Thực trạng nhận thức của GV về ảnh hưởng của việc tự đánh giá đối với việc hình thành kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh lớp 3 .... Nhóm phương pháp nghiên cứu thự
Trang 1NGUYỄN THỊ THÙY LIÊN
HÌNH THÀNH KỸ NĂNG TỰ ĐÁNH GIÁ
KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN TOÁN CHO HỌC SINH LỚP 3
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Nghệ An, 2015
Trang 2NGUYỄN THỊ THÙY LIÊN
HÌNH THÀNH KỸ NĂNG TỰ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN TOÁN CHO HỌC SINH LỚP 3
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Giáo dục học (Bậc Tiểu học)
Mã số: 60.14.01.01
Người hướng dẫn khoa học : TS Nguyễn Thị Châu Giang
Nghệ An, 2015
Trang 3Để hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Châu Giang đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
và hoàn thành luận văn “Hình thành kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Toán cho học sinh lớp 3”
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô giáo phòng Sau Đại học, khoa Giáo dục, các phòng ban của trường Đại học Vinh và trường Đại học Sài Gòn, các thầy cô giáo tham gia trực tiếp giảng dạy lớp Cao học khóa 21 – đã tạo điều kiện và giúp đỡ chúng tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám hiệu nhà trường, các thầy
cô giáo đã cộng tác tham gia khảo sát và thực nghiệm đề tài, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn
Vì thời gian nghiên cứu có hạn, năng lực bản thân còn nhiều hạn chế nên chắc chắn luận văn còn nhiều thiếu sót Tôi rất mong nhận được những góp ý,
bổ sung từ quý thầy cô, bạn bè đồng nghiệp và những người có quan tâm để đề tài hoàn thiện hơn nữa
Cuối cùng tôi xin gửi lời chúc đến các thầy cô giáo cùng các bạn đồng nghiệp lời chúc sức khỏe và hạnh phúc
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 41 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Các phương pháp nghiên cứu 3
8 Đóng góp mới của luận văn 4
9 Cấu trúc nội dung của luận văn 4
Chư g C ở ậ ủa việc hình thành kỹ ă g tự đá h giá kết quả học tập môn toán cho học sinh lớp 3 S ược về lịch sử nghiên cứu vấ đề hình thành kỹ ă g tự đá h giá kết quả học tập môn Toán cho học sinh lớp 3 5
M t ố khái iệ ả ủ đề t i 7
1.2.1 Đánh giá 7
1.2.2 Đánh giá kết quả học tập 8
1.2.3 Tự đánh giá và tự đánh giá kết quả học tập trong dạy học 8
1.2.4 Kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập của học sinh 14
1.2.5 Hình thành kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập của HS 18
1.3.M t số vấ đề về hình thành kỹ ă g tự đá h giá kết quả học tập môn Toán cho học sinh lớp 3 19
1.3.1 Sơ lược nội dung môn Toán lớp 3 19
1.3.2 Sự cần thiết phải hình thành kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Toán cho học sinh lớp 3 22
1.3.3 Các kỹ năng thành phần của kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh lớp 3 26
Trang 5Kết luậ hư g 35
Chư g Thực trạng của việc hình thành kỹ ă g tự đá h giá kết quả học tập môn toán cho học sinh lớp 3 2.1.Khái quát chung về quá trình khảo sát 37
2.2.Nghiên cứ thự t ạ g hình thành kỹ ă g tự đá h giá kết quả học tập của học sinh trong môn Toán lớp 3 tại t số t ườ g Tiểu học ở quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh 38
2.2.1 Thực trạng về việc học Toán của học sinh lớp 3 38
