi vắng (Nxb Văn học, 1999), Trí nhớ suy tàn (Nxb Thanh niên, 2000), Bả giời (Nxb Quân đội nhân dân, 2004), Thoạt

kỳ thủy (Nxb Hội nhà văn, 2005), Ngồi (Nxb Đà Nẵng, 2006), Mình và họ

(Nxb Trẻ, 2014)… 9

Từ Bả giời, Người đi vắng, Trí nhớ suy tàn, Thoạt kỳ thủy đến Ngồi – là

sự hoàn tất một phong cách mới Sự trưởng thành trong ngòi bút qua từng tác phẩm gắn với thời gian lịch sử đất nước, Nguyễn Bình Phương đã mang đến cho người đọc những cảm quan mới mẻ và phong phú Nhà văn luôn có ý

Trang 9

thức tiếp thu cái mới và đã táo bạo đặt những dấu ấn đầu tiên trên hành trình khai mở vùng đất mới với những cách tân độc đáo cả về mặt nội dung và

phương thức thể hiện Đó là những đóng góp đáng ghi nhận của một nhà văn luôn nỗ lực sáng tạo, làm mới tiểu thuyết Việt Nam 9

nhiều công sức cho việc tìm đường, tìm kiếm thủ pháp nghệ thuật hay khuynh hướng sáng tác Nhà thơ chọn cho mình một lối đi riêng, một phong cách khó trộn lẫn trong biết bao gương mặt thơ tiêu biểu hiện nay Phong cách này đã làm cho thơ của Nguyễn Bình Phương khó để hiểu và mọi cố gắng giải mã

thơ ông theo lối thông thường đều không thành công Tuy vậy, người yêu thơ Nguyễn Bình Phương vẫn nhận thấy trong đó những vần thơ thoáng buồn,

thoáng hụt hẫng, không giống như không khí ảo ảnh mơ mộng, chập chờn

trong từng trong tiểu thuyết của ông Ta còn bắt gặp trong thơ ông một đời

sống khác, một thế giới khác, một ngôn ngữ thi ca, một miền thẩm mỹ khác với đời sống thực tại nhiều bộn bề, cô đơn Điều này đã làm nên nét đặc biệt

và sức hút đầy ma mị của thơ Nguyễn Bình Phương 9

Cho đến nay, nhà thơ đã cho ra đời các thi phẩm: Lam chướng (1992), Khách

của của trần gian (1996), Xa thân (1997), Từ chết sang trời biếc (2001), Buổi câu hờ hững (2011), Gõ cửa xa xăm (2015) Ở mỗi tập thơ đều thể hiện

những ngã rẽ khác nhau của tâm hồn Nguyễn Bình Phương 10

1.2 Hành trình thơ Nguyễn Bình Phương 10

1.2.1 Đường thơ Nguyễn Bình Phương – nhìn từ tác phẩm 10

Cảm hứng thi ca trong thơ Nguyễn Bình Phương được chuyển đổi qua mỗi

tập thơ cũng chính là hành trình trở về miền đất của tâm linh, vô thức của cái

Trang 10

tôi trữ tình, hành trình tìm về với bản thể Đó là một cuộc hành trình đầy gian nan, vất vả, đơn độc và luôn bị ám ảnh bởi máu, cái chết và những dự cảm mơ

hồ, bất an 10

1.2.2 Sự đổi mới thi pháp trong thơ Nguyễn Bình Phương 15

1.2.2.1 Khái niệm thi pháp và thi pháp học 15 Thi pháp, thi pháp học là những khái niệm không còn mới mẻ đối với giới nghiên

cứu văn học hiện nay Bởi lẽ, thi pháp học là một ngành nghiên cứu có cội nguồn

xa xưa và có ảnh hưởng lớn trong ngành nghiên cứu văn học thế kỷ XX Trên

thực tế, khái niệm thi pháp và thi pháp học đã được sử dụng khá phổ biến trong

các công trình nghiên cứu văn học 15Vậy thi pháp là gì? 16

Thi pháp là khái niệm ra đời từ rất lâu trong lịch sử (khoảng 2.400 năm) Nó

có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “Poietike”, xuất hiện lần đầu tiên trong công

trình Poetica (Nghệ thuật thơ ca) của Aristote (384 – 322) 16

Có nhiều cách hiểu khác nhau về thi pháp Chung quy có hai cách: 16

Thứ nhất: coi thi pháp là nguyên tắc, biện pháp chung tạo ra tác phẩm nghệ thuật Thứ hai: hiểu thi pháp là nguyên tắc, biện pháp sáng tạo cụ thể tạo thành đặc sắc

nghệ thuật của một tác giả, tác, tác phẩm, trào lưu, thể loại, v.v… Lĩnh vực nghiên

cứu về thi pháp gọi là Thi pháp học 16

1.2.2.2 Nhìn chung về sự đổi mới thi pháp trong thơ Nguyễn Bình Phương 17

Từ khi đất nước bước vào giai đoạn đổi mới những năm 1986, thơ Việt Nam đã

có những bước phát triển đáng kể Thơ giai đoạn này vận động theo nhiều khuynh hướng khác nhau nhưng trên cơ sở là sự cách tân về nội dung thể tài và cách tân hình thức thể loại Sự cách tân thơ giai đoạn này như được đón nhận một luồng gió mới, thơ có một không gian rộng mở hơn để mặc sức phô bày vẻ lộng lẫy của

nó Hòa mình vào cuộc vận động chung đó, không ít nhà thơ đã tìm ra cho mình một hướng đi riêng bằng việc đổi mới thi pháp sáng tác Điều này đã thúc đẩy thơ cách tân Việt Nam ngày càng đến gần hơn với thơ cách tân trên thế giới, trở thành

Trang 11

một mạch nguồn chuyển động không ngừng nghỉ trong nền văn học Việt Nam

đương đại 17Cùng với các tác giả Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Quang Thiều, Dương Kiều Minh, Mai Văn Phấn…, Nguyễn Bình Phương đã trở thành một trong những tay bút xuất sắc của thế hệ nhà thơ Đổi mới, mang khát vọng cách tân mạnh mẽ thơ Việt và trở thành một tác giả có sự đổi mới thi pháp sáng tác rất rõ ràng, tiến bộ

Sự đổi mới thi pháp trong thơ Nguyễn Bình Phương tập trung thể hiện trên các phương diện: hình tượng cái tôi trữ tình, hình tượng thế giới nghệ thuật, hình tượng con người, ngôn ngữ, kết cấu, giọng điệu, hình ảnh, biểu tượng và bút pháp tạo hình 17Nếu thơ Mai Văn Phấn cách tân nương theo mọi nẻo đường, thơ Dương Kiều Minh hướng về phương Đông nguồn cội để tạo nền cho những cuộc vong

thân sáng tạo, thơ Nguyễn Quang Thiều là độc đạo, thẳng tắp và mạo hiểm thì thơ Nguyễn Bình Phương lại đưa người đọc lạc vào một thế giới đầy ma mị,

ám ảnh với những biểu tượng đa tuyến, phức điệu của vô thức, tiềm thức, tâm linh 17

Ta có thể mượn lời của nhà thơ Dương Kiều Minh để nói thay những nhận xét

về sự đổi mới trong thi pháp thơ Nguyễn Bình Phương: “Đối với cuộc kiếm

tìm thì không bao giờ cũ, kể cả sự kiếm tìm cái cũ, thì cuộc kiếm tìm vẫn mới Cuộc cách tân tìm tòi thơ ca luôn tựa “luồng gió lao rừng rực” tới về những

miền bí ẩn của đời sống, của cuộc đời và của thiên nhiên trải ra vô tận trước

sự chiêm ngưỡng, chiêm nghiệm của con người” [28] 18Với những đóng góp lớn cho nền thơ ca đương đại, Nguyễn Bình Phương

xứng đáng là một trong những gương mặt cách tân thơ ca xuất sắc thời kỳ đổi mới 18

1.3 Cơ sở hình thành thi pháp thơ Nguyễn Bình Phương 20

1.3.1 Bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam thời hậu chiến và Đổi mới 20

Văn học không thể đứng ngoài lịch sử và chính trị mà nó là tấm gương

phản chiếu hiện thực Sự phát triển của văn học vừa có quan hệ mật thiết

Trang 12

vừa có tính độc lập tương đối với lịch sử, xã hội Từng giai đoạn phát triển của nền văn học đều được đánh dấu bằng những mốc son quan trọng trong lịch sử nước nhà Không ai có thể phủ nhận tầm ảnh hưởng sâu rộng của lịch sử, chính trị đến tư duy văn học Có thể nói, lịch sử xã hội chính là

mảnh đất khơi nguồn cảm hứng vô tận cho nhiều nghệ sĩ tự do thể hiện hồn

thơ của mình 20

1.3.2 Sự đổi mới trong thơ Việt Nam sau 1986 21

1.3.3 Tài năng và sự đổi mới trong tư duy sáng tạo của tác giả 23

1.3.4 Quan niệm nghệ thuật của tác giả 25

Trong sáng tạo nghệ thuật, thông qua những đứa con tinh thần, mỗi tác giả tự hình thành cho riêng mình một hướng đi đúng đắn, một thế giới nghệ thuật mang tính quan niệm của chính mình “Quan niệm nghệ thuật là nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và con người vốn có của hình thức nghệ thuật, đảm bảo cho nó có khả năng thể hiện đời sống với một chiều sâu nào đó” [14; 273] Quan niệm nghệ thuật giống như một ngọn đuốc đi đầu, dẫn đường cho sác tác nghệ thuật của các tác giả đi đúng quỹ đạo 25

Nguyễn Bình Phương là một nhà văn, nhà thơ có trách nhiệm cao trong nghề nghiệp của mình Giống như những nhà văn, nhà thơ khác, ông cũng xây dựng cho mình một quan niệm nghệ thuật riêng, độc đáo 25 Trong quan niệm về bản năng và ý thức người cầm bút, Nguyễn Bình Phương quan niệm: “Nhà văn là kẻ viết không giống ai và sống như mọi người”

Người cầm bút phải là kẻ sống gần gũi với mọi người, sống bình thường

nhưng những trang văn, trang thơ của họ phải tạo nên được nét khác biệt, phải

có “tạng” riêng Ông đòi hỏi cao tính sáng tạo của người nghệ sĩ: “Không có

sự sáng tạo, nhà văn sẽ tự tiêu diệt mình” Trò chuyện với phóng viên báo

Văn nghệ trẻ, nhà thơ bộc bạch:“Tôi sợ bị bó buộc trong một khung cố định

nào đó Văn chương bản thân nó là chân trời tự do, thì ta cứ nương theo thế, đừng bó buộc nó” và “Tôi chỉ có một quan niệm bảo thủ là cố gắng viết gần sát với quan niệm của mình về văn chương vậy thôi” [60] Trong quan niệm

