1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm từ chỉ tâm trạng trong thơ tình xuân diệu

104 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Điểm Từ Chỉ Tâm Trạng Trong Thơ Tình Xuân Diệu
Tác giả Trần Thị Kim Chung
Người hướng dẫn TS. Trịnh Thị Mai
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 826,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Gần đây, một số luận văn nghiên cứu về thơ Xuân Diệu như: Trần Thị Thanh Hoài trong công trình Ngôn ngữ tình yêu trong thơ Xuân Diệu, Đại học Sư phạm Vinh, 1999, Nguyễn Thị Thanh Hồng t

Trang 1

TRẦN THỊ KIM CHUNG

ĐẶC ĐIỂM TỪ CHỈ TÂM TRẠNG TRONG THƠ TÌNH XUÂN DIỆU

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2015

Trang 2

TRẦN THỊ KIM CHUNG

ĐẶC ĐIỂM TỪ CHỈ TÂM TRẠNG TRONG THƠ TÌNH XUÂN DIỆU

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 60 22 02 40

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

TS TRỊNH THỊ MAI

NGHỆ AN - 2015

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của luận văn 5

7 Cấu trúc của luận văn 5

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 6

1.1 Thơ và đặc trưng ngôn ngữ thơ 6

1.1.1 Khái niệm chung nhất về “thơ ca” 6

1.1.2 Những đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ thơ 7

1.2 Khái niệm tâm trạng và từ chỉ tâm trạng trong tiếng Việt 14

1.2.1 Khái niệm tâm trạng 14

1.2.2 Các từ biểu thị tâm trạng trong tiếng Việt 17

1.3 Vài nét về Xuân Diệu và thơ Xuân Diệu 18

1.3.1 Vài nét về nhà thơ Xuân Diệu 18

1.3.2 Thơ và thơ tình của Xuân Diệu 20

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP CỦA TỪ CHỈ TÂM TRẠNG TRONG THƠ TÌNH XUÂN DIỆU 31

2.1 Đặc điểm từ loại của từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Xuân Diệu 31

2.1.1 Kết quả thống kê 31

2.1.2 Một số nhận xét chung về từ loại biểu thị tâm trạng trong thơ tình Xuân Diệu 41

2.2 Hoạt động ngữ pháp của từ biểu thị trạng thái tâm lý trong thơ tình Xuân Diệu 43

Trang 4

2.2.2 Hoạt động ngữ pháp của từ chỉ tâm trạng là tính từ trong thơ

tình Xuân Diệu 53

2.2.3 Hoạt động ngữ pháp của từ chỉ tâm trạng là danh từ trong thơ tình Xuân Diệu 59

2.3 Tiểu kết chương 2 65

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA TỪ CHỈ TÂM TRẠNG TRONG THƠ TÌNH XUÂN DIỆU 67

3.1 Về khái niệm ngữ nghĩa 67

3.2 Ngữ nghĩa của từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Xuân Diệu 68

3.2.1 Từ chỉ tâm trạng khát khao giao cảm mãnh liệt với đời 68

3.2.2 Từ chỉ tâm trạng nhớ nhung 77

3.2.3 Từ chỉ tâm trạng vui sướng rạo rực 80

3.2.4 Từ chỉ tâm trạng băn khoăn, lo lắng 84

3.2.5 Từ chỉ tâm trạng buồn, cô đơn 87

3.3 Tiểu kết chương 3 92

KẾT LUẬN 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

Trang 5

Bảng 2.1 Bảng thống kê các động từ chỉ tâm trạng trong thơ tình

Xuân Diệu 32 Bảng 2.2 Bảng thống kê các tính từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Xuân

Diệu 35 Bảng 2.3 Bảng thống kê các danh từ chỉ tâm trạng trong thơ tình

Xuân Diệu 39 Bảng 2.4 Bảng thống kê tổng hợp các từ loại chỉ tâm trạng trong thơ tình

Xuân Diệu 40

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Từ ngữ luôn là yếu tố thứ nhất của thơ ca Mỗi nhà thơ đều có cách

sử dụng từ ngữ riêng để tạo nên dấu ấn phong cách của mình Nói đến thơ là nói đến cảm xúc, thơ là tình cảm, là tâm trạng của người viết, do đó trong thơ không thể thiếu một phương diện hữu hiệu thể hiện đó là từ chỉ tâm trạng Đặc biệt là đối với các nhà thơ viết về đề tài tình yêu với nhiều cung bậc cảm xúc thì phương tiện này lại càng quan trọng, nó trở thành đặc trưng nổi bật của thơ tình

1.2 Xuân Diệu (1916 - 1985) là một tác gia lớn của nền văn học Việt

Nam hiện đại, là một cây bút có sức sáng tạo mãnh liệt, bền bỉ Suốt một đời sáng tạo nghệ thuật không mệt mỏi, từ Thơ mới đến các giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám, ông đã để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ trên nhiều lĩnh vực: Thơ, văn xuôi, nghiên cứu phê bình văn học, dịch thuật Ở lĩnh vực nào ông cũng có những đóng góp quan trọng cho nền văn học dân tộc Đặc biệt, ở

phương diện một nhà thơ, ông được mệnh danh là ông hoàng của thơ tình

Trong phong trào Thơ mới, Xuân Diệu hiện diện với tư cách là một cây đại thụ mang hồn thơ nồng nàn đến si mê, ham hố đến cuồng nhiệt Hoài Thanh từng gọi đấy là cái “nguồn sống dào dạt chưa từng thấy ” Do vậy, ngay từ khi xuất hiện, Xuân Diệu đã thu hút được sự chú ý của không ít nhà nghiên cứu, phê bình văn học

1.3 Là cây bút có một vị trí xứng đáng trong văn học Việt Nam hiện

đại, Xuân Diệu là một tác gia luôn dành được vị trí quan trọng trong nhà

trường Trong chương trình môn văn ở trường THPT hiện hành, các sáng tác của ông ở cả thơ và văn xuôi chiếm một số lượng khá lớn: Đây mùa thu tới, Vội vàng, Thơ duyên, Nguyệt cầm, Toả nhị kiều… Như vậy, nghiên cứu

Trang 7

Xuân Diệu không chỉ có ý nghĩa lý luận, mà còn có ý nghĩa thực tiễn đối với việc giảng dạy văn học trong nhà trường

Từ các lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Đặc điểm từ chỉ tâm trạng

trong thơ tình Xuân Diệu” làm đối tượng nghiên cứu

2 Lịch sử vấn đề

Là một tác giả đa tài, Xuân Diệu đã nhận được sự quan tâm của giới nghiên cứu trong và ngoài nước, trong đó có nhiều bài viết đề cập đến sở trường “thơ tình Xuân Diệu” Theo thống kê chưa đầy đủ của chúng tôi, hiện nay có khoảng trên 160 công trình nghiên cứu về Xuân Diệu Có thể điểm qua một số công trình là sách, bài viết, tham luận của các tác giả tiêu biểu như:

- Nhân đọc một bài thơ tình của Xuân Diệu (Lưu Trọng Lư, Văn nghệ

số 4, 1963)

- Xuân Diệu nhà thơ tình (Vũ Ngọc Phan, Tạp chí Văn học số 1/1987)

- Tư tưởng và phong cách một nhà thơ lớn (Nguyễn Đăng Mạnh, in

trong cuốn Chân dung văn học, 1990)

- Xuân Diệu nỗi ám ảnh thời gian (Đỗ Lai Thúy in trong cuốn Con mắt

thơ, 1992)

- Thơ tình Xuân Diệu (Hà Minh Đức, lời giới thiệu cuốn Thơ tình Xuân

Diệu, 1994)

- Thơ tình Xuân Diệu (Lưu Khánh Thơ, Luận án Phó tiến sĩ, 1995)

- Thơ tình Xuân Diệu nồng và trẻ (Vũ Quần Phương, Tạp chí Văn học,

Hầu hết các bài nghiên cứu phê bình đều đánh giá các thành công của

ông trong mảng thơ viết về tình yêu Lưu Trọng Lư đã chỉ ra rằng: "Qua thơ

Trang 8

tình của Xuân Diệu, ta không thấy rõ bóng người yêu của nhà thơ, mà chỉ thấy nhà thơ, nói đúng hơn, chỉ thấy tình yêu của nhà thơ, một tình yêu điên cuồng ngấu nghiến Vì thực ra, người yêu đối với nhà thơ, chỉ coi như tuyệt đối là một đối tượng yêu của mình" [35, 15] Trong bài viết thơ tình của

Xuân Diệu, Huy Cận đã điểm qua quá trình sáng tác thơ tình của Xuân Diệu

từ lúc mới xuất hiện cho đến khi nhà thơ qua đời Những đặc điểm lớn tạo nên phong cách thơ tình Xuân Diệu cũng được phân tích và chứng minh trong bài viết

Lưu Khánh Thơ cho rằng: “Ở vị trí đỉnh cao, thơ tình Xuân Diệu biểu

đạt hoàn hảo cái tha thiết, say đắm của tình yêu, trong nhiều trạng thái và cung bậc của tình yêu Ở vị trí đỉnh cao, thơ tình Xuân Diệu biểu đạt cả hai mặt trần tục và lý tưởng, hạnh phúc và đau khổ, gần gũi và xa cách của tình yêu” [44, 132]

Tác giả Hà Minh Đức đã từng khẳng định: “Điều thú vị nhất ở anh là

những đóng góp về thơ tình Từ những trang thơ tình trong “Thơ thơ”, “Gửi hương cho gió” đến những bài thơ tình viết lúc cuối đời, Xuân Diệu là nhà thơ tình bậc nhất trong thơ ca của thời kỳ hiện đại Anh viết thơ tình với một tài năng và khiếu năng đặc biệt…” Xuân Diệu luôn hấp tấp, vội vàng, giục giã

trong tình yêu, “dường như ông là một người không biết chờ đợi, cái rạo rực

của tình yêu trong thơ Xuân Diệu là cái rạo rực của một con người ham sống, ham yêu” Chính Xuân Diệu đã có lần tâm sự: “Anh muốn làm từ điển bằng thơ

về mọi cung bậc tình cảm, trong cõi tình yêu anh muốn vẽ bản đồ tình cảm của con người” (“Thơ tình Xuân Diệu nồng và trẻ” - Vũ Quần Phương)