2.2.2 Thực trạng về kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh lớp 3 39
2.2.3 Thực trạng hình thành kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập của học sinh lớp 3 43
2.2.4 Thực trạng nhận thức của GV về ảnh hưởng của việc tự đánh giá đối với việc hình thành kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh lớp 3 48
3.Đá h giá h g về thự t ạ g 50
2.3.1 Thành công 50
2.3.2 Hạn chế 51
2.3.3 Nguyên nhân 52
Kết luậ hư g 53
Chư g 3 M t ố iệ há h h th h kỹ ă g tự đá h giá kết quả học tập môn Toán cho học sinh lớp 3 3.1.Các nguyên tắ đề xuất biện pháp 54
3.2.M t ố iệ há hình thành kỹ ă g tự đá h giá kết quả học tập môn Toán cho học sinh lớp 3 55
Trang 63.2.2 Nhóm biện pháp 2: Hình thành kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập
môn Toán trong quá trình học tập cho học sinh 63
3.2.3 Nhóm biện pháp 3: Xây dựng và tổ chức các hoạt động dạy học nhằm giúp học sinh thực hành kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Toán 75
3.3.Thă về t h ần thiết v khả thi ủ á iệ há h h th h kỹ ă g tự đá h giá kết quả học tập môn Toán cho học sinh lớp 3 85
Kết luậ hư g 3 87
Kết luận v đề xuất 89
Tài liệu tham khảo 93
Phụ lục 1 96
Phụ lục 2 98
Phụ lục 3 103
Trang 8Bảng 1.1 Xu hướng mới trong đánh giá lớp học 26
Bảng 2.1 Thực trạng về việc học Toán của HS lớp 3 38
Bảng 2.2 Kỹ năng tự đánh giá tiềm năng bản thân 39
Bảng 2.3 Kỹ năng tự đánh giá về động cơ, thái độ, ý thức học tập 40
Bảng 2.4 Kỹ năng tự đánh giá về việc tổ chức học tập 41
Bảng 2.5 Kỹ năng tự đánh giá việc lĩnh hội kiến thức, vận dụng kỹ năng 42
Bảng 2.6 Đánh giá của GV về quan niệm TĐG kết quả học tập của HS 44
Bảng 2.7 Đánh giá của GV về tính cần thiết của việc hình thành kỹ năng tự đánh giá trong quá trình tự đánh giá kết quả học tập của HS 45
Bảng 2.8 Hình thức tổ chức cho HS tự đánh giá KQHT môn Toán lớp 3 46
Bảng 2.9 Thực trạng về các bước hình thành kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập của HS lớp 3 47
Bảng 2.10 Nhận thức của GV về ảnh hưởng của TĐG đối với việc hình thành kỹ năng TĐG kết quả học tập môn Toán của HS lớp 3
Bảng 3.1 Thăm dò tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp hình thành kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Toán của HS lớp 3 86
Trang 9MỞ ĐẦU
1 L o họ đề t i
Hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kì phát triển toàn diện về mọi mặt kinh tế - xã hội Trong tất cả các vấn đề được chú ý hiện nay thì giáo dục luôn được xác định là quốc sách hàng đầu Cùng với sự phát triển chung của đất nước, nền giáo dục đang có sự phát triển và đổi mới một cách toàn diện về cơ cấu, tổ chức, nội dung, phương pháp dạy và học theo hướng "chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá”, theo mô hình trường học mới, phát huy tính sáng tạo, tích cực, khả năng vận dụng, thực hành của HS Trong đó, đổi mới KTĐG là công cụ quan trọng, chủ yếu xác định năng lực nhận thức HS, điều chỉnh quá trình dạy
và học; là động lực để đổi mới phương pháp dạy học, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu giáo dục
Như G.K.Miller đã từng nói: “Thay đổi một chương trình hoặc những kỹ
thuật giảng dạy mà không thay đổi hệ thống đánh giá chắc chắn là chẳng đi tới đâu! Thay đổi hệ thống đánh giá mà không thay đổi chương trình giảng dạy,
