1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ở trường đại học công nghiệp vinh

101 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 663,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

trung xây dựng và phát triển năng lực cốt lõi và những năng lực phân biệt của đội ngũ giảng viên để tạo lợi thế cạnh tranh bền vững, lâu dài; tăng cường đáp ứng nhu cầu phát triển kinh t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN MẠNH HÙNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP VINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGHỆ AN - 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN MẠNH HÙNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP VINH

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

T ọ

ỡ ệ

ệ Khoa s ọ K G ụ t Đ ọ

ù C ọ Q G ụ ó 21 Q ị ữ ứ ề à ữ ứ ê

X TS Mai Văn Tƣ ộ ê ị ó ữ ọ ề ệ

Xin ộ

ữ ó ó

Mặ ù ó ề L ữ

ó T ó

ê ứ ọ ệ

T ọ !

Tác giả

Nguyễn Mạnh Hùng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 L ọ ề 1

2 Mụ ê ứ 4

3 K ê ứ 4

4 G ọ 4

5 N ệ ụ ê ứ 4

6 P ê ứ 4

7 D ó ó 5

8 C 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC……… 6

1 1 Lị ê ứ ề……… 6

1 2 C ệ ề ……… 9

1 2 1 G ê ộ ũ ê 9

1 2 1 1 G ê 9

1 2 1 2 Độ ũ ê 10

1 2 2 ỡ ỡ ộ ũ ê 10

1.2.3 G ỡ ộ ũ ê 12

1 3 ị ệ ụ Đ ọ ệ ụ ộ 13

1 3 1 ị 13

1 3 2 N ệ ụ ề Đ ọ 14

1.3.3 Vai trò 15

1 4 G ê ổ ụ ọ 17

1 4 1 ê ổ ụ

ọ ộ 17

1 4 2 N ữ ê ặ ê ổ ụ Đ ọ 20

Trang 5

1 5 C ở ỡ ộ ũ ê 24

1 5 1 Yê ề ẩ 24

1 5 2 C ộ ê 28

1 5 3 C ở – ị ọ 28

T 1 30

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP VINH 31

2 1 K ề ọ C ệ 31

2 1 1 Q 31

2 1 2 Q 31

2 1 3 ộ T Đ ọ C ệ 32

2 1 4 C ở 34

2 1 5 Đị 35

2 1 6 T ó ở ộ

37

2.2 Tổ ứ ộ ũ ê ở ọ C ệ Vinh 38

2 2 1 ề viên 38

2 2 2 C ộ ũ ê 38

2 2 3 ề ộ ũ ê 39

2 3 T ộ ũ ê ở ọ C ệ 46

2 3 1 ỡ ộ ũ ê 46

2 3 2 N ữ ó ở ệ ỡ ộ ũ ê 50

2 4 Đ ỡ ộ ũ ê

Đ ọ C ệ 52

2 4 1 Mặ 52

2 4 2 Mặ 53

Trang 6

2 4 3 N ê 53

T 2 55

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG IÊN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP INH 56

3 1 N ữ ê ề 56

3 1 1 N ê ụ ê 56

3 1 2 N ê ễ 56

3 1 3 N ê ệ 56

3 1 4 N ê 56

3 2 Mộ ỡ ộ ũ ê ọ C

ệ 57

3 2 1 N ứ ê ề ọ

ỡ ộ ũ ê ằ ứ ê 57

3.2.2 H ệ ệ ộ ũ ê 58

3 2 3 T ỡ ộ ũ ê 60

3 2 4 T ê ệ ụ

ộ ũ ê 72

3 2 5 T ệ ộ ộ ê ộ ũ ê 75

3 3 M ê ệ ữ 77

3 4 K ề 79

3.4.1.T 80

3.4.2 T 81

T 3 83

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84

2.2 Đ HĐQT 85

2 3 Đ GH T Đ ọ C ệ 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

BGH : Ban giám hiệu

ĐHCN : Đại học Công nghiệp

HĐQT : Hội đồng Quản trị

GD : Giáo dục

ĐH : Đại học

Trang 8

DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU

Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức Trường ĐH Công nghiệp Vinh 34

Bảng 2.1 Quy mô đào tạo Trường Đại học Công nghiệp Vinh 33

Bảng 2.3 Cơ cấu giảng viên theo ngành đào tạo 40

Bảng 2.4: Cơ cấu giảng viên theo độ tuổi 40

Bảng 2.5: Cơ cấu đội ngũ giảng viên Trường ĐHCN Vinh 42

Bảng 2.6 Thống kê trình độ nghiệp vụ sư phạm 43

Bảng 2.7 Thống kê trình độ ngoại ngữ 43

Bảng 2.8 Thống kê trình độ Tin học 44

Bảng 2.9 Thống kê số lượng giáo viên tham gia đào tạo bồi dưỡng 49

Bảng 0.1: Đánh giá tính cần thiết của các giải pháp bồi dưỡng đội ngũ giảng viên trường ĐHCN Vinh 82

Bảng 0.2: Đánh giá tính khả thi các giải pháp bồi dưỡng đội ngũ giảng viên trường ĐHCN Vinh 83

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong quá trình phát triển của tất cả các quốc gia trên thế giới, giáo dục

- đào tạo vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển, là con đường quan trọng để phát huy nguồn lực con người Chính vì vậy, sự đi lên bằng giáo dục

đã trở thành con đường tất yếu của thời đại Trí tuệ con người đã trở thành tài sản quý giá của mỗi quốc gia Nâng cao và phát triển dân trí là điều kiện tiên quyết để đưa đất nước tiến lên trong xu thế hội nhập hiện nay Từ xu thế tất yếu của thời đại và yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII của Đảng đã

Để có thể thích ứng với xu thế của toàn cầu hóa, sự phát triển của khoa học công nghệ và nền kinh tế tri thức, các trường đại học phải không ngừng đổi mới theo một chiến lược nhất quán với tầm nhìn rộng Đồng thời, tập

Trang 10

trung xây dựng và phát triển năng lực cốt lõi và những năng lực phân biệt của đội ngũ giảng viên để tạo lợi thế cạnh tranh bền vững, lâu dài; tăng cường đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia; lấy người học làm trung tâm trong quá trình đào tạo theo hướng cung cấp cho sinh viên kiến thức phù hợp với thời đại và đòi hỏi của thị trường

Trong bối cảnh đó, các trường Đại học Việt Nam cần tận dụng tốt thời

cơ, vượt qua thách thức để hội nhập sâu vào giáo dục đại học thế giới, đáp ứng sự nâng tầm và phát triển của giáo dục đại học trong nền kinh tế tri thức, xứng đáng với vai trò giáo dục đại học là đầu tàu của nền kinh tế tri thức; cũng có nghĩa góp phần: (i) Đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội Việt Nam; (ii) Đáp ứng nhu cầu vươn kịp quốc tế, hòa vào dòng chảy hội nhập Đó là cách giáo dục đại học nước ta đã và đang bắt đầu, mà trong đó vấn đề cốt lõi, có vai trò then chốt tạo ra chất lượng, hiệu quả của giáo dục đại học chính là bồi dưỡng đội ngũ ngũ giảng viên

Phát triển Giáo dục và đào tạo là đòn bẩy phát triển đất nước Đây là nguyên lý chung của tất cả các quốc gia, dân tộc Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta về phát triển giáo dục đại học cũng hoàn toàn thống nhất với nguyên lý chung này Theo đó, việc phát triển đội ngũ giảng viên với yêu cầu ngày càng cao và tập trung ở những khía cạnh: (1) Nâng cao vị trí xã hội của người giảng viên; (2) Bồi dưỡng phẩm chất, năng lực, chuẩn hóa đội ngũ giảng viên; (3) Chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của đội ngũ giảng viên; (4) Quản lý, sử dụng, đại ngộ đội ngũ giảng viên Nghị quyết Hội nghị

lần thứ bảy BCH TW Đảng khóa X nhấn mạnh: “X ộ ũ ứ

ữ ệ ộ ứ

Đ ộ ệ

ị Đ ộ ũ ứ ề

ữ ” Nhận thức được vấn đề mang tính quyết định của giáo dục đại học đối

với tiến trình Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngày 02/11/2005 Chính

phủ ban hành Nghị quyết 14/2005/NQ-CP phê duyệt “Đề ổ

Trang 11

ệ ụ ọ ệ N 2006 – 2020”; một bản Đề

án kết tinh sức lực, trí tuệ của các chuyên gia, nhà giáo, nhà quản lý, nhà nghiên cứu tâm huyết với nghề Đây là văn kiện pháp lý định hướng xuyên suốt cho giáo dục đại học Việt Nam từng bước hội nhập với khu vực và quốc

tế, mà trong đó đã coi trọng vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên là

giảng viên góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, xây dựng thương hiệu, tạo

lợi thế trong cạnh tranh để tồn tại và phát triển

Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn đã nêu ở trên thì việc nghiên cứu xây dựng đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý của trường Đại học Công nghiệp Vinh, một trường tư thục mới được thành lập trên địa bàn tỉnh Nghệ