Trang 13

sáng tác, Nguyễn Bình Phương cũng thành thật: “không thích sự giả dối, lên

gân, nhưng cái đa dạng trong văn chương là cần thiết” [61] 25

Trên chặng đường kiếm tìm thơ ca của mình, Nguyễn Bình Phương luôn tự ý thức mình về sứ mệnh của nghiệp bút mực, luôn luôn có những trăn trở và tự vấn về nghề: 26

Đứng dậy, sũng ướt, đi rồi tự hỏi 26

Viết là tìm thấy hay đánh mất? 26

(Chân dung khi trống trải) 26

Với Nguyễn Bình Phương, mọi nhà thơ đều đơn độc trên chính con thuyền thi ca của mình Sự kiếm tìm nguồn sống trong thơ ông giống như phải vượt qua một con thác lớn, phải vật lộn, nhọc nhằn và trải qua đủ mọi cảm giác trống trải, cô đơn nhất, đôi khi tưởng chừng như “đuối sức” Nhưng thi hứng ấy lại trào lên như những con sóng mạnh mẽ, không thể khuất phục Ở Nguyễn Bình Phương, viết phải chăng là mất đi, một trò chơi của ngôn ngữ được giăng ra để “câu” sự suy tưởng của chúng ta? 26

Quan niệm về mối quan hệ giữa sống và viết của Nguyễn Bình Phương không tách rời Ông quan niệm nhà văn phải lăn xả vào cuộc đời, phải “làm người” trước khi cầm bút Với tư cách một nhà thơ cũng vậy Ông cũng có quan niệm mang đậm cá tính riêng: 26

Sống là viết vào đời câu cách ngôn bí ẩn 26

Có ai đó đã nói rằng: viết là sự phản ứng của một kiểu người (nhà văn, nhà thơ) chống lại sự dụ dỗ, sự giăng bẫy hay tha hóa của cuộc đời Và Nguyễn Bình Phương đã “phản ứng” và chống lại sự “giăng bẫy” của cuộc đời bằng chính sự sáng tạo 26 Trong quan niệm về hiện thực, nhà thơ “từ chối một hiện thực “tả thực”, một hiện thực chụp ảnh để đến với những chân trời mới, một hiện thực của tâm

linh, của trí nhớ và trí tưởng tượng đầy sáng tạo và bất ngờ” [15] Ông hướng ngòi bút của mình vào những mảnh vỡ hiện thực Đó là một hiện thực bị lắp ghép, phân mảnh, chắp nối với những sự kiện chồng lấp, khó lý giải Nếu như

Trang 14

nhà thơ Mai Văn Phấn cố công sắp xếp lại hiện thực với một thế giới viên

mãn, thuần khiết, tương giao, hài hòa thì Nguyễn Bình Phương lại không có ý sắp xếp và hàn gắn lại thế giới đó bởi ông cho sự tồn tại của chúng là tất yếu Hiện thực trong thơ của Nguyễn Bình Phương là hiện thực đa chiều, hư ảo Các yếu tố ma quái, kỳ lạ chảy tràn trên từng trang thơ của ông, ảo và thực

hòa quyện với nhau trong một thực thể thống nhất 26

Bằng những quan niệm nghệ thuật rất riêng, Nguyễn Bình Phương đã mạnh dạn chấp nhận đi con đường sáng tạo đầy chông gai, thử thách Nhà thơ đã tự khẳng định mình bằng những thành công nghệ thuật đáng trân trọng 27

Tiểu kết chương 1 27

Nguyễn Bình Phương là một nhà thơ đầy tài năng và trách nhiệm cao trong công việc.Với tư duy nghệ thuật nhạy bén cùng sự sáng tạo dồi dào, ông đã làm nên một cuộc cách tân thơ ca mạnh mẽ, bắt đầu là những đổi mới về thi pháp thơ Sự đổi mới này có nguồn gốc sâu xa từ sự thay đổi về bối cảnh lịch sử xã hội thời hậu chiến và đổi mới với rất nhiều xô bồ, rối ren, bất trắc Theo đó, trong thơ ca Việt Nam đã có những bước chuyển mình đầy kinh ngạc Qua các chặng đường thơ của Nguyễn Bình Phương, chúng ta dễ dàng nhận ra quan niệm nghệ thuật của tác giả về cuộc đời, về con người, về sống và viết, về bản năng và ý thức người cầm bút (hay trách nhiệm, lương tâm người cầm bút) Hơn hết, đằng sau những vần thơ đầy ám ảnh, day dứt về cuộc đời, về thế giới tâm linh vô thức bên kia ấy là một hình dung đầy cần mẫn, trầm tư, một trái tim tha thiết xoay tròn với từng con chữ 27

Chương 2 28

HỆ THỐNG HÌNH TƯỢNG 28

TRONG THƠ NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG 28

2.1 Hình tượng cái tôi trong thơ Nguyễn Bình Phương 28

Cái tôi là biểu hiện của ý thức cá nhân về con người, cuộc đời, về bản thân

mình Đó còn là sự tự nhận thức của cá nhân về phẩm chất, nhân cách, tài

năng cũng như giá trị của mình trong xã hội Trong thi giới của bất kỳ nhà thơ

Trang 15

nào, chúng ta đều thấy xuất hiện chân dung tinh thần của chính nhà thơ ấy hay nói cách khác, mỗi nhà thơ đều dựng lên trong thơ của mình một hình tượng cái tôi riêng biệt, không lặp lại Nói như Biêlinxki: “Thơ ca chủ yếu là thơ ca chủ quan, nội tại, là sự thể hiện của chính bản thân nhà thơ” Thơ Nguyễn

Bình Phương cũng không ngoại lệ 28

Qua thực tế khảo sát văn bản thơ, chúng tôi nhận thấy hình tượng cái tôi trong thơ Nguyễn Bình Phương có những đặc điểm nổi bật sau: 28

Cái tôi có mỹ cảm khác thường 28

Cái tôi luôn trăn trở, suy tư về bản thể 28

Cái tôi chìm đắm trong trực giác, tiềm thức, tâm linh 28

2.1.1 Cái tôi có mỹ cảm khác thường 28

Thơ truyền thống là mảnh đất của những vẻ đẹp thanh cao, diễm lệ - những vẻ đẹp của tự nhiên, của tạo vật mà ta có thể hình dung trong một thực thể sống động, dễ nắm bắt, dễ hình dung Thơ thời chiến khai thác tối đa vẻ đẹp “toàn bích”, anh dũng của con người được ẩn tàng trong bom đạn chiến tranh Vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước trong thơ, nếu có, chỉ là những lát cắt thuần thục, nhất quán, dễ hiểu, bị đóng khung trong những liên tưởng khô cứng Cùng với hơi hướng của thơ cách tân, sự thay đổi trong tư duy sáng tạo nghệ thuật cũng làm biến màu những mỹ cảm xưa cũ trở nên giàu ý nghĩa, tăng sự phiêu lưu của trí tưởng tượng, cái đẹp mang mỹ cảm mới mẻ, độc đáo 28

Ta hãy xem mùa thu hiện diện qua con mắt Nguyễn Bình Phương trong bộ “xống áo” mỹ cảm mới: 29

Mang xống áo mùa thu 29

Làm mùa thu 29

Nhớ giấc ngủ ngàn thu trong đài sen úa 29

Nhớ giấc ngủ mềm mại như bóng râm 29

Chảy vào căn nhà đổ… 29

(Bài mùa thu đầu tiên) 29

Trang 16

Ở đây, thi nhân “cảm” mùa thu bằng xúc giác tinh nhẹ, một cảm giác da thịt nhẹ nhàng, mơn trớn Chiếc áo mùa thu khoác lơi lả, gợi cảm giác bồng bềnh, thanh nhẹ như đang chìm đắm trong những mê man bất tận của giấc ngủ ngàn thu Đó còn là một mùa thu được cảm nhận bằng dư vị mềm mại, nữ tính

Mùa thu đẹp, thuần khiết như một chất lỏng trong suốt chảy tràn vào từng

ngóc ngách của cảnh vật “chảy vào căn nhà đổ” Bài thơ này dường như

không phải để đọc, nó để tan vào trong tâm hồn, sống dậy như những lời rủ rê

tình tứ: 29

Mùa thu len lén ra khỏi cây 29

Đi nào, đi với anh xuống đáy hồ xa thẳm 29

(Bài thơ mùa thu đầu tiên) 29

Du hành vào vũ trụ thơ của Nguyễn Bình Phương, chúng ta sẽ bắt gặp những hình ảnh, sự vật lạ lùng, đầy mê dụ Nó khiến ta cứ mải miết mà chìm sâu trong đó khó thể dứt ra được Với cách lý giải khác về hiện thực cùng nhãn quan kiến tạo độc đáo, nhà thơ đã nhìn thi giới bằng một mỹ cảm mới lạ, đầy mị hoặc: Qua con mắt khép hờ/ Mặt trăng đi thẳng vào giấc ngủ/ Cuối đường gặp một ban mai bàng bạc/…Người đeo kính hết mọi nhớ mong/ Những quên lãng lại hồi về trí nhớ/ Con mắt khép nửa vời là cạm bẫy thờ ơ/ Trong giấc ngủ đầy mộng mị/ Trăng không thể bay ra…(Mắt) 29

“Con mắt khép hờ” giống như một cánh cửa thần kỳ ẩn chứa bao điều bí mật, nó thu hút ngoại giới chìm sâu, mê man trong đó Cuộc du ngoạn này đã đánh thức giấc ngủ tiềm tàng của ký ức, sống dậy nó trong một “ban mai bàng bạc” và “Con mắt khép hờ” (hay “con mắt khép nửa vời”) đã trở thành một công cụ thẩm mĩ đặc biệt, một thứ cầu nối để mở ra một thế giới khác, ở đấy, “mặt trăng đi thẳng vào giấc ngủ” và cũng ở đấy, “trong giấc ngủ đầy mộng mị/ Trăng không thể bay ra”… Trong khoảnh khắc, cái nhìn ấy đã làm lộ diện một thế giới khác, ẩn tàng sau bề mặt của thực tại” [44] Thế giới ẩn tàng đó không có gì rõ ràng, tất cả chỉ là một bức màn hư ảo: 30