có thể có một tiếng vang đến chất lượng học tập hơn là làm một sự sửa đổi chương trình mà không nhờ đến kiểm tra đánh giá”
Trước đây người ta quan niệm KTĐG chỉ là một việc mang tính hình thức, hành chính của dạy học nhằm để đưa ra những quyết định đối với HS Ngày nay, người ta đặc biệt coi trọng KTĐG là một khâu quan trọng trong quá trình dạy học nói chung và TĐG kết quả học tập nói riêng Nội dung đánh giá hoạt động học tập, sự tiến bộ và kết quả học tập của HS theo chuẩn kiến thức,
kỹ năng của chương trình giáo dục Tiểu học theo từng môn học và hoạt động giáo dục; đánh giá sự hình thành và phát triển năng lực chung của HS Tiểu học Bài toán khó giải nhất hiện nay của vấn đề KTĐG kết quả học tập môn Toán của HS Tiểu học là làm sao đánh giá được chính xác và khách quan kết quả học tập của HS KTĐG mới chỉ tập trung vào việc GV đánh giá HS với hình
Trang 10thức chủ yếu là các bài kiểm tra và các câu hỏi nhằm KTĐG những tri thức về môn học của HS, ít tạo điều kiện cho HS tự đánh giá mình và đánh giá lẫn nhau
Do vậy tính khách quan chính xác, toàn diện, hệ thống chưa được bảo đảm; chưa tạo điều kiện phát triển năng lực tư duy, năng động, sáng tạo, năng lực hành động, khả năng vận dụng kiến thức vào giải quyết các tình huống xảy ra trong thực tế cuộc sống; chưa tạo cho HS tham gia tích cực vào quá trình tự KTĐG Việc đánh giá còn mang nặng tính chủ quan do chưa xác định rõ mục tiêu KTĐG theo chuẩn kiến thức, kỹ năng nên kết quả đánh giá của mỗi GV, mỗi trường và mỗi địa phương thường khác biệt nhau Vì thế việc KTĐG có vai trò như thế nào, ý nghĩa ra sao đã được nhìn nhận lại theo tinh thần mới Theo
đó đánh giá KQHT của HS không chỉ xem xét trên phương diện kiến thức mà cần phải xem xét kỹ năng, kỹ xảo khi ứng dụng; đánh giá năng lực và sự tiến bộ của HS
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Hình thành kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Toán cho học sinh lớp 3”
2 Mụ đ h ghiê ứu
Đề xuất một số biện pháp hình thành kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Toán cho học sinh lớp 3 nhằm góp phần nâng cao chất lượng học tập môn Toán cho học sinh ở trường Tiểu học
3 Khá h thể v đối tượ g ghiê ứ
3.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình hình thành kỹ năng tự đánh giá
kết quả học tập môn Toán cho học sinh lớp 3
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp hình thành kỹ năng tự đánh giá
kết quả học tập môn Toán cho học sinh lớp 3
4 Giả th yết kho họ
Nếu đề xuất và sử dụng được các biện pháp trên cơ sở đảm bảo tính khoa học, tính thực tiễn và tính khả thi thì có thể nâng cao kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Toán cho học sinh lớp 3
Trang 11- Đề tài được tổ chức khảo sát thực trạng và thăm dò ý kiến đánh giá về các
biện pháp được đề xuất tại một số trường Tiểu học trên địa bàn Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh Đó là trường Tiểu học Võ Văn Hát, trường Tiểu học Nguyễn Văn Bá, trường Tiểu học Phước Bình
- Thời gian từ tháng 12 năm 2014 đến tháng 6 năm 2015
7 Cá hư g há ghiê ứ
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Dùng để xây dựng cở sở
lý luận của đề tài nghiên cứu
7.1.1 Phương pháp phân loại – hệ thống hóa lý thuyết