Gần đây, một số luận văn nghiên cứu về thơ Xuân Diệu như: Trần Thị

Thanh Hoài trong công trình Ngôn ngữ tình yêu trong thơ Xuân Diệu, Đại học

Sư phạm Vinh, 1999, Nguyễn Thị Thanh Hồng trong công trình Đặc điểm

Ngữ pháp - ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ thời gian trong thơ tình Xuân Diệu, Đại

Trang 9

học Vinh, 2007, Tăng Thị Tuyết Mai trong công trình Nhóm từ biểu thị hương

vị trong thơ tình Xuân Diệu, Đại học Vinh, 2010,

Nhìn chung, việc nghiên cứu thơ tình Xuân Diệu đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đó là thơ Xuân Diệu đã được phân tích đánh giá trên nhiều mặt, từ cái tôi cá nhân độc đáo, riêng biệt của Xuân Diệu trong làng thơ mới cho đến những đặc sắc của tư tưởng và phong cách của Xuân Diệu, nhận diện được về căn bản diện mạo của thế giới nghệ thuật Xuân Diệu, mô tả và bước đầu lý giải nhiều khía cạnh trong ngôn ngữ thơ Xuân Diệu

Điểm qua các công trình nghiên cứu về thơ Xuân Diệu, chúng tôi thấy đến nay chưa có công trình nào tìm hiểu, nghiên cứu đặc điểm từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Xuân Diệu với tư cách là một đối tượng độc lập Vì vậy, chúng

tôi chọn đề tài “Đặc điểm từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Xuân Diệu”

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: “Đặc điểm của từ chỉ tâm trạng

trong thơ Xuân Diệu” Đặc điểm của từ chỉ tâm trạng được chúng tôi nghiên

cứu ở cả hai phương diện đặc điểm ngữ pháp và đặc điểm ngữ nghĩa

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu “Đặc điểm từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Xuân Diệu”, chúng tôi dựa vào văn bản thơ, đó là cuốn Thơ Xuân Diệu do Mạnh Linh (sưu tầm, tuyển chọn) và những bài thơ đặc sắc trong Toàn tập Xuân Diệu do

Nguyễn Bao (sưu tầm, biên soạn và giới thiệu) Ngoài ra chúng tôi còn tham

khảo các bài thơ tại website: http:// Thivien.net

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Thống kê, phân loại các từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Xuân Diệu

- Phân tích đặc điểm của từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Xuân Diệu ở cả

hai mặt là đặc điểm về ngữ pháp và đặc điểm ngữ nghĩa

Trang 10

- Rút ra những đặc trưng ngôn ngữ của Xuân Diệu qua lớp từ chỉ tâm trạng Qua đó đối chiếu so sánh với một số nhà thơ cùng thời để thấy được sự khác nhau giữa Xuân Diệu và họ

5 Phương pháp nghiên cứu

Để luận văn đạt được những nhiệm vụ đã nêu, trong quá trình thực hiện luận văn chúng tôi đã vận dụng những phương pháp sau:

- Phương pháp thống kê, phân loại: Thống kê và phân loại các từ chỉ tâm trạng và tần số xuất hiện của từng từ trong thơ Xuân Diệu trong nguồn tư liệu đã xác định

- Phương pháp đối chiếu - so sánh: So sánh, đối chiếu các từ chỉ tâm trạng trong thơ Xuân Diệu với một số nhà thơ cùng thời

- Phương pháp phân tích - miêu tả và tổng hợp

6 Đóng góp của luận văn

Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu “Đặc điểm từ chỉ tâm trạng trong

thơ tình Xuân Diệu” với tư cách là một đối tượng độc lập, có hệ thống Kết

quả nghiên cứu trước hết góp thêm cứ liệu để làm rõ hơn tài năng cũng như phong cách của một nhà thơ tiêu biểu trong nền văn học Việt Nam hiện đại Trên cơ sở đó, luận văn có thể góp một phần nhỏ giúp giáo viên giảng dạy văn học ở trường phổ thông có điều kiện tìm hiểu, nghiên cứu phong cách của ngôn ngữ thơ để nâng cao hiệu quả giảng dạy thơ tình Xuân Diệu trong nhà trường hiện nay

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung liên quan đến đề tài

Chương 2: Đặc điểm ngữ pháp của từ ngữ chỉ tâm trạng trong thơ tình

Xuân Diệu Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ tâm trạng trong thơ tình

Xuân Diệu

Trang 11

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Thơ và đặc trưng ngôn ngữ thơ

1.1.1 Khái niệm chung nhất về “thơ ca”

Thơ là một hình thức nghệ thuật dùng từ, dùng chữ trong ngôn ngữ làm chất liệu, và sự chọn lọc từ cũng như tổ hợp của chúng được sắp xếp dưới một hình thức lôgic nhất định tạo nên hình ảnh hay gợi cảm âm thanh có tính thẩm

mỹ cho người đọc, người nghe Thơ là một thể loại văn học nảy sinh từ rất sớm trong đời sống con người, thuộc phương thức biểu hiện trữ tình, thơ gắn liền với sự rung động, với cảm xúc tươi mới, trực tiếp của cái tôi trữ tình trước mọi biểu hiện đa dạng, phức tạp của cuộc đời Có thể nói, bản chất của thơ ca rất đa dạng, phong phú, thơ tác động đến người đọc vừa bằng nhận thức cuộc sống, vừa bằng khả năng gợi cảm sâu sắc, vừa tác động trực tiếp với nhiều cảm xúc, suy nghĩ vừa gián tiếp qua liên tưởng và tưởng tượng phong phú, vừa theo những mạch cảm nghĩ, vừa bằng sự rung động của ngôn ngữ giàu nhạc điệu Chính vì những phẩm chất khác nhau đó của thơ mà đã

có nhiều quan niệm, nhiều cách lý giải khác nhau

Thơ có một lịch sử lâu dài, định nghĩa sớm nhất ở châu Âu về thơ có thể bắt đầu từ nhà triết học người Hy-Lạp Aristotle (384-322) trước Công nguyên Trong nền lý luận văn học cổ điển Trung Hoa, khái niệm "thơ là gì?"

đã được đề cập đến từ rất sớm Kế thừa quan niệm của các bậc tiền bối, đến đời Đường, Bạch Cư Dị đã nêu lên các yếu tố then chốt tạo thành điều kiện

tồn tại của thơ: "Cái cảm hoá được lòng người chẳng gì trọng yếu bằng tình

cảm, chẳng gì đi trước được ngôn ngữ, chẳng gì gần gũi bằng âm thanh, chẳng gì sâu sắc bằng ý nghĩa Với thơ, gốc là tình cảm, mầm lá là ngôn ngữ, hoa là âm thanh, quả là ý nghĩa" Quan niệm này không chỉ dừng lại ở việc

nêu lên các yếu tố cấu thành tác phẩm mà còn chỉ ra mối quan hệ gắn bó giữa

Trang 12

chúng, giống như gốc rễ, mầm lá, hoa, quả gắn liền với nhau trong một thể thống nhất hoàn chỉnh và sống động Đây có thể coi là quan niệm về thơ toàn diện và sâu sắc nhất trong nền lý luận văn học cổ điển Trung Hoa

Ở Việt Nam, khái niệm "thơ là gì?" cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến với nhiều quan niệm, nhiều khuynh hướng khác nhau Lý giải

về bản chất của thơ, các tác giả nhóm Xuân Thu Nhã Tập cho rằng: "Thơ là

một cái gì huyền ảo, tinh khiết, thâm thuý, cao siêu" Còn nhà thơ Tố Hữu thì

quan niệm: "Thơ là cái nhụy của cuộc sống" Dưới cái nhìn cấu trúc, nhà nghiên cứu Phan Ngọc định nghĩa: "Thơ là cách tổ chức ngôn ngữ hết sức

quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và suy nghĩ do chính hình thức ngôn ngữ này" Định nghĩa này của GS Phan Ngọc đã kế thừa được

những khám phá quan trọng về thơ của nhiều nhà nghiên cứu thuộc các trường phái khác nhau của Tây Âu trong mấy chục năm qua Đặc biệt, đã gợi

ra một trường nghiên cứu thơ hết sức rộng rãi: Thơ không chỉ là hiện tượng ngôn ngữ học thuần tuý mà chủ yếu là hiện tượng giao tiếp nghệ thuật, một phát ngôn trong ý nghĩa đầy đủ của từ này

Lịch sử nghiên cứu và phê bình văn học đã được chứng kiến rất nhiều định nghĩa về thơ Theo chúng tôi, cách định nghĩa của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học

có thể xem là chung nhất: "Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc

sống, thể hiện tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu" [25, 254] Định nghĩa này đã định

danh một cách đầy đủ về thơ ở cả nội dung và hình thức nghệ thuật Đặc biệt,

đã khu biệt được đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ trong những thể loại văn học khác

1.1.2 Những đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ thơ

Nếu như “giai điệu”, “âm thanh” là ngôn ngữ của âm nhạc; “màu sắc”,

“đường nét” là ngôn ngữ của hội họa; “mảng, khối” là ngôn ngữ của kiến

Trang 13

trúc, thì “ngôn từ” là chất liệu của tác phẩm văn học Hình tượng văn học là

hình tượng ngôn ngữ Nhà văn Nga Macxim Gorki từng nói: “Ngôn ngữ là

yếu tố thứ nhất của văn học” Quả thật như vậy, ngôn ngữ giữ một vị trí đặc

biệt quan trọng văn học, nhất là trong thơ ca, đó là tiếng nói chân thực, giàu

có của đời sống hiện thực, vừa là tiếng nói bay bổng của trí tưởng tượng diệu

kì, lại vừa là tiếng nói tình cảm của con tim đang xúc động Chiều sâu của sức suy nghĩ, tính chất mẫn cảm và tinh tế của sức sáng tạo trong những trạng thái rung động của tâm hồn Tất cả chỉ có thể đến được với người đọc thông qua vai trò của ngôn ngữ Sự tổ chức ngôn ngữ trên cơ sở của hệ thống nhịp điệu, tính chất tối đa về nghĩa trên một diện tích ngôn ngữ hẹp nhất, sắc thái chủ quan của người viết trong mức độ cần thiết đã tạo cho ngôn ngữ thơ ca những phẩm chất đặc biệt Hơn một phạm vi nào hết, quy luật về mối quan hệ gắn bó giữa nội dung và hình thức được thể hiện ở đây một cách tinh tế nhất thông qua những hình thái thâm nhập và chuyển hóa Ở đó ngôn ngữ thơ ca biểu hiện tập trung nhất tính hàm súc, mĩ lệ, phong phú của ngôn ngữ Nói như nhà

thơ Nga, Maia côpxki cho rằng: “Quá trình sáng tạo ngôn ngữ thơ ca cũng

giống như người lọc quặng, lọc lấy tinh chất, tìm ra trong những cái bộn bề của những tấn quặng từ đẹp, ánh sáng kim cương” “Thi ca là tinh hoa tối cao của ngôn ngữ, cái ánh ngời phi thường của nó, chỗ rách cảm động nhất của nó” (Piere Gamarra)