Trong ký ức không phải dòng sông không phải bình minh 30

Trang 17

Không phải chú cá 30

Vàng 30

Như hoa mướp 30

Trong ký ức chỉ một vệt trườn 30

Giữa không trung đuôi dài uốn lượn 30

(Linh miêu) 30

Sự xuất hiện hình ảnh của những chú mèo trong thơ Nguyễn Bình Phương không đẹp theo dáng vẻ đơn thuần của màu và độ mềm mại của lông, màu mắt Mèo – xuất hiện trong vai trò người xứ giả của bóng tối, cùng với ánh trăng, chúng hòa lẫn vào bóng đêm tràn trề bản năng hoang dã Ẩn mình kín đáo trong một góc khuất của vô thức, Nguyễn Bình Phương lặng lẽ quan sát từng động thái của loài linh miêu, cảm nhận được cái nhẹ tênh không chút va động của chúng giữa không trung “Nhà thơ, kẻ thăm dò ẩn mặt, kẻ phát hiện ra không có dấu vết của chú cá, dòng sông hay bình minh trong kí ức con mèo, mà chỉ có cái gì đang trơn trượt, một vệt trườn giữa không trung, giữa hư không, dấu vết hữu hình trong cái vô hình, cái dấu vết không thể còn dấu vết” [59] 30

Ở một không gian thơ khác, người yêu, con mèo, ánh trăng giống như ba người bạn tâm giao nhưng lại không có bất kì mối liên tưởng nào Người yêu, con mèo và ánh trăng mở lời trò chuyện, tương giao bằng cách “ho húng hắng” Chỉ người trong cuộc mới hiểu được những tín hiệu thông tin đặc biệt ấy Đó là “một cuộc trò chuyện thi vị giữa các sinh thể sống (con người, loài vật) và tạo vật thiên nhiên (ánh trăng) bằng ngôn ngữ riêng, thứ ngôn ngữ nằm giữa tiếng người và những âm động tự nhiên” [59]: 31

Người yêu tôi nằm cạnh một con mèo 31

Cạnh một ánh trăng 31

Cả ba ho húng hắng 31

(Mở lời) 31

Trang 18

Cái đẹp, đôi khi khó hình dung chuẩn xác trong chiều liên tưởng thông

thường Nó hiện diện trong một trạng thái ở giữa ranh giới thực và ảo, rõ nét

và huyễn hoặc: 31

Nó đang ở cuối đường 31

Thân thể gầy còm vì chay tịnh 31

Mỏng, nhàn nhạt, sạch bong như chú mèo trung tính 31

Trộn lẫn vào những muộn phiền luyến ái của ta 31

(Khoảng giữa) 31

Ta tạm gán cho “nó” cái tên gọi – sinh thể Nhưng là một sinh thể còn chưa chuyển hóa hết vào hư không mà “thân thể gầy còm vì chay tịnh” Đến trạng thái “nó” đã buông sạch sẽ những dấu vết của đời thực thì nay “nó” đã mang một hình hài mới “Mỏng, nhàn nhạt, sạch bong như chú mèo trung tính” 31

Bên cạnh những câu thơ viết về vùng đất Linh Sơn hoang vu, hư ảo với đầy rẫy những điều kỳ dị, ta cũng ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của vùng đất cố đô trong mắt người con của núi rừng Thái Nguyên: Mở mắt/ Đã Tịnh Tâm/ Mưa gọi những đường cong hiển lộ/ Vậy là Huế đã làm anh ngờ ngợ/ …Trăm năm Huế ngực vần tròn và trắng/ Lụa còn bay cuồn cuộn như rồng… (Chớp mắt Huế) 32

Huế cổ kính, diễm lệ đã được thi sĩ cảm nhận bằng cái nhắm mắt “tịnh tâm”, buông lơi những cảm xúc hỗn độn, bon chen của cuộc sống và trở lại trong Huế những vẻ đẹp độc và lạ lẫm Huế khơi mở đôi mắt tâm hồn nhà thơ, khiến ông “ngờ ngợ” Huế giống như một cô gái dịu dàng với những đường cong mê hồn - những đường cong mềm mại của cơ thể được mưa tạo hình đầy duyên dáng và e ấp Câu thơ “Trăm năm Huế ngực vẫn tròn và trắng” đẹp cả về hình thể và ngôn ngữ, câu thơ có đường nét, hình dáng, màu sắc 32

Sự sống luôn đẹp, tất nhiên, ai cũng không thể phủ nhận Nhưng với Nguyễn Bình Phương, cái chết mới thực sự mang lại những trang thơ đẹp, đẹp trong

nỗi ám ảnh triền miên day dứt: Chết làm ngôi sao đen/ Chết trên giường

Trang 19

bình nhiên bí ẩn/ Chết không thở cùng hoa/ Thở cùng người đàn bà xa lạ…/

Ở trong khu rừng ma/Có những con hươu ma/ Chết nở một nụ cười sáng

nhẹ/ Chẳng vĩnh biệt em chẳng tiễn biệt ai/ Từ tốn mơ màng/ Bông cải cúc

ra đi (Nhẹ) 32

Trạng thái chết trong thơ Nguyễn Bình Phương được diễn tả bằng những ngôn từ đẹp, thanh, nhẹ và bí ẩn hay nói cách khác, “chết” đã được pha lọc qua con mắt của nhà thơ, nhìn trong một mĩ cảm hoàn toàn mới Đây hẳn không phải là một trạng thái đông cứng, càng không phải là một trạng thái xa rời thực tại hiện tồn Nó là một quá trình chuyển giao đầy mộng mị, hư ảo từ một thế giới thực tại sang thế giới siêu thực tại, từ hiện tại đến tương lai Trạng thái chết không mang dư cảm nặng nề mà nhẹ, bí ẩn và hấp dẫn như “thở cùng người đàn bà xa lạ” Cái tôi ( hay cái chết – sinh thể có hồn) chìm sâu bên dưới bề mặt câu chữ “từ tốn mơ màng” trong “một nụ cười sáng nhẹ” muốn rũ bỏ khỏi mộng mị của những “con hươu ma”, “khu rừng ma” để tan vào ngoại giới Hình ảnh “bông cải cúc ra đi” gợi cảm giác nhẹ nhàng, dứt khoát 32

Có khi, mĩ cảm khác lạ ấy dừng lại bởi một “cái rùng mình”: 33

Đồi 33

Cái rùng mình trên làn da thanh vắng 33

Một điều bí ẩn hơn người… 33

(Những trận chiến cài hoa) 33

Ngay cả những âm thanh tưởng chừng như vô nghĩa (Tiếng lạ, tiếng rền) lại hiện lên sống động như tồn tại trong đó một thế giới trên từng trang thơ của Nguyễn Bình Phương: 33

- Thiếu phụ quay đi xanh mơ màng 33

Bỏ lại hồ xanh thẳm 33

Tiếng xanh 33

Giữa vòm cây mận trắng 33

Cơn sốt dậy sắc hồng run rẩy 33

Trang 20

(Tiếng lạ) 33

- Ông thầy lang áo vá 33

Đến thăm người bệnh ngắt hoa 33

Giấc mơ còn có cuống 33

Những chiếc cuống run run 33

Buồn heo may trúc lạ 33

Buồn vết chém hoang vu 33

Chết trong nòng súng cỏ 33

Những tiếng rền xa xa 33

(Tiếng rền) 33

2.1.2 Cái tôi luôn trăn trở, suy tư về bản thể 34

Lịch sử đã mở ra một bức màn khác kéo theo sự thay đổi của cảm hứng trữ tình Không còn những vần thơ ngợi ca, tự hào mà thay vào đó là những vần thơ lắng đọng, suy tư Các nhà thơ luôn khao khát được bộc bạch, được giãi bày cái tôi bản thể trong dòng cảm xúc phức hợp, đa chiều Hình tượng cái tôi trong thơ Nguyễn Bình Phương cũng không nằm ngoài xu hướng này Đâu đó, trong dòng chảy cuộc đời, Nguyễn Bình Phương đã tìm được cho mình một thế giới tĩnh lặng, một “ốc đảo” để ngẫm ngợi, suy tư Ở đây, ta bắt gặp sự xuất hiện của cái tôi luôn trăn trở, suy tư về bản thể của chính tác giả 34

Thơ Nguyễn Bình Phương là mảnh đất nảy mầm sinh sôi của cái tôi có tâm hồn phong phú, hướng nội, đa cảm, thể hiện qua nhiều mảng màu khác nhau của cuộc sống Qua hành trình thơ ấy, chân dung cái tôi bản thể của Nguyễn Bình Phương đã hiện lên vô cùng rõ nét: đó là cái tôi ưa suy ngẫm về các giá trị đời sống; luôn muốn khẳng định những giá trị “nhân vị” riêng, độc sáng; yêu đắm đuối; luôn bị ám ảnh bởi sự cô độc, cảm giác bất an và cái chết… 34

Có thể nói, thơ ca Việt Nam sau 1975 phần lớn đều giàu chất triết lý, suy

tưởng Ở đó chủ thể trữ tình không chỉ suy tư về cuộc đời, mà còn trăn trở, cô

Trang 21

đơn trong cuộc tìm kiếm cái tôi bản thể của chính mình, tha thiết đi tìm câu

trả lời cho những câu hỏi hiện sinh Nguyễn Bình Phương cũng vậy: 34

Ta là ai? 35

Ta là gì trong ý nghĩ của ta? 35

(Hóa hình) 35

Thực tế, đó là một câu đố không có lời đáp Con người sống trong xã hội hiện đại với nhiều nỗi lo toan thường nhật sẽ không tránh khỏi những cảm giác bế tắc, tù túng Những lúc tự vấn như thế này, chỉ tồn tại sự cô đơn, trống vắng khó định nghĩa : 35

Ta là gì trong ý nghĩ của ta 35

Là gì nhỉ cái dãy phố con con treo đầy biển hiệu… 35

(Hóa hình) 35

Sự khô cứng, bất động, chật chội của cuộc sống đô thị hiện đại như phong kín lấy cái tôi muốn bùng cháy, muốn thoát khỏi cuộc sống u mê, luẩn quẩn của những dãy phố con con Trong một thế giới đóng khung chật chội ấy, tất cả đều nhòe mờ, “hóa hình” và dần trở thành “dấu chấm vời xa” Cuộc sống đô thị hiện đại không những làm cho con người tự đông cứng cả về thể xác, tâm hồn Hơn nữa, nó còn đóng kín mọi cố gắng vượt thoát khỏi không gian tù túng và trở về trong một hình hài mới: 35

Trong sự phong kín đê mê này 35

Ta ngượng ngùng nghĩ mình là cánh cửa 35

(Hóa hình) 35

Trong những vần thơ của mình, Nguyễn Bình Phương luôn muốn khẳng định những giá trị “nhân vị” riêng, độc sáng Ở thế giới đầy ngột ngạt này, nhà thơ luôn bị vây kín trong những lo toan, bế tắc của cuộc sống, ông luôn khát khao tự nhìn nhận lại chính bản thân mình, đối thoại với mình bằng những chuyển động thầm lặng trong chính hình hài ấy: 35