An có một ý nghĩa quan trọng và vô cùng cần thiết Bời vì, muốn nâng cao chất lượng đào tạo, xây dựng thương hiệu, tạo lợi thế trong cạnh tranh ngày

Trang 12

càng gay gắt giữa các trường đại học yếu tố quan trọng là chất lượng đội ngũ

giảng viên và cán bộ quản lý Vì vậy tôi chọn đề tài “Một số giải pháp bồi

dưỡng đội ngũ giảng viên ở trường Đại học Công nghiệp Vinh”

Giải pháp bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ở trường Đại học Công nghiệp Vinh

4 Giả thuyết khoa học

Việc bồi dưỡng đội ngũ giảng viên tại trường Đại học Công nghiệp Vinh sẽ đạt hiệu quả cao hơn nếu đề xuất được các giải pháp có tính hệ thống,

có cơ sở khoa học và khả thi, đồng thời triển khai đồng bộ các giải pháp thì sẽ góp phần nâng cao trình độ và năng lực giảng dạy, nghiên cứu cho giảng viên

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về vấn đề bồi dưỡng đội ngũ giảng viên: Các khái niệm, vị trí, vai trò và sự cần thiết phải tập trung bồi dưỡng đội ngũ giảng viên

- Nghiên cứu thực trạng công tác bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ở Trường Đại học Công nghiệp Vinh, chỉ ra thành công, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế

- Đề xuất một số giải pháp bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ở trường Đại học Công nghiệp Vinh

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:

Thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu liên quan đến đề tài và khái quát hóa những nhận định độc lập

Trang 13

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Khảo sát thực tế, tổng kết kinh nghiệm giáo dục, nghiên cứu sản phẩm của hoạt động, lấy ý kiến chuyên gia

7 Dự kiến đóng góp của luận văn

7.1 Về lý luận: Luận văn đã góp phần khái quát những vấn đề cơ bản về

đội ngũ giảng viên và công tác bồi dưỡng đội ngũ giảng viên Phân tích

những vấn đề cơ bản của hoạt động bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trong nhà trường

7.2 Về thực tiễn: Trên cơ sở phân tích thực trạng công tác bồi dưỡng đội

ngũ giảng viên tại trường Đại học Công nghiệp Vinh, luận văn đã chỉ ra những vấn đề còn tồn tại trong công tác này và đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên nhà trường

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1 Cơ sở lý luận của đề tài

- Chương 2 Thực trạng công tác bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ở trường Đại học Công nghiệp Vinh

- Chương 3 Một số giải pháp bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ở trường Đại học Công nghiệp Vinh

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu và đều thống nhất

có chung quan điểm cho rằng đội ngũ nhà giáo đóng vai trò quan trọng trong

sự nghiệp giáo dục và phát triển giáo dục của mỗi quốc gia

Các nước có nền giáo dục phát triển như Hoa Kỳ, Anh, Pháp , Phần Lan, Astralia, Nhật Bản, Đức… luôn xem nhà giáo là điều kiện quyết định của sự nghiệp giáo dục và phát triển giáo dục Vì vậy, khi quyết định đưa giáo dục Hoa Kỳ lên hàng đầu thế giới trong thế kỷ XXI, chính phủ Hoa Kỳ đã lấy giải pháp nhà giáo làm then chốt Đó là tiêu chuẩn hoá, chuyên nghiệp hoá và nâng cao chất lượng nhà giáo trên các vị thế nghề nghiệp, nhân cách và xã hội Người ta xem giáo viên là lực lượng quyết định đến chất lượng đào tạo vì thế họ luôn chăm lo bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên; có nhiều công trình đã đi sâu nghiên cứu những yêu cầu mà người giáo viên phải đáp ứng trong bối cảnh của tiến bộ khoa học kỹ thuật và nền kinh tế tri thức Các nước này xem việc đãi ngộ về vật chất, điều kiện làm việc và địa vị xã hội cho nhà giáo là giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo

Phần Lan đã đào tạo ra được những giáo viên có trình độ cao mà ít có quốc gia nào theo kịp Ở Phần Lan giáo viên được xã hội đặc biệt coi trọng và

là nghề có tính cạnh tranh cao: một vị trí giáo viên có thể phải cạnh tranh với khoảng 40 đồng nghiệp Việc bổ túc và bồi dưỡng giáo viên được tổ chức rất công phu nhằm bảo đảm cho giáo viên liên tục được cập nhật kiến thức và phương pháp giảng dạy mới nhất Giáo viên Phần Lan không chỉ đơn thuần là một nhà giáo mà còn được xem là một nhà nghiên cứu độc lập về giáo dục

Trang 15

Trong sự nghiệp cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, trong đó đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng về vấn đề phát triển, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo Đội ngũ nhà giáo là lực lượng nòng cốt thực hiện mục tiêu giáo dục – đào tạo, là người xây dựng cho người học thế giới quan, nhân sinh quan tiến bộ, trang bị tri thức và phương pháp tư duy

khoa học, khả năng làm việc độc lập, sáng tạo Đảng ta xác định “G ê

ị ụ ộ ”

Sau hai mươi năm đổi mới và 7 năm thực hiện “Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010”, giáo dục đại học nước ta đã phát triển rõ rệt về quy

mô, đa dạng hoá về loại hình và các hình thức đào tạo, bước đầu điều chỉnh

cơ cấu hệ thống, cải tiến chương trình, quy trình đào tạo và huy động được nhiều nguồn lực xã hội Chất lượng giáo dục đại học ở một số ngành, lĩnh vực, cơ sở giáo dục đại học có những chuyển biến tích cực, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội

Tuy nhiên, những thành tựu nói trên của giáo dục đại học chưa vững chắc, chưa mang tính hệ thống và cơ bản, chưa đáp ứng được những đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhu cầu học tập của nhân dân và yêu cầu hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới Để nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của đất nước trong giai đoạn mới, hội nhập kinh tế quốc tế, gia nhập WTO, giáo dục đại học nước ta phải đổi mới một cách mạnh mẽ và toàn diện, trong đó có vấn đề xây dựng đội ngũ nhà giáo

Chỉ thị 40 – CT/TW của Ban Bí thư đã xác định, xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cách toàn diện là “nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, và mang tính chiến lược lâu dài” Đội ngũ nhà giáo và cán

bộ quản lý giáo dục phải “được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, nghề nghiệp”

Trang 16

Nghị quyết số 37/2004/QH11 về giáo dục cũng nhấn mạnh việc cần thiết phải “tiếp tục xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đủ

về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đạt chuẩn về trình độ đào tạo … Hoàn thiện

cơ chế, chính sách về đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và tạo điều kiện cho nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục thường xuyên tự học tập để cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ, kỹ năng về chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục”

Chương trình hành động của Chính phủ, thực hiện nghị quyết 37/2004/QH11 về giáo dục đã chỉ rõ sự cần thiết phải “tập trung chỉ đạo, thực hiện có hiệu quả công tác xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục”, “bổ sung hoàn thiện cơ chế chính sách đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục” Tại phiên họp Chính phủ tháng 7 năm 2005, Chính phủ đã ra Nghị quyết 14/2005/NQ-CP về đổi mới

cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020 Nghị quyết chỉ rõ: Phát huy tính tích cực và chủ động của các cơ sở giáo dục đại học trong công cuộc đổi mới mà nòng cốt là đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý

Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) đã ra Nghị quyết số 26-NQ/TW về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Chất lượng giáo dục đại học phụ thuộc rất lớn và chủ yếu vào đội ngũ giảng viên, "Không có hệ thống giáo dục nào vươn cao quá tầm những giáo viên làm việc cho nó" Luật Giáo dục cũng đã quy định "Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục" Vì vậy, muốn đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục đại học thì phải bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên

Ở trong nước các tác giả khẳng định điều kiện quyết định để nâng cao chất lượng giáo dục đại học là chất lượng và động lực dạy học của đội ngũ

Trang 17

giảng viên Theo tác giả Trần Hồng Quân, giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo là củng cố, đổi mới hệ thống sư phạm Tác giả Trần

Bá Hoành khẳng định để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên phải thực hiện chính sách khuyến khích vật chất và tinh thần đối với giáo viên; phải tiếp tục củng cố, tập trung đầu tư nâng cấp các trường sư phạm, xây dựng một số trường ĐHSP trọng điểm, phải đổi mới công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, sử dụng giáo viên đúng năng lực…