7.1.2 Phương pháp phân tích – tổng hợp lý thuyết
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: để tìm hiểu thực trạng
hình thành kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập cho học sinh trong môn Toán lớp
3, tổ chức thăm dò và thực nghiệm sư phạm tìm hiểu tính cần thiết, khả thi và hiệu quả của các biện pháp được đề xuất
7.2.1 hương pháp quan sát: Phương pháp này sử dụng để tìm hiểu
thực trạng hình thành kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Toán cho HS lớp
3 Đồng thời cũng là cơ sở để khẳng định, kiểm chứng các biện pháp
7.2.2 hương pháp đi u tra: Đây là phương pháp chủ yếu của đề tài
Chúng tôi điều tra bằng phiếu hỏi nhằm tìm hiểu kiến thức, nhận thức và thực
Trang 12trạng, những thuận lợi, khó khăn trong việc hình thành kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Toán cho HS lớp 3 của giáo viên và học sinh
7.2.3 hương pháp thử nghiệm sư phạm
7.2.4 hương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm: Đây là phương
pháp nghiên cứu, xem xét lại những thành quả của hoạt động thực tiễn để rút ra những kết luận bổ ích cho thực tiễn và cho khoa học
7.3 hương pháp thống kê toán học: Phương pháp này được sử dụng
nhằm xử lý và tính % số liệu thu được, cũng như dùng để đánh giá tính cấp thiết
và mức độ khả thi của các biện pháp
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo và
vận dụng vào việc hình thành kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập cho học sinh
trong môn Toán lớp 3
9 Cấ t i g ủ ậ vă
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn chia làm 3 chương:
Chư g Cơ sở lý luận của việc hình thành kỹ năng tự đánh giá kết quả học
tập môn Toán cho học sinh lớp 3
Chư g Thực trạng của việc hình thành kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập
môn Toán cho học sinh lớp 3
Chư g 3 Một số biện pháp hình thành kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập
môn Toán cho học sinh lớp 3
Trang 13CHƯƠNG
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH KỸ NĂNG TỰ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN TOÁN CHO HỌC SINH LỚP 3
1.1 S ượ về ị h ử ghiê ứ vấ đề h h th h kỹ ă g tự đá h giá kết q ả họ tậ ô Toá ho họ i h ớ 3
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Ở các nước trên thế giới đã có nhiều công trình, nhiều tác giả đã nghiên cứu về TĐG
Các nhà triết học cổ đại như Aritxtôt, Xôcrat, Hêraclit đã nhận ra vai trò của TĐG Các ông đã cho rằng tự biết về mình là một nguyên tắc quan trọng để thành công trong công việc
Ở Úc, vấn đề TĐG đã rất được quan tâm nghiên cứu và đã trở thành nề nếp, thói quen trong quá trình học tập của HS
Ở Phần Lan, các tác giả Jarvinen (1989), Kohonen (1989) và Ojanen (1990) đã nghiên cứu về TĐG dưới dạng tự phản ánh của HS
Ở Canada, TĐG được chú trọng nghiên cứu cả về lý thuyết lẫn thực hành Qua các nghiên cứu của các tác giả Baron (1990), Shavelson (1992), Bellanca và Berman (1994), Garcia và Pearson (1994), Wiggins (1993), Hargreaves và Fullan (1998), đã cho thấy vai trò của GV thay đổi, do đó ĐG phải có sự thay đổi, chú trọng hơn đến TĐG Rolheiser (1996) đã đưa ra được
mô hình lý thuyết TĐG Tác giả cho rằng TĐG đóng một vai trò quan trọng một chu kì học tập của HS Khi người học TĐG hiệu quả việc học, họ sẽ biết được mức độ đạt được mục tiêu học tập của bản thân Do đó, TĐG sẽ khuyến khích