Tôi cắt tóc 36

Kín đáo nhếch môi cười 36

Trang 22

Đi lìm lịm vào gương như khói 36 Tôi cắt tóc 36 Buông lơi 36 Khuôn mặt ngoài mùa hạ 36 Sau bức tường kia những sự thật đã già 36 Tôi cắt tóc 36 Một người cực lạ 36

Rũ khăn choàng váng vất bước ra 36 (Cắt tóc) 36

Đằng sau những việc rất đời thường của con người cũng gợi lên cho tác giả những trăn trở, suy tư về cuộc đời, về bản thể Ngẫm về cuộc đời, đằng sau cái cười nhếch môi hết sức kín đáo là nụ cười chua chát “buông lơi” “Tôi” cười vào những sự thật vốn đã tồn tại trong cuộc sống Nó làm thay đổi chính con người, đeo một cái mặt nạ được bao phủ bởi những dối trá cứng ngắc,

“tôi” muốn rũ bỏ nó và bắt gặp ngay cái hình hài xa lạ kia 36

Có khi, ta lại bắt gặp trong thơ Nguyễn Bình Phương một cái tôi ráo riết, mải miết đi kiếm tìm một hình hài quen thuộc trong cuộc sống Đó là “mặt bên

kia” của cái tôi, của cuộc đời Nơi ấy, cái tôi lặng lẽ trở về nhìn ngắm những vết thương lòng đang chảy sâu dưới bề mặt da thịt Cái tôi bước vào mặt bên kia của cuộc đời nhưng lại tự đánh đắm trong ảo ảnh do chính mình tưởng

tượng ra, chợt thấy khuôn mặt mình mờ đi sau những ảo giác xa vời, hư hao: 36

Phía sau hiển nhiên là tôi 36 Lẩn thẩn ngồi canh giữ vết thương 36

…Sau bao long lanh lý lẽ 36 Một người không tìm ra mặt 37

đi vòng vo trong ảo ảnh của mình 37 trái tim mờ mờ lỗi nhịp… 37 (Mặt bên kia) 37

Trang 23

Ông tiếp tục họa về mình qua những vần thơ trăn trở Cái tôi phân thân đứng

một góc lặng lẽ quan sát, chiêm ngẫm về bản thân mình: Ông hàng xóm từ

chiến trường về/ Không có giấc mơ/ Ngón tay ốm o vùi lấp khuôn mặt ốm o/

Ai biết ông ta nghĩ gì/ Sau những ngón tay ấy (Ngỏ lần thứ nhất) Bức tranh

được vẽ lên bằng những đường nét nhòe nhòe, chỉ có cái gân guốc, rõ nét của đôi bàn tay và khuôn mặt đã thấy được một cái tôi đầy trăn trở, suy tư Sau

những ngón tay ấy phải chăng là sự buông bỏ những hoài niệm cũ hay sự níu giữa những mảnh ghép từ giấc mơ trong quá khứ? 37Cũng đôi bàn tay ấy, cái tôi lại tự rũ bỏ chính bản thân mình, muốn thác đi

trong bản ngã hiện sinh đầy mạnh mẽ: 37

Tự cấu mặt mình như cấu bùn 37 Vứt ra xa 37 Rơi vào đâu không biết… 37 (Thác) 37

Ta còn bắt gặp ở thơ Nguyễn Bình Phương một cái tôi ưa suy ngẫm về các giá trị đời sống Đó là cái tôi đầy mỏi mệt, bế tắc, tự cười vào chính cuộc đời

công chức của mình với sự đeo đuổi dai dẳng của nỗi cô đơn, bệnh tật: Một

cái chức nhỏ nhẹ/ Một cái chức lăn như cỏ lông chông/ Mơ đeo vào tay xòa

ra giữa nắng/ Mơ đeo vào gót chân mỗi bước mỗi khua vang rổn rảng/…Một cái chức liu riu ánh vàng/…Một cái chức không đâu bỗng vỗ nên thành biển (Gửi những khổ sở); Này tôi/ Một khuôn mặt công chức/ Đứng nhìn những

cuộc họp rạc rài/ Tiêu ma bao ý tưởng/ Xa xa trải một màu bệnh hoạn/ Bệnh hoạn cũng cũ rồi (Bài thơ cũ) Ở đó còn là cái tôi bất an, tự vấn về bản thân

mình: Tôi châm thuốc ra ngoài gặp cỏ/ Nghĩ đến mình nghĩ đến mình thật

nhiều/ Nhắm mắt lại và từ từ hiển hiện/ Một vườn mía ngọt lúc trăng lên

(NBP); Tôi là một đỉnh núi/ Một nỗi buồn gieo neo nơi kí ức phai tàn/ Trời

xanh xanh vỗ trên đầu mê man/ Ngày mai có người sang đất lạ/ Ngày mai lạc vào giấc mơ của ma/…Tôi là con đường chông gai chưa ai đi (Tự sáng)… 37

Trang 24

Nguyễn Bình Phương viết về thơ tình không nhiều nhưng những vần thơ của ông rất đẹp, rất mộng và trong trẻo Cái tôi trữ tình hiện lên trong thơ ông lúc này là cái tôi yêu đắm đuối, say mê Tuy nhiên, đây lại là những vần thơ

thoáng nét buồn thương, những dự cảm bất an, mặc cảm chia ly, từ biệt Viết

về tình yêu, về “em”, thực chất, cũng là một cách mô tả, rọi chiếu về bản thể của cái tôi thi nhân từ một góc khác: 38

- Thắp lửa lên bỗng thấy xa vời 38

Em là ngọn nến nhỏ sáng dần đôi môi tôi 38 Yêu có nghĩa vừa bay vừa nghĩ ngợi 38

…Sông đã chảy sang bên kia giấc ngủ 38

Em tỉnh dậy trời xanh thành người lạ 38 (Thơ ngắn về em) 38

Những dự cảm chia ly, xa cách trở đi trở lại rất nhiều trong thơ Nguyễn Bình Phương: 38

- Yêu em có nghĩa là yêu mây xa 38 Nghĩa là yêu chiếc khăn màu cỏ úa 38

Em nhìn tôi nhìn sông Hồng chìm đắm 38 Không ai chèo đò cho tình yêu qua sông 38

Lạ lùng ơi lạ lùng nổi sóng 38 Sóng đưa hai ta trôi dạt về đâu… 38 (Than thở) 38

- Bao hoa trái mang nỗi buồn rụng xuống 39 Một cuộc tình nôn nao chia ly 39 Lời hẹn cũ với em không còn nữa 39 Những buổi chiều mờ in trên hồ… 39 (Những chiều mờ) 39

Tình yêu trong thơ Nguyễn Bình Phương chỉ sống dậy như những hoài niệm xưa Đó là ký ức về tình yêu vẫn còn vẹn nguyên trong tấm hình cũ: 39

Em đã bỏ ta đi 39

Trang 25

Em đã ngắt một nhành hoa nhỏ 39 Chú chim sâu thuở ấy rất buồn 39 Không thể hẹn hò nhau được nữa 39 (Hình cũ) 39

Trong con mắt Nguyễn Bình Phương, tình yêu giống như một bông hoa có

cuống Sự phân rã của cuống hoa với hoa cũng là dự cảm của sự chia ly Bài

thơ mang lại cảm giác về sự tái tê, run run của những bông hoa “Bức hình

cũ” mang đầy vẻ tĩnh lặng, dịu dàng, tình yêu của sự vị tha, cao thượng: “có đôi tay trần từ trời cao dịu dàng buông xuống” Câu thơ còn nguyên trạng

thái bất toàn của tình yêu Cũng có khi, sự ly biệt trong tình yêu lại được cảm

nhận qua ánh mắt xa xôi, là gần đấy nhưng lại xa đấy: Anh vẫn thấy em từ xa

bước lại/ Em nhìn anh/ Em xa xôi như cây/ Em quay đi/ Tiếng kêu dài lạnh lẽo/ Hoàng hôn trên đầm tàn (Giấc ngủ nắng) Hình ảnh “em” tàn đi trong

ánh hoàng hôn xa xôi, chỉ còn vương lại bên này màu nhớ thương là những tiếng kêu dài lạnh lẽo, băng giá đã làm nổi bật lên dấu hiệu biệt ly của một

cuộc tình Chi tiết “hoàng hôn trên đầm tàn” chứng tỏ sự bất lực, buông bỏ

dứt khoát trong tình yêu không còn hy vọng Tình yêu vừa mang lại cho con người hạnh phúc, vừa đem đến cho con người những đau khổ triền miên

không dứt 39Suy tư về bản thể, cũng là suy tư về ý nghĩa của sự hiện sinh cá nhân, ý nghĩa của sự mất/ còn, hữu hạn/ vô hạn; phù du/ vĩnh cửu… Có lẽ sự cô đơn, trống vắng giống như một chất keo đặc bám lấy bức thành tâm hồn của thi sĩ, ông cảm thấy sợ bóng đêm, bị ám ảnh về cái chết, ám ảnh về máu Phải chăng

cũng vì lẽ đó mà thơ của ông ngập tràn máu và nỗi ám ảnh dai dẳng của cái chết Ám ảnh về máu và cái chết như phủ trùm mọi nơi, đâu đâu trước mắt

“Tôi” cũng là dòng chảy lặng lẽ của máu: Máu đã ra ngoài cỏ/ Chảy men theo

sườn đồi xuống hồ/ Máu không tắt không khô không ngơi nghỉ/ Chảy miên

man qua thớ đất nâu/ Máu còn chảy, chảy mãi/ Đến từng nhà từng người con gái/ Đến từng kẻ thứ ba/…Máu còn chảy song hành bước chân/ Nơi nẻo vắng

Trang 26

ngõ quê/ nơi ồn ào phố thị/ Trong yên tĩnh thư viện mênh mông/ Máu còn

chảy/ Ngoài chúng ta/ Chảy qua thị xã tới kinh thành…(Chết) 40

Nguyễn Bình Phương hay nói về cái chết, hay bị ám ảnh bởi cái chết nhưng ông lại đón nhận nó trong từng trang thơ của mình rất nhẹ nhàng, như một

chủ định dửng dưng: Không ai nhìn thấy anh/Không ai nghe tiếng kêu im

lặng/ Lúc đó trên đồi Phủ Liễu/ Chiều mang cơn u mê phủ khắp ngọn cây/ Le lói vài ba con bò gặm cỏ/…Ba phát súng thờ ơ/ Nổ vào lòng nhẫn

nại…(Chết).“Ba phát súng thờ ơ” diễn tả chân thật sự thờ ơ, lạnh lùng, dứt

khoát trước cái chết Câu thơ mang niềm bi kịch của cái chết, chết trong cô độc khi “không ai nhìn thấy anh” Là cái chết của đá hay cái chết của “anh”? 40