1.2 Các khái niệm cơ bản trong đề tài

1.2.1 Giảng viên và đội ngũ giảng viên

1.2.1.1 G ê

Luật Giáo dục, mục 1, điều 70, quy định “Nhà giáo là người làm nhiệm

vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác” Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục đại học và sau đại học gọi là giảng viên Cũng theo Luật Giáo dục và Điều lệ trường Đại học quy định:

- Trình độ chuẩn được đào tạo của giảng viên: có bằng đại học trở lên và

có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đối với giảng viên dạy cao đẳng, ĐH; có bằng thạc sỹ trở lên đối với giảng viên dạy chuyên đề, hướng dẫn luận văn thạc sỹ; có bằng tiến sỹ đối với giảng viên giảng dạy chuyên đề, hướng dẫn luận án tiến sỹ (mục 1, điều 77)

- Nhiệm vụ của giảng viên: a) Hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy và NCKH được quy định theo giờ chuẩn của Bộ GD & ĐT ban hành đối với các chức danh và ngạch tương ứng; b) Viết giáo trình, bài giảng, tài liệu phục vụ giảng dạy, hoc tập theo sự phân công của các cấp quản lý; c) Không ngừng tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, cải tiến phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng đào tạo; d) Tham gia và chủ trì các đề tài NCKH, phát triển công nghệ, dịch vụ KH&CN; e) Hướng dẫn, giúp đỡ người học trong học tập, NCKH, rèn luyện tư tưởng đạo đức, tác phong, lối sống, (mục 2, điều 26)

Trang 18

Giảng viên là những người làm công tác dạy học - giáo dục, người trực tiếp biến các chủ trương, các chương trình, cải cách, đổi mới giáo dục đại học thành hiện thực

Đội ngũ giảng viên là một tập hợp những người làm nghề dạy học, giáo dục, được tổ chức thành một lực lượng, cùng chung một nhiệm vụ là thực hiện các mục tiêu giáo dục đã đề ra cho tập hợp đó Họ làm việc có kế hoạch

và gắn bó với nhau thông qua về lợi ích về vật chất và tinh thần trong khuôn khổ quy định của pháp luật, thể chế xã hội

Nói cách khác theo nghĩa hẹp, đội ngũ giảng viên là những thầy cô giáo, những người làm nhiệm vụ giảng dạy và quản lý giáo dục trong các trường đại học, cao đẳng, bồi dưỡng cán bộ

Theo quyết định số 538/TCCP-TC ngày 19/12/1995 của Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ (nay là Bộ nội vụ) đội ngũ giảng viên được xếp ở 3 ngạch:giảng viên, giảng viên chính, giảng viên cao cấp

1.2.2 Bồi dưỡng và bồi dưỡng đội ngũ giảng viên

1.2.2 1 ỡ

Theo Đại từ điển Tiếng Việt: Bồi dưỡng là tăng thêm năng lực và phẩm chất, là “làm cho tốt hơn, giỏi hơn” Theo nhóm tác giải đề tài XK 07-14, „Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật hóa kiến thức còn thiếu hoặc đã lạc hậu, bổ túc nghề nghiệp, đào tạo thêm hoặc củng cố các kĩ năng nghề nghiệp theo các chuyên đề”

Trang 19

Bồi dưỡng thực chất là bổ sung “bồi đắp” những thiếu hụt về tri thức, cập nhật cái mới trên cơ sở “nuôi dưỡng” những cái cũ còn phù hợp để mở mang có hệ thống những tri thức, kĩ năng, nghiệp vụ, làm giàu vốn hiểu biết, nâng cao hiệu quả lao động

Theo định nghĩa của UNESCO: Bồi dưỡng với ý nghĩa nâng cao nghề nghiệp Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp

Theo GS.TS Nguyễn Minh Đường thì “Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật kiến thức hoặc kỹ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu trong một cấp học, bậc học và thường được xác định bằng một chứng chỉ “.

Như vậy bồi dưỡng với mục đích là nhằm nâng cao năng lực và phẩm chất chuyên môn, tạo điều kiện cho người lao động có cơ hội để tiếp thu công nghệ mới, củng cố hoặc nâng cao một cách có hệ thống những tri thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ sẵn có để làm việc có hiệu quả cao hơn

1 2 2 2 ỡ ộ ũ ê

Bồi dưỡng, bồi dưỡng đội ngũ đội ngũ nói chung và đội ngũ giảng viên nói riêng, yếu tố quan trọng nhất mà nhà quản lý phải đặc biệt quan tâm, đó là vấn đề “Chất lượng đội ngũ”

Trong giáo dục đại học, tùy vào đối tượng, hoàn cảnh và yêu cầu nhiệm

vụ đảm nhận mà công tác bồi dưỡng sẽ nhằm thực hiện các mục tiêu cụ thể, sát hợp với tình hình Nhìn chung công tác bồi dưỡng giảng viên nhằm thực hiện các loại mục tiêu như: bồi dưỡng chuẩn hóa; bồi dưỡng thường xuyên; bồi dưỡng nâng chuẩn…

Tóm lại, việc bồi dưỡng đội ngũ giảng viên là nhằm để bổ sung những kiến thức còn thiếu hoặc đã lạc hậu, cập nhật thêm những tri thức mới về các lĩnh vực của khoa học giáo dục nhằm nâng cao trình độ về mọi mặt cho lực lượng giảng viên dạy học trong trường đại học để đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của sự phát triển GDĐH

Trang 20

1.2.3 Giải pháp, giải pháp bồi dưỡng đội ngũ giảng viên

1 2 3 1 G áp

Theo Từ điển Tiếng Việt giải pháp được xem là “phương pháp giải quyết một công việc một vấn đề cụ thể nào đó” [21]

Còn theo Nguyễn Văn Đạm “ Giải pháp là toàn bộ những ý nghĩa của

hệ thống cùng với những quyết định và hành động theo sau dẫn, dẫn tới sự khắc phục một khó khăn” [10]

Để hiểu rõ hơn khái niệm giải pháp chúng ta cần phân biệt với một

số khái niêm tương tự như: phương pháp, biện pháp Điểm giống nhau của các khái niệm này đều nói về cách làm cách tiến hành cách giải quyết một công việc, một vấn đề Còn điểm khác nhau ở chỗ, biện pháp chủ yếu nhấn mạnh đến cách làm cách hành động cụ thể, trong khi đó phương pháp nhấn mạnh đến trình tự các bước có quan hệ với nhau để tiến hành một công việc có mục đích

Theo Hoàng Phê “ Phương pháp là cách thức nhận thức, nghiên cứu hiện tượng của tư nhiên và đời sống xã hội ” [21]

Còn theo Nguyễn Văn Đạm “ Phương pháp được hiểu là trình tự cần theo trong các bước có quan hệ với nhau khi tiến hành một công việc có mục đích nhất định”[10]

Như vậy khái niệm giải pháp tuy có điểm chung với các khái niệm nêu trên nhưng nó cũng có điểm riêng Điểm riêng cơ bản của thuật ngữ này là nhấn mạnh đến phương pháp giải quyết một vấn đề, với sự khắc phục khó khăn nhất định Trong một giải pháp có nhiều biện pháp, giải pháp được đánh giá bởi các tiêu chí sau:

+ Tính hiện thực: giải pháp giải quyết được vấn đề đặt ra

+ Tính hiệu quả : giải pháp giải quyết được vấn đề đặt ra và không làm nảy sinh vấn đề mới phức tạp hơn

+ Tính khả thi: giải pháp không bị các yếu tố chi phối, nó ràng buộc ở góc độ cao

Trang 21

1 2 3 2 G ỡ ộ ũ ê

Giải pháp bồi dưỡng đội ngũ giảng viên là hệ thống các cách thức, phương pháp, biện pháp góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên Tập trung:

tư thục, quy định về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục Các loại hình trường và loại trường đại học:

- Các loại hình trường đại học bao gồm: công lập, bán công, dân lập và

tư thục, được quy định tại Điều 13 Nghị định số 43/2000/ NĐ-CP ngày 30 tháng 8 năm 2000 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một

số điều của Luật Giáo dục

- Các loại trường đại học bao gồm: đại học, trường đại học và học viện, được quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị định 43

- Căn cứ vào nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu đào tạo nhân lực và quy hoạch mạng lưới các trường đại học trong từng thời kỳ, Bộ trưởng

Trang 22

Bộ Giáo dục và Đào tạo trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh mục các trường đại học trọng điểm của nhà nước

1.3.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của các trường Đại học:

Theo điều lệ ban hành kèm theo Quyết định số 58/2010/QĐ-TTg, ngày 22/09/2010 của Thủ tướng chính phủ có quy định về nhiệm vụ của các trường đại học như sau:

- Xác định tầm nhìn, xây dựng chiến lược và kế hoạch tổng thể phát triển nhà trường qua từng giai đoạn, kế hoạch hoạt động hàng năm

- Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chương trình giáo dục; xác nhận hoặc cấp văn bằng, chứng chỉ theo thẩm quyền

- Tuyển dụng, quản lý công chức, viên chức; xây dựng đội ngũ giảng viên của trường đủ về số lượng, cân đối về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu độ tuổi và giới, đạt chuẩn về trình độ được đào tạo; tham gia vào quá trình điều động của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền đối với nhà giáo, cán bộ, nhân viên

- Phát hiện và bồi dưỡng nhân tài trong đội ngũ công chức, viên chức và người học của trường

- Tuyển sinh và quản lý người học

- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực theo quy định của pháp luật;

sử dụng nguồn thu từ hoạt động kinh tế để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất của nhà trường, mở rộng sản xuất, kinh doanh và chi cho các hoạt động giáo dục theo quy định của pháp luật

- Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa;

- Phối hợp với gia đình người học, các tổ chức, cá nhân trong hoạt động giáo dục và đào tạo

- Tổ chức cho công chức, viên chức và người học tham gia các hoạt động

xã hội phù hợp với ngành nghề đào tạo và nhu cầu của xã hội

- Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục của cơ quan có thẩm quyền; xây dựng và phát triển hệ thống đảm bảo

Trang 23

chất lượng của nhà trường; tăng cường các điều kiện đảm bảo chất lượng và không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường

- Tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ; ứng dụng, phát triển và chuyển giao công nghệ; tham gia giải quyết những vấn đề về kinh tế - xã hội của địa phương và đất nước; thực hiện dịch vụ khoa học, sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật

- Liên kết với các tổ chức kinh tế, giáo dục, văn hóa, thể dục, thể thao, y

tế, nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, gắn đào tạo với

sử dụng, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, bổ sung nguồn tài chính cho nhà trường

- Xây dựng, quản lý và sử dụng cơ sở dữ liệu về đội ngũ công chức, viên chức, các hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ và hợp tác quốc tế của nhà trường, về quá trình học tập và phát triển sau tốt nghiệp của người học; tham gia dự báo nhu cầu nguồn nhân lực trong lĩnh vực đào tạo của trường

- Được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; chuyển giao, chuyển nhượng kết quả hoạt động khoa học và công nghệ, công bố kết quả hoạt động khoa học và công nghệ; bảo vệ lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân trong hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ của nhà trường

- Được Nhà nước giao hoặc cho thuê đất, giao hoặc cho thuê cơ sở vật chất; được miễn, giảm thuế, vay tín dụng theo quy định của pháp luật;

- Chấp hành pháp luật về giáo dục; thực hiện xã hội hóa giáo dục

- Giữ gìn, phát triển di sản và bản sắc văn hóa dân tộc

- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật

1.3.3 Vai trò

Trường đại học là một thiết chế vô cùng quan trọng của xã hội và trong bối cảnh của nền kinh tế tri thức toàn cầu Nhận thức về vai trò và sứ mạng của trường đại học là nền tảng để hoạch định chính sách giáo dục, để tìm

Trang 24

kiếm giải pháp xây dựng những trường đại học thực sự có chất lượng, đáp ứng được nhu cầu và kỳ vọng của cả xã hội

a) Trường đại học là nơi kiến tạo tri thức mới

Không thể phủ nhận chức năng đào tạo nguồn nhân lực của trường đại học, nhất là trong thời đại công nghệ kỹ thuật cao ngày nay, Hệ thống đại học

có thể phân tầng gồm nhiều loại, có trường định hướng nghiên cứu, có trường thiên về giảng dạy nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội, nhưng hệ thống

ấy bao giờ cũng được dẫn dắt bởi những trường đại học tinh hoa mà chức năng chủ yếu là dẫn đầu con đường khám phá khoa học và chân lý Với tư cách là bộ máy kiến tạo tri thức mới, trường đại học là động lực tạo ra thay đổi và tiến xã hội không chỉ trên bình diện khoa học kỹ thuật và kinh tế, mà

cả trong lãnh vực văn hóa và chính trị

Khi khẳng định vai trò của trường đại học là kiến tạo tri thức mới, chúng

ta không chỉ nói về vai trò của trường đại học đối với xã hội, mà cả đối với từng cá nhân Đại học không phải là nơi chuyển giao tri thức theo kiểu đổ đầy một cái bình chứa, mà là nơi mỗi người tự kiến tạo tri thức cho mình và học cách nghiên cứu để giải quyết những vấn đề của mình Không phải tất cả mọi sinh viên đều trở thành những nhà khoa học, những người nghiên cứu trong tương lai, nhưng tất cả đều cần có tư duy nghiên cứu, hiểu theo nghĩa biết cách phân tích, tổng hợp, phán đoán, biết xử lý thông tin để tìm ra kết luận mới hay cách làm mới cho những vấn đề mà cuộc sống đặt ra

b) Trường đại học là nơi lưu giữ và truyền tải di sản của nhiều thiên niên

kỷ

Một trường đại học phải vừa nhìn về tương lai phía trước, vừa nhìn lại quá khứ theo những cách đôi khi bắt buộc phải mâu thuẫn với những mối bận tâm hoặc đòi hỏi nhất thời của công chúng Trường đại học gắn bó với sự vô thời hạn, và là người quản gia của tất cả các truyền thống còn tồn tại”

Trường đại học không chỉ đầu tư vào những ngành khoa học hay nghiên cứu thời thượng, mà cả những bộ môn, những ngành nghiên cứu có vẻ như đã

Trang 25

lỗi thời hoặc có vẻ như “vô ích” nếu xét về mặt kinh tế hay tài chính Đó là vì đại học luôn là biểu tượng của tri thức và phụng sự cho sự thật, mà tri thức và

sự thật thì vượt lên trên rất xa giới hạn của những lợi ích thực dụng

Chính vì là nơi lưu giữ và truyền tải những giá trị tinh thần vượt không gian và thời gian như vậy, đại học được coi như ngôi đền của tri thức nhân loại Đó là một trong những lý do tồn tại chính yếu của nhà trường, đó là lý do khiến những ngôi trường như Harvard được cựu sinh viên hết sức trân trọng

và họ đã hiến tặng hằng tỷ đô la cho nhà trường vì muốn đóng góp cho sứ mạng cao quý ấy

Trong các vai trò và sứ mạng trọng yếu của trường đại học, hẳn nhiên là

có vai trò đào tạo con người, nhưng trường đại học không phải là nơi bán lẻ tri thức, mà là nơi mà con người được khai sáng theo nghĩa rộng nhất của từ này, chứ không phải chỉ được giáo dục hay huấn luyện Một trường đại học khác với một trường dạy nghề ở chỗ trường đại học không chỉ mang lại cho sinh viên những kiến thức và kỹ năng cụ thể trong một lãnh vực chuyên nghiệp nhất định, mà còn giúp họ phát triển tinh thần tranh biện và thái độ tôn sùng sự thật, giúp họ thử thách mọi chân lý và giá trị Hơn thế nữa, một trường đại học đích thực phải có thể truyền đạt cho sinh viên của mình một tầm nhìn quốc tế và lòng tôn trọng sâu sắc đối với con người và các giá trị nhân văn

1.4 Giảng viên trong bối cảnh đổi mới giáo dục đại học

1.4.1 Vai trò của người giảng viên trong bối cảnh đổi mới giáo dục đại học, hội nhập quốc tế

Thế kỷ 21 với những đặc điểm nổi bật:

- Sự bùng nổ của tri thức khoa học và công nghệ; Sự xuất hiện một thế giới phụ thuộc lẫn nhau; Sự đối mặt với những vấn đề lớn có tính toàn cầu, vượt ra ngoài phạm vi mỗi quốc gia, của từng khu vực, như dân số, môi trường…

Trang 26

- Con người là trung tâm của sự phát triển, một xã hội phát triển dựa vào sức mạnh của tri thức, bắt nguồn từ khai thác tiềm năng của con người, lấy việc phát huy nguồn lực con người làm nhân tố cơ bản của sự phát triển nhanh chóng và bền vững Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển Việc đặt con người vào trung tâm của sự phát triển khiến cho giáo dục phải rà soát lại nhận thức về mục tiêu: Từ chỗ "học để biết" sang nhấn mạnh "học để làm", rồi "học để cùng chung sống", "học để tự khẳng định mình", có nghĩa là "khuyến khích sự phát triển đầy đủ nhất tiềm năng sáng tạo của mỗi con người" Vì lợi ích của bản thân và tương lai của dân tộc, giáo dục phải là công cụ vừa cho cá nhân, vừa cho tập thể nhằm xây dựng nguồn lực con người thành động lực cho sự phát triển bền vững