HS đạt được mục tiêu cao hơn và nỗ lực hết sức để đạt mục tiêu học tập của mình.Thành tích có được là nhờ sự kết hợp giữa mục tiêu và sự nỗ lực Trên cơ
sở thành tích đó HS sẽ TĐG (tự suy xét, tự phản ứng, tự điều chỉnh) và do đó họ
sẽ tự tin hơn trong học tập Nếu chúng ta dạy cho HS làm tốt việc TĐG thì họ có
Trang 14thể học tập tốt hơn ở những chu kì học tập sau Qua thực tiễn vận dụng, các tác giả cho rằng: sử dụng hình thức TĐG giúp việc đánh giá của GV được chia sẻ;
GV cần có thời gian để làm và để hiểu cách thức đổi mới đánh giá này Mối quan hệ GV và HS có sự thay đổi; HS cũng cần có thời gian để hiểu TĐG và vai trò của nó đối với việc học của họ
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, TĐG cũng đã được nghiên cứu, vận dụng ở nhiều phương diện và mức độ khác nhau, nhưng nhìn chung vẫn ở những bước đầu tiên
Có thể nêu một vài công trình tiêu biểu liên quan đến vấn đề TĐG như: Tác giả Hoàng Đức Nhuận, Lê Đức Phúc đã hệ thống khá đầy đủ về ĐG
và các vấn đề liên quan Một trong những đóng góp quan trọng của tác giả là đã đưa ra được bảy nguyên tắc chung nhất về ĐG, trong đó nguyên tắc thứ bảy là
“Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa đánh giá và tự đánh giá” Như vậy tác
giả đã phần nào thấy được vai trò cần thiết của HS trong quá trình ĐG, đặc biệt các tác giả còn nêu ra cơ sở tâm lý học, giáo dục học của việc TĐG của HS
Tác giả Nghiêm Thị Phiến [28] đã nghiên cứu về khả năng TĐG của HS lớp 4, 5 ở trường Tiểu học Có thể nói đây là công trình đầu tiên của Việt Nam nghiên cứu về TĐG của HS Mặc dù bước đầu tác giả chỉ mới điều tra thực trạng nhưng cũng đã mang lại kết quả nghiên cứu có ý nghĩa, là cơ sở quan trọng cho những nghiên cứu tiếp theo về vấn đề TĐG Tác giả chưa nêu quan niệm vấn đề TĐG mà mới chỉ khẳng định vai trò của TĐG trong giáo dục Qua nghiên cứu của tác giả cho thấy khả năng TĐG của HS có thể hình thành từ cấp Tiểu học
Tác giả Vũ Thế Xiển [31] đã nghiên cứu về “Tự đánh giá của học sinh ở
các trường dạy ngh v năng lực và phẩm chất của bản thân” Tác giả đã bước
đầu điều tra thực trạng TĐG phẩm chất và năng lực của bản thân ở các trường dạy nghề, đây là một hướng nghiên cứu rất quan trọng, nhất là trong giai đoạn hiện nay chúng ta đang cần nguồn nhân lực chất lượng cao mới đáp ứng nhu cầu
xã hội
Trang 15Nhƣ vậy vấn đề TĐG trong giáo dục và dạy học đã đƣợc nhiều tác giả nghiên cứu Tuy nhiên chƣa có công trình hay tác giả nào nghiên cứu sâu về việc hình thành kỹ năng TĐG kết quả học tập môn Toán cho HS lớp 3 Do đó,
chúng tôi chọn đề tài “Hình thành kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Toán cho học sinh lớp 3” để nghiên cứu
1.2 M t ố khái iệ ả ủ đề t i
1.2.1 Đánh giá
Thuật ngữ ĐG đƣợc nhiều tác giả đề cập đến ở các lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống xã hội Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (2008) thì ĐG đƣợc giải nghĩa là:
1) Ƣớc tính giá tiền, đánh giá tài sản
2) Nhận định giá trị
Trong tổng thuật của Đỗ Hồng Anh (1993) về một số vấn đề ĐG hiệu quả giáo dục thì ĐG là quá trình thu thập, xử lý thông tin để giúp cho quá trình lập kế hoạch hoặc ra quyết định cho các nhà quản lý