Trang viết đầu tay nhắc: 40

- Đá sẽ chết vào lúc anh mỉm cười 40 Hãy cẩn thận! 40 (Ngỏ lần thứ nhất) 40

Bên cạnh những trăn trở, suy tư về cá nhân, về cuộc đời, con người, những dự cảm chia ly trong tình yêu, suy nghĩ về cái chết, thơ Nguyễn Bình Phương

cũng bộc lộ những suy tư của cái tôi luôn trăn trở với sáng tác và nghiệp cầm

bút: Ta sinh ra cô đơn/ Giờ cô đơn đã cũ/ Ta trưởng thành bởi sự sợ hãi/ Sợ

hãi cũng cũ rồi/… Trong bóng râm lạnh lùng vang lên lời nhắc/ -Ta lớn lên bởi sự kiếm tìm/ Giờ kiếm tìm đã cũ (Bài thơ cũ) 40

Với ông, nhà thơ sinh ra vốn đã mang nặng nỗi cô đơn, lớn lên trong sự sợ hãi

và kiếm tìm cái cũ Nhưng đó là sự kiếm tìm mỏi mòn, không có điểm dừng chân Trong cuộc kiếm tìm những cái cũ, tác giả tìm cho mình bao ý tưởng

mới Sự kiếm tìm cái cũ vì thế chưa bao giờ ngừng lại trong bản ngã sáng tạo của Nguyễn Bình Phương Vì thế, quá trình thai nghén một tác phẩm chưa

bao giờ là điều dễ dàng: Ta lặng im/ Chim hót/ Họ thì vỗ cánh bay/ Ta viết/

Chim bay đi/ Họ thẫn thờ đậu xuống/ Ta nhìn ta mai mái một làn sương (Nhà thơ) 41

Trang 27

Trong quá trình ấy, cái tỉnh táo phải phá bỏ sự bủa vây của trí tưởng tượng, trả lại cho tác giả sự tĩnh lặng trong tâm hồn Lặng im, để từ đó phân tách

thành những mảnh vụn khác nhau với muôn vàn trạng thái khác nhau Sự

sáng tác đối với nhà thơ lúc này giống như một quá trình ăn mòn cơ thể, càng

sáng tác, tác giả càng không tìm thấy mình, cuối cùng chỉ còn lại mai mái một

làn sương Đôi lúc, tác giả cũng có lúc tự hỏi mình bằng một câu hỏi không

hồi đáp: 41

Đứng dậy, sũng ướt, đi rồi tự hỏi 41 Viết là tìm thấy hay đánh mất? 41 (Chân dung khi trống trải) 41

2.1.3 Cái tôi chìm đắm trong trực giác, tiềm thức, tâm linh 41

Thơ Nguyễn Bình Phương không phải là lối mòn dễ đi, cũng không phải một bài toán có sẵn những lời giải đáp Thơ ông là một thế giới chưa bao giờ

khám phá hết của cái tôi – thế giới trực giác, tiềm thức, tâm linh 41

Tiềm thức là vùng sâu thẳm trong tâm hồn con người mà bản thân người ấy

không ý thức được Đó là sự ghi nhớ một cách vô thức những trải nghiệm của

cuộc đời, giúp ta nhìn và cảm nhận những việc chúng ta đã từng làm Tiềm

thức vận hành từ những ký ức sâu kín nhất mà cấp độ ý thức không thể nhận

biết Nói một cách đơn giản, tiềm thức chính là sự “phiên dịch” của ý thức, tất

cả những gì ta cảm nhận, nghe, nhìn và ngửi đều được tổng hợp lại và tiềm thức giữ lại chúng 41

Trực giác là sự nhận thức trực tiếp bằng cảm tính, không thông qua suy luận,

tư duy của lý trí Người nghệ sĩ luôn mang trong mình bản ngã sáng tạo nhờ khả năng thiên bẩm Đứng trước một đối tượng nghệ thuật, khi cảm hứng

dâng trào, họ có thể nảy sinh một nhận thức ngẫu nhiên (nhưng chính xác) về đối tượng ấy mà không cần bất kỳ sự can thiệp nào của lý trí Đây chính là

yếu tố trực giác trong sáng tạo nghệ thuật 42

Tâm linh là một phần đặc biệt trong đời sống tinh thần con người Theo tác

giả Nguyễn Đăng Dung trong cuốn Văn hóa tâm linh: “Tâm linh là cái thiêng

Trang 28

liêng cao cả trong cuộc đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo Cái thiêng liêng, cao cả ấy đọng lại ở những hình ảnh, biểu tượng, ý niệm” [5; 12] Một số tác giả khác cho rằng tâm linh “thường được hiểu như đời sống tinh thần đầy bí ẩn của con người, đối lập với “ý

thức” kiểu lý tính thuần túy Nó bao gồm cái phi lý tính, cái tiềm thức, vô

thức, bản năng thiên phú “có thể nhấn mạnh phần trực cảm, linh giác, những khả năng bí ẩn” (nhưng vẫn có ý thức của con người) 42

2.2 Hình tượng thế giới trong thơ Nguyễn Bình Phương 47

2.2.1 Hình tượng không gian 47

Hình tượng không gian hay không gian nghệ thuật là một khái niệm thuộc thi pháp học hiện đại được giới nghiên cứu rất quan tâm 47

Trong giáo trình Dẫn luận thi pháp học, tác giả Trần Đình Sử cho rằng:

“Không gian nghệ thuật là mô hình không gian của thế giới nghệ thuật và

cũng là hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật” Trong thực tế, “không có hình tượng nghệ thuật nào không có không gian, và bản thân người kể chuyện hay nhà thơ trữ tình cũng nhìn sự vật trong một khoảng cách, góc nhìn nhất định Nhờ có điểm nhìn của chủ thể mà không gian có chiều cao – thấp, rộng – hẹp, xa – gần, sâu – cạn, … Có thể nói không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một phương diện nhất định của của cuộc sống” [52; 107 - 108] 47Hình tượng không gian hay không gian nghệ thuật mang đậm dấu ấn chủ

quan của chủ thể sáng tạo Đó là không gian tinh thần của con người, là

không gian sống mà con người cảm thấy Bên cạnh đó, không gian nghệ thuật còn là không gian mang tính quan niệm, tượng trưng Điều này có nghĩa là

chủ thể sáng tạo luôn tạo ra một không gian nghệ thuật để thể hiện một quan niệm nhất định của mình về con người, về thế giới 47Trong thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Bình Phương, chúng tôi nghiên cứu

không gian nghệ thuật ở ba khía cạnh: Không gian của những vùng đất thực, không gian của những giấc mơ và không gian tự nhiên khác thường 47

Trang 29

2.2.1.1 Không gian của những vùng đất thực 47

Nguyễn Bình Phương là một người con sinh ra trên mảnh đất Thái Nguyên Như một lẽ thường tình, quê hương đi vào trong sáng tác của ông rất tự nhiên Thi sĩ đã dựng lên trong thơ của mình một không gian sống thực, tồn tại như

nó vốn có Đó là không gian của núi rừng Thái Nguyên gắn liền với những

địa danh, những tên riêng có thực của vùng đất ấy như: Linh Sơn, Linh Nham,

làng Phan, chùa Hang, gò Trẹo, cống Bù Rùm, Đội Cấn, đồi Phủ Liễu, chè Tân Cương, sông Cầu, sông Cái, … 48

Sự xuất hiện của những địa danh, tên riêng trên của đất Thái Nguyên đã giúp người đọc hình dung về một vùng rừng núi hoang vu, một vùng đất thiêng

liêng ẩn chứa những điều kỳ ảo: Bầy ngựa phi tím tái lưng trăng/ Qua chùa

Hang, làng Phan, gò Trẹo (Canh Ngọ); Lúc đó trên đồi Phù Liễu/ Chiều

mang cơn u mê phủ khắp ngọn cây/ Le lói vài ba con bò gặm cỏ/ Lúc đó sông Cầu lừ đừ trôi dưới ánh thiên dương (Thái Nguyên)… 48

Linh Sơn là địa danh được nhắc đến khá nhiều trong thơ Nguyễn Bình

Phương Trong từng trang viết của ông, Linh Sơn hiện lên với nhiều vẻ ảo mị, mênh mông, đầy mê hoặc: 48

Linh Sơn mênh mông, 48 Linh Sơn những rào mây xệch xoạc 48 Hỡi ai mà bỏ trăng đi lác đác 48

Bỏ trăng đi ướt mướt cây vườn… 48 (Cái bóng) 48 Linh Sơn ở lại 48

Ở lại thằng bạn điên sớm tối chỉ cười 48 Cống Bù Rùm ban trưa nghe rắn quấn… 48 (Khách) 48

Có khi, đó chỉ là một nét vẽ lướt qua nhưng cũng đủ làm sống dậy hồi ức về một vùng quê “trong veo” với lối sinh hoạt văn hóa lâu đời trong tâm thức

người đọc: 49

Trang 30

Thị xã nhỏ và xám 49 Chợ mở phiên hai ba hai tám 49 Nón lá trong veo 49 (Thái Nguyên) 49

Trong thơ Nguyễn Bình Phương, chúng ta không chỉ bắt gặp những địa

danh thực của vùng đất Thái Nguyên mà ở đó còn có sự xuất hiện của

nhiều địa danh ở Hà Nội như: Hồ Tây, sông Hồng, sông Ngân, hồ Dâm

Đàm, cầu Long Biên, chùa Trấn Vũ, … Không gian thủ đô cũng được

Nguyễn Bình Phương thổi vào đó một vẻ “mộng du”, tái hiện lại bằng

những thước phim không đầu, không cuối, nhòe lẫn và lấp lánh những sắc

màu kỳ lạ: Đêm Hàng Ngang rừng cháy/ Khi người dậy đất dậy trời/ Mây

tái mặt buồn ra bốn phía/ Ngày Hàng Đào mộng du thung lũng hoẵng/

Ngây ngất sốt bàn chân nhà quê/…Hà Nội xích lô (Tới kinh thành); Em còn lạc bước những buổi sương mù/ Cầu Long Biên vắng sông Hồng hoang vu (Thời soi sáng); Trên phù sa sông Cầu với sông Hồng/ Vết chân cổ lấp

lánh niềm hy vọng (Những thứ tự)… 49

Huế hiện lên dưới con mắt Nguyễn Bình Phương thật đậm đà, duyên dáng và như được dẫn dắt bởi những giấc mơ đẹp: 49