Là một hình thái nghệ thuật cao quý, tinh vi của sáng tạo văn học nghệ

thuật, vì vậy ngôn ngữ thơ trước hết phải là ngôn ngữ văn học, nghĩa là "Ngôn

ngữ mang tính nghệ thuật được dùng trong văn học", mang những đặc trưng

chung là "tính chính xác, tính hàm súc, tính đa nghĩa, tính tạo hình và biểu

cảm" [25, 183] Trong kho tàng ngôn ngữ vô cùng phong phú của toàn dân,

nhà thơ chỉ lựa chọn những từ ngữ cần thiết nhất để đưa vào tác phẩm Do vậy ngôn ngữ thơ rất gợi hình, gợi cảm góp phần tạo nên tính họa, tính nhạc

Trang 14

trong thơ Nó biến hóa qua nhiều sắc thái ảo thực bất ngờ, thú vị Sự kì diệu của ngôn ngữ thơ còn thể hiện ở việc nhà thơ kết hợp các biện pháp tu từ như:

so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, điệp từ, tượng trưng, trong cách diễn đạt

và ngôn ngữ thơ phải có tính biểu cảm Ở đó ngôn ngữ nói lên được cảm xúc của nhân vật

Ngôn ngữ thơ có khả năng diễn đạt những tình ý sâu xa không chỉ qua việc lựa chọn từ ngữ mà còn cả cách kết hợp chúng, tạo nên những khả năng

vô cùng trong việc sáng tạo cũng như khám phá những trạng thái tình cảm, tinh thần vô cùng phong phú, bí ẩn của con người Và có một điều không ai chối cãi là chất liệu đầu tiên, duy nhất để làm nên bài thơ là ngôn ngữ Ngôn ngữ là thứ của cải vô cùng quý báu và lâu đời của dân tộc (Bác Hồ) Mỗi nhà thơ sẽ có cách tiếp cận, sử dụng riêng vốn ngữ toàn dân, ngôn ngữ bác học, ngôn ngữ nghệ thuật để đưa vào bài thơ Qua tiếng lòng của nhà thơ, ngôn ngữ được cấu trúc lại để tạo thành ngôn từ mới, đẹp, sâu xa, triết lí

Là một thể loại văn học, cũng như ngôn ngữ của tác phẩm trữ tình khác, ngôn ngữ thơ được tổ chức trên cơ sở nhịp điệu, hết sức cô đọng hàm súc và đặc biệt gợi cảm, cụ thể hơn, nó được hiểu là một đặc trưng về ngữ âm,

từ vựng, ngữ pháp nhằm biểu trưng hoá, khái quát hoá hiện thực khách quan theo các tổ chức riêng của thơ ca

1.1.2.1 Về ngữ âm

Đặc điểm nổi bật về ngữ âm để phân biệt thơ với văn xuôi là đặc trưng tính nhạc Trong thơ, việc tổ chức các phương tiện ngữ âm rất được chú ý Thơ trữ tình phản ánh cuộc sống qua những rung động của tình cảm Thế giới nội tâm của nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ mà còn bằng

cả âm thanh, nhịp điệu của từ ngữ ấy Nếu như trong văn xuôi, các đặc tính thanh học của ngôn ngữ (như cao độ, cường độ, trường độ ) không được tổ chức thì trong thơ, trái lại, những đặc tính ấy lại được tổ chức một cách chặt

Trang 15

chẽ, có dụng ý, nhằm tăng hàm nghĩa cho từ ngữ, gợi ra những điều mà từ ngữ không nói hết Bởi thế, đặc trưng tính nhạc được coi là đặc trưng chủ yếu mang tính loại biệt rõ nét của ngôn ngữ thơ ca

Theo các nhà nghiên cứu, nhạc tính trong thơ được thể hiện ra ở ba mặt

cơ bản Đó là: sự cân đối, sự trầm bổng và sự trùng điệp Sự cân đối là sự tương xứng hài hoà giữa các dòng thơ Sự hài hoà đó có thể là hình ảnh, là âm

thanh; Sự trầm bổng của ngôn ngữ thơ thể hiện ở cách hòa âm, ở sự thay đổi

độ cao giữa hai nhóm thanh điệu Vì vậy, âm thanh, nhịp điệu trong thơ không đơn thuần là hình thức mà là những yếu tố góp phần biểu hiện những khía cạnh tinh vi của đời sống tình cảm con người; Sự trùng điệp của ngôn ngữ thơ thể hiện ở sự dùng vần, điệp từ, ngữ và điệp cú Chúng có tác dụng như một phương tiện kết dính các dòng thơ lại với nhau thành một đơn vị thống nhất, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho trí nhớ vừa tạo nên vẻ đẹp trùng điệp cho ngôn ngữ thơ

Nếu như văn xuôi thường kiêng kỵ lặp đi lặp lại các phương tiện ngữ

âm thì ở thơ sự lặp đi lặp lại trở thành một thủ pháp nghệ thuật Ở đây tính tương đồng của ngôn ngữ được dùng để xây dựng thông báo Các biện pháp

tu từ: đối, điệp, láy, lặp tạo nên nhạc tính là nét khu biệt để khẳng định mình của ngôn ngữ thơ ca so với văn xuôi

Nhạc tính đem lại sự duyên dáng sang trọng, khoái cảm thẩm mỹ cho

thơ: “Câu thơ và vần có một cái duyên mà thậm chí khi lời, ý dở, nhà thơ vẫn

có thể quyến rũ người nghe bằng nhịp điệu và sự cân đối” [Isokrates - dẫn

theo Nguyễn Phan Cảnh - 8, 133]

Chính tính nhạc của ngôn ngữ đã đưa thơ ca xích lại gần với âm nhạc Vần điệu, tiết tấu được tạo thành bởi các nguyên âm, phụ âm, thanh điệu bằng

- trắc, bổng - trầm, vang - tắc sẽ không những làm cho câu thơ vang lên tiếng nhạc kỳ diệu mà còn lan toả giữa các câu thơ, dòng thơ và lên toàn bộ bài thơ

Trang 16

Trong thơ ca Việt Nam hiện đại, nhiều bài thơ đã được các nhạc sĩ phổ nhạc

và chính nhạc thơ kết hợp với nhạc nhạc đã làm nên những rung động diệu

kỳ, lay động triệu triệu trái tim con người

Như vậy, nhạc điệu trong thơ là một đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ thơ Ngày nay, nhu cầu của thơ có phần đổi khác, một số người có xu hướng bỏ vần để tạo cho câu thơ sự tự do hoá triệt để Nhưng nếu không có một nhạc điệu nội tại nào đó như sự đối xứng giữa các dòng, các đoạn thơ, tiết tấu, nhịp điệu của câu thơ thì không còn là ngôn ngữ thơ nữa

1.1.2.2 Về ngữ nghĩa

Nếu ngôn ngữ văn xuôi tự sự là ngôn ngữ của cuộc sống đời thường, nó chấp nhận mọi lớp từ, mọi biến thái, mọi chiều kích, thậm chí cả sự xô bồ, phồn tạp đến cực độ để tái hiện bộ mặt cuộc sống, tâm lý con người trong sự sâu rộng, đa chiều vốn có của nó thì ở địa hạt thơ lại mang nặng tính "đặc tuyển" Là thể loại có một dung lượng ngôn ngữ hạn chế nhất trong các loại tác phẩm văn học, nhưng thơ lại có tham vọng chiếm lĩnh thế giới Nói như

Ôgiêrốp: "Bài thơ là một lượng thông tin lớn nhất trong một diện tích ngôn

ngữ nhỏ nhất" Chính sự hạn định số tiếng trong câu thơ, bài thơ buộc người

nghệ sỹ phải "thôi xao", nghĩa là phải phát huy sự tư duy ngôn ngữ để lựa chọn từ ngữ cho tác phẩm Bởi thế, Maiacôpxki gọi lao động nghệ thuật ngôn

từ của nhà thơ là "trả chữ với giá cắt cổ"

Dưới áp lực của cấu trúc ngôn ngữ khác thường này, ngữ nghĩa của từ trong thơ không dừng lại ở nghĩa gốc, nghĩa đen, nghĩa trong từ điển mà qua bàn tay tài năng của nhà thơ bỗng mở ra những ý nghĩa mới tinh tế hơn, đa dạng hơn, hấp dẫn hơn, phong phú, sâu sắc, tinh tế hơn Đó chính là nghĩa bóng, nghĩa ẩn dụ hay là nghĩa biểu trưng của ngôn ngữ thơ ca Hay còn gọi

là thứ nghĩa được tạo sinh nhờ quan hệ và trong quan hệ Để đạt được tính hàm súc cao nhất, có thể biểu hiện được cái vô hạn của cuộc sống trong

Trang 17

những cái hữu hạn của các đơn vị ngôn ngữ, thơ ca phải tính đến những kiểu

tổ chức đặc biệt mà nhà nghiên cứu Phan Ngọc gọi là "quái đản"

Quá trình chuyển nghĩa này trong thơ diễn ra như một đặc trưng khu biệt

nó với các loại hình nghệ thuật khác, làm cho thơ ca có một sức cuốn hút kỳ lạ đối với người đọc, người nghe mọi thời đại Tiếp nhận văn học, đặc biệt là tiếp nhận thơ không phải là sự tiếp nhận bằng mắt, bằng tai mà quá trình ấy diễn ra như một tác động kép Bởi người đọc, người nghe không chỉ để nghe đọc mà còn tiếp nhận bằng cảm xúc, bằng trí tưởng tượng tức bằng tâm thế của một người tiếp nhận sáng tạo trên một văn bản thơ cụ thể Điều này chứng tỏ ngôn ngữ thơ không chỉ là phương tiện để giao tiếp, để giãi bày đơn thuần mà còn cho phép người sáng tạo và tiếp nhận gặp nhau ở một tầng nghĩa cao hơn, khi