Theo Trần Bá Hoành, thì ĐG là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu đƣợc, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lƣợng, hiệu quả công việc
Theo từ điển Cambrigde, ĐG là phân xử hoặc quyết định về khối lƣợng, giá trị hoặc sự quan trọng của cái gì đó cụ thể hoặc sự phán quyết, hay quyết định việc gì đó đã đƣợc thực hiện; hoặc ĐG là một ý kiến hay phán xét về ai đó hay cái gì đó sau khi đã đƣợc suy xét rất cẩn thận
Từ những quan điểm ở trên, ta có thể xem: ĐG là quá trình thu thập
thông tin, phân tích, xử lý thông tin để tìm ra các chỉ số v lượng, giá trị hoặc sự quan trọng của nó trong so sánh với các mục đích, mục tiêu đã đặt ra từ trước,
Trang 16từ đó đưa ra ý kiến, phán xét, khuyến nghị nhằm giúp cải thiện, nâng cao chất
lượng công việc
- KQHT môn học là mức độ đạt được mục tiêu học tập môn học đó của
HS Trong đó, mục tiêu học tập môn học được cụ thế hóa thành các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng và thái độ mà HS cần phải và có thể đạt được sau một chủ đề, một bài học nhất định
Từ những điều nói trên, có thể hiểu ĐG KQHT là quá trình thu thập, phân tích và xử lý thông tin về kết quả học tập của HS, trên cơ sở đó đối chiếu với mục tiêu của môn học, của lớp, của nhà trường tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của GV, nhà trường và cho bản thân HS để học tập ngày một tiến
bộ hơn
1.2.3 Tự đánh giá và tự đánh giá kết quả học tập trong dạy học
1.2.3.1 Quan niệm v tự đánh giá và tự đánh giá kết quả học tập
Các tác giả nghiên cứu về TĐG đã đưa ra một số quan niệm như sau:
- TĐG là một khâu hiệu quả và quan trọng đối với việc ĐG cả quá trình
học Một khi HS có thể TĐG chính việc học của mình và nền tảng kiến thức đang có thì HS có thể nhận ra những lỗ hổng trong kiến thức của bản thân, nhờ
đó mà quá trình học hiệu quả hơn, khuyến khích sự tiến bộ của HS và góp phần vào việc tự điều chỉnh quá trình học
Trang 17- TĐG là quá trình thu thập và phân tích các thông tin thích hợp về chủ
thể, là quá trình rất phức tạp
- Sự hiểu biết về bản thân là yếu tố vô cùng quan trọng Khi ĐG đúng về
mình, người ta có thể xác định đúng phương hướng, đúng cho sự tự giáo dục bản thân Nói khác đi, TĐG là tiền đề định hướng của tự giáo dục [26]
Qua những điều nói trên cho thấy, mặc dù TĐG đã được quan tâm nghiên cứu nhiều năm qua nhưng cho đến nay quan niệm về TĐG vẫn chưa có
sự đồng nhất Tuy nhiên, dù hiểu theo cách nào thì TĐG cũng bao gồm: thu thập, xử lý các thông tin về bản thân; đối chiếu với mục tiêu; tiêu chuẩn do bản thân hoặc người khác đề ra; trên cơ sở đó tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu của bản thân; đề xuất những quyết định để cải thiện thực trạng
Từ đó, ta có thể hiểu: TĐG kết quả học tập là quá trình thu thập, phân
tích và lý giải thông tin v KQHT của bản thân, đối chiếu với mục tiêu, nhiệm vụ của bài học, môn học, lớp học, nhà trường nhằm tạo cơ sở cho các quyết định để việc học tập của chính mình ngày một tiến bộ hơn
Với cách hiểu trên thì:
- TĐG kết quả học tập là bộ phận của quá trình ĐG và thuộc dạng ĐG quá trình Tuy nhiên, trong một số trường hợp, nó cũng có thể mang tính chất của ĐG chẩn đoán hoặc tổng kết