Có thể sông Hương chảy vì những giấc mơ 49

Có thể vì giấc mơ mà Ngự Bình hóa núi 49

Cả tiếng dạ lành hiền trên bờ Phu Văn Lâu kia 49

vì giấc mơ cũng nhuốm chút bùi ngùi 49 -Rứa một mình anh vô Huế mơ chi? 49 (Chớp mắt Huế) 49

Dù viết về vùng đất nào thì ngòi bút của Nguyễn Bình Phương cũng không ngăn được sự tiết ra từ ngòi bút những chất khói ảo đầy mộng mị Đó là

những không gian thực mang màu sắc chủ quan rõ rệt, nửa ảo, nửa thực,

mênh mang, bí ẩn, kỳ lạ do chính Nguyễn Bình Phương tạo dựng lên 50

Trang 31

Nguyễn Bình Phương có tài miêu tả về làng quê, về thị xã nơi ông sống Đó là một vùng quê mang vẻ đẹp mông lung, huyền ảo được bao phủ bởi một lớp sương mù dày đặc, bầu không khí xanh xao, mỏng manh gợi cảm giác bí ẩn,

kỳ dị Bên cạnh đó, ông cũng tạo dựng trong thơ của mình một không gian rất

đời thường của cuộc sống đô thị hiện đại với: những dãy phố con con treo đầy

biển hiệu, hàng ngàn xe máy phóng như bay, lũ trẻ online, đám @ đánh võng, khuôn mặt công chức mệt mỏi, bàn giấy, những cuộc họp rạc dài, … Những

hiện diện về cuộc sống đô thị trong thơ Nguyễn Bình Phương nếu có xuất

hiện chỉ là những không gian tù túng, chật hẹp khiến con người mệt mỏi, chán chường, cô đơn 50

Đó là căn phòng nơi cái tôi trữ tình trải nghiệm nỗi cô đơn, tự đối thoại với chính mình, suy ngẫm, chiêm nghiệm về cuộc đời, về con người và về cái

chết với bao trăn trở, hoài nghi, mặc cảm dồn nén trong một thân xác, một

hình hài mới: Với hình hài của gió/ Mở một nẻo chênh vênh trên nóc phố/ Anh

kín đáo đi xa hơn họ (Không đề nữa); Xa xôi trong căn phòng hẹp/ Bầy sẻ bay theo vệt sáng hoang hoang/ Nhịp thảng thốt như tin nhắn lạc/ Xa không chỉ từ thân xác/ Cái tổ ong nhỏ nhoi kết bằng ý nghĩ về nhau/ cũng quá đỗi xa xôi (Vời vợi xa)… 50

Đó là không khí ngột ngạt, xô bồ của đô thị với hàng dài phương tiện chen

chúc chật chội: Chênh chênh ánh đèn cốt/ Kiêu hãnh ánh đèn pha/ Trên phố

dài xe máy reo vang lừng/ Những vòng quay chóng mặt/…Các chấm đỏ lại nôn nao xuất hiện/ Trong đường cua quái đản (Xe máy)… 50

Buông mình giữa vòng quay của cuộc sống đô thị, chúng ta dường như nhìn thấy khuôn mặt đầy mệt mỏi của Nguyễn Bình Phương ẩn hiện giữa những khuôn mặt lạ lẫm kia Sự cô đơn, bế tắc, mỏi mệt này kéo dài tạo thành một khoảng trống vô tận trong tâm hồn cái tôi trữ tình Một cái tôi lạc lõng, hư vô giữa dòng người vô định: 51

Ngàn xe máy chở ngàn khoảng trống 51 Phóng như bay vào nỗi chán chường 51

Trang 32

Không gian đô thị những ngày nắng cũng được Nguyễn Bình Phương miêu tả bằng những ngôn từ giản dị, đời thường nhưng đầy ám ảnh Độc giả dễ dàng

bắt gặp những “khoảng trống thơ” của ông: Có thấy ngàn ngàn khoảng trống/

Áp vào một mẩu đời riêng (Một mùa hè mọi thứ áp vào nhau); Một bầu trời phẳng lì/ Không mây không gì cả/ Tường chói tiếng nói chói/ Chói tấm biển chỉ đường ra ga/ Gương chiếu hậu quắc lên quái gở/ Hè phố vắng thành

khoảng trống của thơ/ Gạch ngói rền vang bao cỗ máy (Miêu tả những ngày nắng)… 51

Như vậy, qua từng nét vẽ trong thơ Nguyễn Bình Phương, không gian của cuộc đời thực đã hiện lên với muôn vàn hình ảnh, màu sắc, đường nét ấn tượng Đó là một không gian có vẻ đẹp của thiên nhiên thơ mộng, hư ảo, có

vẻ hoang vu, thâm sâu, huyền bí của núi rừng Thái Nguyên và có cái chật hẹp của phố phường hiện đại Không gian thơ ấy vừa cho thấy tài quan sát tinh tế của nhà thơ, vừa gợi lên hình ảnh một cái tôi mang nặng tâm trạng

cô đơn, mệt mỏi, chán chường với những khoảng trống không thể lấp đầy của tâm hồn 51

2.2.1.2 Không gian của những giấc mơ 52

Khi bước vào thế giới thơ của Nguyễn Bình Phương, độc giả sẽ được đắm

chìm trong một không gian mông lung, xa vời đầy bí ẩn với vẻ đẹp ma mị,

được vẽ lên bởi những đường nét nhòe mờ, không đầu không cuối – không

gian của những giấc mơ Thực ra, “không gian của những giấc mơ” là một

cách diễn đạt/ định danh mang tính quy ước, nó nhằm chỉ một kiểu không

gian mang tính đặc thù trong thơ Nguyễn Bình Phương Ấy là một không gian

Trang 33

như được kiến tạo nên trong những giấc mơ không đầu không cuối, với dày đặc những ảo giác, ảo ảnh phi thực, lạ lùng, kỳ dị… Không gian ấy có thể có tên hoặc không tên, những cái tên hoặc xa lạ hoặc gần gũi, song chúng luôn được bao bọc, vây phủ bởi “tiểu vùng khí hậu” mơ, mộng đặc thù ấy 52

Đó là vùng đất Linh Nham với khí núi hoang vu được nhấn chìm trong màn sương dày đặc, cái chuếnh choáng, ướt mướt của vầng trăng đêm hiện lên trong đêm tối thâm u cùng với tiếng vọng đầy “âm ỉ”, huyền bí của những

quả đồi già: Ai rót rượu vào trăng/ Sương như mắt thiếu phụ về dĩ vãng/

Đêm/ Lang thang lang thang lang thang/ Ngực đồi già lau lách bỏ hoang/ Nghe trong đất lời tiên tri huyền bí/ Chẳng biết dữ hay lành/ Những vì sao

âm ỉ (Linh Nham đêm) 52

Đó là không gian vùng Định Hóa ẩm ướt những tiếng nai kêu “tận máu” tĩnh

lặng đến ghê rợn: Ừ nai kêu, nai kêu tận máu/ Trách làm chi/ Rừng ẩm/

Sương mù/ Sau mái lán một đốm vàng dần nhú/ Và tiếng trăng va xuống cỏ

mơ màng/ Và lẳng lặng (Ở Định Hóa) 52

Câu thơ cho ta cảm nhận được sự va động “mơ màng” của trăng Không phải sự

vỡ vụn, ồn ào, trăng vỡ nguyên trạng thái hiện thực của chính nó Một mùi ẩm mốc, thối rữa của cỏ cây, động vật bốc lên trong không khí hòa lẫn với mùi ngai ngái, lành lạnh của sương đêm càng tăng thêm sự rờn rợn của không khí nơi đây Nếu hình ảnh mặt trăng, mặt trời hiện lên trong thơ Nguyễn Bình Phương với

nhiều trạng thái kỳ dị: như ai rót rượu vào trăng, trăng vàng rên xiết, tiếng trăng

va xuống cỏ, răng sao rụng như sung, …thì trong tiểu thuyết của ông, trăng cũng

mang vẹn nguyên trạng thái kỳ dị, bất thường đó: “Vừa ra đời, Tính đã thấy

trăng Mặt trăng to bằng chiếc nong lừ lừ rọi qua vách liếp tạo thành một quầng trong suốt…Trăng không đi hình vòng cung lên cao Trăng tiến theo đường

thẳng, lừng lững áp lại To bằng miệng giếng, bằng cái hủng, rồi trăng choán kín bầu trời Tính ngợp trong thứ ánh sáng vàng trắng, lạnh lẽo, rên riết” [40; 14 – 15] 52

Trang 34

Ngày đông là những lát cắt hư ảo, mông lung của cả người và cảnh trong đêm

đông Nó gợi chính xác không gian đầy ảo ảnh, mơ hồ ấy Tôi hình dung tới những quả đồi âm u đầy sương, đầy mưa, những con người nhạt nhòa đi trong

đêm tối: Những quả đồi lơ mơ tối/ Lơ mơ vạt cỏ gianh/ Ngôi nhà rét/ Chiếc

cần giếng cong queo/…Ngoài chuồng trâu vọn tiếng cọ sừng/ Một người

nựng con/ Phát con/ Rồi ru/ Một người xách đèn đi vào sương mù 53

Vùng đất Linh Sơn hoang vu, vắng lặng, huyền ảo với những hình ảnh mơ hồ,

kỳ dị trở đi trở lại rất nhiều trong thơ Nguyễn Bình Phương như một ám ảnh mặc định đối với bạn đọc: 53

Bãi tha ma Linh Sơn hoang vu 53 Cây Cậm Cam rờn xám 53 Cơn sốt dậy sắc hồng quái dị… 53 (Giờ sinh) 53 Cái bóng nhòa nhòa quẩn trong mơ 53 Nhẹ thênh không va động 53 Linh Sơn mênh mông 53 Linh Sơn những rào mây xệch xoạc… 53 (Cái bóng) 53

Từ Linh Sơn mưa ra một cụ già 54 Gậy trúc đầu rồng 54 Chậm rãi tiến vào thị xã… 54 (Thái Nguyên) 54