đó ngôn ngữ thơ "là ngôn ngữ đồng thời là sự phủ nhận ngôn ngữ, đó là cái

vượt ra ngoài giới hạn" (Ôcxtaviiôtpat, Văn nghệ, số 21, 22/5/1983)

Thơ ca là "ý tại ngôn ngoại", là dồn nén chữ nghĩa, là cái biểu đạt và cái được biểu đạt đã xâm nhập chuyển hoá vào nhau, cùng nhau đẩy thơ lên một tầng nghĩa cao hơn Khoảng không ngữ nghĩa của ngôn ngữ thơ ca là vô tận, vì vậy muốn khảo sát thơ chúng ta phải có một trí tưởng tượng phong phú, kinh nghiệm dồi dào Chính vì điều này mà ngôn ngữ thơ ca luôn luôn

là địa hạt tươi mới, lung linh, hấp dẫn cho hành trình của loài người đi tìm những thế giới nghệ thuật thơ

Về điều này, văn xuôi ít khi được chú ý bởi nó không giới hạn về số lượng âm tiết, từ ngữ, câu chữ còn trong thơ tuỳ theo từng thể loại với những

áp lực cấu trúc khác nhau, nên việc lựa chọn từ ngữ bao giờ cũng được đặt lên hàng đầu

1.1.2.3 Về ngữ pháp

Thơ là một hình thức nghệ thuật dùng từ, dùng chữ trong ngôn ngữ làm chất liệu, và sự chọn lọc từ cũng như tổ hợp của chúng được sắp xếp dưới một

Trang 18

hình thức lôgic nhất định tạo nên hình ảnh hay gợi cảm âm thanh có tính thẩm

mỹ cho người đọc, người nghe Một câu thơ là một hình thức câu cô đọng, truyền đạt một hoặc nhiều hình ảnh, có ý nghĩa cho người đọc, và hoàn chỉnh trong cấu trúc ngữ pháp Một câu thơ có thể đứng nguyên một mình, một bài thơ là tổ hợp của các câu thơ Tính cô đọng trong số lượng từ, tính tượng hình

và dư âm thanh nhạc trong thơ biến nó thành một hình thức nghệ thuật độc đáo, tách biệt hẳn khỏi các hình thức nghệ thuật khác

Ở bình diện ngữ pháp của thơ, thể hiện trước hết đó là sự phân chia các dòng thơ Trong thơ, ranh giới giữa câu thơ và dòng thơ không hoàn toàn trùng nhau Có những câu thơ bao gồm nhiều dòng, có dòng bao gồm nhiều câu, các thành phần trong dòng, trong câu hay bị đảo lộn trật tự, các từ nhiều lúc không sắp xếp theo trật tự như bình thường và điều này hoàn toàn không xẩy ra với câu văn xuôi

Trong thơ, các dòng, các vế câu, các ý nghĩa khi trông qua hình như

không có mối liên hệ lôgic gì với nhau, nhiều khi trái nghĩa nhau về lôgic lập luận, thậm chí có khi thật “phi lý” nhưng người đọc vẫn hiểu được mạch ngầm các ý trong câu, hiểu được ý ẩn náu ngữ nghĩa đằng sau tầng cấu trúc ngữ pháp tưởng như không lý giải được để tạo nên một sự hợp lý nhất định có thể chấp nhận được, và "vườn cấm", này chỉ dành riêng nhất cho thơ

Những kết hợp không bình thường trong kiến trúc dòng thơ diễn ra rất

đa dạng và phức tạp Có khi một dòng thơ chứa nhiều câu thơ, có khi một dòng lại chỉ là một vế câu Do vậy, nhà thơ có thể sử dụng đa dạng những kiểu câu "bất thường" Câu chỉ một âm tiết đến nhiều âm tiết, câu tách biệt, câu vắt dòng, câu trùng điệp, đảo cú không những không làm ảnh hưởng đến quá trình tiếp nhận ngữ nghĩa của văn bản mà còn mở ra những chân trời ngữ nghĩa mới

Thông qua giao lưu giữa các nền văn hóa, các thể loại thơ được tăng dần Từ những cấu trúc đơn giản đến những cấu trúc phức tạp Những xu

Trang 19

hướng gần đây cho thấy, cấu trúc không còn là một yếu tố quan trọng trong

thơ Trong các thể loại thơ ở Việt Nam ta có thể kể đến vài loại như lục

bát, song thất lục bát, các thể loại thơ Đường luật như thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn bát cú rồi đến các loại Thơ mới và Thơ tự do Ngoại

trừ thơ tự do, một hình thức hầu như không có một cấu trúc rõ rệt, các loại thơ

khác hầu như đều có một cấu trúc nhất định Cấu tứ của bài thơ là cấu trúc và ý tưởng gộp lại Cách sắp xếp các câu thơ, sự sắp xếp của bài thơ, luật

sử dụng trong bài thơ, vần điệu và tính nhạc đều là một phần của cấu tứ

Từ những đặc điểm ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp như vậy ta thấy ngôn ngữ thơ quả là một thứ ngôn ngữ nghệ thuật rất đặc thù Bởi nó không chỉ là sản phẩm thể hiện tài năng của người sáng tác mà còn là đối tượng được lựa chọn không kém phần gắt gao để tiếp tục sáng tạo của người thưởng thức Chính vì thế, tiếp nhận một bài thơ hay không dễ gì ta cảm nhận được ngay,

có khi chỉ bằng linh cảm mà nhận ra Đọc rồi, đọc nữa, suy ngẫm, liên tưởng

ta mới nhận ra thứ ánh sáng, màu sắc, hương thơm man mác bên trong hình tượng ngôn ngữ thơ Chẳng thế mà nhà thơ Hoàng Đức Lương (thế kỉ XV) đã

có một nhận xét xác đáng: “Thơ là sắc đẹp ở ngoài sắc, vị ngọt ở ngoài vị,

không thể trông bằng mắt thường được, chỉ có thi nhân trông thì mới thấy đẹp, nếm mới thấy ngon ”

1.2 Khái niệm tâm trạng và từ chỉ tâm trạng trong tiếng Việt

1.2.1 Khái niệm tâm trạng

Hiện tượng tâm lý của con người vô cùng phức tạp, nó ngày càng được quan tâm nghiên cứu Từ những tư tưởng đầu tiên sơ khai về hiện tượng tâm

lý, các ngành khoa học về tâm lý đã ra đời, hình thành, phát triển và ngày càng chiếm giữ vị trí quan trọng

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về “tâm lý” con người, các nhà chủ nghĩa duy tâm cho rằng: “Hiện tượng tâm lý là bản chất siêu hình đặc biệt

Trang 20

của sinh vật và được gọi là linh hồn” [24,15] Còn các nhà chủ nghĩa duy vật

lại cho rằng: “Tâm lý là biểu hiện của vật chất, là sản phẩm dưới dạng đặc

biệt của vật chất, có tổ chức cao là bộ não của con người” [24;16]

Các khuynh hướng đã có sự đấu tranh quyết liệt và hiện nay vẫn còn nhiều tranh cãi Nhưng chúng ta có thể hiểu một cách chung nhất: Tâm lý là

sự phản ánh chủ quan thế giới khách quan, có cơ sở tự nhiên là hoạt động thần kinh và hoạt động nội tiết, được nảy sinh bằng hoạt động sống của từng người, và gắn bó với các quan hệ xã hội lịch sử Hay nói cách khác tâm lý bao gồm tất cả những hiện tượng tinh thần xảy ra trong đầu óc con người, gắn liền

và điều hành mọi hành động, hoạt động của con người Đó là sự phản ánh sự vật hiện tượng của thế giới khách quan, não làm chức năng phản ánh đó Sự phản ánh này có tính chất chủ thể và mang bản chất xã hội - lịch sử Khi nói đến tâm lý người ta đề cập đến một số đặc điểm cơ bản, như: Tâm lý là hiện tượng tinh thần, là đời sống nội tâm của con người Thực tế chúng ta không thể cân đong, đo, đếm trực tiếp tâm lý mà chỉ có thể đoán định thông qua những gì cá nhân biểu hiện ra bên ngoài; Tâm lý là một hiện tượng tinh thần gần gũi, thân thuộc với con người mà chính là những gì con người suy nghĩ, hành động, cảm nhận hàng ngày; Tâm lý con người phong phú, đa dạng và đầy tính tiềm tàng bởi tâm lý mỗi người một khác, và hơn nữa tâm lý không phải là bất biến mà luôn biến đổi theo thời gian Mặc dù gần gũi thân thuộc nhưng con người còn rất nhiều điều chưa hiểu về chính tâm lý của mình; Tâm

lý người có tính chất chủ thể nên tâm lý không ai giống ai Do mỗi người có cấu trúc hệ thần kinh và cơ thể khác nhau, tuổi tác khác nhau, giới tính khác nhau, nghề nghiệp khác nhau, địa vị xã hội khác nhau, điều kiện sống khác nhau ; Tâm lý người là kết quả của quá trình xã hội hoá Con người chúng ta luôn sống trong xã hội, do đó chịu sự tác động của xã hội đó và sẽ có chung

Trang 21

những đặc điểm của xã hội mà mình sống trong đó; ở mỗi giai đoạn lịch sử của xã hội, xã hội đó có những đặc thù riêng, đặc điểm tâm lý xã hội riêng

Hiện tượng tâm lý là những hiện tượng phức tạp nằm ngay trong thực thể diễn biến theo các cung bậc tình cảm và ý thức khác nhau khi chủ thể cảm nhận, tự giác, nhận thức hoặc bị tác động bởi đối tượng nào đó Phân loại theo thời gian tồn tại và quá trình diễn biến, các nhà nghiên cứu chia hiện tượng tâm lý ra làm ba loại: Quá trình tâm lý, trạng thái tâm lý (hay còn gọi là tâm trạng) và thuộc tính tâm lý Các quá trình tâm lý: là những hiện tượng tâm lý diễn ra trong thời gian tương đối ngắn, có bắt đầu, diễn biến và kết thúc Ví dụ: Các quá trình nhận thức như cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng; các quá trình giao tiếp Các trạng thái tâm lý là các hiện tượng tâm lý diễn ra trong thời gian tương đối dài và đóng vai trò làm nền cho các quá trình tâm lý và các thuộc tính tâm lý biểu hiện ra một cách nhất định Với các trạng thái tâm lý chúng ta thường chỉ biết đến khi nó đã xuất hiện ở bản thân, tuy nhiên thường không biết được thời điểm bắt đầu và kết thúc của chúng Ví dụ: Trạng thái tập trung, chú ý, lơ đãng, mệt mỏi, vui, buồn, phấn khởi, chán nản Các thuộc tính tâm lý: là những hiện tượng tâm

lý đã trở nên ổn định, bền vững ở mỗi người tạo nên nét riêng về mặt nội dung của người đó Thuộc tính tâm lý diễn ra trong thời gian dài và kéo dài rất lâu có khi gắn bó với cả cuộc đời một người Ví dụ: Tính khí, tính cách, năng lực, quan điểm, niềm tin, lý tưởng, thế giới quan Các quá trình tâm

lý, trạng thái tâm lý và thuộc tính tâm lý không hề tách rời nhau mà luôn ảnh hưởng và chi phối lẫn nhau