Xu thế đổi mới giáo dục của thế kỷ 21 đang đặt ra những yêu cầu mới về phẩm chất, năng lực và làm thay đổi vai trò, chức năng của người giảng viên Công nghệ thông tin phát triển nhanh chóng, tạo ra những phương tiện, phương pháp giao lưu mới, tạo có hội cho mỗi người có thể học dưới nhiều hình thức theo khả năng và điều kiện cho phép Giáo dục nhà trường không còn là nguồn thông tin duy nhất đem đến cho sinh viên các tri thức mới mẻ của loài người mà họ có thể tiếp nhận thông tin khoa học từ các nguồn khác như, phần mềm dạy học, Internet, truyền hình Tuy nhiên, giáo dục nhà trường dưới sự chỉ đạo của giảng viên vẫn là con đường đáng tin cậy và hiệu quả nhất giúp cho thế hệ trẻ tiếp thu có mục đích, có chọn lọc, có hệ thống những tinh hoa di sản văn hoá, khoa học, nghệ thuật của loài người và của dân tộc

Ngày nay khoa học, kỹ thuật, công nghệ đem lại sự biến đổi nhanh trong đời sống kinh tế - xã hội thì giảng viên không chỉ đóng vai trò truyền đạt các tri thức khoa học mà còn phải phát triển những cảm xúc, thái độ, hành vi, đảm bảo cho người học làm chủ được và biết ứng dụng hợp lý những tri thức đó Giáo dục phải quan tâm đến sự phát triển ở người học ý thức về các giá trị đạo đức, tinh thần, thẩm mỹ tạo nên bản sắc tốt đẹp của loài người, vừa kế

Trang 27

thừa, phát triển những giá trị truyền thống, vừa sáng tạo những giá trị mới, thích nghi với thời đại mới Về mặt này, không gì có thể thay thế vai trò của người giảng viên

Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển nhanh và nước ta đang tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá, người giảng viên phải được đào tạo ở trình độ học vấn cao, không chỉ về khoa học tự nhiên, kỹ thuật, công nghệ mà còn phải được đào tạo cả khoa học xã hội và nhân văn, khoa học giáo dục Người giảng viên phải có ý thức, nhu cầu và khả năng không ngừng tự hoàn thiện, phát huy tính độc lập, chủ động, sáng tạo trong hoạt động sư phạm cũng như biết phối hợp nhịp nhàng với tập thể sư phạm nhà trường trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục

Ngày nay phương pháp dạy học đang chuyển từ kiểu dạy học tập trung vào vai trò của người dạy sang kiểu dạy học tập trung vào vai trò của người học, từ cách dạy thông báo đồng loạt, học tập thụ động sang cách dạy phân hoá, học tập tích cực Giảng viên không còn đóng vai trò chính là người truyền đạt kiến thức mà là người gợi mở, hướng dẫn, tổ chức, cố vấn, trọng tài cho các hoạt động tìm tòi, tranh luận của sinh viên

Vai trò chủ động, tích cực, sáng tạo của sinh viên được phát huy, nhưng vai trò của giảng viên không hề giảm nhẹ mà trái lại Kinh nghiệm nghề nghiệp của mỗi người trong chúng ta cho biết tiến hành một tiết dạy theo kiểu thuyết trình, độc thoại thì dễ hơn dạy một tiết học theo phương pháp tích cực, trong đó giảng viên tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm sinh viên, thông qua đó các em tự giành lấy những kiến thức mới, đồng thời nắm được phương pháp đi tới kiến thức đó Giảng viên phải được đào tạo công phu, có một trình độ cao về chuyên môn nghiệp vụ mới có thể đóng vai trò là người cố vấn, người trọng tài luôn luôn giữ vai trò chủ đạo trong quá trình sư phạm, trong các hoạt động đa dạng của sinh viên

Thế kỷ 21 là thế kỷ của kỷ nguyên thông tin Công nghệ thông tin sẽ được áp dụng rộng rãi trong quá trình dạy học, đem lại những khả năng mới,

Trang 28

giúp giáo viên có thể mô phỏng, minh hoạ những sự kiện, hiện tượng xảy ra trong tự nhiên xã hội mà mắt thường không thể thấy được, hoặc nguy hiểm, độc hại…, cho phép cung cấp một lượng thông tin lớn trong thời gian ngắn…

Do vậy, người giảng viên cần phải được đào tạo, phải tự nghiên cứu về công nghệ thông tin để có thể ứng dụng những thành tựu của công nghệ thông tin trong dạy học để hiện đại hoá nhà trường, nâng cao chất lượng giáo dục

1.4.2 Những yêu cầu đặt ra đối với người giảng viên trong bối cảnh đổi mới giáo dục Đại học

1 4 2 1 N ữ ê ề ẩ ê

P ẩ ị Chấp hành tốt các chủ trương, đường lối, chính

sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thi hành nhiệm vụ theo đúng quy định của pháp luật Không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao trình độ lý luận chính trị vận dụng vào hoạt động giảng dạy, giáo dục và đáp ứng yêu cầu được giao Thực hiện nghĩa vụ công dân, tích cực tham gia vào các hoạt động chính trị, xã hội Luôn có ý thức tổ chức kỉ luật, chấp hành nghiêm sự điều động, phân công của tổ chức, có ý thức tập thể, phấn đấu vì lợi ích chung Người giảng viên phải có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; có phẩm chất đạo đức mà nghề dạy học đòi hỏi Trong quá trình dạy học và giáo dục sinh viên, người giảng viên hình thành ở sinh viên lòng yêu nước, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, những phẩm chất đạo đức cách mạng, những nét tính cách tốt đẹp Công tác giáo dục không thể chỉ tiến hành trong những giờ nhất định, mà

ở bất cứ lúc nào, trong mọi vấn đề, qua những hành vi của giảng viên Nếu không có sự tu dưỡng thường xuyên, không có sự trưởng thành về mặt tư tưởng chính trị, không có sự hoàn thiện về nhân cách, không có sự thống nhất giữa lời nói và việc làm hàng ngày của giảng viên, thì công tác giáo dục không thể đem lại kết quả tốt, giảng viên không thể có uy tín thực sự đối với sinh viên

Trang 29

Đ ứ ề ệ Có ý thức giữ gìn danh dự, lương tâm nhà giáo,

tâm huyết với nghề nghiệp, có tinh thần đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ đồng nghiệp trong cuộc sống và công tác Người giảng viên phải có lòng nhân ái, bao dung, độ lượng, đối xử hòa nhã với người học, đồng nghiệp, sẵn sàng giúp đỡ, bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người học và đồng nghiệp Thực hiện đúng điều lệ, quy chế, nội quy của đơn vị, nhà trường, của ngành và tận tụy với công việc; Công bằng trong giảng dạy và giáo dục, đánh giá đúng thực chất năng lực của người học, thực hành tiết kiệm chống bệnh thành tích, chống tham nhũng lạng phí; Thức hiện phê bình và tự phê bình thường xuyên, nghiêm túc, thường xuyên học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới

Người giảng viên phải có lòng yêu nghề mến trẻ: Chỉ những ai say sưa

và yêu quý sự nghiệp giáo dục mới có thể thành công trong công việc Chính lòng yêu nghề, quý trẻ đó giúp giảng viên đi sâu vào tâm hồn sinh viên, thông cảm với các em, gần gũi các em, hiểu được nhu cầu, hứng thú của các em, nhờ đó giáo dục được các em truyền thống nhân ái của dân tộc, kết hợp với sự giác ngộ về nhiệm vụ cao cả của mình, sẽ làm cho người giảng viên càng thêm yêu nghề

L Người giảng viên phải có tác phong làm việc nhanh

nhen, khoa học, có thái độ văn minh, lịch sự trong quan hệ xã hội, quan hệ giao tiếp với đồng nghiệp, với người học, giải quyết công việc khách quan, tần tình, chu đáo Sống có lý tưởng, có mục đích, có ý chí vượt khó vươn lên,

có tinh thần phấn đấu liên tục với động cơ trong sáng và tư duy sáng tạo, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; luôn có lối sống hòa nhập với cộng đồng, phù hợp với bản sắc văn hóa dân tộc và thích ứng với sự tiến bộ xã hội, biết ủng hộ, khuyến khích những biểu hiện của lối sống văn minh, tiến bộ và phê phán những biểu hiện của lối sống lạc hậu, ích kỷ Khi thực hiện nhiệm vụ phải giản dị, gọn gàng, lịch sự

