LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu đạt được của luận văn thạc sỹ “Ảnh hưởng của thức ăn, mật độ nuôi đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng cá lóc đen Channa stri
Trang 1-*** -
NGUYỄN THỊ KHUYÊN
ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN, MẬT ĐỘ NUÔI ĐẾN TỶ LỆ
SỐNG VÀ TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁ LÓC ĐEN (Chana
striata Bloch) GIAI ĐOẠN GIỐNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
NGHỆ AN - 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-*** -
NGUYỄN THỊ KHUYÊN
ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN, MẬT ĐỘ NUÔI ĐẾN TỶ LỆ
SỐNG VÀ TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁ LÓC ĐEN (Chana
striata Bloch) GIAI ĐOẠN GIỐNG
Chuyên ngành: Nuôi trồng thủy sản
Mã số: 60 62 03 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Kim Đường
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
NGHỆ AN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu đạt được của luận văn thạc
sỹ “Ảnh hưởng của thức ăn, mật độ nuôi đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng cá lóc đen (Channa striata Bloch) giai đoạn giống” chuyên ngành nuôi trồng thủy sản là của riêng cá nhân tôi, chưa được sử dụng để bảo vệ cho một học vị hay công trình nghiên cứu nào khác
Các thông tin sử dụng tham khảo trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng và tôn trọng bản quyền tác giả
Tác giả
Nguyễn Thị Khuyên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được trân trọng cảm ơn tới Ban Giám hiệu trường Đại học Vinh, phòng Sau đại học, khoa Nông Lâm Ngư - Trường Đại học Vinh đ tạo điều kiện thuận lợi để tôi được học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn Thạc sỹ
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn PGS TS Nguyễn Kim Đường, người đ định hướng và chỉ dẫn tận tình trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn ban quản lý nhiệm vụ quỹ gen cấp nhà nước”Khai thác và phát triển nguồn gen cá Chuối hoa (Channa maculata
Lacepede), cá Lóc đen (Channa striata Bloch), cá Ngạnh (Cranoglanis sinensis Peters) ở Bắc Trung Bộ” do ThS Nguyễn Đình Vinh làm chủ nhiệm, Trường Đại
học Vinh là cơ quan chủ trì đ tạo điều kiện hỗ trợ vật liệu, cơ sở vật chất và kinh phí để tôi thực hiện đề tài luận văn
Cảm ơn tập thể cán bộ Trại thực nghiệm thủy sản ngọt trường Đại học Vinh
đ tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có đủ điều kiện triển khai đề tài luận văn Cảm ơn tới Gia đình, bạn b và đồng nghiệp đ động viên, c v và gi p đ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
M c d đ có nhiều cố gắng, song luận văn tốt nghiệp không thể tránh khỏi
nh ng thiếu sót Kính mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của Hội đồng khoa học, thầy, cô giáo và các bạn
Tác giả
Nguyễn Thị Khuyên
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Đặc điểm sinh học cá lóc đen 3
1.1.1 Vị trí phân loại cá lóc đen 3
1.1.3 Đặc điểm sinh sản cá lóc đen 3
1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng cá lóc đen 3
1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng cá lóc đen 5
1.2 Phân bố của cá lóc đen 5
1.3 Tình hình nghiên cứu về cá lóc đen trên thế giới 6
1.4 Tình hình nghiên cứu về cá lóc đen ở Việt Nam 11
1.5 Tình hình nghiên cứu về thức ăn và mật độ nuôi của các loài cá trong họ cá quả Chanidae 13
1.6 Tình hình nghiên cứu về thức ăn cho cá lóc đen 15
1.7 Tình hình nghiên cứu về mật độ nuôi cá lóc đen 18
1.8 Triển vọng nghề nuôi cá lóc đen Nghệ An 20
Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.2 Thiết kế nghiên cứu 21
2.3 Các dụng cụ, thiết bị, hoá chất dùng trong nghiên cứu 23
2.4 Phương pháp nghiên cứu 23
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 23
2.4.2 Các chỉ tiêu và phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu 24
Trang 62.5 Phương pháp xử lý số liệu 25
2.6 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 25
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
3.1 Một số yếu tố môi trường nước trong ao thí nghiệm 26
3.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng chiều dài thân của cá lóc đen giai đoạn giống 27
3.2.1 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng tích lũy chiều dài thân của cá lóc đen giai đoạn giống 28
3.2.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng tuyệt đối chiều dài thân của cá lóc đen giai đoạn giống 29
3.2.3 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng tương đối chiều dài thân của cá lóc đen giai đoạn giống 31
3.3 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng về khối lượng của cá lóc đen giai đoạn giống 32
3.3.1 Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng tích lũy khối lượng của cá lóc đen giai đoạn giống 33
3.3.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng của cá lóc đen giai đoạn giống 35
3.3.3 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng của cá lóc đen giai đoạn giống 37
3.4 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống tích lũy của cá lóc đen giai đoạn giống 39
3.5 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến tốc độ tăng trưởng về chiều dài thân của cá lóc đen giai đoạn giống 40
3.5.1 Ảnh hưởng của các mật độ ương nuôi đến tăng trưởng tích lũy chiều dài thân của cá lóc đen giai đoạn giống 41
3.6.2 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài thân của cá lóc đen giai đoạn giống 43
3.6.3 Ảnh hưởng của mật độ đến tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều dài thân của cá lóc đen giai đoạn giống 45
Trang 73.7 Ảnh hưởng của mật độ đến tốc độ tăng trưởng về khối lượng của cá lóc
đen giai đoạn giống 46
3.7.1 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến tốc độ tăng trưởng tích lũy về khối lượng của cá lóc đen giai đoạn giống 47
3.7.2 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng của cá lóc đen giai đoạn giống 48
3.7.3 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng của cá lóc đen giai đoạn giống 49
3.8 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến tỷ lệ sống tích lũy của cá lóc đen giai đoạn giống 51
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
PHỤ LỤC HÌNH ẢNH 56
Trang 8
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nội dung chữ viết tắt ADG Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối theo ngày SGR Tốc độ tăng trưởng tương đối theo ngày
TA Thức ăn
MĐ Mật độ
TLS Tỷ lệ sống
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Khẩu phần thức ăn cá lóc đen giai đoạn giống 4
Bảng 1.2 Hàm lượng protein của cá lóc đen so với các loài cá khác 7
Bảng 1.3 Hàm lượng dinh dưỡng của cá lóc đen Channa striata 8
Bảng 1.4 Thành phần các axit amin của cá lóc đen Channa striata [16] 8
Bảng 3.1 Một số yếu tố môi trường nước trong ao trong quá trình thí nghiệm 26
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng chiều dài thân của cá lóc đen 27 giai đoạn giống 27
Bảng 3.3 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng tích lũy chiều dài thân của cá lóc đen giai đoạn giống 28
Bảng 3.4 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng tuyệt đối chiều dài thân của cá lóc đen giai đoạn giống 30
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng tương đối chiều dài thân của cá lóc đen giai đoạn giống 31
Bảng 3.6 Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng về khối lượng cá lóc đen 32 Bảng 3.7 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng tích lũy về khối lượng của cá lóc đen giai đoạn giống 34
Bảng 3.8 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng của cá lóc đen giai đoạn giống 36
Bảng 3.9 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng của cá lóc đen giai đoạn giống 38
Bảng 3.10 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống tích lũy của cá lóc đen giai đoạn giống 39
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến tăng trưởng theo chiều dài thân của cá lóc đen giai đoạn giống 41
Bảng 3.12 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến tăng trưởng tích lũy về chiều dài thân của cá lóc đen giai đoạn giống 42
Trang 10Bảng 3.13 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về
chiều dài thân của cá lóc đen giai đoạn giống 43 Bảng 3.14 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến tốc độ tăng trưởng tương đối về
chiều dài thân của cá lóc đen giai đoạn giống 45 Bảng 3.15 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến tốc độ tăng trưởng vê khối lượng
của cá lóc đen giai đoạn giống 46 Bảng 3.16 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến tốc độ tăng trưởng tích lũy về
khối lượng của cá lóc đen giai đoạn giống 47 Bảng 3.17 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về
khối lượng của cá lóc đen giai đoạn giống 48 Bảng 3.18 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến tốc độ tăng trưởng tương đối về
khối lượng của cá lóc đen giai đoạn giống 50 Bảng 3.19 Ảnh hưởng của mật độ ương nuôi đến tỷ lệ sống tích lũy của cá lóc
đen giai đoạn giống 51
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Cá lóc đen 3 Hình 1.2 Phân bố cá lóc đen trên thế giới (phần màu đỏ) 5 Hình 1.3 Phân bố của Channa striata trên thế giới (Phần màu đỏ biểu thị phân
bố cá lóc đen) 6 Hình 1.4 Sản lượng cá Lóc đen toàn cầu và sản lượng cá sản xuất được
Hình 3.1 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng tích lũy chiều dài
thân của cá lóc đen giai đoạn giống 29 Hình 3.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng tuyệt đối chiều dài thân
của cá lóc đen giai đoạn giống 30 Hình 3.3 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng tương đối chiều dài
thân của cá lóc đen giai đoạn giống 32 Hình 3.4 Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng tích lũy khối lượngcủa cá
lóc đen giai đoạn giống 34 Hình 3.5 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối
lượng của cá lóc đen giai đoạn giống 36 Hình 3.6 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng tương đối về khối
lượng của cá lóc đen giai đoạn giống 38Hình 3.7 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống của cá lóc đen giai đoạn
giống 40 Hình 3.8 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến tốc độ tăng trưởng tích lũyvề chiều
dài thân của cá lóc đen giai đoạn giống 42 Hình 3.9 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về
chiều dài thân của cá lóc đen giai đoạn giống 44 Hình 3.10 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến tốc độ tăng trưởng tương đốivề
chiều dài thân của cá lóc đen giai đoạn giống 45 Hình 3.11 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến tăng trưởng tích lũyvề khối lượng
của cá lóc đen giai đoạn giống 48
Trang 12Hình 3.12 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về
khối lượng của cá lóc đen đen giai đoạn giống 49 Hình 3.13 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến tốc độ tăng trưởng tương đối về
khối lượng của cá lóc đen đen giai đoạn giống 50 Hình 3.14 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến tỷ lệ sống tích lũycủa cá lóc đen
giai đoạn giống 51
Trang 13MỞ ĐẦU
Cá lóc đen Channa striata là loài cá nuôi đặc trưng của nhiều vùng trong
cả nước Cá lóc đen có thịt thơm ngon và giá trị kinh tế cao Ngoài tiêu thụ nội địa, cá lóc đen còn có triển vọng là mặt hàng xuất khẩu sang thị trường nước ngoài và được ưa chuộng
Từ năm 1997, Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản II và trường Đại học Cần Thơ đã nghiên cứu và cho sinh sản thành công giống cá lóc đen trong điều kiện nhân tạo Việc ứng dụng kích thích tố sinh sản vào việc nhân giống cá lóc đen đang ứng dụng được phổ biến rộng rãi tại Đồng bằng sông Cửu Long
Hiện nay ở nhiều tỉnh miền Bắc như Bắc Ninh, Bắc Giang, Ninh Bình, Hải Dương, phong trào nuôi cá lóc đen phát triển rất mạnh, nhu cầu con giống đang nhân tạo ngày càng tăng cao Tuy nhiên con giống phục vụ nuôi cá lóc đen
ở miền Bắc hiện nay hầu hết vẫn đang phụ thuộc vào cá giống vận chuyển từ miền Nam ra Quá trình vận chuyển giống cá lóc đen từ miền Nam ra chi phí quá cao, thời gian vận chuyển dài và dẫn đến tỷ lệ hao hụt lớn nên gây khó khăn cho nghề nuôi cá lóc đen Tỷ lệ sống của cá giống nhập từ miền Nam về thường chỉ đạt 30-50%, không đủ số lượng để đáp ứng cho nuôi cá lóc đen ở miền Bắc
Từ năm 2004, nhiều tỉnh thành miền Bắc đã được tiếp nhận công nghệ sản xuất cá lóc đen trong điều kiện nhân tạo, nhưng do việc lưu giữ cá bố mẹ qua mùa đông không thành công nên việc sản xuất giống không hiệu quả Ở Nghệ An
đã có nghiên cứu về lưu giữ cá lóc bố mẹ qua đông thành công đã bước đầu đặt nền móng cho việc nghiên cứu sản xuất giống cá lóc đen tại địa bàn tỉnh nói riêng và Bắc Trung Bộ nói chung
Nghệ An là một trong những tỉnh phát triển nuôi trồng thủy sản (NTTS) lớn của khu vực Bắc Trung bộ Diện tích tiềm năng có thể đưa vào nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh Nghệ An là 35.441 ha, diện tích nuôi nước ngọt là 31.569 ha, phong phú về đối tượng nuôi, đa dạng về hình thức nuôi Trong đó cá lóc đen
(Channa striata Bloch, 1973) là đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao, là nguồn
thực phẩm được ưa chuộng trong bữa ăn hàng ngày của người dân
Trang 14Hiện nay các hộ nuôi cá lóc đen tại Nghệ An đã thành lập Hiệp hội nuôi
cá lóc đen với 120 thành viên tham gia Chỉ tính riêng sản lượng cá thương phẩm của hội viên trong Hiệp hội năm 2008 cung cấp cho thị trường tổng cộng trên
400 tấn cá lóc đen thương phẩm Đặc biệt có những hộ nuôi đã thành tỷ phú nhờ nuôi cá lóc đen như hộ ông Long Vân ở phường Nghi Hòa, thị xã Cửa Lò với mô hình nuôi trong bể xi măng đạt năng suất 20÷30 kg/m3; hộ anh Đô ở phường Vinh Tân (TP Vinh) nuôi trong ao đạt năng suất 50÷60 tấn/ha
Nhu cầu cá giống phục vụ cho nghề nuôi cá lóc đen tại Nghệ An mỗi năm cần hơn 1 triệu con và dự kiến sẽ tăng mạnh do hiệu quả cao từ các mô hình nuôi [12]
Xuất phát từ nhu cầu khoa học và thực tiễn trên chúng tôi chọn thực hiện
đề tài: “Ảnh hưởng của thức ăn, mật độ nuôi đến tỷ lệ sống và tăng trưởng của
cá lóc đen (Channa striata Bloch) giai đoạn giống”
Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được loại thức ăn phù hợp nuôi cá lóc đen giai đoạn giống
- Xác định mật độ nuôi phù hợp trong nuôi cá lóc đen giai đoạn giống
Nội dung nghiên cứu
- Xác định ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau đến tỷ lệ sống của cá lóc đen giai đoạn giống
- Xác định ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau đến tốc độ tăng trưởng của cá lóc đen giai đoạn giống
- Xác định ảnh hưởng của mật độ nuôi khác nhau đến tỷ lệ sống của cá lóc đen giai đoạn giống
- Xác định ảnh hưởng của mật độ nuôi khác nhau đến tốc độ tăng trưởng của cá lóc đen
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Đặc điểm sinh học cá lóc đen
1.1.1 Vị trí phân loại cá lóc đen
Hệ thống phân loại của cá lóc đen
1.1.3 Đặc điểm sinh sản cá lóc đen
Cá lóc đen sau 1 tuổi bắt đầu đẻ trứng, mùa vụ sinh sản từ tháng 4-8, tập trung vào tháng 4-5 Trong tự nhiên, cá thường đẻ trứng vào sáng sớm sau những trận mưa rào một hai ngày nơi yên tỉnh có nhiều cây thủy sinh Ở nhiệt
độ 20-35 0C sau 3 ngày trứng nở thành cá bột, khoảng 3 ngày sau cá tiêu hết noãn hoàng và bất đầu ăn được thức ăn tự nhiên bên ngoài
1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng cá lóc đen
Sau khi nở, luân trùng Brachionus plicatilis được xem là thức ăn đầu tiên
tốt nhất của cá bột Ngoài ra có thể cho ăn nấm men, lòng đỏ trứng hay thức ăn
Trang 16tổng hợp dạng bột Giai đoạn kế tiếp cho ăn trứng nước Moina, Daphnia hay trùng chỉ, ấu trùng muổi đỏ Giai đoạn cá giống, sâu gạo và dòi là thức ăn ưa thích của cá Một số thí nghiệm trên cá bột cho thấy cá có khả năng sử dụng thức
ăn trứng nước kết hợp với đạm đơn bào Thức ăn Moina vẫn là thức ăn tốt nhất đối với cá bột trong 3 tuần lễ đầu Rhizopus arrhizus hay đạm đơn bào (125 µm) được sản xuất từ kỹ thuật lên men sử dụng dầu cọ làm nguồn carbon chính Giai đoạn cá lớn thường cho ăn cá tạp, phụ phế phẩm từ các nhà máy chế biến đầu tép, tôm, ếch, cá hay thức ăn chế biến và thức ăn viên
Cá lóc là loài cá dữ, có dạng hình tròn dài Lược mang dạng hình núm Thực quản ngắn, vách dầy, bên trong là nếp nhăn thực quản Dạ dày to hình chữ Y
Cá lóc là loài cá dữ, tính ăn động vật điển hình, thành phần thức ăn bao gồm nhiều loài động vật tươi sống như cá tạp, tép, ếch, nhái, cua, ốc, (Mohsin và Ambak, 1983) Quan sát ống tiêu hóa của cá cho thấy thức ăn cá tạp chiếm 63,01%, tép 35,94%, ếch nhái 1,03% và sau cùng là bọ gạo, côn trùng và mùn bã hữu cơ chiếm 0,02%
Cá lóc là loài ăn động vật tuy nhiên trong quá trình nuôi, người nuôi cá có thể tập luyện cá giống quen dần với các loại thức ăn công nghiệp, thức ăn tự chế biến từ các nguồn nguyên liệu địa phương như cá tạp, tấm, cám, bắp và vitamin C, có hàm lượng protein 26-28% Hiện nay đã có thức ăn viên chuyên dùng cho cá lóc, hệ số thức ăn dao động 1,2-1,3
Khẩu phần cho ăn: Được định lượng cho phù hợp với các nhu cầu dinh dưỡng và tình hình sức khỏe ở các giai đoạn phát triển của cá có thể tóm tắt như trên Bảng 1.1
Bảng 1.1 Khẩu phần thức ăn cá lóc đen giai đoạn giống
Kích cỡ cá giống (g/con) Khẩu phần thức ăn (%)
Trang 171.1.5 Đặc điểm sinh trưởng cá lóc đen
Cá lớn nhanh vào mùa xuân hè Cá lóc 1 tuổi dài 19-39 cm, nặng 100-750 g
Cá hai tuổi thân dài 38-45 cm, nặng 600-1400 g Cá ba tuổi dài 45-59 cm, nặng
1.200-2.000 g Cá có thể sống trên 10 năm dài 67-85 cm, nặng 7000-8000 g [1]
1.2 Phân bố của cá lóc đen
Cá lóc đen phân bố rộng khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là vùng nước ngọt thuộc Ấn Độ Dương và các đảo thuộc Thái Bình Dương; từ lưu vực sông Indus Pakistan tới hầu hết các sông hồ Ấn Độ, miền nam Nepal, Trung Quốc, Indonesia,
các nước Đông Dương trong đó có Việt Nam (Nguồn: Distribution of Channa
striata.[2] Madagascar reports are misidentifications of C maculata)
Hình 1.2 Phân bố cá lóc đen trên thế giới (phần màu đỏ)
Cá lóc Channa striata có nhiều tên gọi tương ứng với các quốc gia khác
nhau: chevron snakehead (Pakistan); murrel (Ấn Độ); haal, shawl, shol (Assam, India); hal path maha, lulla (Sinhalese, Sri Lanka); trey raws (Cambodia); cá lóc (Viet Nam); dalag, dalak (Philippines)…[17]
Ng và Lim (1990) [15] liệt kê loài này từ "vùng nước mở", và chúng sống ở vùng nước nông (1 m hoặc ít hơn) với thảm thực vật dày đặc Tại Ấn
Trang 18Độ, cá lóc đen có thể được tìm thấy trong các hồ chứa và các ruộng lúa (Jhingran, 1984) [15] Trong vườn Quốc gia Keoladeo, Bharatpur, bang Rajasthan, phía bắc miền trung Ấn Độ, chúng có mặt trong thủy vực nước chảy có thảm thực vật dày đặc (Kumar và Mittal, 1993) Herre (1924), Umali (1950), và Conlu, 1986) [15] ghi nhận sự có mặt của cá lóc đen từ các hồ chứa và sông vùng đồng bằng ở Philippines, hồ miệng núi lửa ở độ cao khoảng 1.050 m trên mực nước biển [15]
Cá lóc sống ở hầu hết các thủy vực, đồng ruộng, kênh rạch, ao hồ, đầm, sông thích hợp cả nước đục, tù đọng và vùng có nhiều rong đuôi chó, cỏ bèo
Cá có cơ quan hô hấp phụ ở mang trên và bong bóng dài không thông với thực quản, chúng có thể sử dụng được oxy từ không khí, nên có khả năng sống lâu trên cạn Cá lóc phân bố những vùng có pH 7-8, nhiệt độ 23-27 0C, độ sâu 1-10
m Mùa hè thường sống ở trên tầng mặt, mùa đông khi nhiệt độ dưới 80
C cá thường xuống sâu hơn, ở nhiệt độ 6 0C cá ít hoạt động.[1]
1.3 Tình hình nghiên cứu về cá lóc đen trên thế giới
Cá lóc đen là đối tượng nuôi phổ biến ở các thủy vực nước đứng từ Sri Lanka đến Indonesia, Philippines và Trung Quốc Trung Quốc, Indonesia, các nước Đông Dương trong đó có Việt Nam
Hình 1.3 Phân bố của Channa striata trên thế giới
(Phần màu đỏ biểu thị phân bố cá lóc đen)
Trang 19Từ những năm đầu thập kỷ 70, cá lóc đen đã được nuôi ghép với cá loài
cá khác nhằm mục đích kiểm soát mật độ cá rô phi trong ao Ở nhiều quốc gia châu Á đã có nghiên cứu khá sớm về loài cá này, tập trung chủ yếu về mối quan hệ của chúng với sản xuất lúa nước như E Amilhat và K Loenen (1993)
đã tiến hành gắn thẻ cho cá nhằm nghiên cứu môi trường sống, di cư, tỷ lệ tử vong và tăng trưởng của chúng tại một vùng nông nghiệp phía đông bắc Thái Lan, Ahyaudin B Ali nghiên cứu về sinh học sinh sản của cá lóc, sinh sản của
cá lóc cái thu được từ các cánh đồng lúa và thủy lợi, kênh mương thoát nước tại Perak, Malaysia
Trên thế giới nghề nuôi cá lóc phát triển mạnh với nhiều mô hình nuôi, hình thức nuôi khác nhau Phổ biến ở Thái Lan và Hồng Kông là mô hình nuôi bán thâm canh trong ao đất với thời gian nuôi từ 6-7 tháng với thức ăn công nghiệp bổ sung gạo, tấm, cám…Ở Đài Loan, cá lóc được nuôi chung với cá rô phi, cá chép, [15]
Cá lóc là loài cá có giá trị dinh dưỡng cao, hàm lượng protein trong cá lóc
so với các loài cá khác được liệt kê theo bảng sau: [16]
Bảng 1.2 Hàm lượng protein của cá lóc đen so với các loài cá khác
Nguồn: Histopathological analysis of the respiratory organs of Channa striata
subjected to air exposure [16]
Trang 20Cá lóc đen là một trong những đối tượng nuôi có giá trị kinh tế được nuôi nhiều nhất trên thế giới, nhất là ở các nước Đông Dương Tổng sản lượng đánh bắt của loài này theo số liệu thống kê của FAO năm 1999 là 32.938 tấn, trong đó Thái Lan là nước có số lượng lớn nhất 27.500 tấn [15]
Bảng 1.3 Hàm lượng dinh dưỡng của cá lóc đen Channa striata
Nguồn: Albumin and ZinC content of snakehead fish extract and its role in
health [15]
Bảng 1.4 Thành phần các axit amin của cá lóc đen Channa striata [16]
Nguồn: Histopathological analysis of the respiratory organs of Channa striata
subjected to air exposure [16]
Chất dinh dưỡng Giá trị dinh dưỡng
Protein (g) 3,36 ± 0,29 Albumin (g) 2,17 ± 0,14 Total fat (g) 3,36 ± 0,29 Total glucose (g) 3,36 ± 0,29
Trang 21Một vài báo cáo khác nhau cho thấy sự xuất hiện của chúng lần đầu tiên ở Haiwai năm 1900 (Jordan and Evermann, 1903; Cobb, 1905; Smith, 1907; Tinker, 1944; Brock, 1952, 1960) [15], ở Madagascar năm 1978 (Raminosoa, 1987; Reinthal and Stiassny, 1991; Stiassny and Raminosoa, 1994; Leveque
1998 [15]); bán đảo Vogelkop, Papua, Indonesia, có thể nằm trong thời gian từ những năm 1970 và đƣợc xác nhận bằng hình ảnh của Gerald Allen năm 2002; Sundaland, Sulawesi, Lesser Sundas, Moluccas, (Kotellat and others, 1993; Lever, 1996) [15]
Hình 1.4 Sản lƣợng cá Lóc đen toàn cầu và sản lƣợng cá sản xuất đƣợc
1950-2010 (Nguồn: FAO fishstat) [18]
Herre (1924) [18] cho rằng cá lóc ở Hawaii có nguồn gốc từ miền Nam
Trung Quốc Tuy nhiên Kottelat và cs (1993), lại cho rằng cá lóc đen (Channa
Trang 22striata) ở miền Nam Trung Quốc nhưng nó không phải là loài bản địa ở đây, nó
được nhập vào có thể từ Philippines từ những năm đầu 1800 thông qua các mô tả
của Peters (1868) về hai loài cá Ophiocephalus vagus và O philippinus)
Grzimek (2003) và Jais (2007) [18] cho rằng cá lóc đen có nguồn gốc tại Malaysia và Đông Nam Á, một loài khác cùng họ Channidae tồn tại ở châu Phi Một số loài đã được du nhập vào Bắc Mỹ và Nam Mỹ (Courtenay W.J và cs., 2004)
Kích thước cá lóc đen có thể lên đến 90 cm (Bardacha và cộng sự, 1972), 91,4
cm (Sen, 1985) [18], có thể đạt chiều dài 30-36 cm trong 1 năm (Bhatt, 1970) Talwar và Jhingran (1992) cho rằng, loài này là thành thục sinh dục ở kích thước
30 cm và cần 2 năm để đạt được kích thước đó Murugesan (1978), ghi nhận mức tăng trưởng 1,3-3,0 mm/ngày trong 3 tháng đầu tiên, sau đó tăng 0,3-0,9 mm/ngày Chiều dài của cá lóc đen tại bang Kerala, Ấn Độ từ 25-27 cm ở tháng thứ 13+ và 23,4-31,7 cm trong tháng 9+; cá lóc đen trong 2 năm tại Tây Bengal đạt 32 cm/2 năm và 30.51 cm ở Madras Trên các sông của bang Uttar Pradesh, chiều dài cá lóc 2 năm tuổi đạt 32 cm [18]
Lee và Ng (1991) [18] chỉ ra cá lóc đen thường sống đơn độc ngoại trừ trong mùa sinh sản Tại Ấn Độ, cá cái sinh sản hầu hết các tháng trong năm, đạt vài trăm đến hơn 1.000 quả trứng (Parameswaran và Murugesan, 1976a; Talwar
và Jhingran, 1992) Đỉnh sinh sản trùng với lượng mưa cao nhất (Parameswaran
và Murugesan, 1976a) Howell (1913) cho biết kích thước trứng trung bình khoảng 1,25 mm, trứng nở trong 1-3 ngày Cá cái trưởng thành ở năm 2 tuổi và kích thước trên 30 cm (Talwar và Jhingran, 1992; Ali, 1999) Trứng nổi lên bề mặt sau khi thụ tinh (Lee và Ng, 1991) Trứng cá nổi và được bảo vệ bởi cá bố
mẹ (Lowe-McConnell, 1987) [18]
Herre (1924) chỉ ra rằng ở Philippines, C striata đẻ trứng trong suốt
năm, mà có nhiều cá thể đẻ trứng mỗi năm hai lần Ali (1999) khẳng định cá cái thành thục có mặt quanh năm trong ruộng lúa ở Perak, Tây Bắc Malaysia Thời kỳ sinh sản cao điểm ở phía tây nam Sri Lanka xảy ra giữa tháng 5 và tháng 9, với thời kỳ sinh sản thứ cấp tháng 10 đến hết tháng 12
Trang 23(Kilambi, 1986) Jhingran (1984) nhận thấy cá cái có khả năng sinh sản 3,000-30,000 noãn
Cá lóc là động vật ăn thịt, giun, tôm, ếch, và các loài cá khác (Mohsin và Ambak, 1983) Dasgupta (2000) nghiên cứu tại vùng biển Tây Beganl, Ấn Độ cho thấy cá lóc tiêu thụ thức ăn chủ yếu là côn trùng (40%) tiếp theo là cá (30%)
và động vật giáp xác (10%) trong vùng biển của Tây Bengal, Ấn Độ Ng và Lim
(1990) mô tả các răng nanh mở rộng của Chana striata là "trụ trong mặt cắt
ngang, lý tưởng cho việc giết con mồi
Năm 1999, Hội nghiên cứu kinh doanh nông nghiệp nhỏ Mỹ tài trợ cho một dự án giai đoạn II cho Công ty Waialua của Hawaii số tiền 230,000 USD
trong 24 tháng để phát triển nuôi thương phẩm cá lóc Channa striata Giai đoạn
I nghiên cứu đã thiết lập tính khả thi của việc nuôi và cho sinh sản cá lóc đen, cho cá ăn thức ăn nhân tạo Mục tiêu nghiên cứu của giai đoạn 2 là sản xuất của
cá giống trong điều kiện nhân tạo, nghiên cứu bổ sung thức ăn
Năm 1975 Trung Quốc đã thành công trong việc tổng hợp và sử dụng kích dục tố LRH nhân tạo cho cá đẻ Kết quả này đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới, dẫn tới việc sản xuất thành công giống nhân tạo của nhiều loài cá trong đó
có giống cá lóc đen [15]
Từ việc sản xuất được con giống, đã thúc đẩy nghề nuôi cá lóc đen phát triển mạnh ở nhiều quốc gia như Đài Loan, Thái Lan, Philippine, Indonesia, với sản lượng ngày càng tăng
Hiện nay, quy trình sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá lóc đen đang ngày càng được hoàn thiện, tuy nhiên do tập tính dễ phân đàn và ăn thịt lần nhau
đã ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ sống của cá trong quá trình ương, vấn đề này đang được nhiều quốc gia quan tâm nhằm hoàn thiện hơn nữa quy trình kỹ thuật nuôi cá lóc đen
1.4 Tình hình nghiên cứu về cá lóc đen ở Việt Nam
Việt Nam có 4 loài thuộc giống cá lóc, bao gồm: Channaorientalu, C
lucius, C micropeltes, C striata và 4 loài ở khu hệ cá nước ngọt miền Bắc Việt
Nam, bao gồm: Channa orientalu, C striata, C maculatus và C asiatica
Trang 24Nghề nuôi cá lóc đạt sản lượng tới 40.000 tấn/năm, chỉ xếp sau cá tra, tôm
sú, có nhiều hộ nuôi cá đạt trên 14 tấn sản phẩm/năm, Cá lóc là loài cá đặc trưng
ở nước ta và đang được nông dân nuôi nhiều ở ĐBSCL, nhất là các tỉnh như An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ,
Cá lóc thịt ngon, ngọt, được chuộng dùng chế biến thực phẩm trong bữa
ăn thường ngày của các gia đình còn có thể chế biến tạo giá trị gia tăng và bảo quản dùng được lâu như làm mắm, phơi khô, chà bông
Trên thị trường nội tiêu, kết quả cuộc khảo sát tiêu dùng của Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ cho thấy người tiêu dùng ở các đô thị và nông thôn vùng ĐBSCL khi chọn mua cá cho bữa ăn gia đình thì vẫn ưu tiên hàng đầu là mua cá lóc, sau đó lần lượt tới cá rô đồng, cá biển, cá tra, cá điêu hồng Bắt mạch nhu cầu, từ khi chủ động tạo được nguồn cá giống nhân tạo và các khâu ương giống, phòng trị một số bệnh cá trong quá trình nuôi, sản lượng cá lóc không ngừng tăng lên
Ở Đồng bằng sông Cửu Long cá lóc đen có thể nuôi thâm canh trong ao
và bè đều đạt năng suất cao Mô hình nuôi cá lóc trong bè với mật độ 30-50 con/m3 sử dụng thức ăn cá tạp và tấm, gạo, sau 8 tháng nuôi đạt 1,5-2,5 kg/con [7]
Vào những năm 1960 nghề nuôi cá lóc bông trong lồng bè đã xuất hiện ở Châu Đốc (An Giang) và Hồng Ngự (Đồng Tháp) Từ năm 1990 đến nay, nghề nuôi cá lóc đen ở vùng ảnh hưởng lũ trở nên phổ biến Cá lóc nuôi tương đối dễ,
có thể nuôi ở dạng bán thâm canh, thâm canh với nhiều hình thức đơn giản như nuôi trong ao đất, trong lồng bè, trong mương hay trên ruộng lúa Cá lóc đen lớn nhanh, thu hoạch sau 4-5 tháng nuôi nên có thể tăng lên 2 vụ/năm Theo so sánh hiệu quả các mô hình, chi phí nuôi cá lóc trong lồng bè là cao nhất (khoảng 2,3 triệu đồng/m3/vụ); kế đến là nuôi ao nổi khoảng 1,9 triệu đồng/m3/vụ và chi phí thấp nhất là nuôi ao đất [11]
Trang 251.5 Tình hình nghiên cứu về thức ăn và mật độ nuôi của các loài cá trong họ cá quả Chanidae
Trần Thị Thanh Hiền và ctv, 2009 [6] (Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ nghiên cứu thay thế bột cá bằng bột đậu nành làm thức ăn cho cá lóc bông
Kết quả nghiên cứu cho thấy khi sử dụng bột đậu nành hoặc kết hợp bột nành với các nguồn protein khác có thể thay thế bột cá dao động từ 30-75% khi làm thức ăn cho một số loài cá như cá đù (Nibea miichthioides), cá tráp mõm
nhọn (Diplodus puntazzo), cá da trơn Nam Mỹ (Silurus meridionalis), cá chỉ vàng (Lutjanus argentimaculatus) và cá rô phi vằn giống (Oreochromis
niloticus) Đối với cá lóc giống (Channa striata) khi thay thế protein bột cá bằng
protein bột đậu nành trong công thức thức ăn thì khả năng thay thế đạt 30% (Trần Thị Thanh Hiền, 2008, [5])
Nghiên cứu được tiến hành để xác định khả năng thay thế protein bột cá bởi protein bột đậu nành, có bổ sung enzym phytase làm thức ăn cho cá lóc bông Nghiệm thức thức ăn đối chứng với nguồn cung cấp protein là bột cá, 4 nghiệm thức còn lại có mức protein bột cá được thay thế bởi protein bột đậu nành lần lượt là 20%, 30%, 40%, 50% và có bổ sung 0,02% phytase Cá lóc bông giống chọn làm thí nghiệm có khối lượng từ 4-5 g/con, được bố trí ngẫu nhiên trong 15
bể (100 lít/bể), với mật độ 25 con/bể Cá được cho ăn theo nhu cầu, 2 lần trên ngày Sau 8 tuần thí nghiệm, thì cá nuôi ở các nghiệm thức không có sự khác biệt
về tỷ lệ sống (77,3-80%) So với nghiệm thức đối chứng và các nghiệm thức có bột đậu nành thay thế ở mức 20%, 30%, 40% thì không có sự khác biệt về tăng trưởng của cá, hệ số thức ăn, hiệu quả sử dụng protein Còn nghiệm thức 50% bột đậu nành thay thế bột cá thì có khác biệt khi so sánh về các chỉ tiêu trên, trừ
hệ số thức ăn Kết quả cũng cho thấy rằng không có sự khác biệt về thành phần protein trong cơ thể cá ở các thí nghiệm khi tăng mức bột đậu nành Về mặt kinh
tế, ở mức thay thế 40% bột đậu nành cho bột cá làm thức ăn cho cá lóc bông thì giảm chi phí thức ăn/1kg và chi phí thức ăn/kg cá tăng trọng lần lượt là 10.8% và 4.83% [5]
Trang 26Cá lóc bông (Channa micropeltes) được nuôi phổ biến ở vùng Đồng bằng
Sông Cửu long Trong giai đoạn nhỏ, những con có kích thước lớn thường cắn hay ăn những con cá kích thước nhỏ hơn dẫn đến tỉ lệ hao hụt cao Chính vì thế, nghiên cứu tập trung vào mật độ và thời điểm san thưa đến tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá
Ở thí nghiệm ương trong bể xi-măng giai đoạn 0-30 ngày tuổi không san thưa, tốc độ tăng trưởng về khối lượng ở 3 mật độ 600 con/m2
, 900 con/m2 và
1200 con/m2 khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) và tỷ lệ sống ở 3 mật độ này cũng khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) cho nên ta có thể ương cá lóc bông ở mật độ 1200 con/m2
(tỷ lệ sống là 62,2%) thì đạt hiệu quả hơn 2 mật độ 600 con/m2, 900 con/m2 Giống như trong thí nghiệm trên, cá được san thưa sau 1, 2 và 3 tuần Khối lượng cá san thưa giữa tuần thứ nhất và
2 khác biệt không có ý nghĩa (p>0,05) nhưng khác biệt với tuần thứ 3 (p<0,05)
Tỷ lệ sống cao nhất ghi nhận được ở nghiệm thức san thưa ở tuần thứ hai (38,61%), kế đến là nghiệm thức san thưa ở tuần thứ ba (17,97%) và nghiệm thức san thưa ở tuần thứ nhất cho kết quả thấp nhất Sự khác biệt giữa các nghiệm thức có ý nghĩa thông kê (p<0,05)
Thí nghiệm ương cá hương từ 30-60 ngày tuổi cũng được bô trí giống như thí nghiệm trên Khối lượng cá cao nhất ở mật độ 1.200 con/m2 và khác biệt có ý nghĩa so (p<0,05) với mật độ 900 con/m2 trong thí nghiệm không san thưa
Tương tự như thế, thí nghiệm có san thưa cũng đạt kết quả như trên
Ở thí nghiệm ương trong bể, tỷ lệ sống ở mật độ 1.200 con/m2 cao nhất (9,15%), kế đến ở mật độ 900 con/m2 (7,15%) và thấp nhất ở mật độ 600 con/m2 (5,44%) Tuy nhiên, sự khác biệt về tỷ lệ sống giữa các nghiệm thức không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Trong thí nghiệm ương có san thưa trên
bể cũng cho kết quả về tỷ lệ sống cao nhất ở nghiệm thức san thưa ở tuần thứ hai (47,6%) và khác biệt với nghiệm thức san thưa ở tuần thứ nhất (28,9%) và nghiệm thức san thưa ở tuần thứ ba (21,9%) Tóm lại, ở cá lóc bông có thể ương với mật độ cao 1200 con/m2
và san thưa ở tuần thứ 2 đạt hiệu quả cao nhất [8]
Trang 271.6 Tình hình nghiên cứu về thức ăn cho cá lóc đen
Ngoài tự nhiên cá lóc đen ăn các động vật sống như cá, tép, nhái, … nhưng khi nuôi trong ao và bè chúng có thể sử dụng được các loại thức ăn như tấm, cám, thức ăn viên, cá tạp, Hiện nay, cá lóc đen chủ yếu được nuôi bằng thức ăn tươi sống (cá tạp nguyên con hay xay nhỏ) Năm 2008 riêng tỉnh
An Giang lượng cá tạp sử dụng trong nuôi cá lóc đã là 67.056 tấn Có 38 loài
cá nước ngọt được sử dụng, trong đó hơn 50% là các loài cá kinh tế (Phan Hồng Cương, 2009) Việc sử dụng chủ yếu cá tạp trong nuôi cá lóc dẫn đến việc phụ thuộc của nghề nuôi vào nguồn cá tạp, chất lượng cá tạp, giá cá tạp cung cấp Giới chuyên môn tính toán rằng, người nuôi muốn thu 1 kg cá lóc cần tiêu tốn tới 4-4,5 kg cá tạp Với tổng sản lượng cá lóc nuôi trong vùng trung bình là 30.000 tấn/năm thì phải sử dụng tới 50.000 tấn cá tạp nước ngọt
và 75.000 tấn cá tạp biển, tương ứng với 30% sản lượng khai thác nội địa và chiếm 12% sản lượng khai thác hải sản hàng năm của ĐBSCL Đó thật sự là vấn đề lớn đáng lo ngại đối với nguồn lợi thủy sản và an ninh thực phẩm cho cộng đồng, nhất là cộng đồng nghèo ở vùng nông thôn Điều này đặt ra yêu cầu phải có các nghiên cứu khoa học về thức ăn cho cá lóc đen để giảm việc
sử dụng cá tạp trong nuôi [5]
Ở Việt Nam, cá lóc nói chung và cá lóc đen nói riêng khi nuôi trong ao bè đều có khả năng sử dụng thức ăn chế biến Trong nghiên cứu cũng như ngoài thực tế, việc chuyển từ thức ăn tươi sống sang thức ăn nhân tạo được thực hiện càng sớm càng tốt nếu nó không ảnh hưởng đến tỉ lệ sống và tăng trưởng của cá bột Nếu cá sử dụng tốt thức ăn nhân tạo thì sẽ hạn chế được bệnh lây nhiễm qua thức ăn tự nhiên, giảm chi phí và chủ động được nguồn thức ăn trong ương nuôi (Nguyễn Văn Triều và ctv., 2008) Tuy nhiên thời điểm và phương thức tập ăn thức ăn chế biến của cá bột cũng khác nhau tuỳ theo loài
Hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về cá lóc đen đã và đang triển khai chi tiết cả về đặc điểm sinh học sinh sản và quá trình ương nuôi cá lóc đen trong điều kiện nhân tạo
Trang 28Dương Nhựt Long (2009) [7], đã có nghiên cứu về sinh sản và nuôi thương phẩm cá lóc đen Kết quả nghiên cứu cho thấy sử dụng chất kích thích sinh sản HCG với hàm lượng từ 3.000-4.000 IU/kg cá cho hiệu quả cao nhất Đồng thời kết quả nghiên cứu cũng đã đưa ra được kỹ thuật ương cá giống lóc đen trong điều kiện siinh thái vùng đồng bằng sông Cửu Long
Trong đó công trình nghiên cứu về thức ăn cá lóc đen giai đoạn bột của khoa Thủy sản, trường Đại học Cần Thơ đã xác định được thời điểm và phương thức thay thế hiệu quả thức ăn chế biến Nghiên cứu được thực hiện trên cá lóc đen bột 10 ngày tuổi Thời gian thí nghiệm là 5 tuần Thí nghiệm gồm 7 nghiệm thức (3 lần lặp lại): nghiệm thức đối chứng cho ăn hoàn toàn thức ăn tươi sống (Moina và cá tạp); Các nghiệm thức còn lại khác nhau về thời gian bắt đầu cho
ăn thức ăn chế biến (10, 17 và 24 ngày tuổi) và phương thức tập ăn (thay thế tăng dần Moina (cá tạp) bằng thức ăn chế biến, tỷ lệ 10% hoặc 20% TACB/ngày) Các nghiệm thức chưa đến thời điểm cho ăn thức ăn chế biến sẽ được cho ăn như nghiệm thức đối chứng Thức ăn chế biến có hàm lượng protein
là 50%, lipid 12% được phối chế từ các nguồn nguyên liệu tinh như: bột cá, bột đậu nành, cám, bột mì và các chất bổ sung khác, được tạo thành viên mảnh 0,1-0,2 mm (Trần Thị Thanh Hiền, Ngô Minh Dung, Bùi Minh Tâm, Kỷ yếu hội nghị khoa học thủy sản lần 4, số 381-394) [9]
Theo Dương Nhựt Long (2013) [10] nghiên cứu nuôi cá lóc trên bể lót bạt tại tỉnh An Giang, so sánh với 3 điểm nuôi sử dụng thức ăn công nghiệp, 3 điểm nuôi thức ăn tự chế biến và 28 điểm nuôi dùng thức ăn tươi sống thấy, dùng thức
ăn tự chế biến, cá tăng trưởng cao hơn (0,88-6,61 g/ngày) so với cách nuôi dùng
2 loại thức ăn còn lại Dùng thức ăn tươi sống đạt năng suất cao nhất là 484 kg/bể 15 m2, trọng lượng bình quân 700 g/con, nhưng dùng thức ăn viên công nghiệp lãi bình quân hơn 2,7 triệu đồng/bể 15 m2
[3]
Huỳnh văn Hiền và ctv (2011) [3], Nghiên cứu so sánh hiệu quả kinh tế
kỹ thuật giữa việc sử dụng thức ăn cá tạp và thức ăn viên cho nuôi cá lóc thương phẩm trong ao tại An Giang, Đồng Tháp
Trang 29Nghiên cứu này nhằm so sánh một số chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật chủ yếu giữa hai loại thức ăn sử dụng nuôi cá lóc trong ao đất ở An Giang và Đồng Tháp nhằm đề xuất giải pháp về thức ăn (đầu vào quan trọng nhất) cho nghề nuôi cá lóc ở địa bàn nghiên cứu Có 87 hộ nuôi cá lóc thương phẩm trong ao được phỏng vấn (43 sử dụng cá tạp và 44 sử dụng thức ăn viên) Các hộ sử dụng cá tạp cho nuôi cá lóc có mật độ thả trung bình (99 con/m2) cao hơn so với sử dụng thức ăn viên (91 con/m2
) Năng suất cá lóc nuôi bằng cá tạp trung bình là 43,0kg/m2, cao hơn so với sử dụng thức ăn viên (34,8kg/m2) Hệ số tiêu tốn thức
ăn (FCR) tương ứng khi sử dụng cá tạp và thức ăn viên là 3,9 và 1,4 Chi phí thức ăn khi nuôi bằng cá tạp chiếm 86,5% trong chi phí biến đổi, đối với sử dụng thức ăn viên là 88,6% Giá thành nuôi cá lóc bằng cá tạp là 30,9 ngàn đồng/kg cao hơn so với sử dụng thức ăn viên (27,2 ngàn đồng/kg) Lợi nhuận bình quân khi nuôi cá lóc bằng cá tạp (14,9 ngàn đồng/kg) cao hơn so với nuôi bằng thức
ăn viên (13,8 ngàn đồng/kg) Tuy nhiên, tỷ suất lợi nhuận khi sử dụng cá tạp là 0,7 lần/vụ, thấp hơn so với cho ăn thức ăn viên (0,8 lần/vụ) Có 69,8% số hộ có lời khi nuôi bằng cá tạp, trong khi sử dụng thức ăn viên thì tỷ lệ này cao hơn (79,5%)
Nhận định về loại thức ăn được chọn để nuôi cá lóc trong tương lai thì có 21,9% số hộ đang sử dụng cá tạp muốn chuyển sang sử dụng thức ăn viên, trong khi 100% số hộ đang cho ăn bằng thức ăn viên thì vẫn sẽ tiếp tục sử dụng thức
ăn viên trong tương lai Tuy nhiên, lý do mà nhiều hộ sử dụng cá tạp chưa muốn chuyển sang cho cá lóc ăn thức ăn viên vì chưa có công ty nào sản xuất thức ăn viên dành riêng cho cá lóc mà thường là thức ăn viên dùng chung cho các loài cá
có vẩy nên chưa thích hợp với nhu cầu đạm và tăng trưởng của cá lóc [5]
Phan Thị Thanh Vân và ctv (2009) [11] nghiên cứu ảnh hưởng của số lần
cho ăn lên tốc độ tăng trưởng của cá lóc (Channa striata) trong hệ thống tuần hoàn Ảnh hưởng số lần cho ăn lên tốc độ tăng trưởng của cá lóc (Channa
striata) được bố trí theo phương pháp hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 NT (số lần cho
ăn: 1 (11 h); 2 (6 h, 18 h); 3 (5 h, 12 h, 19 h); 4 (5 h, 11 h, 17 h, 23 h) lần/ngày)
và 3 lần lặp lại Mật độ thả nuôi 40 con/100 lít, thức ăn được sử dụng là thức ăn
Trang 30viên có chứa 40% protein Thí nghiệm được thực hiện trong 110 ngày Kết quả trong thời gian thí nghiệm, pH nước của các nghiệm thức dao động 6,4-7,5 và có khuynh hướng giảm dần theo thời gian nuôi Các chỉ tiêu TAN, NO3-, NO2- có khuynh hướng tăng dần theo thời gian nuôi Hai nghiệm thức cho ăn 3 và 4 lần/ngày cho kết quả tăng trưởng về khối lượng tốt nhất và khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Hệ số tiêu tốn thức ăn nghiệm thức 3, 4 thấp hơn nghiệm thức
1, 2 Tương tự, hiệu quả sử dụng protein của nghiệm thức 3, 4 cao hơn nghiệm thức 1, 2 và các sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0.05) [6]
Trần Thị Thanh Hiền, Võ Tuấn Nhựt (2009) [6], trường Đại học Cần
Thơ nghiên cứu bổ sung Taurine vào khẩu phần ăn của cá lóc đen (Chana
striata) nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn và làm cơ sở cho phát triển thức
ăn cho cá lóc đen Nghiên cứu được tiến hành trong vòng 2 tháng với 7 nghiệm thức, 1 nghiệm thức đối chứng và 6 nghiệm thức bổ sung hoặc không bổ sung Taurine với mức thay thế 30%, 40%, 50% Mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần Khối lượng trung bình cá thí nghiệm là 4,75±0,06 g/con Các chỉ tiêu nghiên cứu bao gồm tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng, hệ số chuyển đổi thức ăn Kết quả nghiên cứu cho thấy tốc độ tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn tốt nhất là ở nghiệm thức thay thế 30% bột đậu nành có bổ sung Taurine [8]
1.7 Tình hình nghiên cứu về mật độ nuôi cá lóc đen
Dương Nhựt Long và ctv (2009) [9], nghiên cứu Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá lóc đen ương nuôi trong bể composite
Cá 40 ngày tuổi được tiến hành ương nuôi trong bể composite có thể tích
1 m3 với thời gian thí nghiệm là 60 ngày Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên với 3 mật độ khác nhau tương ứng với 3 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần: mật độ 1 (MĐ1) 150 con/bể; mật độ 2 (MĐ2) 200 con/bể; mật độ
3 (MĐ3) 250 con/bể
Cá được cho ăn 2 lần/ngày, lượng thức ăn cho cá ăn bằng 10% khối lượng cá trong bể Thức ăn sử dụng là cá tạp nước mặn để hạn chế lây bệnh Ở giai đoạn đầu, thức ăn được xay nhỏ cho phù hợp với cỡ miệng của cá Trước khi bố trí thí nghiệm,
cá được xác định khối lượng trung bình bằng cách cân tổng khối lượng cá và cân
Trang 31từng con (50 con) để tính trung bình khối lượng cá ở mỗi bể Tăng trưởng của cá được xác định 10 ngày/lần qua chiều dài và khối lượng của 30 cá thể ở mỗi đợt thu mẫu Trong quá trình thí nghiệm, các yếu tố môi trường như nhiệt độ, pH được theo dõi thường xuyên Nhiệt độ nước trung bình ở các bể đối ổn định, sự chênh lệch không đáng kể, dao động từ 29,70-29,74 oC, nhiệt độ biến thiên trong khoảng 25-33 oC và không có sự sai khác nhiều giữa các lô thí nghiệm, chủ yếu do các bể thí nghiệm được đặt trong nhà nên luôn duy trì được sự ổn định tăng trưởng cũng như tỷ lệ sống của cá
Tốc độ tăng trưởng (TĐTT) bình quân ngày và TĐTT đặc trưng về chiều dài của cá khi thí nghiệm kết thúc đều cao nhất ở MĐ1 (ADG đạt 0,084 cm/ngày; SGR đạt 1,009%/ngày); tiếp theo là MĐ2 (ADG đạt 0,076 cm/ngày; SGR đạt 0,934%/ngày); thấp nhất là MĐ3 (ADG đạt 0,073 cm/ngày; SGR đạt 0,905%/ngày) Kết quả phân tích thống kê cho thấy chiều dài trung bình, TĐTT bình quân ngày và TĐTT đặc trưng của cá lóc đen sau 60 ngày ương có sự khác biệt giữa các nghiệm thức khi ương ở các mật độ khác nhau (p<0,05) Như vậy, mật độ ương khác nhau
có ảnh hưởng đến tăng trưởng về chiều dài thân của cá
Khối lượng cá trung bình khi kết thúc thí nghiệm là MĐ1 (11,07 cm/con
và 11,03 g/con), MĐ2 (10,57 cm/con và 10,51 g/con), MĐ1 (10,54 cm/con và 10,33 g/con) Tỷ lệ sống cao nhất ở MĐ1 (86,89%), tiếp theo là MĐ2 (79,83%)
(74,72%) và thấp nhất là ở nghiệm thức 300 con/m2(70,37%) Tỷ lệ sống của cá lóc giữa các nghiệm thức khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Ở thí nghiệm nuôi cá lóc thương phẩm, cá lóc được nuôi trong
bể lót bằng bạt nylon (15 m2).Thí nghiệm gồm ba nghiệm thức mật độ cá thả là 100,
Trang 32150, 200 con/m2 được bố trí tại 9 nông hộ Các yếu tố môi trường nước trong bể nằm trong khoảng thích hợp cho cá sinh trưởng Sau 4,5 tháng nuôi, cá đạt khối lượng trung bình từ 517 đến 684 g/con Tỷ lệ sống của cá là 39,67-79,60% Năng suất trung bình cá ở mật độ 100 và 200 con/m2
lần lượt là 43,87 và 55,56 kg/m2,
khác biệt có ý nghĩa (p<0,05) [7]
1.8 Triển vọng nghề nuôi cá lóc đen Nghệ An
Tính đến năm 2015, Tại Nghệ An hiện có khoảng 120 hộ làm mô hình nuôi cá lóc đen Trong đó chỉ có 90 hộ đủ tiêu chuẩn để gia nhập Hiệp hội nuôi cá lóc đen cao sản Chỉ tính riêng sản lượng cá thương phẩm của hội viên trong Hiệp hội, năm 2008 đã cung cấp cho thị trường tổng cộng trên
400 tấn cá lóc đen thương phẩm Với giá bán sỉ là 60.000 đồng/kg Hiệp hội
sẽ có tổng doanh thu trên 24 tỷ đồng Sản phẩm cá lóc đen nuôi và bán trên thị trường ngoài giá trị dinh dưỡng cao, thịt săn, chắc và thơm ngon còn là sản phẩm cá sạch, nên được người tiêu dùng đánh giá cao Cá lóc đen nuôi tại Nghệ An chỉ dùng cá biển loại thải làm thức ăn, thuốc phòng bệnh chủ yếu dùng cây lá và thảo dược
Mô hình nuôi cá lóc đen cao sản được ông Nguyễn Long Vân tự phát đưa
về tại TX Cửa Lò vào năm 2005 Mô hình đã thu được hiệu quả kinh tế cao nên
đã được TX Cửa Lò và tỉnh Nghệ An quan tâm, nhiều nơi về tham quan học hỏi kinh nghiệm và nhiều hộ gia đình tự vay vốn nhân rộng ra toàn TX Cửa Lò từ đó lan ra một số huyện Hưng Nguyên, Nghi Lộc, Quỳnh Lưu và Nghĩa Đàn
Trên thị trường, cá lóc đen có giá bán cao gần gấp đôi cá lóc bông Tuy nhiên, nuôi cá lóc đen tại Nghệ An có 2 cái khó: Thứ nhất là vấn đề con giống
Cá lóc đen phải vận chuyển giống từ miền Nam ra, nếu bằng máy bay chỉ được
số lượng ít, chi phí quá cao Cái khó thứ 2 là cá lóc đen sống ở miền Nam nên đưa ra nuôi ở Nghệ An khi mùa đông đến cá không chịu được giá rét nên không lớn được [12]
Vì vậy để hỗ trợ cho nghề nuôi cá lóc đen Nghệ An phát triển bền vững thì phải chủ động được nguồn giống và nghiên cứu quá trình ương nuôi cá lóc đen giai đoạn giống, đáp ứng được nhu cầu giống cá đảm bảo chất lượng
Trang 33Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Cá lóc đen (Channa striata Bloch, 1793) giai đoạn giống
2.2 Thiết kế nghiên cứu
Các thí nghiệm trong nghiên cứu được đưa ra như sau:
Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống cá lóc đen giai đoạn giống
Thí nghiệm gồm 3 nghiệm thức tương ứng với 3 công thức thức ăn khác nhau, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần, các yếu tố phi thí nghiệm được khống chế giống nhau Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp ngẫu nhiên hoàn toàn, một nhân tố
Sơ đồ nghiên cứu của thí nghiệm 1 như sau
- Theo dõi các yếu tố môi trường
- Theo dõi tỷ lệ sống của cá
- Theo dõi tốc độ tăng trưởng của cá
- Hạch toán kinh tế, so sánh kết quả
Kết luận và kiến nghị
Trang 34- Giai (3 công thức thức ăn x 3 lần lặp lại), mỗi giai có kích thước 2 x 1,5 x 1,5 m, giai có nắp đậy, được bố trí trong cùng ao
- Mật độ thả nuôi 30 con/m2
- Các công thức thức ăn thí nghiệm:
+ TĂ1: Hỗn hợp thức ăn tự phối chế theo công thức: 50% bột cá, 30% bột đậu nành, 16% bột cám gạo, 2% premix khoáng, vitamin
+ TĂ2: Cá tạp xay nhuyễn hấp cách thủy
+ TĂ3: Thức ăn công nghiệp con heo vàng 35% protein
- Sơ đồ bố trí thí nghiệm :
G1 G2 G3 G4 G5 G6 G7 G8 G9 TĂ1 TĂ2 TĂ3 TĂ2 TĂ3 TĂ1 TĂ3 TĂ1 TĂ2
Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của mật độ ương nuôi đến tăng trưởng và tỷ lệ sống
cá lóc đen giai đoạn giống
Sơ đồ nghiên cứu của thí nghiệm 2 như sau
Ảnh hưởng của mật độ nuôi khác nhau đến tỷ lệ sống và tăng trưởng
của cá lóc đen
MĐ3
- Theo dõi các yếu tố môi trường
- Theo dõi tỷ lệ sống của cá
- Theo dõi tốc độ tăng trưởng của cá
- Hạch toán kinh tế, so sánh kết quả
Kết luận và kiến nghị
Trang 35Thí nghiệm gồm 3 nghiệm thức tương ứng vơi 3 mật độ nuôi khác nhau, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần, các yếu tố phi thí nghiệm được khống chế giống nhau Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp ngẫu nhiên hoàn toàn, một nhân tố
- 9 giai (3 mật độ x 3 lần lặp lại), mỗi giai kích thước 2 x 1,5 x 1,5 m, giai
có nắp đậy, bố trí trong cùng ao
2.3 Các dụng cụ, thiết bị, hoá chất dùng trong nghiên cứu
- Thiết bị và dụng cụ nghiên cứu:
+ Dụng cụ: Vợt, ca nhựa, cân, chậu, thước
+ Máy đo pH, nhiệt độ
+ Hoá chất và chế phẩm sinh học xử lý nước sử dụng trong qúa trình nuôi
cá lóc
- Cá thí nghiệm được lấy giống từ Huế, cỡ cá 5,9-5,93 cm và khối lượng trung bình từ 1,22- 1,37 g/con
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
* Phương pháp thu thập số liệu
- Thu thập số liệu: Các số liệu về đối tượng nghiên cứu, tình hình kinh tế
xã hội đưa vào trong luận văn được thu thập từ các tài liệu đã có của các tác giả trong và ngoài nước
- Thu thập số liệu qua theo dõi thí nghiệm và thu số liệu trên cá thí nghiệm
Trang 362.4.2 Các chỉ tiêu và phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu
- Tốc độ tăng trưởng khối lượng và dài thân :
Để theo dõi tăng trưởng của cá nuôi thí nghiệm, cá thí nghiệm được cân khối lượng, đo chiều dài thân khi bắt đầu bố trí thí nghiệm và định kỳ 15 ngày/lần Mỗi lần cân, đo thu ngẫu nhiên 30 cá thể cá ở mỗi nghiệm thức
- Đo chiều dài: sử dụng thước có chia vạch chính xác đến 1 mm, đặt mẫu nằm dọc, thẳng theo thước rồi tiến hành đo chiều dài tiêu chuẩn (SL) của cá
- Cân khối lượng: sử dụng cân điện tử GX-600 chính xác đến 0,01 mg
Trong quá trình cân phải dùng giấy để thấm nước, cần làm nhanh, cân ở góc khuất tránh gió lùa để đảm bảo sự chính xác
- Xác định tốc độ tăng trưởng của cá
♦ Tăng trưởng tích l y
Là khối lượng (W: W1, W2, W3, ), kích thước (L: L1, L2,L3, ), thể tích (V:
V1, V2, V3, ) của cơ thể mà con vật tích lũy được trong một khoảng thời gian hay đến thời tiểm xác định (T: T1, T2, T3, ) tương ứng nào đó
♦ Tăng trưởng về chiều dài thân:
+ Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối chiều dài thân (cm/ngày):
ADGl =
1 2
1 2
t t
L L
(cm/ngày) + Tốc độ tăng trưởng tương đối chiều dài thân (%/ngày):
SGR1 =
1 2
1 2
t t
LnL LnL
x 100 (%/ ngày)
♦ Tăng trưởng về khối lượng:
+ Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối khối lượng (g/ngày):
ADG2 =(K2-K1)/(t2-t1) (g/ngày) + Tốc độ tăng trưởng tương đối khối lượng (%/ngày):
SGR2 ={Ln(K2) – Ln(K1)}/(t2-t1) x 100 (%/ngày)
- ADG1, ADG2 tốc độ tăng trưởng chiều dài thân, khối lượng tuyệt đối của cá theo ngày
Trang 37- SGR1, SGR2 là tốc độ tăng trưởng chiều dài thân, khối lượng tương đối của cá theo ngày
- L2, K2 là chiều dài, khối lượng đo ở thời điểm T2
- L1, K1 là chiều dài khối lượng đo ở thời điểm T1
- Phương pháp xác định tỷ lệ sống
T2 Công thức tính tỷ lệ sống tích lũy: Ts (%) = - *100
T1 Trong đó:
T1 là số cá đưa vào nuôi trong giai khi bắt đầu thí nghiệm (con)
T2 là số cá còn sống trong giai khi kết thúc thí nghiệm (con)
2.5 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học có sử dụng phần mềm Microsoft Excel và phần mềm SPSS 16.0
2.6 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được triển khai từ tháng 7/2014 đến tháng 5/2015 tại Trung tâm Nghiên cứu và Thực hành Nuôi trồng Thủy sản Khoa Nông Lâm Ngư, Trường Đại học Vinh, thị trấn Hưng Nguyên, Nghệ An
Trang 38Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Một số yếu tố môi trường nước trong ao thí nghiệm
Trong quá trình thí nghiệm, các yếu tố môi trường nước được theo dõi thường xuyên và ghi lại cụ thể trong Bảng 3.1
Bảng 3.1 Một số yếu tố môi trường nước trong ao trong quá trình thí nghiệm
độ thích hợp cho sự phát triển của cá lóc đen giai đoạn cá giống
Theo nghiên cứu của Lee và Ng (1994) [28] ngưỡng trên của nhiệt độ đối với cá lóc đen là 40 oC và ngưỡng dưới là 11 oC Khoảng nhiệt độ thích hợp cho
sự phát triển và sinh sống của cá lóc đen là 19÷39 oC, trong đó thích hợp nhất là 20÷30 oC Như vậy, nhiệt độ nước trong ao nuôi cá lóc đen thí nghiệm phù hợp với sinh trưởng phát triển của chúng
Giá trị pH của nước ao trong quá trình thí nghiệm biến động nhỏ và tương đối ổn định, dao đông 6,9÷7,8 So sánh với thông báo của Lawson (1995), giá trị pH thích hợp cho cá lóc đen là 6,5÷9 Theo Davidson (1975) thì pH thích hợp cho cá lóc đen nuôi là 7÷8 Như vậy, pH của nước trong quá trình thí nghiệm hoàn toàn phù hợp cho sự phát triển của cá lóc đen
Trong quá trình thí nghiệm, các yếu tố môi trường nước ảnh hưởng lên cá ở các lô thí nghiệm là như nhau và hoàn toàn phù hợp với đặc điểm sinh học của đối
Trang 39tượng nghiên cứu, không ảnh hưởng đến tỷ lệ sống cũng như tốc độ tăng trưởng của đối tượng nghiên cứu, không làm sai lệch kết quả thí nghiệm
3.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng chiều dài thân của cá lóc đen giai đoạn giống
Kết quả thu được về ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng chiều dài thân của cá lóc đen giai đoạn giống được trình bày trên Bảng 3.2
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng chiều dài thân của cá lóc đen
giai đoạn giống Chỉ tiêu
Các công thức thức ăn thí nghiệm
Chiều dài cá thả (cm) 5,93 ± 0,12 5,93 ± 0,12 5,93 ± 0,12Chiều dài cá thu (cm) 9,70 ±0,16c 8,50±0,15b 7,77±0,02a ADG (cm/ngày) 0,06 ± 0,00c 0,04± 0,00b 0,03± 0,00a SGR (%/ngày) 0,82 ± 0,00c 0,60± 0,02b 0,45± 0,03c
Ghi ch : Các số liệu có ch cái m trong c ng hàng khác nhau thì khác nhau với
p<0,05; Số liệu trong Bảng là X± SD
Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối và tốc độ tăng trưởng của cá lóc đen ở các công thức thức ăn khác nhau có sự chênh lệch, cao nhất là cá ở TĂ1 (ADG đạt 0,063 cm/ngày và SGR đạt 0,82%/ngày); tiếp theo là cá ở TĂ2 (ADG đạt 0,043 cm/ngày
và SGR đạt 0,6%/ngày); thấp nhất là cá ở TĂ3 (ADG đạt 0,031 cm/ngày và SGR đạt 0,45%/ngày)
Kết quả phân tích thống kê cho thấy, sau 60 ngày nuôi, tốc độ tăng trưởng tuyệt đối và tăng trưởng tương đối của cá lóc đen có sự khác biệt khi được ương nuôi với các công thức thức ăn khác nhau, sai khác giữa chúng là
có ý nghĩa (p<0,05)
Trang 403.2.1 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng tích lũy chiều dài thân của cá lóc đen giai đoạn giống
Kết quả thu được về ảnh hưởng của các công thức thức ăn khác nhau đến tốc
độ tăng trưởng tích lũy chiều dài của cá lóc đen giai đoạn giống được thể hiện trên Bảng 3.3
Bảng 3.3 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng tích lũy chiều dài thân
của cá lóc đen giai đoạn giống Ngày nuôi
(ngày)
Chiều dài thân cá lóc đen ở các công thức thức ăn(cm)