Làng Phan dưới ngòi bút miêu tả của Nguyễn Bình Phương cũng đầy vẻ kỳ

dị, ma quái, ghê rợn với những bóng người lặng lẽ đi trong đêm tối: Làng bao

nhiêu gò đất/ Dáng nhà nằm thiêm thiếp dưới hơi trăng/ Điều gì kia/ Trú trớ / Rùng mình/ Khuya khoắt thế còn lội ngoài đồng vắng/ Vệt lân tinh nhẹ bẫng (Làng Phan) Khoảnh khắc rùng mình bí ẩn, tiếng “trú trớ” thoát ra từ miệng

người ngủ mê giữa đêm khua khoắt, những vệt lân tinh sáng xanh kỳ ảo cứ

Trang 35

loang ra trong bầu khí lạ càng làm cho không khí làng Phan như chìm trong nỗi ám ảnh, sợ hãi mơ hồ, bất định 54Không gian mơ hồ, xa xăm, đầy ám ảnh, kỳ dị và ma quái của làng Phan hay Linh Nham không chỉ xuất hiện trong thơ mà còn là không gian quen thuộc

trong nhiều tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương: Bả giời, Những đứa trẻ

chết già, Người đi vắng, Thoạt kì thủy, … 54

Trong Những đứa trẻ chết già, chúng ta bắt gặp “không khí ảm đạm và lưu

cữu Hoàng hôn trung du bao giờ cũng rề rà, mỏi mệt Những quả đồi chầm

chậm lùi lại, chầm chậm xuất hiện Đôi chỗ chè hoang mọc xanh đậm lên tận chóp đồi Hương chè nhả ra chát đặc” [34; 15] Làng Linh Nham được miêu tả trong tiểu thuyết là làng của những người điên đêm đêm nắm tay nhau đi thành vòng tròn trắng đục ma quái Cảnh vật Linh Nham luôn luôn như chìm trong ao

Lang “thì thầm đen thẫm như mặt người câm”, không khí trong làng lúc nào cũng nghi ngút “cuồn cuộn hương khói” của mùi hương trầm tỏa ra từ ngôi

miếu thờ của dì Lãm, gốc si già đêm đêm rì rầm tiếng nói chuyện của những hồn ma và thi thoảng lại thấy một vài bộ xương người hiện hình, nơi đó người làng dù chết ở nơi đâu cũng lần lượt tìm về Đó là ngôi làng vây bọc bởi sự kì

bí của con sông Linh Nham “ẩn hiện chẳng khác gì con rắn khổng lồ đang

trườn giữa rừng cây um tùm” đêm đêm gào thét, sự xuất hiện của con Nghê bí

ẩn, … Rõ ràng, kiểu không gian này đã ám ảnh tâm thức và trở thành đặc trưng

tư duy nghệ thuật về không gian của Nguyễn Bình Phương ở cả địa hạt thơ và tiểu thuyết 54Cái tài của Nguyễn Bình Phương ở đây chính là ông đã kiến tạo một thế giới đầy những ảo ảnh, chập chờn, vụt tắt, một thế giới tồn tại như chính nó mà

không phải là nó, hữu hình mà vô hình, hư mà thực Tất cả đã tụ lại trong

từng câu thơ ám ảnh, quái dị: Rừng chết chìm khi mặt trời dội nắng/ Qua

tháng này xe ma sẽ đến/ Đôi rồng bay lồng lộn bụi trần/ …Nơi ấy tháp nhà thờ đen chuông cầu nguyện/ Ai mở vòng tay sáng xanh kỳ ảo/ Đón bầy người

Trang 36

hốc hác/ …Ao lang câm rờn rợn/ Đêm ra nghi ngút hơi người (Bước khởi đầu nan) 55

Một thế giới trong trí tưởng tượng hay những ảo ảnh vụt hiện trong đầu đã

được Nguyễn Bình Phương ghi lại Hệ sinh vật trong thơ ông như bị tiêm

nhiễm bởi một chất độc ma quái, chúng biến thành những linh hồn nhòa nhòa, những bóng ma èo uột, xanh xao: 55

- Bầy ngựa phi 55 Hồi chuông đen mượt 55 Lam chướng mọc lên ngun ngún mép thềm 55 Mái lạnh đền thiêng lặng đứng 55 Cây hay người 55 Rưng rưng 55 (Canh ngọ) 55

- Xa xa đền trống 55 Nghê già thấp thoáng 55 Lưng phủ đầy rêu 55 Mắt tròn lá mục 55 Cười xô vào đâu? 55 (Ngỏ lần thứ nhất) 55

Sự xuất hiện của con người càng làm tăng thêm tính chất kỳ dị, ma quái của

không gian thơ: Họ đột ngột xuất hiện/ Tựa bóng ma thôi ra từ sương/ Đàn

ông trên lưng ngựa đen/ Đàn bà mang bạc lạnh/ Không khí kêu trầm trầm

quanh họ/ Như tiếng kêu của những con dao (Chợ núi), Qua rãnh nước thấy

vô số mặt người/ Cười không sáng buồn không ra tối/ Gã làm thuê lưng gù/ Cầm nón rách quành về đằng tây/ Nơi ấy chưa mưa nên mặt trời bị cháy/ Lũ kiến giăng hàng ngang/ có nốt chân hờ hững/ In lên tổ kiến vàng (Mùa)… 56

Những điều lạ lùng, kỳ dị, hư ảo trong thơ Nguyễn Bình Phương như được vẽ lên bởi những lát cắt của giấc mơ nhưng cũng mang những vẻ chân thực khó

tả Phải chăng những ảo cảnh kỳ dị đó được nhà thơ thôi ra từ thẳm sâu trong

Trang 37

tiềm thức, vô thức, là bản nguyên của thế giới được tác giả sáng tạo lên trong một hình hài mới? Rừng núi Thái Nguyên chính là nơi khơi nguồn mạch sáng tạo ấy cho Nguyễn Bình Phương Vẻ hoang vu, huyền ảo của vùng đất này

như gắn chặt lấy tư duy sáng tạo của tác giả “như thể không có gì làm anh xa rời nó, những bí ẩn của vùng núi Thái Nguyên, vẻ mù mịt hoang dại của sông nước, vẻ lạnh lẽo trong vắt của bầu khí thở, của cây lá, những chuyển dạng

âm u của mây lúc chuyển mưa giông hay chiều về, vầng trăng vàng lạnh u ẩn đính hờ đâu đó trong bầu trời, làm kẻ chứng cho những cuộc tình đến và tan loãng trong bầu trời ấy…” [59] 56Như vậy, bằng tư duy nghệ thuật độc đáo, Nguyễn Bình Phương đã tạo dựng lên một thế giới thơ độc đáo đầy vẻ kỳ dị, huyền ảo với những ảo ảnh nhòe lẫn, mơ hồ Nguồn năng lượng sáng tạo ấy tạo thành một thượng nguồn thơ thâm u, huyễn uẩn, một mạch sống riêng lẻ, một không gian thơ khác biệt,

biểu cảm Nói như Nhã Thuyên: “Thơ Nguyễn Bình Phương không cho hiện diện những cơn khát dục tính, cái ác từ vô minh, những tiếng nói bản năng

cùng quẫn vì bị đè nén hoặc được thả nổi đầy năng lượng và hỗn loạn trong đời sống bỏ hoang Vẫn là không gian của những vùng đồi âm u lam chướng,

đã quẫy đạp trong văn xuôi của anh Hay thơ ca, cái đẹp u uẩn, vẻ giản dị

mang đầy bí mật của nó, là một phía khác của tâm hồn, một phía khác của

tình yêu, là một áng mây xa luôn vừa bay vừa phân rã, đổi hình dạng, không thể nắm bắt và định hình” [59] 56

2.2.1.3 Một không gian tự nhiên khác thường 57

Nhà phê bình Lê Hồ Quang đã chỉ ra rằng: “Việc “đọc” thơ Nguyễn Bình

Phương là một hành trình tìm đường vào cõi lạ đầy nhọc nhằn, với nhiều cảm giác bất an, nghi hoặc Nhưng dù có lúc cảm thấy mê man, đuối sức trên hành trình phiêu lưu vào thế giới ấy, ta vẫn khó phủ nhận vẻ đẹp đầy ma mị của

nó” [50] Đúng vậy, thơ Nguyễn Bình Phương là một “cõi lạ đầy nhọc nhằn” nhưng lại có sức hút ma mị đối với độc giả Bởi lẽ, thế giới thơ của ông ngập tràn những biểu tượng, hình ảnh đẹp của thiên nhiên - đó là cái đẹp toát ra từ

Trang 38

ngôn ngữ, hệ hình ảnh kỳ lạ, khác thường mà ta chỉ thấy xuất hiện trong thơ Nguyễn Bình Phương 57Qua “con mắt khép hờ”, nhà thơ Nguyễn Bình Phương đã biến đổi hiện thực hiện hữu trước mắt thành một “thực tại mộng mị” với một hệ sinh – thực vật

khác thường Đó là thế giới của những: Linh miêu, con trăn gió, con hổ trầm,

con báo hoa, con hươu ma, con phượng non, con phượng đen, bầy nghê đá

cười, quạ vàng, cỏ trắng, bông hoa nâu, cây ngô đồng trăm tuổi, cây ngải

vàng, rừng tím, ong tím, ánh sáng màu hung, vầng trăng xanh, ánh sáng màu huyết thanh, … 57

Khi bước vào thế giới thơ này, độc giả vừa có cảm giác thích thú, vừa cảm

thấy rờn rợn bởi không gian: 57

Linh Sơn/ Con trăn gió quăng mình tìm gió/ Con hổ trầm bên suối vỗ trăng/ Con phượng non mất ngủ đứng dưới gốc ngô đồng/ Cây ngộ đồng trăm

tuổi/… Khúc sông quanh ngải vàng chưa mọc/ Trời héo mòn ngự ở cành tươi (Khách); Thiếu phụ nhìn hàng cây rờn xám/ Nhớ một con chuồn chuồn/ Nhớ khuôn mặt đã tắt/…Không mọc cây ngải vàng/…Giữa vòm cây mận trắng/

Cơn sốt dậy sắc hồng run rẩy (Tiếng lạ)… 57

Hình ảnh của những con trăn gió, con hổ trầm, con phượng non, cây ngải

vàng gợi một cái gì đó bí ẩn, huyễn hoặc Đây là những sự vật chỉ có trong

tưởng tượng về một thế giới vời xa, ngập ngụa những ám ảnh, ma quái 58

“Nở” là một trạng thái thường gặp trong thơ Nguyễn Bình Phương Nó phản ánh đầy đủ chuyển động khác thường trong chính bản thân nội tại sự vật Là một cái gì khó diễn tả, một phương thức giao cảm của người và hệ sinh vật

tồn tại bên ngoài thế giới thực Trạng thái này luôn gắn với một không gian rũ

buồn, mệt mỏi, với những hình ảnh kỳ dị, ám gợi: Nở/ Một con hươu sừng

cụt/ Tổ tiên của bầy hươu ma (Bước khởi đầu nan); Nở như người ác ngồi tự lự/ Nở như nỗi buồn đi mang là môi xanh/ Nở như ngọn đèn trôi êm ru từ bãi tha ma về (Vườn khuya)… 58