- TĐG kết quả học tập là một hoạt động tự phản ánh quá trình học tập của bản thân người học về những vấn đề như: đã học được những gì, đã học như thế nào và cần phải làm gì để học tốt hơn
Trong phạm vi luận văn này, TĐG kết quả học tập được xem xét trong mối quan hệ với ĐG và hoạt động dạy học, tức là nó vừa có tính chất ĐG để điều chỉnh quá trình học tập, vừa có tính chất của việc học, tự học Như vậy, TĐG kết quả học tập có thể diễn ra trong quá trình học tập của HS, khi học tập
có và không có sự hướng dẫn của GV
Trang 181.2.3.2 Mục đích, vai trò của tự đánh giá và tự đánh giá kết quả học tập của học sinh trong quá trình dạy học
a) Mục đích của TĐG
Nếu xét theo phương diện hoạt động, TĐG là mục đích tự bản thân nhìn nhận lại mình, biết được năng lực của mình, do đó họ có thể lựa chọn và tiến hành những hoạt động thích hợp để đạt được mục đích công việc Biết TĐG
là một điều quan trọng quyết định phần thành công, phần thất bại trong mọi công việc của mỗi con người Đối với quá trình giáo dục, TĐG tạo cơ hội cho người học đưa ra nhận xét, bình phẩm và tự phán quyết về công việc học tập của mình
để phát huy vai trò nội lực của HS trong quá trình giáo dục
b) Ý nghĩa, vai trò của TĐG
TĐG góp phần phát triển hứng thú của HS trong quá trình tự học và phát huy tính độc lập của mình, do đó rất cần thiết trong quá trình dạy học
TĐG bao gồm hoạt động HS ĐG bản thân và ĐG các bạn cùng lớp Thông qua việc ĐG bạn học, HS hình thành rõ ràng hơn trong bản thân mình các yêu cầu về học tập, về cách ứng xử với người khác Từ đó, HS điều chỉnh hay phát triển hành vi thái độ của bản thân Mặt khác, nếu HS biết cách tự kiểm tra việc học; nhận thức rõ những gì gia đình, nhà trường mong đợi ở mình; tự tin để
ĐG bản thân mình thì các em có thể:
- Kiểm soát được việc học của bản thân các em
- Lên kế hoạch làm thế nào để cải thiện việc học của bản thân
- Cảm thấy thoải mái về những gì các em có thể làm được,
- Dần dần, lĩnh hội được cách tự học
Do đó, TĐG rất cần thiết bởi vì nó giúp HS có trách nhiệm hơn đối với bản thân; cung cấp thông tin phản hồi về quá trình học tập của bản thân; cung cấp thông tin phản hồi về quá trình học tập của chính HS; giúp họ thấy được những điểm mạnh, điểm yếu về năng lực, trình độ kiến thức, kỹ năng của bản
Trang 19thân để có sự điều chỉnh và định hướng hoạt động học tập tiếp theo cho phù hợp, giúp HS tự tin, tích cực, độc lập và linh hoạt hơn trong học tập
TĐG không chỉ có ý nghĩa lớn với hoạt động học của HS mà nó còn có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động dạy của GV vì chúng giúp cho các bài học trở nên nhẹ nhàng hơn, hiệu quả hơn; nhờ đó HS hoạt động tích cực và độc lập hơn, cung cấp thông tin phản hồi giúp cho GV nhận ra sự tiến bộ của HS; chia sẻ trách nhiệm ĐG và kết quả ĐG sẽ chính xác hơn Việc xây dựng kế hoạch học tập cho HS của GV trở nên sát thực hơn; giúp GV thấy được những việc tiếp theo họ phải làm đối với nhóm (cá nhân) Như vậy, TĐG có ý nghĩa, vai trò rất quan trọng trong quá trình dạy học và trở thành một phần của hoạt động học tập Nó là cách phát huy nội lực, là công cụ phản ánh năng lực, giúp nâng cao hiệu quả học tập của HS Do đó, TĐG là kỹ năng quan trọng trong quá trình học tập giúp cho HS có thể học tập suốt đời
1.2.3.3 Đặc trưng của hoạt động tự đánh giá và các hình thức của hoạt động tự đánh giá