Trang 30

phù hợp với nghề dạy học, không gây phản cảm và phân tán sự chú ý của người học; Có tinh thân đoàn kết giúp đỡ đồng nghiệp cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ, đấu tranh, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật và các qui định nghề nghiệp Quan hệ, ứng xử đúng mực, gần gũi với nhân dân, phụ huynh, đồng nghiệp và người học, kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện tiêu cực; Thương yêu quý trọng lẫn nhau, biết quan tâm đến những người xung quanh, thực hiện nếp sống văn hóa nơi công cộng, xây dựng gia đình văn hóa

G ữ ệ ề ứ Không lợi dụng chức

vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi trái pháp luật, quy chế, quy định; Không gây khó khăn, phiên hà đối với người học và nhân dân Không gian lận, thiếu trung thực trong học tập, nghiên cứu khoa học và thực hiện nhiệm vvuj giảng dạy và giáo dục; Không trù dập, chèn ép và có thái độ thiên vị, phân biệt đối

xử, thành kiến người học, không tiếp tay bao che cho những hành vi tiêu cực trong giảng dạy, học tập, rèn luyện của người học và đồng nghiệp; Không hút thuốc lá, uống rượu bia trong công sở, trong trường học và nơi không được cho phép hoặc khi thi hành nhiệm vụ giảng dạy và tham gia các hoạt động giáo dục của nhà trường; Không sử dụng điện thoại di động và làm việc riêng trong các cuộc họp, trong khi lên lớp, học tập, coi thi, chấm thi Không gây bè phái, cục bộ địa phương, làm mất đoàn kết trong tập thể và trong sinh hoạt tại cộng đồng; Không được sử dụng bục giảng làm nơi tuyên truyền, phổ biến nội dung trái với quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước; Không trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ, tự ý bỏ việc, không đi muộn về sớm,

bỏ giờ, bỏ buổi dạy, cắt xén, dòn ép chương trình, vi phạm quy chế chuyên môn làm ảnh hưởng đến kỉ cương, nề nếp của nhà trường; Không tổ chức tham gia các hoạt động liên quan đến tệ nạn xã hội

1 4 2 2 N ữ ê ề ê

Năng lực của người giảng viên được thể hiện qua kiến thức và kỹ năng

sư phạm

Trang 31

* Kiến thức

Người giảng viên phải nắm vững các kiến thức cơ bản của môn học mà mình được đào tạo và sẽ đảm nhận giảng dạy Các kiến thức này tối thiểu ở trình độ đại học để có thể dạy một cách có hiệu quả các môn học trong chương trình của bậc học Các kiến thức cơ bản của người giảng viên phải đủ sâu sắc để có khả năng giúp sinh viên vận dụng kiến thức đã học không chỉ thể hiện trong việc làm bài tập tại lớp mà còn trong các hoàn cảnh khác: Ở nhà, ở xã hội, cơ sở sản suất

Giảng viên còn phải có kiến thức về tâm lý học, giáo dục học, logic học Nắm được những tri thức về phương pháp giáo dục, dạy học, kiểm tra đánh giá, quản lý giáo dục và phải luôn cập nhật những thông tin mới về thành tựu của lĩnh vực này

- Có kiến thức về những vấn đề kinh tế - xã hội của đất nước và của địa phương; Hiểu biết phong tục tập quán, cả ngôn ngữ và đời sống của cộng đồng địa phương nơi trường đóng; Nắm được các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và của ngành giáo dục

- Kiến thức về công nghệ thông tin, nền kinh tế tri thức, mục tiêu giáo dục ở thế kỷ 21, mục tiêu kế hoạch đào tạo của bậc học mà mình giảng dạy

- Kiến thức về lập kế hoạch dạy học, soạn giáo án, sử dụng các phương pháp, phương tiện dạy học trên lớp

- Kiến thức, kỹ năng tự học, tự nghiên cứu, tham gia các hội thảo khoa học nhằm không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu đổi mới của sự nghiệp phát triển giáo dục đại học

* Kỹ năng sư phạm

Giảng viên phải có các kỹ năng sư phạm bao gồm kỹ năng dạy học, kỹ năng giáo dục, kỹ năng tổ chức, kỹ năng phối hợp với các lực lượng giáo dục trong xã hội

Giảng viên có kỹ năng chuẩn bị bài lên lớp: Xác định được mục đích, yêu cầu và những nội dung cơ bản của bài học; Dự kiến các phương pháp,

Trang 32

phương tiện dạy học sẽ sử dụng trong giờ học, phân bố thời gian theo các khâu, các bước của giờ lên lớp và soạn giáo án một cách hợp lý, khoa học; Người giảng viên trong quá trình dạy học luôn giữ vai trò chủ động quản lý lớp học hợp lý, theo dõi, hướng dẫn hoạt động học theo quy trình khoa học; Ngôn ngữ rõ ràng, mạch lạc, phù hợp với trình độ nhận thức của sinh viên Giảng viên phải biết đặt câu hỏi và duy trì không khí hứng thú, tích cực học tập của sinh viên; Sử dụng các phương pháp, phương tiện dạy học, đặc biệt là ứng dụng những thành tựu của công nghệ thông tin vào dạy học, tự làm các thiết bị dạy học, nắm được cách thức, tổ chức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên, lập hồ sơ giảng dạy của bản thân và tích luỹ tư liệu giảng dạy Người giáo viên còn phải có những kỹ năng sau:

- Quản lý lớp học và tổ chức các hoạt động của sinh viên ở trong và ngoài trường, vận dụng, lôi cuốn học sinh tham gia các hoạt động này và duy trì thái độ học tập tích cực và sáng tạo

- Giao tiếp với sinh viên và đồng nghiệp, thể hiện khả năng duy trì và phát triển mối quan hệ giữa giảng viên với sinh viên, giữa sinh viên với nhau

- Nghiên cứu khoa học giáo dục để nâng cao trình độ, không ngừng hoàn thiện mình nhằm nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác bồi dưỡng đội ngũ giảng viên

1.5.1 Yêu cầu về phẩm chất, năng lực

) Yê ỗ ê

Người giảng viên là người cán bộ khoa học, nắm vững các phương pháp về giảng dạy và giáo dục, sử dụng thành thạo các phương tiện kỹ thuật trong giảng dạy, tham gia tích cực vào công tác nghiên cứu khoa học Họ phải

là người tiên tiến trong xã hội Nhân cách của người giảng viên là nhân cách của người trí thức hoạt động trong lĩnh vực giáo dục “Nhân cách là tổ hợp các thái độ, những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý riêng trong quan hệ hành động của từng người đối với thế giới tự nhiên, thế giới đồ vật do loài người sáng tạo, với xã hội và với bản thân” Nhân cách của người giảng viên

Trang 33

bao gồm rất nhiều những bản chất như tư tưởng chính trị, đạo đức, năng lực

và các phẩm chất tâm lý khác

Về phẩm chất chính trị người giảng viên trước hết phải hội tụ đầy đủ phẩm chất người công chức Nhà nước, đó là: “Trung thành với nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”; “chấp hành nghiêm chỉnh đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật cảu Nhà nước”; “tận tụy phục vụ nhân dân”; “có nếp sống lành mạnh, trung thực, cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư”; “có ý thức tổ chức kỷ luật và trách nhiệm trong công việc”;

“thường xuyên học tập nâng cao trình độ”; “chấp hành sự điều động, phân công công tác của cư quan”

Là người làm việc trong lĩnh vực giáo dục, người giảng viên phải có đủ phẩm chất của một nhà giáo, đó là: “phẩm chất đạo đức, tư cách tốt, đạt trinh

độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ; đủ sức khỏe theo yêu cầu của nghề nghiệp, lý lịch bản thân rõ ràng”

Cùng với phẩm chất chính trị, những phẩm chất năng lực có ý nghĩa nhất đối với hoạt động giáo dục của người giảng viên là xu hướng nghề nghiệp sư phạm, năng lực sư phạm và năng lực chuyên môn

Xu hướng nghề nghiệp sư phạm của người giảng viên biểu hiện ở long yêu nghề, tình thương và trách nhiệm với sinh viên, muốn giảng dạy và giáo dục họ, thể hiện ở hứng thú với bộ môn khoa học mình đang giảng dạy Người giảng viên nắm vững hệ thống tri thức khoa học theo bộ môn, nắm vững lý luận dạy học, thực tiễn sư phạm và kết quả học tập của sinh viên

Trình độ nghiệp vụ sư phạm của người giảng viên nó phụ thuộc vào động cơ lựa chọn nghề nghiệp, thái độ đối với công việc và năng lực sư phạm

Năng lực là „những thuộc tính tâm lý của cá nhân nhằm đảm bảo cho việc thực hiện có kết quả một hay một số lĩnh vực hoạt động nhất định” Nói cách khác “năng lực là tập hợp các kỹ năng (hoạt động) tác động lên các nội dung trong tình huống có ý nghĩa đối với học sinh”

Trang 34

Năng lực sư phạm là loại năng lực chuyên biệt Nó thể hiện hiện rõ ràng ở người giảng viên chủ yếu là các phẩm chất trí tuệ (tính thuyết phục, tính nghiêm túc và tính logic của ngôn ngữ); các phẩm chất tưởng tưởng, khả năng đặt mình vào vị trí sinh viên và hiểu học, nắm vững các phương pháp khoa học về giảng dạy và giáo dục, vận dụng sáng tạo, linh hoạt các phương pháp dạy học, các hình thức tổ chức dạy học và giáo dục; sử dụng thành thạo các phương tiễn kỹ thuật dạy học – giáo dục

Năng lực sư phạm liên quan chặt chẽ đến năng lực chuyên môn Năng lực chuyên môn xâm nhập vào các cấu trúc hoạt động của người giảng viên, góp phần cho sáng tạo sư phạm khi người giảng viên đó có năng lực và xu hướng sư phạm

Như vậy, yêu cầu người giảng viên phải có tài năng chung biểu hiện trong năng lực chung cũng như năng lực chuyên biệt, thể hiện ở các đặc tính ngôn ngữ, tư duy, tưởng tưởng, biểu hiện trong các nét ý chí, tính cách của họ

và bị lôi cuốn bởi các hoạt động chuyên môn khác nhau

Yêu cầu cụ thể về năng lực chuyên môn người giảng viên đại học cần có:

- Trình độ đào tạo theo tiêu chuẩn từng chức danh giảng dạy

- Kiến thức cơ bản, hệ thống chuyên sâu về bộ môn mình giảng dạy, thường xuyên cập nhật kiến thức

- Năng lực nghiên cứu khoa học

- Sự kết hợp tốt hoạt động nghiên cứu khoa học và hoạt động giáo dục

Ở trường đại học, sự sáng tạo sư phạm phải đi liền với sự sáng tạo khoa học Người giảng dạy một bộ môn khoa học đồng thời phải là nhà nghiên cứu, tìm tòi, phát hiện cái mới trong đó, mở rộng và làm phong phú, sâu sắc hơn tri thức khoa học của bộ môn mình giảng dạy

Tóm lại, yêu cầu đối với mỗi người giảng viên đại học là phải hội tụ đầy đủ ba thành tố đó la kiến thức, kỹ năng, thái độ, trong đó kiến thức là thành tố cơ bản nhất kiến thức chuyên môn vững vàng là tiền đề đầu tiên để

Trang 35

đảm bảo hiệu quả hoạt động cảu giảng viên trong cả giảng dạy và nghiên cứu khoa học Cùng với kiến thức chuyên môn, người giảng viên phải nắm được các kiến thức về môi trường hoạt động của mình là nhà trường đại học, nắm được các chức năng, nhiệm vụ và các quy định của nó, đồng thời người giảng viên cần pahir có những biểu hiểu biết về tâm lý, về xã hội, sư phạm…để hoạt động dạy học của mình phù hợp với sinh viên nhằm kích thích nhu cầu, động

cơ và khả năng nhận thức của họ

Kiến thức là cơ sở cho năng lực hoạt động của người giảng viên, nhưng bản thân không thể mang lại kết quả mong muốn nếu người giảng viên không thể nắm được các kỹ năng cần thiết Thông qua kỹ năng, kiến thức và thái độ mới biến thành kết quả hoạt động Kỹ năng cơ bản nhất của người giảng viên

là kỹ năng giao tiếp, kỹ năng sử dụng thiết bị và kỹ năng cập nhật kiến thức Các kỹ năng này không phải tự nhiên có được mà phải được trau dồi qua hoạt động thực tiễn, tự học, tự bồi dưỡng, tự nghiên cứu

Hiệu quả hoạt động của giảng viên không chỉ phụ thuộc vào kiến thức,

kỹ năng mà còn phụ thuộc vào giá trị, niềm tin, thái độ và sự tận tụy của họ, các phẩm chất cần có một thời gian giài mới được hình thành và củng cố

Vậy, làm thế nào để người giảng viên có thể trau dồi được các kiến thức, kỹ năng, thái độ cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ đa dạng của mình trong điều kiện các nhiệm vụ đó thay đổi theo từng giai đoạn phát triển nghề nghiệp của học và bản thân các kiến thức, kỹ năng, thái độ đó cũng thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của nhà trường, của xã hội? Đó là nhiệm vụ của công tác bồi dưỡng đội ngũ giảng viên

b) Yê ộ ũ ê

Nhìn từ góc độ tập thể đội ngũ thì:

* Đội ngũ phải đạt chuẩn cả về số lượng và chất lượng

* Đội ngũ phải hợp lý về cơ cấu, có sự liên tục, kế thừa giữa các thế hệ

và chuẩn bị để có thể đổi mới các thế hệ theo một tỷ lệ nhất định Một tập thể đội ngũ cần bao gồm đủ 4 lớp nhân sự:

Trang 36

- Lớp giảng viên đầu ngành (thâm niên giảng dạy trên 20 năm)

- Lớp giảng viên đã ổn định và vững tay nghề (thâm niên giảng dạy

10-20 năm)

- Lớp giảng viên đã quen với công việc (thâm niên giảng dạy 5 - 9 năm)

- Lớp giảng viên mới (thâm niên giảng dạy dưới 5 năm)

* Đội ngũ phải được bồi dưỡng thường xuyên

* Đạt hiệu quả trong việc thực hiện các nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học

* Đoàn kết thống nhất để tạo nên sức mạnh của tập thể đội ngũ

1.5.2 Chế độ chính sách đối với giảng viên

Việc bồi dưỡng đội ngũ giảng viên đòi hỏi phải có chính sách hợp lý, tạo ra động lực phát triển giúp giảng viên cập nhật kiến thức và kỹ năng mới Việc bồi dưỡng đội ngũ giảng viên phải phải được thực hiện căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch đã đề ra trong từng năm học, từng giai đoạn phát triển của nhà trường và đặc biệt căn cứ vào tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ của giảng viên giảng dạy

Cùng với các chế độ, chính sách về đào tạo, bồi dưỡng cần có những chính sách tạo động lực về vật chất và tinh thần cho đội ngũ giảng viên Các chế độ chính sách về hỗ trợ vật chất sẽ tác động rất lớn đến động lực phấn đấu học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của từng giảng viên và chất lượng công tác bồi dưỡng đội ngũ giảng viên Nhà trường cần vận dụng triệt

để các chế độ chính sách của Nhà nước, đồng thời phải có các biện pháp thiết thực để thu hút lực lượng giảng viên giỏi, trình độ cao về công tác tại trường

Bên cạnh đó, những yêu cầu nghiêm ngặt hơn của Nhà nước về tiêu chuẩn, phẩm chất và năng lực của người giảng viên cũng tác động thuận lợi đến công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên

1.5.3 Cơ sở vật chất – thiết bị dạy học

Muốn làm tốt công tác bồi dưỡng đội ngũ giảng viên không thể tích rời yếu tố cơ sở vật chất – thiết bị dạy học Thiết bị dạy học vừa là công cụ,

Trang 37

phương tiện của việc giảng dạy, vừa là đối tượng của nhận thức Nó là thành

tố không thể thiếu được trong cấu trúc toàn vẹn của quá trình giáo dục, giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, là cầu nối giữa giảng viên và sinh viên, làm cho hai nhân tố này tác động tổng hợp với nhau trong việc thực hiện mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học hiện đại là điều kiện để người giảng viên thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, điều kiện để nâng cao chất lượng đào tạo, chất lượng đội ngũ

Trang 38

Tiểu kết chương 1

Qua nghiên cứu lý luận chúng ta rút ra một số kết luận sau:

Giảng viên là lực lượng nòng cốt của mỗi nhà trường Giảng viên có vai trò rất lớn trong việc đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho đất nước nói chung, cho từng ngành, lĩnh vực nói riêng Công tác bồi dưỡng đội ngũ giảng viên có vai trò quan trọng và tầm ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển chung của mỗi trường Vì thế nghiên cứu cơ sơ lý luận liên quan đến bồi dưỡng đội ngũ giảng viên là cơ sở vững chắc và là định hướng cho việc định ra chiến lược, kế hoạch phát triển đúng đắn phù hợp với giai đoạn phát triển mới của đất nước, cũng như nhu cầu thực tiễn, trong tiến trình phát triển của nhà trường, khẳng định vị thế và tạo lập uy tín cho trường