Như vậy, tâm trạng chính là một hiện tượng tâm lý Theo cuốn “Từ

điển tiếng việt” do Hoàng Phê (chủ biên) (2006), Tâm trạng là trạng thái tâm

lý, tình cảm [40,897] Ví dụ: Tâm trạng buồn đau, tâm trạng vui vẻ, phấn

chấn, tâm trạng hồi hộp, lo âu, tâm trạng hoài nghi, chán nản,…

Trang 22

1.2.2 Các từ biểu thị tâm trạng trong tiếng Việt

Những từ tiếng Việt biểu thị trạng thái tâm lý - tình cảm của con người

được gọi là từ chỉ tâm trạng

Tác giả Nguyễn Ngọc Trâm trong “Đặc trưng ngữ nghĩa - ngữ pháp

của nhóm từ biểu thị tâm lý - tình cảm trong tiếng việt” đã thống kê sơ bộ

được hơn 300 từ vựng chỉ tâm trạng Từ chỉ tâm trạng thuộc lớp từ cơ bản,

trong tiếng Việt xuất hiện với tần số cao

Các từ biểu thị tâm trạng trong tiếng Việt được tạo thành một nhóm từ đặc biệt mà hầu hết các nhà ngữ pháp tiếng Việt đều đề cập đến như Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Kim Thản, Đinh Văn Đức, Đỗ Thị Kim Liên, Lê Biên Khi phân định từ loại tiếng Việt, đa số nhóm từ biểu thị tâm trạng được các tác giả

xếp vào động từ, một số tác giả xếp vào loại tính từ

Xếp các từ chỉ tâm trạng như yêu, ghét, thích… vào từ loại động từ là

các tác giả Nguyễn Tài Cẩn, Diệp Quang Ban, Đỗ Thị Kim Liên, Lê Biên,… Tác giả Nguyễn Tài Cẩn khi phân tích trung tâm của động ngữ (cụm động từ)

đã dựa vào khả năng kết hợp thành tố phụ “xong”: “Động từ chỉ sự việc có

khả năng kết thúc” như ăn, đọc; Đối lập với những “động từ không có khả năng kết thúc” như: biết, hiểu, ghét; Sau đó dựa vào sự kết hợp với phó từ chỉ mức độ như: hơi, rất, quá, lắm,… Để phân biệt những “động từ không có khả năng giảm mức độ”, như: yêu, ghét, lo sợ, giận với những“động từ không có khả năng tăng mức độ” như: đánh, ngồi” [7,225] Tác giả Đỗ Thị Kim Liên

khi phân loại động từ đã chia thành 6 nhóm, trong đó nhóm động từ chỉ trạng

thái tâm lý thuộc nhóm thứ 6 Đó là các từ như: Lo lắng, bồn chồn, thoi

thóp,… Diệp Quang Ban xếp vào loại động từ chỉ trạng thái, Lê Biên xếp vào

loại động từ cảm nghĩ, nói năng

Bên cạnh đó, từ chỉ tâm trạng lại được tác giả Đinh Văn Đức xếp vào

tính từ Tác giả cho rằng: “Tính từ còn bao gồm những đặc trưng được hình

thành theo những chủ quan của con người trong quan hệ với đối tượng -

Trang 23

những quan hệ của trạng thái tình cảm (vui, buồn, thương, yêu…)” [18,150]

Nhưng theo tác giả “Những tính từ thiên về trạng thái nên có sắc thái “động”

(vui, buồn, thương, yêu, nhớ, mong) Cho nên đấy là những từ mà từ một

phương diện khác còn có thể coi là động từ chỉ cảm xúc” [18,160]

Ta thấy một bộ phận lớn từ chỉ tâm trạng tiếng Việt vừa giống tính từ

và giống động từ, như: Nhớ, mong, thích, yêu, ghét, hồi hộp, lo âu… Chúng

có những đặc điểm ngữ pháp của động từ và có những đặc điểm ngữ pháp của tính từ Số này nhìn chung được xếp vào động từ Ngoài bộ phận đa số đó thì

có một số từ chỉ tâm trạng thuộc về tính từ như: say đắm, tha thiết, âm thầm Những từ này đứng sau động từ bổ nghĩa cho động từ, ví dụ: yêu say đắm,

nhớ tha thiết Ngoài ra trong hoạt động ngữ pháp, các từ chỉ tâm trạng có thể

kết hợp với các loại từ như nỗi, niềm, sự… tạo thành danh từ, ví dụ như: Niềm

đau, nỗi buồn, niềm vui, nỗi nhớ…

Từ những ý kiến của các tác giả đi trước và căn cứ vào hoạt động ngữ pháp của từ chỉ tâm trạng, chúng tôi cho rằng từ chỉ tâm trạng trong tiếng Việt

gồm 3 loại: Động từ, tính từ và danh từ

1.3 Vài nét về Xuân Diệu và thơ Xuân Diệu

1.3.1 Vài nét về nhà thơ Xuân Diệu

Xuân Diệu (1916 - 1985) còn có bút danh là Trảo Nha, tên khai sinh là Ngô Xuân Diệu Ông thân sinh Xuân Diệu là một nhà nho, quê ở làng Trảo Nha, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh Mẹ thi sĩ quê ở Gò Bồi, xã Tùng Giản,

huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định

Xuân Diệu sinh ra và lớn lên ở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định Sau khi tốt nghiệp tú tài ông đi dạy học tư và làm viên chức ở Mỹ Tho, nay là Tiền Giang, sau đó ra Hà Nội sống bằng nghề viết văn Ông tốt nghiệp cử nhân luật năm 1943 và làm tham tá thương chánh ở Mỹ Tho một thời gian trước khi trở lại Hà Nội Xuân Diệu tham gia mặt trận Việt Minh từ trước

Trang 24

Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông hăng say hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, cả cuộc đời ông gắn bó với nền văn học dân tộc Ông là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam các khóa I, II, III Năm 1983 Xuân Diệu được bầu là Viện sỹ thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật Cộng hòa dân chủ Đức Ông được Nhà nước tặng nhiều huân chương cao quý, nhưng có

lẽ với Xuân Diệu phần thưởng lớn nhất của đời ông chính là lòng yêu mến của triệu triệu trái tim độc giả đối với thơ văn ông

Xuân Diệu là cây đại thụ của nền thi ca hiện đại Việt Nam Sự nghiệp sáng tác thơ văn của Xuân Diệu rất phong phú: ông viết thơ, viết văn, nói chuyện thơ, viết phê bình tiểu luận… Hơn 50 năm lao động miệt mài trong thế giới nghệ thuật, con người và thơ văn Xuân Diệu đã có sự chuyển biến rõ nét từ một nhà thơ lãng mạn thành một nhà thơ cách mạng Đó là bước chuyển tất yếu của một trí thức yêu nước, một tài năng nghệ sĩ Thành tựu xuất sắc nhất được độc giả trong và ngoài nước yêu chuộng là thơ Mười lăm tập thơ (đã in) khẳng định ông là một nhà thơ lớn Bên cạnh sáng tác thơ, ông

còn tham gia viết báo cho các tờ Ngày Nay và Tiền Phong Ông là một trong

những người sáng lập Đoàn báo chí Việt Nam, nay là Hội Nhà báo Việt Nam

Sự nghiệp thơ văn của Xuân Diệu trải qua hai giai đoạn: trước và sau Cách

mạng tháng Tám

Trước Cách mạng, Xuân Diệu là một nhà thơ lãng mạn, ông được biết

đến với tư cách là nhà thơ "mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh)

Ông là nhà thơ của tình yêu, của mùa xuân và tuổi trẻ, cái tôi trữ tình trong thơ Xuân Diệu thể hiện lòng thiết tha yêu đời, yêu cuộc sống, với một giọng thơ sôi nổi, đắm say, đồng thời cũng thể hiện tâm trạng chán nản, hoài nghi,

cô đơn… Ông đã đem đến cho thơ ca đương thời một sức sống mới, một nguồn cảm xúc mới, thể hiện một quan niệm sống mới mẻ cùng với những cách tân nghệ thuật đầy sáng tạo Xuân Diệu là thành viên của Tự Lực Văn

Trang 25

Đoàn (1938 - 1940) và cũng là một trong những chủ soái của phong trào "Thơ mới" - Phong trào được bắt đầu bởi Phan Khôi đề xướng vào năm 1932 và kết

thúc vào năm 1941 Hoài Chân trong “Nhìn lại Phong trào Thơ mới” khẳng định: “Thơ mới đã trở thành một di sản của văn học dân tộc Đối xử với Thơ

mới - tất nhiên là đối với những bài Thơ mới xuất sắc - phải như đối xử với

những tinh hoa của di sản văn học dân tộc”

Cùng với "Cây đàn muôn điệu" của Thế Lữ, bài thơ "Cảm xúc" của

Xuân Diệu được xem là bản tuyên ngôn thứ hai của phong trào Thơ mới Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ - muốn thoát lên tiên, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu Thơ mới là tiếng nói của cái tôi, nỗi buồn của Thơ mới không phải là cái buồn ủy mị bạc nhược mà là cái buồn của những người có tâm huyết, đau buồn vì bế tắc chưa tìm ra lối thoát, và đó cũng là cái buồn của thời đại

Với Xuân Diệu, nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới, phải là người đau buồn nhiều mới có thể viết được những câu như:

Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời

(Vội vàng) Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối

Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm!

(Giục giã)

1.3.2 Thơ và thơ tình của Xuân Diệu

a Sự nghiệp sáng tác của Xuân Diệu

Trong sự nghiệp sáng tác thơ văn của mình, Xuân Diệu được biết đến như là một nhà thơ lãng mạn trữ tình, ông mở đầu sự nghiệp và nổi tiếng trên

Trang 26

thi đàn Việt Nam bởi các tác phẩm tiêu biểu: Thơ thơ (1938) gồm 46 bài thơ,

Gửi hương cho gió (1945) với 50 bài thơ, truyện ngắn Phấn thông vàng

(1939), Trường ca (1945)

Với “Thơ thơ” và “Gửi hương cho gió” Xuân Diệu đã thực sự “đưa

thơ mới lên ngôi trên thi đàn với khuôn mặt trẻ trung, tươi tắn, hấp dẫn chưa

từng có” “Thơ thơ” mang cảm xúc non tơ, rạo rực thiết tha của tiếng nói thơ

ca đầy tươi trẻ, tin cậy Lời thơ như mở ra một thế giới mới của tuổi trẻ yêu

đời “Gửi hương cho gió” ra đời sau Thơ thơ 7 năm, là thời điểm mà tư tưởng

lãng mạn của Xuân Diệu đang ở đỉnh cao, nên 50 bài thơ ở đây đều mang những nỗi buồn rất não nùng Buồn vì vô cớ, vì cô quạnh, vì bị chia cắt cho đến buồn vì lo sợ ngày mai, buồn vì chuyện thiên cổ Gốc tích của nỗi buồn

đa phần là do tình yêu: bị tình phụ, bị từ chối, bị làm ngơ Thơ ở đây là tiếng nói của một tâm hồn bị trói buộc bởi những sự lo lắng, mặc cảm, sợ hãi dù cất tiếng gọi tìm tình yêu một cách hối hả, tâm hồn ấy vẫn mang một trái tim tuyệt vọng, sẵn sàng chịu đựng nỗi đau Với niềm say mê ngoại giới, khát

khao giao cảm với đời và tình yêu cuộc sống (Vội vàng, Giục giã) Nỗi cô đơn, rợn ngợp của cá thể trước cái không gian mênh mông, thời gian xa thẳm

(Lời kỹ nữ) Một khát vọng tình yêu vô biên và tuyệt đích, nỗi đau của một

trái tim đắm say, nồng nhiệt mà không được đền đáp xứng đáng (Dại khờ,

Nước đổ lá khoai) Có thể thấy từ “Thơ thơ” đến “Gửi hương cho gió”, tình

yêu trong thơ Xuân Diệu càng lún sâu vào trạng thái cô đơn Ở “Thơ thơ”, đó

là một thứ mộng đẹp, sang “Gửi hương cho gió”, ông đã chấp nhận một tình yêu đơn phương: có gửi tình đi chẳng có về, "hương bay cùng với gió" đúng như tên gọi của tập thơ - Gửi hương cho gió

Hai tập "Thơ thơ" và "Gửi hương cho gió" được giới văn học xem như

là hai kiệt tác của Xuân Diệu khi ông ca ngợi tình yêu và qua các chủ đề của tình yêu là ca ngợi sự sống, niềm vui và ca ngợi tuổi trẻ, mùa xuân, ca ngợi

Trang 27

thiên nhiên là tổ ấm và cái nôi của tình yêu “Xuân Diệu cảm nhận sâu sắc

đến nỗi đau đớn của thời gian trôi chảy, sự mong manh của đời người cũng như lòng khát khao vĩnh cửu, tất cả đã được diễn tả bằng những vần thơ xúc động khi có sự kết hợp của hàng loạt từ ngữ chỉ tâm trạng nên đậm đà triết lí nhân sinh” (Huy Cận, tháng 4 năm 2000)

Sau Cách mạng tháng Tám, ông hoạt động trong Hội văn hóa cứu quốc,

làm thư ký tạp chí Tiền Phong của Hội Sau đó ông công tác trong Hội văn nghệ Việt Nam, làm thư ký tòa soạn tạp chí Văn nghệ ở Việt Bắc Xuân Diệu

tham gia ban chấp hành, nhiều năm là Ủy viên thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam Từ đó, thơ Xuân Diệu cũng đã vươn tới chân trời nghệ thuật mới, nhà thơ

đã đi từ “cái tôi bé nhỏ đến cái ta chung của mọi người” (P.Êluya) Xuân Diệu

giờ đây đã trở thành một nhà thơ Cách mạng say mê, hăng say hoạt động và ông đã có thơ hay ngay trong giai đoạn đầu Thơ Xuân Diệu hướng mạnh vào thực tế đời sống và rất giàu tính thời sự Ông cổ vũ và hăng hái thể nghiệm khuynh hướng tăng cường chất hiện thực trong thơ Giai đoạn này, Xuân Diệu trở thành một trong những nhà thơ hàng đầu ca ngợi cách mạng, một "dòng thơ công dân" Bút pháp của ông chuyển biến phong phú về giọng vẻ: có giọng

trầm hùng, tráng ca, có giọng chính luận, giọng thơ tự sự trữ tình

Xuân Diệu là một cây bút có sức sáng tạo mãnh liệt, dồi dào, bền bỉ, có đóng góp to lớn trên nhiều lĩnh vực đối với nền văn học Việt Nam hiện đại

“Xuân Diệu là người đem nhiều cái mới nhất cho thơ ca hiện đại Việt Nam”

(Vũ Ngọc Phan) Bên cạnh việc đưa đến cho thi đàn Việt Nam một nguồn

cảm hứng yêu đời dào dạt, một quan niệm nhân sinh và thẩm mỹ mới mẻ, một cái tôi giàu bản sắc; Xuân Diệu còn là người tìm ra nhiều kiểu cấu trúc hiện đại cho câu thơ Việt Nam, làm phong phú thêm hình thức thơ bằng những hình ảnh độc đáo, những nhạc điệu tân kỳ… Những cống hiến và ảnh hưởng của Xuân Diệu trong thơ Việt Nam hiện đại rất to lớn

Trang 28

Xuân Diệu để lại một sự nghiệp văn học lớn, tiêu biểu là các tập thơ:

Thơ thơ (1938), Gửi hương cho gió (1945), Ngọn quốc kỳ (1945), Riêng chung (1960), Mũi Cà Mau - Cầm tay (1962), Một khối hồng (1964), Hai đợt sóng (1967), Tôi giàu đôi mắt (1970), Hồn tôi đôi cánh (1976), Thanh ca

(1982); các tập văn xuôi Phấn thông vàng (1939), Trường ca (1945); các tập tiểu luận phê bình, nghiên cứu văn học: Những bước đường tư tưởng của tôi (1958), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, hai tập (1981, 1982), Công việc làm

thơ (1984)…

Sự đóng góp của Xuân Diệu diễn ra đều đặn và trọn vẹn trong các thể loại và các giai đoạn lịch sử của dân tộc Vì thế ông xứng đáng với danh hiệu một nhà thơ lớn, một nghệ sĩ lớn Ông được nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (1996)

b Thơ tình Xuân Diệu

Xuân Diệu là niềm tự hào của thơ ca Việt Nam, là thi sĩ tiêu biểu cho thế hệ những nhà thơ mới đầu tiên của văn học Việt Nam giai đoạn 1930 -

1945 Ông được mệnh danh là “ông hoàng thơ tình”, thơ ca của ông mang vẻ

đẹp riêng, giá trị riêng Những sáng tác của nhà thơ luôn là nguồn cảm hứng bất tận cho nhiều thế hệ độc giả, và trở thành tác phẩm được giảng dạy trong nhà trường phổ thông Từ trước đến nay, Xuân Diệu là tác giả thường được nhắc đến cùng với những bài thơ tình hay Đông đảo bạn đọc đều thừa nhận rằng Xuân Diệu có tiếng thơ độc đáo, hấp dẫn cùng giọng thơ nồng nàn, da

diết với tâm trạng lo lắng, cuống quýt trong tình yêu

Nhạc tính chính là yếu tố quan trọng làm nên vẻ đẹp trong thơ, đây

cũng chính là yếu tố tạo mĩ cảm cho người thưởng thức “Ly khai với nhạc

tính, thơ chỉ còn là một nhan sắc trơ trẽn thiếu duyên” [28,15] Đề cập đến

tính nhạc trong thơ, không thể không kể đến thơ Xuân Diệu Thơ ông có cái rạo rực của lòng khát khao được sống, được giao cảm với đời và nhạy cảm

Trang 29

với những rung động nhỏ nhất của cuộc sống Một hồn thơ như thế không thể không viết về nhạc Cảm hứng về nhạc của nhà thơ là đi mãi vào cái thế giới

bên trong nhạc Vào thế giới riêng của “Nguyệt cầm” trong tập thơ “Gửi

hương cho gió”, thi sĩ đã hoà tan vào một niềm thơ duy nhất, thành mối tương

giao kỳ diệu giữa hồn người, hồn nhạc và hồn tạo vật

Ở những câu đầu của bài thơ, tác giả đã đưa tâm hồn người đọc vào thế

giới của âm thanh, đó là một thế giới tràn đầy tiếng nhạc của trăng và đàn:

Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh

Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm!

Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân

Những điệp từ “trăng” và “đàn”, cùng với cách ngắt nhịp 2/2/3 vừa tạo

nên nhạc tính nhuần nhị cho câu thơ vừa gợi lên một bức tranh đã có hình lại có thanh Nếu ngôn ngữ là sợi dây đàn thì nhạc tính và âm điệu là những cung bậc thanh âm ngân lên từ sợi dây đàn ấy Bằng khả năng sử dụng ngôn ngữ điêu

luyện, Xuân Diệu tạo ra âm điệu cũng chính là tạo nên nhạc tính trong thơ Từ

đó dẫn dụ người đọc đi vào thế giới lung linh màu nhiệm của “Nguyệt cầm”

Long lanh tiếng sỏi vang vang hận

Câu thơ trên sở dĩ “đầy nhạc” chính vì sự tập trung dày đặc các nguyên

âm mở và phụ âm vang tạo âm điệu cho thơ Việc sử dụng những từ láy và lặp

lại chúng “long lanh”, “lung linh”… là một trong những biện pháp tạo nhịp

điệu trong thơ Nhịp điệu có vai trò quan trọng trong việc tạo nhạc tính trong thơ, đồng thời thể hiện một cách tinh tế những trạng thái cảm xúc của nhà thơ

Theo giáo sư Hà Minh Đức: “Nhịp điệu là kết quả của một sự chuyển động

nhịp nhàng, sự lặp lại đều đặn những âm thanh nào đó ở trong thơ” [19] Câu

thơ thu hút người đọc ngoài việc ý hay lời đẹp còn phải thu hút người nghe bằng nhịp điệu của sự hài hoà

Trang 30

Ngoài ra, nhạc thơ chủ yếu còn do các thanh điệu tạo nên Với bài “Nhị

hồ” trong tập “Thơ thơ”, để gợi tả điệu nhạc du dương, đưa tâm hồn phiêu

diêu bay bổng cùng tiếng đàn, Xuân Diệu đã viết hai dòng thơ toàn vần bằng:

Sương nương theo trăng ngừng lưng trời Tương tư nâng lòng lên chơi vơi…

Cái tài của Xuân Diệu không chỉ dừng lại ở việc đưa nhạc vào thơ, mà còn được thể hiện ở chỗ dùng nhạc của ngôn ngữ để tạo hình Trong bài

thơ Đây mùa thu tới, bằng việc sử dụng chuỗi phụ âm r: Những luồng run rẩy

rung rinh lá Bằng những từ láy: “run rẩy”, “rung rinh” Xuân Diệu không chỉ

mang đến những xúc cảm mạnh mẽ về mặt thính giác mà còn mang đến cho người đọc những trải nghiệm về một mùa thu mới lạ và độc đáo Nhịp của bài thơ là 2/2/3 rất quen thuộc trong thể thơ 7 chữ của Thơ mới, nhưng Xuân Diệu vẫn tạo được tính nhạc riêng nhờ nghệ thuật láy âm Ba cặp láy âm: âm

“iu” (liễu - đìu - hiu - chịu), âm “ang” (tang - ngàn - hàng), âm “uông” (buồn

- buông - xuống) làm cho các chữ thơ như quyện chặt vào nhau, dính vào

nhau Đặc biệt là ba chữ âm “ang” (âm mở) lại là thanh không dấu và dấu

huyền đứng ở cuối hai dòng thơ đã tạo nên một nhạc điệu buồn mênh mang lan toả thấm thía Câu thơ không thể đọc nhanh mà phải đọc chậm theo một nhịp dàn trải từng chỗ lên bổng xuống trầm du dương thú vị Chính điều này

đã tạo nên một mùa thu đầy khắc khoải trong lòng của bao thế hệ người đọc

Nhạc tính trong thơ Xuân Diệu và thứ nhạc tính mạnh mẽ với những âm sắc trầm, được tạo nên bởi cách sử dụng ngôn ngữ độc đáo, cách tân táo bạo làm nên một thế giới nghệ thuật khác biệt Với cách thể hiện mới lạ, gây ấn tượng mạnh mẽ với người đọc, dẫn dắt người đọc vào một thế giới hư hư thực thực, đầy âm sắc Qua đó thể hiện cái tôi thi nhân mãnh liệt và giàu cá tính

Ngôn ngữ thơ ngoài việc biểu hiện tính nhạc còn biểu hiện hình ảnh, sắc màu trong thơ Ngôn ngữ thơ là thứ ngôn ngữ có tính tinh luyện, hàm súc; ngôn ngữ gợi hình cụ thể; và có tính biểu cảm cao Macxim Gorki đã từng

Trang 31

nói: “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” Ngôn từ trong thơ có những

khác biệt so với ngôn từ bình thường, nó được xem là phần tinh lọc nhất của ngôn ngữ Và việc sử dụng ngôn từ như thế nào cũng chính là một trong những yếu tố quan trọng để hình thành nên phong cách nhà thơ Đối với Xuân Diệu, cách sử dụng từ ngữ của ông có vẻ tân kì và rất Tây Ví như trong bài

thơ Đây mùa thu tới, tác giả sử dụng những từ như “hơn một” và “rụng cành”, thay vì gọi “luồng gió” thi sĩ đã gọi là “luồng run rẩy”… Những từ ngữ mới

mẻ chưa từng có trước đây trong thi ca đã tạo cho người đọc cảm giác kì lạ và độc đáo, đồng thời đó cũng là điểm đặc trưng cho thi cảm của Xuân Diệu Như một nhà quay phim cận cảnh tài ba, Xuân Diệu đã đưa sát ống kính thi ca vào từng cảnh vật, cảm nhận tinh tế dù chỉ là rung động khẽ khàng của nhánh cây nhỏ bé, mảnh mai, đang run lên tựa những dây đàn Người đọc không chỉ nhìn mà còn có thể nghe được, cảm được những rung động ấy

Xuân Diệu còn đặc biệt ở chỗ, ông là người đã đưa nhục thể vào thơ

một cách đầy tinh tế bằng việc sử dụng những động từ mạnh như: “muốn”,

“ôm”, “riết”, “say”, “cắn”, “ngoàm”, “hút” …

Chúng ta đau, thôi em tới đây mà!

Mơn man nào, em đừng khóc, đôi ta

Thế, riết thế, hãy vòng tay chật nữa

Cho em hút những chút hồn đã rữa;

Cho em chuyền hơi độc rất tê ngon

(Sầu)

Trong thơ xưa chưa hề có cảm giác như thế, có mạnh mẽ, táo tợn như

Hồ Xuân Hương cũng chỉ dừng lại ở những hình ảnh mang tính chất ám tượng Tuy nhiên, không vì thế mà thơ Xuân Diệu trở nên trần trụi hay sống sượng, xác thịt mà trái lại thơ ông lại gợi lên những nồng nàn, thiết tha, rạo rực của tình yêu Thơ ông diễn tả một phần tất yếu của con người, mà khi đọc, người thưởng thức có thể dễ dàng đồng cảm với ông

Trang 32

Thế giới màu sắc của Xuân Diệu có phần đa dạng hơn, vừa có màu thực, vừa có màu hư Trong thơ ông thường tồn tại những màu sắc được pha trộn, đặc biệt là màu của cảm xúc

Hơn một loài hoa đã rụng cành

Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh

(Đây mùa thu tới)

Hay như:

Trăng ở đó Đất vườn thêu bóng lá

Trời trên kia vàng mạ, sáng như băng…

Hoa lài xanh dưới ánh nguyệt tuôn trời;

Ánh nguyệt trắng trên hoa lài đúc sữa

(Hoa đêm)

Mặc dù được xem là nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới nhưng Xuân Diệu vẫn sử dụng những màu sắc ước lệ trong thơ

Ta gửi trời ta giữa mắt nào

Ở gần má lửa, cạnh mày dao

Khi ta trở lại, trời đâu vắng

Lạnh lẽo mày xanh phản má đào

(Gửi trời)

Xây dựng những hình tượng về biển để viết đề tài về tình yêu như một

số nhà thơ khác, nhưng ở Xuân Diệu mỗi từ lại mang những cách cảm nhận, ý nghĩa và hiệu quả thẩm mĩ khác nhau

Đã hôn rồi hôn lại Cho đến mãi muôn đời

Đến tan cả đất trời

Anh mới thôi dào dạt

(Biển)

Trang 33

Động từ “tan” Xuân Diệu đã diễn tả một tình yêu mạnh mẽ, ước muốn

cháy bỏng muốn làm tan chảy mọi thứ xung quanh, khiến người đọc cảm nhận được tình cảm mãnh liệt của một người đàn ông với mong muốn khát khao chinh phục

Một bài thơ hay và để lại trong lòng người đọc những ấn tượng khó phai là một bài thơ có hình tượng nghệ thuật độc đáo Hình tượng nghệ thuật

là biểu hiện cho tư duy nghệ thuật của tác giả, là sự phản ánh hiện thực trong tính toàn vẹn, sinh động, cảm tính, cụ thể theo quy luật của cái đẹp Thông qua hình tượng nghệ thuật, chúng ta có thể nắm bắt được quan niệm và phong cách sáng tác của tác giả Trong nền thi ca Việt Nam, Xuân Diệu là một trong những hiện tượng văn học nổi bật, đặc biệt là trong lĩnh vực thơ tình yêu Nói đến tài năng của nhà thơ Xuân Diệu, không thể bỏ qua tài năng sử dụng ngôn ngữ của ông Bằng việc lựa chọn ngôn ngữ phù hợp, Xuân Diệu đã tạo nên những hình tượng nghệ thuật giàu tính thẩm mĩ

Đối với Xuân Diệu, ông không phải là người duy nhất đưa trái tim vào trong thi ca Trong văn học, đã từ lâu trái tim được coi là biểu tượng của tình yêu, của tình cảm con người Hình tượng này đã xuất hiện rất nhiều trong văn học cũng như trong đời sống Rất nhiều những tác gia lớn trên thế giới khi đề

cập đến tình yêu thì thường hay nói tới trái tim: “Ái tình không nhìn bằng mắt

mà cảm nhận bằng trái tim Vì vậy, nhân loại khắc họa thần tình ái có hai cánh nhưng con mắt mù loà” (W Shakespeare)

Ở Việt Nam, hình ảnh trái tim vốn được du nhập từ phương Tây đã được các nhà văn, nhà thơ sử dụng làm biểu tượng về tình yêu trong các sáng tác của mình Những sáng tác của Xuân Diệu cũng không ngoại lệ, hình ảnh

“trái tim” được sử dụng rất hiệu quả trong việc diễn tả các cung bậc tình yêu

trong thơ Xuân Diệu Xuân Diệu là người nghệ sĩ có sự giao cảm hết mình với cuộc đời trần tục Bằng hình ảnh trái tim, Xuân Diệu đã thể hiện một tình yêu đích thực, giao cảm tuyệt đối từ nhục dục đến tâm hồn Ông cảm nhận tình yêu bằng tất cả trái tim và tâm hồn nghệ sĩ của mình

Trang 34

Trái tim em thức đập

Nơi gốc của thời gian Một nhịp mạnh nhịp khẽ

Ẩy tay anh nồng nàn

Anh gìn giữ trái tim

Cho em yên giấc ngủ

Lo lắng bởi yêu thương Biết bao nhiêu là đủ Anh không hề dám nghĩ

Trái tim em lạc đường

Anh thức hoài thức huỷ

Anh là trái tim thương

(Trái tim em thức đập)

Trái tim cũng chính là nơi thể hiện sự tự cảm thấy mình, là nơi suy nghĩ

và thể hiện lăng kính nhìn sự vật, hiện tượng, cuộc sống, con người của tác giả Trong thơ Xuân Diệu, ngoài việc thể hiện trực tiếp hình tượng trái tim bằng

chính từ ngữ ấy, tác giả còn thể hiện hình tượng bằng từ “lồng ngực” dựa trên

mối quan hệ liên tưởng giữa chỉnh thể và bộ phận để nói về những cung bậc cảm xúc của tình yêu Từ đó mang lại những nhục cảm rất thực trong thơ

Hãy sát đôi đầu! Hãy kề đôi ngực!

Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài!

Những cánh tay! Hãy quấn riết đôi vai!

Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt!

Trang 35

Xuân Diệu cũng là nhà thơ vô cùng nhạy cảm với thiên nhiên Vì thế không thể thiếu trong thơ ông những hình ảnh của cỏ, cây, hoa, lá Chúng được nhà thơ sử dụng làm chất liệu để viết lên những trang thơ tình lãng mạn Trong số đó, hoa là vật có hương sắc và năng lực quyến rũ nhất Hình ảnh

“hoa” vì thế không thể thiếu được trong thơ ông Hình ảnh này xuất hiện

trong thơ ông có khi là hoa thật trong đời sống

Chen lá lục, những búp lài mở nửa Hớp bóng trăng đầy miệng nhỏ xinh xinh;

(Hoa đêm)

Có lúc ông gọi thẳng: Hoa kĩ nữ Phải chăng kỹ nữ đẹp như hoa mà hoa

cũng là kỹ nữ, người và hoa lúc này là một: “Miệng thở ra hương, hương toả

tình ngầm/ Hoa kĩ nữ đã mở lời trêu ghẹo…” Chính vì vậy mà ông đã tạo ra

sự kết hợp từ độc đáo: Người hoa - “Có lẽ người hoa nay đã tươi” (Gặp gỡ I), môi hoa “Và các môi hoa như sắp nói:/ Ái tình đẹp tựa chúng em đây.” (Rạo

rực) Như vậy, hình ảnh hoa trong đời thực khi bước vào thơ của Xuân Diệu

đã trở nên rất khác biệt, ông dùng hoa để nói đến người, nói đến vẻ đẹp của con người và tình yêu

Với một hồn thơ nồng nàn và nhạy cảm, Xuân Diệu là thi sĩ tiêu biểu cho thế hệ những nhà thơ mới đầu tiên của văn học Việt Nam giai đoạn 1930

- 1945 Được mệnh danh là “ông hoàng thơ tình”, thơ ca của ông mang vẻ

đẹp riêng, giá trị riêng đã tạo nên phong cách thơ Xuân Diệu

Trang 36

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP CỦA TỪ CHỈ TÂM TRẠNG

TRONG THƠ TÌNH XUÂN DIỆU

2.1 Đặc điểm từ loại của từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Xuân Diệu

2.1.1 Kết quả thống kê

Xuân Diệu đã xuất hiện trong phong trào Thơ mới với tất cả lòng say

mê, yêu đời, khát khao cảm thông, đòi yêu và được yêu Trong bài viết đầu tiên giới thiệu Xuân Diệu năm 1937, Thế Lữ - người tiên phong cho phong

trào Thơ mới đã nhận xét: “Thơ ông không phải là “văn chương” nữa, đó là

lời nói, là tiếng reo vui hay năn nỉ, là sự chân thành cảm xúc, hoặc là những tình ý rạo rực biến lẫn…”

Có thể nói, Xuân Diệu đã diễn tả hết sức tinh tế những cũng bậc tình cảm, cảm xúc của một trái tim đắm say sự sống, tuổi trẻ và tình yêu Chính vì thế, trong thơ tình Xuân Diệu các từ biểu thị tâm trạng xuất hiện với tần số

cao Qua khảo sát 136 bài thơ tình của Xuân Diệu, chúng tôi thống kê được

311 từ với 2.170 lần xuất hiện Từ chỉ tâm trạng có đủ 3 từ loại: Động từ, tính

từ, danh từ

2.1.1.1 Từ chỉ tâm trạng là động từ

Động từ là một trong hai từ loại cơ bản trong hệ thống từ loại tiếng Việt Động từ có số lượng khá lớn trong vốn từ vựng và có vai trò hoạt động ngữ pháp hết sức quan trọng trong việc tổ chức cấu tạo câu của tiếng Việt

Về đặc điểm ý nghĩa: Động từ biểu thị ý nghĩa hoạt động có quá trình hay những trạng thái nhất định của sự vật

Về đặc điểm ngữ pháp: Động từ làm thành tố trung tâm trong ngữ động

từ Khi làm trung tâm động từ có khả năng kết hợp với các thành tố phụ đứng trước hoặc đứng sau

Trang 37

Trong thơ tình Xuân Diệu, các động từ chỉ tâm trạng xuất hiện nhiều,

gồm các từ: buồn, thương, yêu, lo, sợ, nhớ, lo lắng, hồi hộp, đợi, vui, mê, say,

chờ đợi, chờ, ái ân, âu yếm, run rẩy, khóc,v.v

Động từ trong thơ Xuân Diệu có 121 từ, xuất hiện 895 lượt, chiếm tỉ lệ 41.2% để bổ trợ

Kết quả thống kê các động từ chỉ trạng thái tâm lý và số lần xuất hiện chúng được thể hiện ở bảng 2.1

Trang 38

TT Từ chỉ tâm trạng Số lần

xuất hiện TT Từ chỉ tâm trạng

Số lần xuất hiện

51 Rung (mình) 2 77 Tươi cười 3

56 Say khướt 2 82 Thương nhớ 4

Trang 39

TT Từ chỉ tâm trạng Số lần

xuất hiện TT Từ chỉ tâm trạng

Số lần xuất hiện

102 Vui mừng 3 120 Yêu thương 11

103 Vui sướng 8 121 Thao thức 5

Về đặc điểm ngữ pháp: Phần lớn tính từ tiếng Việt không tự thân có

nghĩa về mức độ, vì vậy nó thường kết hợp với phụ từ chỉ mức độ Ví dụ:

rất tốt, khá đẹp, yêu ghê…

Trang 40

Qua khảo sát, tính từ chỉ tâm trạng trong thơ Xuân Diệu có 140 từ, xuất hiện 926 lượt, chiếm tỉ lệ 42.7% Kết quả thống kê các tính từ chỉ tâm trạng

và số lần xuất hiện của tính từ được thể hiện ở bảng 2.2

Bảng 2.2 Các tính từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Xuân Diệu

TT Từ chỉ tâm trạng Số lần

xuất hiện TT Từ chỉ tâm trạng

Số lần xuất hiện

11 Hiu hắt/ (buồn) 1 32 Êm ái 2

Ngày đăng: 09/09/2021, 20:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2004), Từ điển Hán - Việt, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán - Việt
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2004
2. Vũ Tuấn Anh (1997), Nửa thế kỉ thơ Việt Nam (1945-1975), Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thế kỉ thơ Việt Nam (1945-1975)
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1997
3. Lại Nguyên Ân (2000), 150 từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
4. Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (1998), Ngữ pháp Tiếng Việt tập 1, 2, Nxb Giáo dục Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Tiếng Việt tập 1, 2
Tác giả: Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà nội
Năm: 1998
5. Nguyễn Nhã Bản (2001), Cơ sở ngôn ngữ học, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản
Năm: 2001
6. Huy Cận (1995), “Thơ tình Xuân Diệu”, Diễn đàn văn nghệ, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ tình Xuân Diệu”, "Diễn đàn văn nghệ
Tác giả: Huy Cận
Năm: 1995
7. Nguyễn Tài Cẩn (2004), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
8. Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2001
9. Phan Mậu Cảnh (2006), Ngữ pháp tiếng Việt - Các phát ngôn đơn phần, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt - Các phát ngôn đơn phần
Tác giả: Phan Mậu Cảnh
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2006
10. Đỗ Hữu Châu (1997), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1997
11. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
12. Nam Chi (1985), “Trường hợp Xuân Diệu con người và tác phẩm”, In trong Xuân Diệu tình đời và sự nghiệp, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường hợp Xuân Diệu con người và tác phẩm”, In trong "Xuân Diệu tình đời và sự nghiệp
Tác giả: Nam Chi
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1985
13. Lê Tiến Dũng (1993), Xuân Diệu, một đời người, một đời thơ, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân Diệu, một đời người, một đời thơ
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
14. Lê Tiến Dũng (1998), Những cách tân nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu giai đoạn 1932 - 1945, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cách tân nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu giai đoạn 1932 - 1945
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
15. Hữu Đạt (2000), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2000
16. Phan Cự Đệ (1966), Phong trào thơ mới, Nxb Khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào thơ mới
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Khoa học
Năm: 1966
17. Hà Minh Đức (1968), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Xã hội
Năm: 1968
18. Đinh Văn Đức (1986), Ngữ pháp tiếng Việt (Từ loại), Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt (Từ loại)
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1986
19. Hà Minh Đức (1993), Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
20. Hà Minh Đức, Huy Cận (Chủ biên) (1993), Nhìn lại cuộc cách mạng trong thơ ca, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại cuộc cách mạng trong thơ ca
Tác giả: Hà Minh Đức, Huy Cận (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Bảng thống kê các động từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Xuân Diệu  - Đặc điểm từ chỉ tâm trạng trong thơ tình xuân diệu
Bảng 2.1. Bảng thống kê các động từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Xuân Diệu (Trang 37)
Bảng 2.2. Các tính từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Xuân Diệu - Đặc điểm từ chỉ tâm trạng trong thơ tình xuân diệu
Bảng 2.2. Các tính từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Xuân Diệu (Trang 40)
Bảng 2.3. Bảng thống kê các danh từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Xuân Diệu  - Đặc điểm từ chỉ tâm trạng trong thơ tình xuân diệu
Bảng 2.3. Bảng thống kê các danh từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Xuân Diệu (Trang 44)
Như vậy, tổng hợp lại ba loại từ chỉ tâm trạng được thể hiệ nở bảng 2.4. - Đặc điểm từ chỉ tâm trạng trong thơ tình xuân diệu
h ư vậy, tổng hợp lại ba loại từ chỉ tâm trạng được thể hiệ nở bảng 2.4 (Trang 45)
Bảng 2.4. Bảng thống kê tổng hợp các từ loại chỉ tâm trạng trong thơ tình Xuân Diệu  - Đặc điểm từ chỉ tâm trạng trong thơ tình xuân diệu
Bảng 2.4. Bảng thống kê tổng hợp các từ loại chỉ tâm trạng trong thơ tình Xuân Diệu (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w