Trang 39

Thế giới ấy mở ra vừa khiến ta sờ sợ nhưng lại như có một lực hút mạnh mẽ kéo ta chìm sâu vào đó Thế giới này khi bước vào, để hiểu và thấu nhận nó, buộc chúng ta phải buông bỏ ít nhiều phần tỉnh táo của lý trí, khơi dậy điểm

sáng của trực giác, tâm linh và sự phiêu lưu của trí tưởng tượng: Chết làm

ngôi sao đen/ Nằm trên giường bình nhiên bí ẩn/…Ở trong khu rừng ma/ Có những con hươu ma (Nhẹ); Con đom đóm về/ Con Cậm Cam về/ Về/ Tất cả/

Để lại hằng hà vết chân mờ sáng/ Ngược đường máu chảy (Giờ về)… Trong

không gian thơ đầy những sự vật là lùng, kỳ dị ấy, sự xuất hiện của “bầu trời

hóa thạch” càng trở nên khó lý giải hơn bao giờ hết: Mười con rồng/ Mười

cây thông đen tạc sững/ Bầu trời hóa thạch (Về trời); Những ngôi sao màu

hung/ Quay mãi vòm lá héo/…Qua ô cửa bầu trời hóa thạch/ Cái bóng già

nua lử lả tan dần (Mở lời)… Hình ảnh của mười cây thông đen, ngôi sao màu hung, cái bóng lử lả chính là những biểu hiện “nổi loạn” mê dụ của sinh vật

Ta tưởng tượng không gian dường như biến sắc, sự vật chuyển động dữ dội, đứt nối trong thân xác khô khốc của chúng, bầu trời như đông cứng lại thành mảng “hóa thạch” khổng lồ, đè nặng xuống thế giới sinh vật bên dưới Con

người chỉ còn lại là “cái bóng già nua lử lả”, không va động, dần tan loãng đi

trong không khí 58

Những con chim ngủ yên trong mặt trăng bằng nước 59 Mưa phùn bay giấc mơ màu ngọc 59 (Tháng mười một) 59

Đó là một không gian đêm thanh tĩnh, có vẻ lành lạnh của những cơn mưa phùn Câu thơ gợi một trạng thái bình yên hiếm thấy xuất hiện trong thơ

ông Hình ảnh “mặt trăng bằng nước” là một hình ảnh đẹp, khác thường

của thiên nhiên, gợi lên nhiều mĩ cảm độc đáo Đây là một mặt trăng mềm mại, ướt át và trong suốt, gợi cảm giác êm ái vô tận giống như một thứ

nhung mềm, ấm áp, bồng bềnh Chính trong không gian ấy, một giấc mơ

màu ngọc nhè nhẹ bay ra giữa hơi mưa phùn phảng phất Một không gian

kỳ ảo, long lanh, một thế giới lạ lùng khẽ hiện ra trên bầu trời… Và

Trang 40

Nguyễn Bình Phương sẵn sàng dâng tặng “em” – nàng thơ, cả thế giới

huyền ảo, hư mặc, phiêu diêu này: 59

Một chiếc lá vàng 60 Một vầng trăng xanh 60

…Một dải cầu vồng trắng đen 60 Một bụi cây không gió… 60 (Tặng em) 60

2.2.2 Hình tượng thời gian 60

Thời gian nghệ thuật là phạm trù đặc trưng của văn học, là hình thức cảm

nhận thế giới của con người với một quan niệm nhất định về thế giới Thi

pháp học hiện đại định nghĩa: “Thời gian nghệ thuật là thời gian mà ta có thể

thể nghiệm được trong tác phẩm nghệ thuật với tính liên tục và độ dài của nó, với nhịp độ nhanh hay chậm, với các chiều thời gian hiện tại, quá khứ hay

tương lai Thời gian nghệ thuật do được sáng tạo nên mang tính chủ quan, gắn với thời gian tâm lí Nó có thể kéo dài hay rút ngắn thời gian thực tế Nó có thể đảo ngược hay vượt tới tương lai” [52; 77] 60Thời gian của thực tế khách quan được đo bằng đồng hồ, bằng lịch… và có tính chất vận động theo quy luật một chiều: từ quá khứ đến hiện tại, tương lai Còn thời gian nghệ thuật, dưới lăng kính sáng tạo chủ quan của người nghệ sĩ,

có sự vận động tự do, đa chiều hơn Nó có thể được đảo ngược: từ hiện tại

quay về quá khứ, bay xa tới tương lai hoặc vận động theo chiều sâu tâm lí của chủ thể sáng tạo Thế nên thời gian nghệ thuật được đo bằng nhiều thước đo khác nhau và nó gắn liền với tổ chức bên trong của hình tượng nghệ thuật

dưới cảm nhận chủ quan của tác giả 60

Để hiểu được thế giới nghệ thuật đòi hỏi ta phải đặt thời gian nghệ thuật trong mối quan hệ với không gian nghệ thuật và trong mối tương quan thời gian mà

nó thể hiện Thời gian nghệ thuật thể hiện sự cảm thụ độc đáo của tác giả về phương thức tồn tại của con người trong thế giới và là tín hiệu để người đọc khám phá đặc điểm thế giới nghệ thuật, tư duy nghệ thuật của tác giả 60

Ngày đăng: 09/09/2021, 20:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
2. Phạm Quốc Ca (2003), Mấy vấn đề thơ Việt Nam 1975 - 2000, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề thơ Việt Nam 1975 - 2000
Tác giả: Phạm Quốc Ca
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2003
3. Nguyễn Việt Chiến (2007), Thơ Việt Nam, tìm tòi và cách tân (1975- 2000), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Việt Nam, tìm tòi và cách tân (1975-2000)
Tác giả: Nguyễn Việt Chiến
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2007
4. Nông Hồng Diệu (2013), “Nguyễn Bình Phương: Sống bình thường, viết không bình thường”, http://www.tienphong.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bình Phương: Sống bình thường, viết không bình thường”
Tác giả: Nông Hồng Diệu
Năm: 2013
5. Vũ Dũng (chủ biên) (2000), Từ điển tâm lí học, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tâm lí học
Tác giả: Vũ Dũng (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2000
6. Phan Cự Đệ (chủ biên) (2004), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ XX
Tác giả: Phan Cự Đệ (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
7. Nguyễn Đăng Điệp (2003), Vọng từ con chữ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vọng từ con chữ
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2003
8. Nguyễn Đăng Điệp, Văn Giá, Lê Quang Hưng, Nguyễn Phượng, Chu Văn Sơn (2005), Chân dung các nhà văn Việt Nam hiện đại, (tập 1), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân dung các nhà văn Việt Nam hiện đại
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp, Văn Giá, Lê Quang Hưng, Nguyễn Phượng, Chu Văn Sơn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
9. Nguyễn Đăng Điệp (2006), “Thơ Việt Nam sau 1975 - từ cái nhìn toàn cảnh”, Nghiên cứu văn học, (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Thơ Việt Nam sau 1975 - từ cái nhìn toàn cảnh"”, Nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Năm: 2006
10. Hạnh Đỗ (2015), “Nguyễn Bình Phương: U uất, sợ người nhưng trời nhiều mây trắng”, http://www.tienphong.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bình Phương: U uất, sợ người nhưng trời nhiều mây trắng”
Tác giả: Hạnh Đỗ
Năm: 2015
11. Hà Minh Đức (1997), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
12. Hà Minh Đức (chủ biên) ( 1992), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
13. Hà Minh Đức (1999), Văn học Việt Nam hiện đại, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1999
14. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2004), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
15. Trương Thị Ngọc Hân (2006), “Những điểm nổi bật trong sáng tác của Nguyễn Bình Phương”, http://www.tienve.org/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điểm nổi bật trong sáng tác của Nguyễn Bình Phương”
Tác giả: Trương Thị Ngọc Hân
Năm: 2006
16. Hegel (1998), Mỹ học, tập 1 (Phan Ngọc dịch), Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ học
Tác giả: Hegel
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1998
17. Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp hiện đại, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2000
18. Mã Giang Lân (2001), Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam
Tác giả: Mã Giang Lân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
19. Mã Giang Lân, (2005), Văn học hiện đại Việt Nam vấn đề - Tác giả, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hiện đại Việt Nam vấn đề - Tác giả
Tác giả: Mã Giang Lân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
60. Tuổi trẻ online (2005), Nguyễn Bình Phương: Văn học mênh mông như cuộc sống”, Văn nghệ trẻ, http://tuoitre.vn/ Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

“tôi” muốn rũ bỏ nó và bắt gặp ngay cái hình hài xa lạ kia. .............................. - Thi pháp thơ nguyễn bình phương
t ôi” muốn rũ bỏ nó và bắt gặp ngay cái hình hài xa lạ kia. (Trang 22)
3.3.3. Dùng mơ mộng, tưởng tượng như một biện pháp tạo hình ..................... 113 - Thi pháp thơ nguyễn bình phương
3.3.3. Dùng mơ mộng, tưởng tượng như một biện pháp tạo hình ..................... 113 (Trang 54)
Bảng 2.1. - Thi pháp thơ nguyễn bình phương
Bảng 2.1. (Trang 127)
- Đêm nay nước mắt giáng trần/ Con đom - Thi pháp thơ nguyễn bình phương
m nay nước mắt giáng trần/ Con đom (Trang 127)
Bảng 2.2. - Thi pháp thơ nguyễn bình phương
Bảng 2.2. (Trang 136)
Thế giới đó ngập tràn những mơ mộng, ảo ảnh, sự khác thường và hình ảnh con người điên luôn vây hãm lấy tâm thức con người:  Linh Sơn ở lại /  Ở  lại thằng bạn điên sớm tối chỉ cười/ Cống Bù Rùm ban trưa nghe rắn quấn (Khách); Những đoàn người xếp hàng ăn - Thi pháp thơ nguyễn bình phương
h ế giới đó ngập tràn những mơ mộng, ảo ảnh, sự khác thường và hình ảnh con người điên luôn vây hãm lấy tâm thức con người: Linh Sơn ở lại / Ở lại thằng bạn điên sớm tối chỉ cười/ Cống Bù Rùm ban trưa nghe rắn quấn (Khách); Những đoàn người xếp hàng ăn (Trang 137)
NGÔN NGỮ, KẾT CẤU VÀ BÚT PHÁP TẠO HÌNH TRONG THƠ NGUYỄN BÌNH PHƢƠNG  - Thi pháp thơ nguyễn bình phương
NGÔN NGỮ, KẾT CẤU VÀ BÚT PHÁP TẠO HÌNH TRONG THƠ NGUYỄN BÌNH PHƢƠNG (Trang 141)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm