Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng về chiều dài của cá Hồng Mỹ giai đoạn giống .... Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng về khối lượng của cá Hồng Mỹ giai đoạn giống ..
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
- -
PHAN THỊ XUÂN
ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ KỸ THUẬT TRONG
SẢN XUẤT CÁ HỒNG MỸ (Sciaenops ocellatus) GIỐNG TỪ
NGUỒN CÁ BỐ MẸ NUÔI TRONG AO
LUẬN VĂN THẠC SỸ NÔNG NGHIỆP
NGHỆ AN 2015
Trang 2GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
- -
PHAN THỊ XUÂN
ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ KỸ THUẬT
TRONG SẢN XUẤT CÁ HỒNG MỸ (Sciaenops ocellatus Linnaeus, 1766) GIỐNG TỪ NGUỒN CÁ BỐ MẸ NUÔI
TRONG AO
LUẬN VĂN THẠC SỸ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Nuôi trồng thủy sản
Mã số: 60.62.03.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Kim Đường
NGHỆ AN, 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn thạc sỹ “Ảnh hưởng của một số yếu tố kỹ thuật trong sản xuất cá
Hồng Mỹ (Sciaenops ocellatus Linnaeus 1766) giống từ nguồn cá bố mẹ nuôi
trong ao”, chuyên ngành nuôi trồng thủy sản là của riêng tôi Luận văn đã sử dụng thông tin từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, các nguồn thông tin đã được trích rõ nguồn gốc
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu đã có được trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ bất kỳ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn đầy đủ
Vinh, tháng 9 năm 2015
Tác giả
Phan Thị Xuân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện được đề tài này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được nhiều sự quan tâm và giúp đỡ của quý thầy các cô giáo trong khoa Nông Lâm Ngư- trường Đại học Vinh, gia đình và các cá nhân, tập thể
Đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo hướng dẫn PGS
TS Nguyễn Kim Đường đã định hướng, tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tiếp theo tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy các cô trong khoa Nông Lâm Ngư, cũng như quý thầy cô giáo khác ở trường Đại học Vinh đã truyền đạt cho tôi những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong thời gian học tập tại trường
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ, công nhân viên của Trung tâm thực hành hải sản tại Nghi Xuân – Hà Tĩnh đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi về cơ
sở vật chất cũng như hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện đề tài
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các anh, chị, em, bạn bè và gia đình đã luôn sát cánh bên tôi, giúp đỡ tôi
M c dù đã c nhiều cố gắng, song luận văn không thể tránh kh i những thiếu s t K nh mong nhận được sự g p ý, ch bảo của Hội đ ng khoa học, quý thầy,
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Một số đặc điểm sinh học của cá Hồng Mỹ 3
1.1.1 Vị trí phân loại và đặc điểm nhận dạng 3
1.1.2 Đặc điểm phân bố 4
1.1.3 Tập tính sống 4
1.1.4 Vòng đời 4
1.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng 4
1.1.6 Đặc điểm sinh trưởng 4
1.2 Đặc điểm sinh sản của đối tượng nghiên cứu 5
1.2.1.Thành thục sinh dục 5
1.2.2 Sức sinh sản và đẻ trứng 5
1.2.3 Phát triển phôi 6
1.2.4 Ấu trùng 6
1.3 Một số vấn đề về ương nuôi cá giai đoạn giống 6
1.3.1 Giai đoạn từ cá hương lên cá giống (30÷60 ngày tuổi) 6
1.3.2 Mật độ ương 7
1.3.3 Lọc và phân cỡ cá 8
1.3.4 Dinh dưỡng của ấu trùng và giống cá biển 8
1.4 Bệnh cá và phương pháp phòng trị bệnh tổng hợp 9
1.5 Điều kiện tự nhiên của vùng Bắc Trung Bộ ảnh hưởng đến nghề nuôi thủy hải sản 9 1.6 Tình hình sản xuất giống cá biển hiện nay 11
1.6.1 Tình hình sản xuất giống cá biển trên thế giới 11
1.6.2 Tình hình nuôi sản xuất giống cá biển ở Việt Nam 13
1.6.3 Điều kiện cơ sở vật chất, nguồn lực của địa điểm triển khai đề tàiError! Bookmark not defined. Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 Nội dung nghiên cứu 15
Trang 62.2 Vật liệu nghiên cứu 15
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu: 15
2.2.2 Vật liệu và thiết bị dùng trong nghiên cứu: 16
2.3 Phương pháp thực nghiệm 16
2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 16
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 20
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 22
2.5 Địa điểm và thời gian triển khai nghiên cứu 22
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 23
3.1 Ảnh hưởng của thức ăn đến sự thành thục của cá Hồng mỹ giai đoạn nuôi vỗ 23
3.2 Ảnh hưởng của loại và liều lượng kích dục tố đến sinh sản của cá Hồng Mỹ 23
3.3 Kết quả xác định ảnh hưởng của độ mặn và nhiệt độ đến tỷ lệ nở của trứng 24
3.3.1 Ảnh hưởng của độ mặn đến tỷ lệ nở của trứng cá 24
3.3.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến tỷ lệ nở của trứng cá 25
3.4 Kết quả xác định ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cá Hồng Mỹ giai đoạn cá giống 26
3.4.1 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống của cá Hồng Mỹ giai đoạn giống 26 3.4.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng về chiều dài của cá Hồng Mỹ giai đoạn giống 26
3.4.3 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng về khối lượng của cá Hồng Mỹ giai đoạn giống 31
3.4.4 Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến hệ số chuyển đổi thức ăn của cá Hồng Mỹ giai đoạn giống 35
3.4.5 Chi phí thức ăn trong ương cá Hồng Mỹ 35
3.5 Kết quả xác định ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cá Hồng mỹ giai đoạn cá giống 36
3.5.1 Ảnh hưởng của mật độ tới tăng trưởng chiều dài thân của cá Hồng Mỹ giai đoạn giống 36
3.5.2 Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng khối lượng cá Hồng Mỹ giai đoạn giống 40
3.5.4 Ảnh hưởng của mật độ lên hệ số chuyển đổi thức ăn của cá Hồng Mỹ giai đoạn giống 44
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn công nghiệp hãng CP Error!
Bookmark not defined
Bảng 3.1 Kết quả thử nghiệm các loại thức ăn nuôi vỗ cá Hồng Mỹ bố mẹ 23
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của các loại kích dục tố đến sinh sản cá Hồng Mỹ 24
Bảng 3.3 Ảnh hưởng của độ mặn (‰) đến tỷ lệ nở và tỷ lệ cá dị hình 25
Bảng 3.4 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến tỷ lệ nở và tỷ lệ cá dị hình 25
Bảng 3.5 Tăng trưởng tích lũy chiều dài thân của cá Hồng Mỹ giai đoạn giống 27
Bảng 3.6 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối chiều dài thân của cá Hồng Mỹ giai đoạn giống 28
Bảng 3.7 Tốc độ tăng trưởng tương đối chiều dài thân của cá Hồng Mỹ giai đoạn giống 30
Bảng 3.8 Tăng trưởng tích lũy về khối lượng của cá Hồng Mỹ giai đoạn giống 31
Bảng 3.9 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng của cá Hồng Mỹ giai đoạn giống 32