Nghiên cứu cơ sở lý luận về bồi dưỡng đội ngũ giảng viên đã làm bộc

lộ rõ bản chất một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu như: khái niệm giảng viên, đội ngũ giảng viên, bồi dưỡng, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên Nhà trường muốn phát triển, khẳng định vị thế, thương hiệu, đào tạo nhân tài, có nhiều biện pháp để thực hiện, song trước hết phải ưu tiên bồi dưỡng đội ngũ giảng viên

Để phát triển nhà trường đúng hướng, Hiệu trưởng nhà trường phải nắm vững và có biện pháp trong công tác bồi dưỡng đội ngũ giảng viên nhằm đạt mục tiêu mong muốn đó là phát triển nhà trường theo chiều hướng đi lên Những cơ sở lý luận nêu ra ở chương 1 sẽ được soi vào thực tiễn nhà trường trong chương 2, tạo cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp bồi dưỡng đội ngũ giảng viên

Trang 39

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN Ở

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP VINH

2.1 Khái quát về trường đại học Công nghiệp Vinh

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Trường Đại học Công nghiệp Vinh là trường Đại học tư thục, trực

thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo Tiền thân là cơ sở của Trường Đại học Công nghiệp Tp Hồ Chí Minh tại Nghệ An Năm 2013, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 920/QĐ-TTg ngày 12 tháng 6 năm 2013 về việc thành lập trường đại học Công nghiệp Vinh Trường tọa lạc tại số 26 – Nguyễn Thái Học – Tp Vinh – Tỉnh Nghệ An trên diện tích 01ha Trường có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm đáp ứng nhu cầu lao động về các lĩnh vực công tác cho các ngành (đặc biệt là ngành Công nghiệp), địa phương

ở miền Trung nói riêng và cả nước nói chung

Trong 2 năm hình thành và phát triển, trường đại học Công nghiệp Vinh

đã trưởng thành về nhiều mặt Được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, các cơ quan đơn vị cùng sự

nỗ lực của thầy và trò, nhà trường đã từng bước vững vàng đi lên đáp ứng yêu cầu đổi mới của sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo

2.1.2 Quy mô đào tạo

Mặc dù được thành lập và đi vào hoạt động từ năm 2013, nhưng đến nay trương đại học Công nghiệp Vinh đã tuyển sinh và thực hiện chức năng đào tạo với các lớp học sinh, các hệ đào tạo chính quy và liên thông của một

số ngành

Số liệu cụ thể về quy mô đào tạo của Trường Đại học Công nghiệp Vinh được thể hiện ở bảng 2.1

Trang 40

Bảng 2.1 Quy mô đào tạo Trường Đại học Công nghiệp Vinh

Năm học

Tổng

số lớp

Tổng

số sinh viên

Viện Công Nghệ

2.1.3 Bộ máy quản lý Trường Đại học Công nghiệp Vinh

Bộ máy quản lý trường Đại học Công ngiệp Vinh hiện có:

- Đại hội đồng Cổ đông;

Ngày đăng: 09/09/2021, 20:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ giáo dục – đào tạo, Trường cán bộ quản lý GD – ĐT N ữ ề ề ụ , Hà Nội, năm 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: N ữ ề ề ụ
3. Bộ Giáo dục – Đào tạo, G T ọ M – Lênin, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: G T ọ M – Lênin
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
4. Bộ Giáo dục – Đào tạo, G T ọ M – Lênin, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: G T ọ M – Lênin
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
5. Nguyễn Hữu Châu (Chủ biên) C ụ ữ ề ễ , Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: C ụ ữ ề ễ
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
6. Đảng Cộng Sản Việt Nam , ệ Đ ộ Đ ứ VIII, NXB chính trị quốc gia Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ệ Đ ộ Đ ứ VIII
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia Hà Nội
7. Đảng Cộng Sản Việt Nam , ệ ộ Đ ứ IX, NXB Chính trị Quốc Gia Hà Nội năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ệ ộ Đ ứ IX
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc Gia Hà Nội năm 2001
8. Đảng Cộng Sản Việt Nam , ệ ộ Đ ứ X Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ệ ộ Đ ứ X
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia Hà Nội
9. Đảng Cộng Sản Việt Nam , ệ ộ Đ ứ X Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ệ ộ Đ ứ X
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội
11. Nguyễn Văn Đệ, Đ ỡ ê ẻ ở ọ ù Đ ằ C L , NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đ ỡ ê ẻ ở ọ ù Đ ằ C L
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật
12. Phạm Minh Hạc, Mộ ề ề ụ ọ ụ , Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mộ ề ề ụ ọ ụ
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
13. Vũ Ngọc Hải, Hệ ụ ệ ữ ỷ XXI, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ ụ ệ ữ ỷ XXI
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
14. Phạm Minh Hùng, G P ê ứ ọ ụ , Đại học Vinh, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: G P ê ứ ọ ụ
17. Nông Đức Mạnh, T ụ ọ ệ , (Bài phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ 6 BCH TW Đảng), 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T ụ ọ ệ
18. Phạm Thanh Nghị, Q ụ Đ ọ , Nhà xuất bản đại học Quốc gia Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Q ụ Đ ọ
Nhà XB: Nhà xuất bản đại học Quốc gia Hà Nội
19. Nghị quyết 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về việc phê duyệt “Đề ổ ệ ụ ọ ệ N 2006 – 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đề ổ ệ ụ ọ ệ N 2006 – 2020
20. N ữ ị ề ổ m ệ ụ , Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: N ữ ị ề ổ m ệ ụ
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động – Xã hội
21. Hoàng Phê , Từ T ệ Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ T ệ
Nhà XB: Nhà xuất bản Đà Nẵng
27. Tài liệu Hộ Q G ụ & Học viện Quản lý giáo dục, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hộ Q G ụ &
28. Thái Duy Tuyên, N ữ ề ụ ọ ệ , Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: N ữ ề ụ ọ ệ
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
31. Thái Văn Thành, C ộ ũ ê Đ ọ ổ ề KH – CN ọ ộ,Vinh 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: C ộ ũ ê Đ ọ ổ ề KH – CN ọ ộ

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Quy mô đào tạo Trƣờng Đại học Công nghiệp Vinh - Một số giải pháp bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ở trường đại học công nghiệp vinh
Bảng 2.1 Quy mô đào tạo Trƣờng Đại học Công nghiệp Vinh (Trang 40)
Đội ngũ giảng viên cơ cấu theo độ tuổi đƣợc thể hiện ở bảng 2.4 - Một số giải pháp bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ở trường đại học công nghiệp vinh
i ngũ giảng viên cơ cấu theo độ tuổi đƣợc thể hiện ở bảng 2.4 (Trang 47)
Bảng 2.5: Cơ cấu đội ngũ giảng viên Trƣờng ĐHCN Vinh - Một số giải pháp bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ở trường đại học công nghiệp vinh
Bảng 2.5 Cơ cấu đội ngũ giảng viên Trƣờng ĐHCN Vinh (Trang 49)
Bảng 2.8 Thống kê trình độ Tin học. - Một số giải pháp bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ở trường đại học công nghiệp vinh
Bảng 2.8 Thống kê trình độ Tin học (Trang 51)
Bảng 2.9. Thống kê số lƣợng giáo viên tham gia đào tạo bồi dƣỡng             Đ    ị       L            ê   - Một số giải pháp bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ở trường đại học công nghiệp vinh
Bảng 2.9. Thống kê số lƣợng giáo viên tham gia đào tạo bồi dƣỡng Đ ị L ê (Trang 56)
Bảng 0.1: Đánh giá tính cần thiết của các giải pháp bồi dƣỡng đội ngũ giảng viên trƣờng ĐHCN Vinh  - Một số giải pháp bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ở trường đại học công nghiệp vinh
Bảng 0.1 Đánh giá tính cần thiết của các giải pháp bồi dƣỡng đội ngũ giảng viên trƣờng ĐHCN Vinh (Trang 88)
Kết quả trong bảng số 3.1 cho thấy tất cả các giải pháp đƣợc đa số ý kiến đánh giá cao tính cần thiết sử dụng trong luận văn này - Một số giải pháp bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ở trường đại học công nghiệp vinh
t quả trong bảng số 3.1 cho thấy tất cả các giải pháp đƣợc đa số ý kiến đánh giá cao tính cần thiết sử dụng trong luận văn này (Trang 88)
Bảng 0.2: Đánh giá tính khả thi các giải pháp bồi dƣỡng đội ngũ giảng viên trƣờng ĐHCN Vinh  - Một số giải pháp bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ở trường đại học công nghiệp vinh
Bảng 0.2 Đánh giá tính khả thi các giải pháp bồi dƣỡng đội ngũ giảng viên trƣờng ĐHCN Vinh (Trang 89)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w