Bảng 3.10 Tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng thân của cá Hồng Mỹ giai đoạn giống 34
Bảng 3.11 Hệ số chuyển đổi thức ăn của cá Hồng Mỹ giai đoạn giống 35
Bảng 3.12 Chi phí thức ăn để ương nuôi cá Hồng Mỹ giai đoạn giống 35
Bảng 3.13 Ảnh hưởng của mật độ nuôi lên tăng trưởng tích lũy chiều dài thân của cá Hồng Mỹ giai đoạn giống 36
Bảng 3.14 Ảnh hưởng của mật độ nuôi lên tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài thân của cá Hồng Mỹ giai đoạn giống 38
Bảng 3.15 Ảnh hưởng của mật độ nuôi lên tăng trưởng tương đốivề chiều dài thân của cá Hồng Mỹ giai đoạn giống 39
Bảng 3.16 Ảnh hưởng của mật độ nuôi lên tăng trưởng tích lũy khối lượng của cá Hồng Mỹ giai đoạn giống 40
Bảng 3.17 Ảnh hưởng của mật độ nuôi lên tăng trưởng tuyệt đối 42
về khối lượng của cá Hồng Mỹ giai đoạn giống 42
Bảng 3.18 Ảnh hưởng của mật độ lên tăng trưởng tương đối về khối lượng của cá Hồng Mỹ giai đoạn giống 43
Bảng 3.19 Ảnh hưởng của mật độ nuôi lên tỷ lệ sốngcủa cá Hồng Mỹ giai đoạn giống 44
Bảng 3.20 Ảnh hưởng của mật độ FCR của cá Hồng Mỹ giai đoạn giống 45
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm mật độ và thức ăn cho ương cá giống 18
Hình 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm mật độ cho ương cá giống 20
Hình 3.1.Tỷ lệ sống của cá Hồng Mỹ giai đoạn giống 26
với các loại thức ăn khác nhau 26
Hình 3.2 Tăng trưởng tích lũy chiều dài thân của cá Hồng Mỹ giai đoạn giống 27 Hình 3.3 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối chiều dài thân của cá Hồng Mỹ 29
giai đoạn giống 29
Hình 3.4 Tốc độ tăng trưởng tương đối chiều dài thân của cá Hồng Mỹ 30
giai đoạn giống 30
Hình 3.5 Tăng trưởng tích lũy về khối lượng của cá Hồng Mỹ 32
giai đoạn giống 32
Hình 3.6 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng của cá Hồng Mỹ 33
giai đoạn giống 33
Hình 3.7 Tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng thân 34
của cá Hồng Mỹ giai đoạn giống 34
Hình 3.8 Ảnh hưởng của mật độ nuôi lên tăng trưởng tích lũy 37
chiều dài thân của cá Hồng Mỹ giai đoạn giống 37
Hình 3.9 Ảnh hưởng của mật độ nuôi lên tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài thân của cá Hồng Mỹ giai đoạn giống 38
Hình 3.10 Ảnh hưởng của mật độ nuôi lên tăng trưởng tương đối 39
về chiều dài thân của cá Hồng Mỹ giai đoạn giống 39
Hình 3.11 Ảnh hưởng của mật độ nuôi lên tăng trưởng khối lượng tích lũy 41
của cá Hồng Mỹ giai đoạn giống 41
Hình 3.13 Ảnh hưởng của mật độ lên tăng trưởng tương đối 43
về khối lượng của cá Hồng Mỹ giai đoạn giống 43
Hình 3.14 Ảnh hưởng của mật độ nuôi lên tỷ lệ sống của cá Hồng Mỹ 44
giai đoạn giống 44
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghề nuôi cá biển Việt Nam nói chung và Bắc Trung bộ nói riêng ngày càng phát triển với những đối tượng điển hình như cá Chẽm, cá Chim vây vàng,
cá Mú, Trong những năm gần đây vấn đề đa dạng đối tượng nuôi đang được
nhà nước đặc biệt quan tâm Cá Hồng Mỹ (Sciaenops ocellatus) là đối tượng
nuôi mới, là loài rộng nhiệt, rộng muối, vì vậy có thể sống được trong các môi trường mặn, lợ và ngọt Cá được di nhập vào nước ta từ năm 1999, có nhiều ưu điểm để phát triển thành đối tượng nuôi công nghiệp có giá trị thương phẩm cao
Cá có kích thước cơ thể lớn, tốc độ sinh trưởng nhanh, thịt thơm ngon, giá trị dinh dưỡng cao và là món ăn ưa thích của nhiều nước trên thế giới Ngoài ra hiện nay các tỉnh miền Bắc đặc biệt là vùng Bắc Trung Bộ cá Hồng Mỹ đã được người dân lựa chọn nuôi nhiều bởi chúng có khả năng chống chịu, thích nghi với nhiều điều kiện bất lợi của môi trường sống và quan trọng hơn cả là cá thích nghi được điều kiện nhiệt độ thấp với mùa đông giá rét (kéo dài từ tháng 11 đến tháng
3 âm lịch năm sau) trong khi các đối tượng cá biển khác khả năng chịu rét kém nên không thể phát triển nuôi được Mặt khác do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu thời tiết diễn biến phức tạp, môi trường biến động, diễn biến độ mặn ở các vùng nuôi tôm biến đổi nhiều, dịch bệnh thường xuyên xảy cho nên nhiều vùng nuôi
đã lựa chọn nuôi cá Hồng Mỹ Hiện cá Hồng Mỹ đang được nuôi nhiều ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Định, Nghệ An với nhiều hình thức như nuôi ao, nuôi lồng bè
Khi nghề nuôi cá Hồng Mỹ phát triển thì đòi hỏi nhu cầu từ thực tiễn là phải
có nguồn cá giống đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng Mặc dù ở nước ta, Trung tâm Quốc gia giống hải sản miền Bắc (Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I)
đã sản xuất được giống cá Hồng Mỹ nhưng nguồn cá bố mẹ phải nuôi lồng trên biển với nhiều rủi ro (do chi phí nuôi cá bố mẹ trong lồng trên biển cao và không phải vùng biển nào cũng nuôi được, chi phí vận chuyển giống cao) nên số lượng cá giống vẫn rất hạn chế, không đáp ứng đủ cho nhu cầu nuôi cho các tỉnh miền Bắc
và Bắc Trung Bộ Trong khi đó miền Nam và miền Trung vẫn chưa có cơ sở nào sản xuất được giống cá Hồng Mỹ Cá Hồng Mỹ có đặc tính sinh sản vào mùa đông nên
Trang 11quá trình nuôi không kéo dài qua mùa lũ và mùa đông (tính chất khí hậu khắc nghiệt
của các tỉnh Bắc Trung Bộ) nên hạn chế được rủi ro và giảm giá thành sản phẩm
Vào năm 2003 Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I và Trường Cao đẳng thủy sản Bắc Ninh đã nghiên cứu quy trình sản xuất giống nhân tạo cá Hồng Mỹ đã đạt được những thành công nhất định, tuy nhiên do nguồn cá bố mẹ phải nuôi thành thục ngoài biển nên số lượng cá giống vẫn chưa đủ cung cấp cho người nuôi khu vực miền Bắc Đồng thời, các kết quả thu được từ đề tài Khoa học và Công nghệ
cấp Trường Đại học Vinh năm 2013: “Nghiên cứu sản xuất giống cá H ng Mỹ (Sciaenops ocellatus) bằng ngu n cá bố mẹ nuôi thành thục trong ao tại Trung tâm Thực hành Hải sản - Đại học Vinh”, Mã số: T2013-80LKbước đầu đã nghiên cứu
được quy trình sản xuất giống cá Hồng Mỹ bằng chính nguồn cá bố mẹ được nuôi thành thục trong ao với quy mô nhỏ Từ các quy trình công nghệ đã có và kết quả
thu được từ đề tài cấp Trường, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: Ảnh hưởng của
một số yếu tố kỹ thuật trong sản xuất cá Hồng Mỹ (Sciaenops ocellatus
Linnaeus, 1766) giống từ nguồn cá bố mẹ nuôi trong ao
2 Mục tiêu của đề tài
Sản xuất được cá Hồng Mỹ (Sciaenops ocellatus) bằng nguồn cá bố mẹ nuôi
thành thục trong ao ở vùng Bắc Trung Bộ để chủ động con giống phục vụ cho phát triển nuôi cá Hồng Mỹ
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Đóng góp cơ sở khoa học cho nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất giống
cá Hồng Mỹ (Sciaenops ocellatus) trong điều kiện nhân tạo
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Tạo tiền đề cho nghiên cứu, hoàn thiện quy trình sản xuất giống và ương
nuôi thành công cá Hồng Mỹ (Sciaenops ocellatus)
- Giúp thúc đẩy cho nghề nuôi loài cá Hồng Mỹ phát triển bền vững ở Bắc Trung
Bộ nói riêng và Việt Nam nói chung thông qua nguồn giống sinh sản nhân tạo
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Một số đặc điểm sinh học của cá Hồng Mỹ
1.1.1 Vị trí phân loại và đ c điểm nhận dạng
Loài cá Hồng Mỹ (S ocellatus Linnaeus, 1766)
Hình 1.1 Hình thái ngoài cá Hồng Mỹ (S Ocellatus Linnaeus, 1766)
Cá có hình thon dài, thân hơi tròn lưng có gồ cao lên, vẩy lược lớn vừa và nhỏ Vùng đầu khoảng cách giữa mắt và đầu không có vẩy, bộ phần đầu trừ mõm, xương trước mắt và xương dưới mắt ra đều có vẩy Vây lẻ không có vẩy hoặc vẩy
bẹ thấp, đường bên hoàn toàn, đi ra sau theo vành ngoài của bộ phận lưng Mắt trung bình, miệng rộng, ở phía trước hơi thấp và hơi lệch phía dưới, môi mỏng có thể co duỗi được, chúng có từ 4÷6 răng nanh nhọn sắc, một số ít là răng cắt ở phía trước hàm và ở đằng trước của mỗi hàm, tiếp đó là nhiều hàng răng chóp hoặc răng tròn phía sau thì nở rộng thành răng cấm sau này sẽ to dần lên như răng hàm và trải
ra thành từ hai đến bốn hàng mà hàng ngoài là răng rất chắc khỏe Vây lưng liên tục, không có khía lõm, bộ phận gai và tia vây cũng rất nở nang, gai vây lưng to khỏe, chúng có khoảng 10 ÷ 13 tia gai cứng, 9 ÷ 17 tia vây mềm Vây hậu môn có 3 tia gai [3]
Trang 131.1.2 Đặc điểm phân bố
Cá Hồng Mỹ là loài cá có đặc điểm rộng muối, rộng nhiệt, phân bố ở vịnh Mehico và vùng duyên hải Tây Nam nước Mỹ và đã được nhập cư vào các nước khu vực: Đài Loan, Trung Quốc, Việt Nam, và nhanh chóng trở thành một đối tượng nuôi kinh tế khá quan trọng Họ cá này cũng được tìm thấy ở các vùng nước Đại Dương ôn đới và nhiệt đới, chúng sống đáy vùng ven bờ, vùng đá ngầm ven bờ, nơi có dòng nước ấm hay ở các vùng đáy cát, đá cứng, vùng hỗn hợp bùn cát hoặc vùng đá san hô chết Phân bố ngang thì chúng sống từ đáy ven bờ cho đến các rạn đá hoặc bãi san hô chết ở độ sâu tới 50÷60 m nước Cũng có loài ban đầu ở các vùng cửa sông, phát triển lớn hơn chuyển ra các vùng nước sâu hơn, có khi tới độ sau 150 m nước
Cá trưởng thành 3÷4 tuổi di cư từ vùng nước ngọt về vùng cửa sông và ra biển nơi có độ mặn 30÷32‰ để phát triển tuyến sinh dục và đẻ trứng sau đó Cá đẻ trứng theo chu kỳ trăng, cá thường đẻ vào thời điểm thủy triều lên, điều này giúp trứng và ấu trùng trôi vào vùng cửa sông, tại đó ấu trùng di chuyển ngược dòng để lớn lên [3]
1.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng
Các loài trong họ cá Đù đều là cá dữ, ăn đáy, chúng chủ yếu dinh dưỡng
bằng các loại động vật không xương sống như thân mềm (Mollusca), giáp xác (Crustacea), giun nhiều tơ (Polychaeter), kể cả cá nhỏ Cá Hồng Mỹ cũng như hầu
hết các loài cá biển khác, trong giai đoạn ấu trùng thức ăn đầu tiên của chúng đều là
động vật phù du như: Luân trùng (Brachionus plicatilis), chân chèo biển (Copepoda) Khi ấu trùng đạt chiều dài cơ thể lớn hơn 4 mm thức ăn ưa thích là
Rotifer và tiếp tục đến 30 ngày kể từ khi nở Khi ấu trùng có chiều dài đạt 12 mm
thường ăn Copepoda như Tigriopus, Arcatia, Oithoina, Paracalannus,
1.1.6 Đặc điểm sinh trưởng
Tốc độ sinh trưởng của cá Hồng Mỹ phụ thuộc vào khu vực nuôi, tại các trang trại ở Florida và vịnh Mexico cá có thể đạt 1 - 2 kg trong thời gian 14 - 22 tháng, nhưng nuôi trong khu vực nhiệt đới thì tốc độ tăng trưởng của cá sẽ tăng lên rất nhiều
Trang 14Tốc độ sinh trưởng của cá còn phụ thuộc vào mật độ nuôi, thời gian nuôi, loại thức ăn và cỡ cá giống Ví dụ cỡ cá giống 120 g với mật độ 30-60 con/m3, tốc
độ tăng trưởng trung bình là 800 g/con trong vòng 6-7 tháng nuôi ở Israel Với mật
độ 140 con/m3, cá thể đạt 750 g/con khi nuôi trong thời gian 4 tháng và cho ăn bằng thức ăn cao đạm Ở các tỉnh phía Bắc nước ta, cá nuôi sau 1 năm có thể đạt 1,0 đến 1,8 kg/con Cá Hồng Mỹ tăng trưởng chậm ở giai đoạn đầu, khi đạt 20÷30 gam tốc
độ tăng trưởng nhanh hơn (Bảng 1.1) [8] và chậm lại khi cá bắt đầu thành thục sinh dục
Bảng 1.1.Tăng trưởng trung bình của cá trong sinh sản nhân tạo
Tuổi (ngày)
Chiều dài trung bình (mm)
Khối lượng cơ thể trung bình (gam)
cá cái có thể đẻ 7 lần trong 26 ngày
1.2.2 Sức sinh sản và đẻ trứng
Sức sinh sản của loài cá này lớn, một cá cái 11÷14 kg có thể đẻ 0,5 triệu trứng/lần và đạt 1÷3 triệu trứng/năm Cá Hồng Mỹ thường đẻ vào mùa thu và phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố môi trường như: nhiệt độ nước, tốc độ dòng chảy và thủy triều
Trang 15Dựa trên các nghiên cứu về tập tính sinh sản của cá trong bể, nhiều tác giả cho biết cá đực và cá cái thành thục sẽ sớm tách đàn và ngừng ăn 1 tuần trước khi
đẻ Khi cá cái thành thục sinh dục tốt nó sẽ gia tăng các hoạt động sinh dục với cá đực, cá đực và cá cái chín mùi sinh dục sẽ bơi lội thành cặp, thường xuyên ở tầng mặt khi sắp đẻ trứng Cá đẻ thành nhiều đợt trong ngày, thời gian đẻ trứng vào lúc chiều tối khoảng 19÷23 h
1.2.3 Phát triển phôi
Lần phân cắt đầu tiên xảy ra 20 phút sau khi thụ tinh, sự phân chia tế bào tiếp tục sau mỗi 15÷20 phút và trứng phát triển đến giai đoạn nhiều tế bào trong vòng 3 giờ Sự phát triển của trứng trải qua các giai đoạn thông thường: phôi nang, phôi vị, phôi thần kinh và phôi mầm Tim phôi bắt đầu hoạt động sau khoảng 15 giờ và trứng nở sau 19 giờ (ở nhiệt độ 28÷30 oC, độ muối 30÷32 ‰) tính từ lúc thụ tinh
1.2.4 Ấu trùng
Chiều dài của ấu trùng mới nở dao động từ 1,31÷1,68 mm, trùng bình là 1,49
mm Noãn hoàng dài trung bình 0,86 mm, có giọt dầu nằm phía trước của noãn hoàng làm cho cá mới nở nổi hầu như theo chiều thẳng đứng hay khoảng 45o so với mặt phẳng nằm ngang Lúc đầu sự hình thành sắc tố không đồng loạt: mắt, ống tiều hóa, huyệt và vây đuôi trong suốt Ba ngày sau khi nở noãn hoàng hầu như được sử dụng hết và hạt dầu còn không đáng kể, ở giai đoạn này miệng mở ra và hàm bắt đầu cử động, ấu trùng bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài Quan sát thấy rằng chỉ những
cá hương khỏe mạnh (giai đoạn 20÷30 ngày tuổi) mới bơi lội cử động Chúng thường có màu nhạt hơn, các ấu trùng không khỏe có màu đen hay sẫm
1.3 Một số vấn đề về ương nuôi cá giai đoạn giống
1.3.1 Giai đoạn từ cá hương lên cá giống (30÷60 ngày tuổi)
Theo Trần Hữu Lễ và cộng sự (2007): Kết quả ương cá Hồng Mỹ 45 ngày tuổi trong ao đất và sử dụng thức ăn là Artemia sinh khối tươi sống đạt 80÷86 %, cao hơn
so với tỷ lệ sống của nhiều tác giả khác đã thực hiện như: 42,13 % (Nguyễn Trọng Nho, 2004) khi ương trong ao đất 65,3÷91,3 % (Khưu Phương Quế, 2006) khi ương trong giai và 56,7÷96,7 % (Phan Quốc Thoại, 2000) khi ương trên bể Khi so sánh tỷ
lệ sống trung bình khi cho ăn 100 % Artemia sinh khối tươi sống có tỷ lệ sống khá đồng đều hơn so với khi cho ăn 50 % Artemia sinh khối + 50 % cá tạp và 100 % cá tạp
Trang 16Theo Lục Minh Diệp [1]: Trong sản xuất nhân tạo giống cá Hồng Mỹ khi dùng DHA Protein Selco làm giàu cho thức ăn tươi sống là phù hợp nhất cho giai đoạn ương giống Tại 28 ngày tuổi, ấu trùng cá Hồng Mỹ ở nghiệm thức này sinh trưởng nhanh nhất, đạt khối lượng khô 17,5 mg, trong khi đó ấu trùng cá ở nghiệm thức làm giàu bằng hỗn hợp vi tảo Isochrysis galbana và Tetraselmis cá sinh trưởng chậm nhất, chỉ đạt 10,6 mg khối lượng khô
1.3.2 Mật độ ương
Mật độ ương của ấu trùng và giống cá Hồng Mỹ trong bể ương thay đổi theo
ngày tuổi (Bảng 1.2)
Bảng 1.2 Mật độ ương và tỷ lệ sống của ấu trùng, cá giống ở trong bể
qua các giai đoạn khác nhau Tuổi
(ngày)
Chiều dài thân (mm)
Mật độ ương (con/m3)
Tỷ lệ sống (%)
mật độ ương có thể giảm xuống từ 1÷10 con/lít thích hợp với thời gian ương [8]
Theo Trường trung cấp thủy sản IV [8], có thể ương cá Hồng Mỹ giống 2÷10
cm chiều dài toàn thân trong mương nổi SMART ở mật độ 3 con/lít Sau 15 ngày ương cá đạt khối lượng trung bình 2,4 ± 0,1 g/con; chiều dài toàn thân trung bình 5,1±0,05 cm, tỷ lệ sống đạt 81,9 ± 0,97 %
Theo Vũ Văn Dũng (2005) [2], Cá Hồng Mỹ được ương trong mương nổi bố trí trong ao ở 30 ngày tuổi, có chiều dài 15÷22 mm (17,8 ± 2,0 mm), khối lượng 0,04÷0,18 g (0,08 ± 0,03 g), mức độ phân đàn (CV%) về chiều dài là 11,4 %, mật độ
cá thả là 10 con/lít
Theo Lục Minh Diệp [1], không có sự khác nhau về sinh trưởng và tỉ lệ sống của ấu trùng cá Hồng Mỹ ương ở các mật độ 20 con/lít, 50 con/lít và 100 con/lít nếu lượng luân trùng và nauplius Artemia cho ăn tăng tỷ lệ thuận theo
Trang 17mật độ và có thể ương ấu trùng cá Hồng Mỹ ở mật độ cao (100÷200 con/lít) với việc tăng lượng thức ăn, áp dụng kỹ thuật làm giàu thức ăn sống, sử dụng chế phẩm vi sinh
1.3.3 Lọc và phân cỡ cá
Theo T Tattanon and S Maneewongsa [15] , từ ngày thứ 14 ấu trùng cá phân đàn rõ rệt, để quá trình chăm sóc hợp lý cần tiến hành lọc phân cỡ cá, công việc này được tiến hành định kỳ 7 ngày/lần Khi cá đạt cỡ 2.0 ÷ 2.2 cm, cá bắt đầu tấn công, ăn thịt lẫn nhau tiến hành lọc cá, phân cỡ để bể sung thức ăn hợp lý, nâng cao tỷ lệ sống Dùng các rổ lọc bằng nhựa hoặc inox có kích cỡ mắt lưới khác nhau thích ứng với từng
cỡ cá Ở giai đoạn cá trên 45 ngày tuổi định kỳ 3 ÷ 5 ngày phân cỡ, lọc cá một lần
1.3.4 Dinh dưỡng của ấu trùng và giống cá biển
Dinh dưỡng được xem là yếu tố quan trọng quyết định tốc độ tăng trưởng
và tỷ lệ sống của cá biển Thức ăn cho cá biển giai đoạn ấu trùng là các loài tảo
đơn bào Isochrysisgalbana, Tetraselmis, Nannochloropsis; Luân trùng:
Brachionus plicatilis, Brachionus rotundiformis; Artemia; Thức ăn tổng hợp
(NRD) và cá tạp Tuy nhiên, để ấu trùng cá tăng trưởng và đủ dinh dưỡng để vượt qua các giai đoạn biến thái thì các acid béo không no như ARA, EPA, DHA là không thể thiếu Thiếu EPA có thể gây những rối loạn như: Thối loét vẩy, vây, tăng tỷ lệ tử vong, viêm cơ tim, giảm sinh trưởng và giảm khả năng sinh sản Theo Faulk and Holt (2005): Hàm lượng DHA tỷ lệ thuận với hàm lượng DHA có trong Artemia (p<0.05), ấu trùng cá biển làm giàu bằng tảo đơn bào có chiều dài và tỷ lệ sống thấp hơn so với các sản phẩm làm giàu công nghiệp
Theo Takeuchi et al (1978): Sinh trưởng của cá hồi vân không bị ảnh hưởng khi protein khẩu phần giảm 48 % xuống 35 % nếu lipid tăng 15 % lên 20 %
Trang 18Bảng 1.3.Thành phần dinh dưỡng của thức ăn sống trước và sau làm giàu
(Rimer M.A et al 1994) Loại thức ăn
Trưởng thành
Làm giàu
Trang 19Bắc Trung Bộ gồm có 6 tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế Độ cao thấp dần từ khu vực miền núi xuống đồi gò trung du, xuôi xuống các đồng bằng phía trong dải có cồn cát ven biển rồi ra các đảo ven bờ Bắc Trung Bộ nơi bắt đầu của dãy Trường Sơn, mà sườn Đông đổ xuống Vịnh Bắc Bộ, có độ dốc khá lớn Lãnh thổ có bề ngang hẹp, địa hình chia cắt phức tạp bởi các con sông và dãy núi đâm ra biển, như dãy Hoàng Mai (Nghệ An), dãy Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh), sông Mã (Thanh Hoá), sông Cả (Nghệ An), sông Nhật Lệ (Quảng Bình), Cấu trúc địa hình gồm các cồn cát, dải cát ven biển, tiếp theo là các dải đồng bằng nhỏ hẹp, cuối cùng phía Tây là trung du, miền núi thuộc dải Trường Sơn Bắc Nhìn chung địa hình Bắc Trung Bộ phức tạp, đại bộ phận lãnh thổ là núi, đồi, hướng ra biển, có độ dốc, nước chảy xiết, thường hay gây lũ lụt bất ngờ gây khó khăn cho sản xuất và đời sống nhân dân
Là vùng thường xuyên phải chịu tác động bất lợi của thời tiết, khí hậu như hạn hán, bão, lũ lụt, gió Tây Nam khô nóng, nước biển dâng, đặc biệt là gia tăng nhiệt độ và thay đổi lượng mưa gây ảnh hưởng đến NTTS trong vùng Khu vực từ Hà Tĩnh đến Quảng Trị có nhiệt độ mùa hè tăng từ 1,4-1,8 o
C (giữa thế kỷ 21) lên 3,1-3,7
oC (cuối thế kỷ 21) Mức tăng nhiệt độ này bắt đầu vượt ngưỡng chịu đựng của hệ sinh thái và gây ra nhiều tác động nghiêm trọng cho sự sinh trưởng của các đối tượng NTTS Vào mùa mưa, lượng mưa tăng mạnh đã gây lũ lụt, nhưng đến mùa khô thì không có mưa, gây hạn hán Mức nước biển khu vực Hòn Dấu-Đèo Ngang được dự đoán là dâng thêm 20-24 cm (năm 2050) và 49-65 cm (năm 2100) Lượng mưa thay đổi cũng làm thay đổi độ mặn và dòng chảy của các sông và cửa sông chính Mặc dù vùng Bắc Trung Bộ có hệ thống đê ven biển nhưng vẫn bị ảnh hưởng về diện tích NTTS trong và ngoài đê (thu hẹp hoặc mở rộng) Chính vì vậy, hoạt động NTTS của khu vực Bắc Trung Bộ được dự báo là sẽ chịu nhiều tác động tiêu cực của BĐKH
Các tác động bất lợi và tiêu cực này nếu không có biện pháp can thiệp, sẽ đe dọa các mục tiêu tăng trưởng bền vững của ngành thủy sản Một số nghiên cứu đã cho thấy, BĐKH có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến NTTS thông qua nguồn nước, diện tích nuôi, môi trường nuôi, con giống, dịch bệnh… và qua đó gây ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng và cơ sở hạ tầng của các vùng NTTS nói chung
và NTTS ven biển nói riêng Các hiện tượng thời tiết bất thường như bão lũ, hạn
Trang 20hán, nắng nóng hoặc giá rét kéo dài có thể tác động tiêu cực đến nguồn nước và sức
đề kháng của các đối tượng nuôi, gây bùng phát dịch bệnh Vùng Bắc Trung Bộ có mùa đông lạnh, nhiệt độ thấp kéo dài đã gây ảnh hưởng đến sự phát triển nuôi trồng
thủy sản nói chung và nghề nuôi cá biển của vùng Điều kiện nhiệt độ thấp với mùa
đông giá rét (kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 âm lịch năm sau) trong khi các đối tượng cá biển khác khả năng chịu rét kém nên không thể phát triển nuôi được
Chịu sự ảnh hưởng của biến đổi khí hậu thời tiết diễn biến phức tạp, môi trường biến động, diễn biến độ mặn ở các vùng nuôi tôm biến đổi nhiều, dịch bệnh thường xuyên xảy cho nên nhiều vùng nuôi đã lựa chọn nuôi cá Hồng mỹ (rộng muối) Hiện cá Hồng mỹ đang được nuôi nhiều ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Định, Nghệ An với nhiều hình thức như nuôi ao, nuôi lồng bè
1.6 Tình hình sản xuất giống cá biển hiện nay
1.6.1 Tình hình sản xuất giống cá biển trên thế giới
Năm 1994, Đài Loan là nước đầu tiên nghiên cứu sản xuất thành công giống nhân tạo cá Giò và đến năm 1997 đã sản xuất được giống cá này ở qui mô thương mại Đến nay, Đài Loan đã chủ động sản xuất giống trong điều kiện nhân tạo của hầu hết các loài cá biển là đối tượng nuôi (khoảng 60 loài)
Nhật Bản sản xuất giống của gần 20 loài cá biển, không những phục vụ nhu cầu nuôi mà còn có thể thả ra biển phục vụ mục đích tái tạo và tăng cường nguồn lợi tự nhiên
Từ những năm 1950, Trung Quốc bắt đầu nghiên cứu kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo cá biển, đến năm 2000 Trung Quốc sản xuất thành công giống nhân tạo của 54 loài cá biển, hàng năm nước này sản xuất khoảng 10 tỷ con giống cá biển và tập trung vào các loài có giá trị kinh tế như cá mú, cá hồng, cá tráp, Các nước Đông Nam Á mới bắt đầu nghiên cứu sản xuất giống cá biển trong khoảng 14 năm gần đây và đã có những thành công nhất định: Indonesia chủ yếu thành công trên cá
song chuột, Thái Lan sản xuất thành công cá Chẽm (Lates calcarifer) và cá Song chấm (Epriinephelus Coioides), đây là nước đầu tiên nghiên cứu sản xuất giống cá
Chẽm thành công vào năm 1970 Hiện nay, Thái Lan vẫn là nước đứng đầu thế giới
về sản xuất con giống cá Chẽm, hàng năm sản xuất khoảng 10 triệu con giống Các nước như Philippines và Malaysia mới có những thành công bước đầu về một số đối
Trang 21tượng nuôi ở quy mô nhỏ Nguồn cá giống cung cấp cho các nước này chủ yếu nhập
từ Đài Loan
Ở Philippines, cá măng được xem là đối tượng nuôi quan trọng nhất, sản lượng năm 1987 là 211.125 triệu tấn cá thịt (Rogelio và Carlos, 1990) Trong khi
đó, ở các nước châu Âu, cá chẽm loài Dicentrachus labrax là loài được ưa chuộng
trong nghề nuôi và sản xuất giống Số liệu thống kê cũng cho biết, số lượng cá chẽm con sản xuất được năm 1987 ở Pháp, Ý, Hy Lạp lần lượt là 2.6 triệu, 5 triệu, 3
triệu con Cá giống loài Scophthamus maximus cũng được sản xuất ở những nước
này Ví dụ: năm 1987, Anh sản xuất 230.000 con, Pháp: 75.000 con, Tây Ban Nha: 265.000 con, và Na Uy là 110.000 con
Đối với loài cá Hồng Mỹ, năm 1991 Trung Quốc đã nhập loài này từ Mỹ và đến năm 1995 Trung Quốc đã cho sinh sản nhân tạo thành công Đến nay cá Hồng
mỹ trở thành một trong đối tượng nuôi chính ở Trung Quốc
Năm 1991 David J T tiến hành nghiên cứu về sinh học và vòng đời của cá Hồng Mỹ Ông đã xem xét đến nhiều khía cạnh khác nhau, cho ra nhiều kết quả quan trọng về tập tính sống, sức sinh sản, đẻ trứng cũng như vòng đời phát triển của ấu trùng cá Hồng Mỹ Tại Đài Loan, vào năm 1994, Liao I C đã tiến hành cho cá Hồng
Mỹ sinh sản nhân tạo Tác giả cũng đã nêu lên được mối quan hệ giữa chiều dài và khối lượng trong sinh sản của cá
Các nghiên cứu về dinh dưỡng của cá Hồng Mỹ trên thế giới cũng khá phong phú Hai nhà khoa học Boren và Gatlin (1995) đã nghiên cứu, đánh giá hàm lượng threonine trong thức ăn của cá Hồng Mỹ Nghiên cứu đã chỉ ra rằng yêu cầu về threonine trong thành phần thức ăn của Hồng Mỹ là 0,8%
Cũng trong năm 1995, Holt cộng tác với Brinkmeyer thực đề tài nghiên cứu tăng trưởng của ấu trùng cá Hồng Mỹ với các mức lipid khác nhau Kết quả cho thấy, với mức lipid 18,3% cho tốc độ tăng trưởng cao nhất so với các mức khác Trước đó, vào năm 1994 Craig S.R., C.R Arnold và G.J Holt cùng nhau đánh giá sự ảnh hưởng của các thành phần acid béo lên tăng trưởng ấu trùng cá Hồng Mỹ, đặc biệt là các acid béo không no (HUFA) Nghiên cứu này sử dụng luân trùng để làm thức ăn cho ấu trùng cá Hồng Mỹ Sau khi kết thúc, các nhà nghiên cứu đều cho rằng bổ sung DHA (docosahexanoic acid) với hàm lượng
Trang 220,3÷0,4 mg/100 luân trùng làm thức ăn cho ấu trùng cá Hồng Mỹ 10 ngày tuổi
[14]
1.6.2 Tình hình nuôi sản xuất giống cá biển ở Việt Nam
Việt Nam bắt đầu nghiên cứu sản xuất giống cá biển từ những năm
1993-2004 Kết quả nghiên cứu sản xuất cá biển của Việt Nam chỉ mới thành công ở những bước đầu và chủ yếu thành công ở các Viện nghiên cứu
Hiện nay, chúng ta đã cơ bản chủ động sản xuất nhân tạo được 6 đối tượng nuôi có giá trị kinh tế: cá Dìa, cá Song chấm nâu, cá Giò, cá Hồng Mỹ, cá Chẽm, cá Chẽm mũi nhọn
Từ năm 1993, Viện nghiên cứu Hải sản đã tiến hành nghiên cứu sinh sản một
số loài cá biển có giá trị kinh tế như: cá Song, cá Vược, cá Giò, cá Tráp Năm
1994-1995, bước đầu sản xuất được các loài trên nhưng tỷ lệ sống của cá bột/cá giống còn rất thấp
Từ năm 1997 - 1999, Viện nghiên cứu Hải sản đã nghiên cứu sản xuất thành công giống cá Giò, cung cấp trên 10 nghìn con giống cỡ 10 - 15 cm cho ngư dân và một số cơ sở sản xuất nuôi cá lồng trên biển Quảng Ninh, Hải Phòng Từ năm 2001 đến nay được sư tài trợ của hợp phần SUMA và dự án NORAD, Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I đã tiến hành nghiên cứu hoàn thiện quy trình tại các địa điểm Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An đã thu được nhiều kết quả, sản xuất được 3,2 vạn giống cỡ 5- 6 cm, 1,3 vạn con giống cỡ 15 cm
Năm 2002, Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I sản xuất thành công giống
cá song tại Cát Bà (Hải Phòng) Hiện nay Viện nghiên cứu đã chủ động công nghệ sản xuất cá song chấm nâu, công nghệ này đã được chuyển cho các cơ sở sản xuất giống trên các địa phương
Từ giữa những năm 2000, trường Đại học Nha Trang, Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I và Trường Cao đẳng thủy sản đã thưc hiện các công trình nghiên cứu để chủ động sản xuất giống cá Chim vây vàng nhằm hạ giá thành con giống Hiện nay giá cá giống mà trường Đại học Nha Trang đang áp dụng chỉ bằng 2/3 giá
cá giống nhập khẩu Năm 2010, sản lượng cá giống đạt khoảng 300 nghìn con (cỡ 3-5 cm) Ba năm tiếp theo, mỗi năm sản xuất gần 1 triệu con giống Dự kiến trong năm 2014 sản xuất được khoảng 1,2 triệu cá giống cung cấp cho các cơ sở nuôi thương phẩm Bên cạnh đó, trường Đại học Nha Trang còn cung cấp trứng cá Chim
Trang 23vây vàng và tư vấn kỹ thuật cho một số cơ sở vùng lân cận, giúp các cơ sở sản xuất được 300 nghìn cá giống (năm 2012), 1 triệu cá giống (năm 2013) và dự kiến đạt 1,5 triệu con trong năm 2014
Để đa dạng hoá thêm đối tượng nuôi biển, năm 1999 Viện nghiên cứu Hải sản Hải Phòng tiến hành nhập cá Hồng Mỹ từ Trung Quốc với mục đích nghiên cứu
kỹ thuật ương cá bột và cá giống Đàn cá bột được đưa về tại Trạm nghiên cứu sinh vật biển Cát Bà và Trạm nghiên cứu Thủy sản nước lợ Quí Kim (Đồ Sơn - Hải Phòng) Cho đến năm 2003, lần đầu tiên cá Hồng Mỹ được cho đẻ thành công tại Việt Nam
Mai Công Khuê và ctv (2005) công bố qui trình công nghệ sản xuất giống
nhân tạo cá Hồng Mỹ Sciaenops ocellatus tại Việt Nam
Phạm Mỹ Dung và ctv (2012) đã tiến hành nghiên cứu “Ảnh hưởng của mật
độ ương nuôi đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá Hồng Mỹ (Sciaenops ocellatus)
giai đoạn giống” tại Nghi Hợp (Nghi Lộc - Nghệ An) Kết quả cho thấy sau 40 ngày ương nuôi, cá nuôi ở mật độ 40 con/m2
tăng trưởng nhanh nhất với tỷ lệ sống khoảng 83,33 % [3]
Trang 24Chương 2
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
- Xác định loại thức ăn phù hợp nâng cao được tỷ lệ thành thục của cá bố, cá
mẹ
- Xác định loại kích dục tố ảnh hưởng đến sinh sản của cá Hồng Mỹ
- Xác định độ mặn phù hợp đối với tỷ lệ nở của trứng cá Hồng Mỹ
- Xác định nhiệt độ phù hợp đối với tỷ lệ nở của trứng cá Hồng Mỹ
- Xác định mật độ ương phù hợp nhằm nâng cao tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Hồng Mỹ giai đoạn cá giống
- Xác định loại thức ăn phù hợp nhằm nâng cao tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Hồng Mỹ giai đoạn cá giống
2.2 Vật liệu nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Cá Hồng Mỹ (Sciaenops ocellatus) bố mẹ >3+ tuổi, được lựa chọn từ vùng nuôi cá lồng tập trung tại vịnh Nghi Sơn, Tĩnh Gia, Thanh Hóa có chiều dài thân 0,6- 0,8 m, khối lượng 3 - 7 kg/con
- Trứng cá, cá Hồng Mỹ các giai đoạn cá bột, cá hương có nguồn gốc từ sinh sản nhân tạo, từ nguồn cá bố mẹ được nuôi vỗ
Trang 252.2.2 Vật liệu và thiết bị dùng trong nghiên cứu:
- Bể xi măng sử dụng kích thích sinh sản cá, thể tích 6 m3
- Xô có dung tích 20 lít sử dụng để ấp trứng: 18 cái
- Giai ương cá giống, diện tích 4 m2: 18 giai
- Máy sục khí, heater nâng nhiệt, máy xay thức ăn, kính hiển vi quang điện,
hệ thống quạt nước, máy đo pH, ô xy hòa tan, độ mặn, nhiệt độ, cân điện tử độ chính xác 0,01 g, thước kẹp độ chính xác 0,1 mm và các vật dụng phòng thí nghiệm khác
+ TĂV1: 100% thức ăn cá tạp;
+ TĂV2: Cá tạp bổ sung (vitamin, khoáng, dầu mực);
+ TĂV3: Thức ăn công nghiệp dành cho cá biển có hàm lượng protein 45% Cho cá ăn 2 lần/ngày vào lúc 7 giờ và 16 giờ, nước trong ao được quạt và sục khí liên tục 24/24 giờ, đảm bảo mức ô xy hòa tan luôn luôn ≥ 4,0 mg/lít Ao nuôi vỗ được khử trùng, diệt khuẩn trước khi cấp nước mặn, và tiến hành vệ sinh, thay 30-50% nước định kỳ trong 7-10 ngày/lần Theo dõi các yếu tố môi trường hàng ngày vào lúc 6 giờ 30 và 15 giờ và được điều chỉnh trong giới hạn phù hợp: ô xy hòa tan (4 - 6,4), pH (6,5 - 8,5), nhiệt độ nước (20 - 330C), độ mặn (26-330/00)
Định kỳ sau mỗi 15 ngày theo dõi, tiến hành kiểm tra, đánh giá mức độ thành thục của cá bố mẹ bằng cách lấy mẫu trứng và tinh:
Trang 26- Đối với cá cái: Dùng ống thăm trứng (Polyethylene) đường kính 1,2 mm Gây mê cá bằng Ethylenglycol: 50 cc/300 lít nước sạch, mỗi lần gây mê 1÷2 con sau đó chuyển cá sang bể nước sạch khác và tiếp tục gây mê những con còn lại Cá thành thục sinh dục khi kiểm tra trứng có đường kính 0,4÷0,5 mm, trứng rời
- Đối với cá đực: Dùng tay vuốt nhẹ từ vùng bụng đến lỗ sinh dục, cá đực tốt
sẽ có sẹ đặc, màu trắng sữa
Thí nghiệm 2: Xác định loại kích dục tố ảnh hưởng đến sinh sản của cá
Hồng Mỹ
Thí nghiệm bố trí ngẫu nhiên hoàn toàn trong 9 bể có thể tích 6 m3/bể, mỗi
bể có 3 cặp cá bố mẹ (tỷ lệ đực:cái là 1:1), với 3 công thức kích dục tố, mỗi công thức lặp lại 3 lần, gồm:
+ KD1: HCG, liều lượng 1500 UI/kg cá cái
+ KD2: LRH-A, liều lượng 8 g/kg cá cái
+ KD3: HCG (1000UI/kg cá cái) + LRH-A (6g/kg cá cái)
Kích dục tố được tiêm một lần, liều lượng thuốc tiêm cho cá đực bằng 1/2 liều lượng của cá cái, vị trí tiêm là ở gốc vây ngực của cá
Cho cá ăn 1 lần/ngày vào buổi sáng, lúc 7 giờ bằng cá tạp tươi với lượng tương đương 3% trọng lượng cá Sục khí liên tục 24/24 giờ để duy trì mức ô xy hòa tan trong bể ≥ 4,0 mg/l
Thí nghiệm 3: Xác định độ mặn phù hợp đối với tỷ lệ nở của trứng cá Hồng
Mỹ
Thí nghiệm được tiến hành với 3 công thức độ mặn, mỗi công thức được lặp lại 3 lần, được bố trí ngẫu nhiên trong 9 xô nhựa thể tích 20 lít, mỗi xô ấp 3000 trứng đã thụ tinh
Thí nghiệm 4: Xác định nhiệt độ phù hợp đối với tỷ lệ nở của trứng cá Hồng
Mỹ
Trang 27Tương tự thí nghiệm 3, trứng thụ tinh cũng được tiến hành bố trí ngẫu nhiên trong 9 xô 20 lít với mật độ 3000 trứng/xô Thí nghiệm được tiến hành với 3 công thức nhiệt độ:
Thí nghiệm 5: Xác định loại thức ăn phù hợp nhằm nâng cao tốc độ sinh
trưởng và tỷ lệ sống của cá Hồng Mỹ giai đoạn cá giống
Trong quá trình thí nghiệm, định kỳ vệ sinh giai 1 tuần/lần Tiến hành thay 30% nước trong ao sau mỗi 5 ngày thí nghiệm để đảm bảo môi trường trong sạch cho cá sinh trưởng
Thời gian thí nghiệm: 35 ngày
Hình 2.1.Sơ đồ bố trí thí nghiệm mật độ và thức ăn cho ương cá giống
Kết luận và đề xuất ý kiến
Ương cá giống
Trang 28Cá thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên trên cá giống cỡ từ 4,04 cm đế 4,09
cm với 3 công thức mỗi công thức lặp lại 3 lần, trong 9 giai thể tích như nhau 4
m2 (kích thước 2,0 m x 1,5 m x 1,2 m) Giai được mắc trong 1 ao có độ sâu 1,2
m, đáy giai cách đáy ao 20 cm và luôn được giữ căng Mật độ cá thí nghiệm là
10 con/lít Thức ăn thí nghiệm gồm:
+ TAƯ1: 100% cá tạp
+ TAƯ2: Thức ăn tự chế (bột cá 50%, bột đậu nành 35%, cám gạo 10%, premix vitamin 2%, premix khoáng 3%)
+ TAƯ3: 100% thức ăn công nghiệp có hàm lượng protein 40%
Chuẩn bị thức ăn thí nghiệm: cá tạp (cá biển) được rửa sạch bằng nước ngọt, băm nhỏ và xay nhuyễn trước khi làm thức ăn cho cá thí nghiệm Thức ăn
tự chế (bột cá 50% +35% bột khô đậu nành, cám gạo 10%, premix vitamin 2%, premix khoáng 3%) được phối trộn trước khi cho ăn 2-3 ngày, được bảo quản lạnh trong tủ đông (-10 0C) để cho cá ăn dần Cho cá ăn 2 lần/ngày vào lúc 7 giờ và 16 giờ
Thí nghiệm 6: Xác định mật độ ương phù hợp nhằm nâng cao tốc độ sinh
trưởng và tỷ lệ sống của cá Hồng Mỹ giai đoạn cá giống
- Thí nghiệm được tiến hành với 3 công thức mật độ trên cá giống cỡ từ 4,05
35 ngày
Trang 29Hình 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm mật độ cho ương cá giống
Cho cá ăn 2 lần/ngày vào lúc 7 giờ và 16 giờ bằng thức ăn công nghiệp dành cho cá biển sử dụng ở thí nghiệm 5 Nước trong ao được quạt và sục khí liên tục 24/24 giờ, đảm bảo mức ô xy hòa tan luôn luôn ≥ 4,0 mg/lít Ao nuôi thí nghiệm được khử trùng, diệt khuẩn trước khi cấp nước mặn, và tiến hành vệ sinh, thay 30 - 50% nước định kỳ trong 7 - 10 ngày/lần
Giai ương được định kỳ 7 ngày/lần vệ sinh, làm thông thoáng mắt lưới, tăng
sự lưu thông, trao đổi với môi trường bên ngoài Theo dõi các yếu tố môi trường hàng ngày vào lúc 6 giờ 30 và 15 giờ
Các yếu tố môi trường ở thí nghiệm 5, 6 được điều chỉnh trong giới hạn phù hợp với đặc điểm sinh học của cá Hồng Mỹ; nhiệt độ (20 - 33oC), DO (4 - 6,4), độ mặn (27,2 - 330/00), pH (7- 8,5)
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu
* Thu thập số liệu sơ cấp: Trực tiếp tham gia đề tài tiến hành theo dõi, thu thập số liệu
về nội dung liên quan, trao đổi kinh nghiệm với công nhân và kỹ sư trong trại
Kết luận và đề xuất ý kiến
Ương cá giống
Trang 30* Thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập số liệu qua các tài liệu tham khảo, báo cáo
khoa học Thu thập số liệu tại cơ sở về điều kiện tự nhiên, khí hậu, báo cáo tổng kết
và sổ ghi chép hàng năm của trung tâm
* Theo dõi tốc độ tăng trưởng của cá:
Xác định dựa theo chiều dài thân tiêu chuẩn (SL) và khối lượng (W) toàn thân cá Tiến hành theo dõi các chỉ tiêu tăng trưởng theo chiều dài (bằng thước kẹp Palmer chia vạch có độ chính xác đến 0,1 mm) và khối lượng (bằng cân điện tử TANITA có độ chính xác đến 0,01 g) trên cá thí nghiệm định kỳ 7 ngày/lần, mỗi lần do mẫu ngẫu nhiên 30 cá thể
- Tăng trưởng tích lũy:
Là khối lượng (W: W1, W2, W3, ), kích thước (L: L1, L2,L3, ), thể tích (V: V1, V2, V3, ) của cơ thể mà con vật tích lũy được trong một khoảng thời gian hay đến thời tiểm xác định (T: T1, T2, T3, ) tương ứng nào đó
- Tăng trưởng tuyệt đối (AGR)
+ Khối lượng = (W2-W1)/(T2-T1) (g/ngày)
+ Dài thân = (L2-L1)/(T2-T1) (cm/ngày)
Trong đó:
- W1/L1:Khối lượng/chiều dài tại thời điểm cân (đo) lần trước
- W2/L2: Khối lượng/chiều dài tại thời điểm kết cân (đo) lần sau
- T1: Thời điểm cân (đo) lần trước
- T2: Thời điểm cân (đo) lần sau
- Tăng trưởng tương đối SGR (%/ngày) theo công thức:
Khối lượng (%/ngày) = [(W2-W1)/(T2-T1)]/W1 * 100
Dài thân (%/ngày) = [(L2-L1)/(T2-T1)]/L1 * 100
Trong đó:
- W1:Khối lượng/chiều dài tại thời điểm cân (đo) lần trước
- W2: Khối lượng/chiều dài tại thời điểm kết cân (đo) lần sau
- T1: Thời điểm cân (đo) lần trước
- T2: Thời điểm cân (đo) lần sau
Trang 31Tổng khối lượng cá tăng thêm
Tỷ lệ thành thục (%) = (Số cá thành thục/số cá đưa vào nuôi vỗ)*100
Sức sinh sản tuyệt đối F = nG/g
Trong đó: G :Trọng lượng buồng trứng (g)
g : Trọng lượng mẫu trứng được lấy ra để đếm (g) n: Số trứng của mẫu được lấy ra để đếm hạt
Sức sinh sản tương đối FA = Số trứng có trong buồng trứng/trọng lượng thân
2.5 Địa điểm và thời gian triển khai nghiên cứu
Nghiên cứu được triển khai từ tháng 5/2014 đến tháng 12/2014 tại Trung tâm Nghiên cứu và Thực hành Nuôi trồng Hải sản, thuộc Khoa Nông Lâm Ngư, Đại học Vinh Địa chỉ: xã Xuân Trường, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh
Trang 32Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Ảnh hưởng của thức ăn đến sự thành thục của cá Hồng Mỹ giai đoạn nuôi
vỗ
Chúng tôi đã sử dụng 3 loại thức ăn khác nhau là cá tạp (100%) ở TĂV1; cá tạp kết hợp phụ gia (vitamin, khoáng, dầu mực) ở TĂV2 và thức ăn công nghiệp với nồng độ protein 45% ở TĂV3 để nuôi vỗ cá Hồng Mỹ bố mẹ và đã thu được các kết
quả trên Bảng 3.1
Bảng 3.1 Kết quả thử nghiệm các loại thức ăn nuôi vỗ cá Hồng Mỹ bố mẹ
Các kết quả thu được cho thấy, các loại thức ăn để nuôi vỗ thử nghiệm các
bố mẹ đã cho tỷ lệ thành thục tương đối cao ở cả cá đực và cá cái Tỷ lệ thành thục
ở cá đực ở TĂV2 là cao nhất: 30/30 con (100%) ở cả cá cái và cá đực Tỷ lệ thành thục con đực ở TĂV3 ở cả cá cái và cá đực đều đạt 26/30 con (86,6%) và thấp nhất
3.2 Ảnh hưởng của loại và liều lượng kích dục tố đến sinh sản của cá Hồng Mỹ
Thí nghiệm được tiến hành với KD1: HCG, liều lượng 1500 UI/kg cá cái; KD2: LRH-A, liều lượng 8 g/1kg cá cái và HCG (1000UI/kg cá cái) kết hợp LRH-
A (6g/kg cá cái) ở KD3 Cá đực được tiêm với liều lượng bằng 1/2 so với liều tiêm cho cá cái, chỉ tiến hành tiêm kích dục tố 1 lần trong quá trình cho đẻ, tiêm vào gốc vây ngực của cá bố, cá mẹ
Sau khi tiêm kích dục tố thực tế cho thấy thời gian hiệu ứng của thuốc nằm trong khoảng 34-38 giờ, thời gian cá đẻ thường nằm trong khoảng 18 - 22 giờ đêm Kết quả ảnh hưởng của loại kích dục tố với liều lượng khác nhau để kích thích cá sinh sản được thể hiện ở Bảng 3.2
Trang 33Bảng 3.2 Ảnh hưởng của các loại kích dục tố đến sinh sản cá Hồng Mỹ
Sức sinh sản tuyệt đối
Tỷ lệ thụ tinh (%)
3.3 Kết quả xác định ảnh hưởng của độ mặn và nhiệt độ đến tỷ lệ nở của trứng 3.3.1 Ảnh hưởng của độ mặn đến tỷ lệ nở của trứng cá.
Quá trình ấp nở trứng cá phụ thuộc nhiều vào các yếu tố sinh thái đặc biệt đối với cá biển thì độ mặn có vai trò quan trọng Để xác định, lựa chọn được độ mặn phù hợp trong quá trình ấp, chúng tôi đã thí nghiệm với 3 ngưỡng độ mặn là 35‰ ở ĐM1; 30‰ ở ĐM2 và 25‰ tương ứng với ĐM3 Kết quả thu được trong nghiên cứu này được trình bày trên Bảng 3.3
Trang 34Kết quả xác định ảnh hưởng của độ mặn cho thấy ở ĐM1 (độ mặn 35‰), tỷ
lệ nở của trứng đạt cao nhất (85,37 %), thấp hơn ở ĐM2 (30 ‰) là 81,72 % và tỷ lệ
nở thấp nhất ở ĐM3 (25 ‰) là 69,51 % So sánh với nghiên cứu của nhóm tác giả thuộc trường Cao đẳng thủy sản (2005 và 2006) khi ấp trứng ở độ mặn 22-30 ‰ thì
tỷ lệ nở của trứng đạt 75 - 87 % [9] Như vậy kết quả thu được của chúng tôi về tỷ
lệ nở của trứng cá Hồng Mỹ đạt thấp hơn Chỉ tiêu tỷ lệ cá dị hình để đánh giá chất lượng cá bột cho thấy ĐM1 (35 ‰), tỷ lệ dị hình ở cá thấp nhất (1,47 %), tiếp đến ĐM2 (1,95 %), tỷ lệ dị hình cao nhất ở ĐM3 (2,14 %)
3.3.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến tỷ lệ nở của trứng cá
Nhiệt độ có ảnh hưởng lớn đến đời sống động vật thủy sản nói chung và là yếu tố sinh thái liên quan đến quá trình ấp trứng, phát triển phôi của cá Thí nghiệm được bố trí với các mức nhiệt độ khác nhau nhằm xác định được nhiệt độ phù hợp nhằm nâng cao tỷ lệ nở của trứng cũng như sức sống của cá bột thông qua tỷ lệ cá
dị hình Kết quả thu được có trên Bảng 3.4
Kết quả thu được cho thấy, với mức NĐ1 (24 oC) tỷ lệ nở của trứng đạt thấp nhất (65,17 %), tiếp đến là mức NĐ3 (32 oC) với tỷ lệ nở đạt 74,67% và tỷ lệ nở đạt cao nhất là 85,05 % với NĐ2 (28 oC) Tỷ lệ cá dị hình thấp nhất là 1,37 % ở NĐ2,
Trang 353.4 Kết quả xác định ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của
cá Hồng Mỹ giai đoạn cá giống
3.4.1 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống của cá Hồng Mỹ giai đoạn giống
Các kết quả thu được về ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống của cá Hồng
Mỹ giai đoạn giống được trình bày trên Hình 3.1
Hình 3.1 Tỷ lệ sống của cá Hồng Mỹ giai đoạn giống
với các loại thức ăn khác nhau
Qua Hình 3.1 cho ta thấy, tỷ lệ sống trung bình cá Hồng Mỹ sau 35 ngày ương với các loại thức ăn khác nhau nhìn chung là khá cao, đạt 83,2 - 90,2 % Cụ thể tỷ lệ sống của cá đạt cao nhất ở nghiệm thức TAƯ3 (100 % thức ăn công nghiệp) là 90,2 %, tiếp đến là TAƯ2 thức ăn tự chế là 85,3 %và thấp nhất là TAƯ1 (100 % thức ăn cá tạp) là 83,2 %
Như vậy, với các loại thức ăn khác nhau đã cho tỷ lệ sống của cá Hồng
Mỹ giai đoạn cá giống là khác nhau Phân tích ANOVA một nhân tố, kiểm định LSD0,05 và DUNCAN cho thấy sự sai khác giã các công thức TAƯ đạt mức p<0,05
Theo Trương Thị Hoài (2013) [4], việc sử dụng thức ăn công nghiệp trong ương cá Chim vây vàng (giai đoạn cá hương lên cá giống) sau 35 ngày thí nghiệm với thức ăn công nghiệp HIPO 7704 với hàm lượng protein 38 % thì tỷ lệ sống đạt
tỷ lệ sống 87 % Như vậy trong ương giống một số loài cá nước mặn lợ có thể sử dụng thức ăn công nghiệp để thay thế các loại thức ăn khác như cá tạp hay thức ăn
tự chế để nâng cao tỷ lệ sống của cá giống
3.4.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng về chiều dài của cá Hồng
Mỹ giai đoạn giống
3.4.2.1.Tốc độ tăng trưởng t ch lũy chiều dài toàn thân của cá H ng Mỹ giai đoạn giống
Kết quả thu được về tăng trưởng chiều dài toàn thân cá theo thời gian (tăng
Trang 36trưởng tích lũy) giai đoạn giống được thể hiện trên Bảng 3.5 và Hình 3.2
Bảng 3.5 Tăng trưởng tích lũy chiều dài thân của cá Hồng Mỹ giai đoạn giống
Ngày nuôi Chiều dài thân (X ± SD cm)
Chiều dài toàn thân tích lũy của cá tại TAƯ3 có xu hướng lớn hơnso với các TAƯ còn lại.Tại thời điểm kết thúc thí nghiệm, sau 35 ngày ương nuôi, chiều dài toàn thân của cá ở TAƯ3 là lớn nhất (10,19 ± 0,06 cm) Tiếp đến là chiều dài toàn thân của cá ở TAƯ2 (9,31 ± 0,00 cm) và thấp nhất là cá ở TAƯ1 (8,45 ± 0,04 cm) Phân tích phương sai, kiểm định LSD0,05cho thấy, chiều dài toàn thân của cá giữa 3 TAƯ đạt mức p<0,05
Hình 3.2 Tăng trưởng tích lũy chiều dài thân của cá Hồng Mỹ giai đoạn giống
Như vậy, các loại thức ăn khác nhau đã làm cho tăng trưởng về chiều dài toàn thân theo thời gian ở các nghiệm thức là khác nhau và tại CT3 (100% thức ăn công nghiệp) cho kết quả tăng trưởng tốt nhất
Trang 373.4.2.2 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài thân của cá H ng Mỹ giai đoạn giống
Kết quả thu được về tăng trưởng tuyệt đối của chiều dài toàn thân cá của
Hồng Mỹ giai đoạn giống được thể hiện trên Bảng 3.6 và Hình 3.3
Bảng 3.6 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối chiều dài thân của cá Hồng Mỹ
giai đoạn giống
Thời kỳ \
(ngày nuôi)
Tăng trưởng tuyệt đối chiều dài thân (X± SD cm/ngày)
Các số liệu trên Bảng 3.6 và Hình 3.3 cho thấy, tốc độ tăng trưởng tuyệt đối
về chiều dài của cá Hồng Mỹ đạt 0,11-0,22 cm/ngày và cao nhất ở cá của TAƯ3 Xét từng thời kỳ nuôi, các TAƯ khác nhau đem lại hiệu quả khác nhau đối với tốc
độ tăng trưởng tuyệt đối chiều dài thân của cá Thời kỳ 1-7 ngày nuôi, tốc độ tăng trưởng tuyệt đối cao nhất ở cá của TAƯ3 (0,16 cm/ngày), tiếp đến là cá ở TAƯ2 (0,15 cm/ngày), thấp nhất là cá ở TAƯ1 (0,14 cm/ngày) Phân tích phương sai, kiểm định LSD0,05 cho thấy tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài thân của cá ở thời kỳ này giữa 3 TAƯ sai khác có ý nghĩa (p<0,05)
Ở thời kỳ 8 - 14 ngày nuôi, tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài thân của cá Hồng Mỹ lớn nhất ở TAƯ3 (0,16 cm/ngày), cao hơn nhiều so với TAƯ2 (0,14 cm/ngày) và TAƯ1 (0,13 cm/ngày) Tuy nhiên không có sự sai khác về tốc
độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài thân của cá Hồng Mỹ giữa TAƯ1 và TAƯ2, TAƯ2 và TAƯ3 (p>0,05), nhưng có sự sai khác giữa TAƯ1 và TAƯ3 (p<0,05)
Trang 38Hình 3.3 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối chiều dài thân của cá Hồng Mỹ
giai đoạn giống
Ở thời kỳ 15 - 21 ngày nuôi, tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài thân của cá Hồng Mỹ TAƯ1 và TAƯ2 lần lượt là 0,12 cm/ngày và 0,14 cm/ngày, sai khác giữa chúng không rõ rệt (p>0,05) Lớn nhất ở TAƯ3 (0,18 cm/ngày), sai khác có ý nghĩa so với hai TAƯ còn lại (p<0,05)
Thời kỳ 22 - 28 ngày nuôi tăng trưởngtuyệt đối về chiều dài thân của cá Hồng Mỹ vẫn lớn nhất ở TAƯ3 (0,16 cm/ngày), tiếp đến là TAƯ2 (0,15 cm/ngày), không có sai khác giữa hai nhóm này (p>0,05); cá ở TAƯ1 đạt thấp nhất (011 cm/ngày), sai khác giữa
cá ở TAƯ1 với cá ở TAƯ2 và TAƯ3 (p<0,05)
Thời kỳ 29 - 35 ngày tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài thân của cá Hồng Mỹ ở TAƯ1, TAƯ2, TAƯ3 đạt lần lượt là 0,14 cm/ngày; 0,18 cm/ngày; 0,22 cm/ngày, giữa chúng sai khác có ý nghĩa (p<0,05)
3.4.2.3 Tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều dài thân của cá H ng Mỹ giai đoạn giống
Kết quả thu được về tăng trưởng tương đối của chiều dài toàn thân của cá
Hồng Mỹ giai đoạn giống được thể hiện trên Bảng 3.7 và Hình 3.4
Trang 39Bảng 3.7 Tốc độ tăng trưởng tương đối chiều dài thân của cá
Hồng Mỹ giai đoạn giống
Thời kỳ
(ngày nuôi)
Tăng trưởng tương đối về chiều dài (X ± SD %/ngày)
Thời kỳ 8 - 14 ngày nuôi, tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều dài thân của
cá ở TAƯ3 đạt 2,77%/ngày, không có sự sai khác so với cá ở TAƯ2 (2,49 %/ngày) (p>0,05), nhưng sai khác có ý nghĩa so với cá ở TAƯ1 (2,32 %/ngày) (p<0,05)
Thời kỳ 15 - 21 ngày nuôi,tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều dài thân của
cá ở TAƯ3 đạt 2,54 %/ngày,cá ở TAƯ1 đạt 1,88 %/ngày và cá ở,TAƯ2 đạt (2,06
%/ngày) Giữa cá ở CT3 không sai khác so với cá ở TĂ2, cá ở TAƯ2 không sai khác so với cá ở TAƯ1 (p>0,05); giữa cá ở TAƯ1 và TAƯ3 sai khác có ý nghĩa (p<0,05)
Hình 3.4 Tốc độ tăng trưởng tương đối chiều dài thân của cá Hồng Mỹ
giai đoạn giống
Trang 40Thời kỳ 22 - 28 ngày nuôi, tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều dài thân của cá ở TAƯ3 đạt 1,97 %/ngày,không cao hơn nhiều so với cá ở 2 TAƯ còn lại Phân tích Anova một nhân tố, kiểm định LSD0,05 không thấy sai khác có ý nghĩa (p<0,05) giữa cá ở TAƯ3 và cá ở TAƯ2 (p>0,05); giữa cá ở TAƯ2, TAƯ3 và TAƯ1 sai khác có ý nghĩa (p<0,05)
Ở thời kỳ 29 - 35 ngày nuôi, tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều dài thân của cá Hồng Mỹ ở TAƯ3 vẫn tiếp tục đạt cao nhất (2,36 %/ngày), phân tích ANOVA một nhân tố, kiểm định LSD0,05 và DUNCAN cho thấy giữa các TAƯ có sai khác (p<0,05)
3.4.3 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng về khối lượng của cá Hồng
Mỹ giai đoạn giống
3.4.3.1 Tăng trưởng t ch lũy về khối lượng thân của cá H ng Mỹ giai đoạn giống
Tăng trưởng tích lũy về khối lượng thân của cá Hồng Mỹ giai đoạn giống khi
sử dụng các loại thức ăn khác nhau được thể hiện trên Bảng 3.8 và Hình 3.5
Bảng 3.8 Tăng trưởng tích lũy về khối lượng của cá Hồng Mỹ
giai đoạn giống
Ghi chú: Các số liệu c chữ cái mũ khác nhau trong cùng hàng thì khác nhau với p<0,05
Các số liệu trên Bảng 3.8 và Hình 3.5 cho thấy, tăng trưởng tích lũy về khối lượng của cá Hồng Mỹ giai đoạn giống tăng dần trong 35 ngày nuôi Trong đó, khối lượng tích lũy của cá Hồng Mỹ ở TAƯ3 có xu hướng cao hơn hơn cá ở TAƯ2 và TAƯ1 Sau 35 ngày, khối lượng tích lũy của cá ở TAƯ3 đat 9,14 ± 0,11 là lớn nhất, tiếp theo là cá ở TAƯ2 (7,86 ± 0,03), thấp nhất là cá ở TAƯ1 (6,14 ± 0,09) Phân tích phương sai, kiểm định LSD0,05cho thấy, sai khác giữa cá ở 3 TAƯ là rõ rệt (p<0,05)