a) Đặc trưng của hoạt động TĐG
- Hoạt động TĐG của HS mang tính độc lập: Vì HS là chủ thể của hoạt động nhận thức nên phải có trách nhiệm về sản phẩm của mình, tức là KQHT Trong hoạt động TĐG kết quả học tập, tính độc lập giữ vai trò rất quan trọng, nó giúp HS chủ động xử lý thông tin phản hồi để tự điều chỉnh hoạt động học tập trước khi GV đánh giá họ, nhờ đó mà hoạt động học trở nên tích cực, chủ động
và hiệu quả hơn
- Hoạt động TĐG có tính tất yếu: Do bản chất hoạt động của con người
là hoạt động có mục đích Hơn nữa, con người có khả năng kiểm tra xem hoạt động có đạt mục đích hay chưa nên hoạt động TĐG của HS là tất yếu HS có thể tiến hành hoạt động này sau một bài, một chương, một môn học, trong khi tự học hoặc sau khi đọc một tài liệu nào đó, nhằm xác định mức độ lĩnh hội kiến thức
kỹ năng của bản thân
Trang 20- Hoạt động TĐG có tính mục đích: Khi người học xác định được mục đích TĐG thì hoạt động này sẽ dựa trên trách nhiệm của cá nhân và sự điều khiển ý chí TĐG lúc này là hoạt động tự giác, chủ động, có phương pháp, mục tiêu và giải pháp cá nhân gắn với cá nhân, gắn với nhu cầu giá trị và khả năng cá nhân
- Hoạt động TĐG mang dấu ấn cá nhân: TĐG mang dấu ấn chủ thể, chịu ảnh hưởng chủ quan của chính người ĐG Hoạt động TĐG của HS phải đảm bảo tính khách quan, trung thực với kết quả học tập và với chính bản thân
HS (chủ thể của hoạt động) Khi đó, hoạt động TĐG trở thành động lực thúc đẩy quá trình học tập tiến bộ, trái lại sẽ làm cho HS rơi vào trạng thái “tự mê” và cản trở tiến bộ của người học Vì vậy, để có thể giảm bớt ảnh hưởng của yếu tố chủ quan này, GV giúp HS nắm chắc mục tiêu, nhiệm vụ học tập đồng thời cụ thể hóa các tiêu chí ĐG, chia sẻ tiêu chí ĐG với HS
- Hoạt động TĐG mang đặc trưng hoạt động trí tuệ: TĐG có chức năng điều chỉnh hoạt động học tập của HS Để có thể ĐG được quá trình học tập đòi hỏi HS phải thực hiện các hoạt động trí tuệ cơ bản như so sánh, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, Do đó, có thể nói TĐG chịu ảnh hưởng khá lớn bởi đặc điểm trí tuệ của chủ thể, HS khá giỏi thường thực hiện các hoạt động trí tuệ tốt hơn nên thường TĐG mình chính xác hơn so với HS trung bình, yếu, kém
b) Các hình thức của hoạt động TĐG
Có nhiều cách tiếp cận hoạt động TĐG kết quả học tập của HS Trong luận văn này tiếp cận hai hình thức cơ bản đó là:
- HS TĐG dưới sự hướng dẫn trực tiếp của GV
Hình thức này diễn ra trong quá trình dạy học, thầy trò giáp mặt nhau trên lớp Trong quá trình truyền thụ kiến thức, thầy khéo léo cài đặt những hoạt động để HS có thể TĐG Chẳng hạn thông qua trả lời các câu hỏi, qua nhận xét
về bài làm của mình, của bạn, hoặc qua nhận xét phân tích, đánh giá của GV,
Trang 21qua các phiếu học tập, qua trao đổi thảo luận nhóm, Trong hình thức này, việc
ĐG của thầy sẽ là mẫu, là chuẩn mực để HS học về TĐG
- HS TĐG không có sự hướng dẫn trực tiếp của GV
Hình thức này có thể bao gồm hai kiểu cơ bản là HS TĐG theo sự hướng dẫn (gián tiếp) của GV hoặc HS độc lập tiến hành hoạt động TĐG
+ Trên cơ sở quá trình dạy học trên lớp, GV đưa ra các yêu cầu để HS
tự học và TĐG kết quả học tập, đó là TĐG theo sự hướng dẫn (gián tiếp) của
GV Chẳng hạn sau giờ học, GV đưa ra phiếu hướng dẫn học ở nhà hay câu hỏi yêu cầu hiểu sâu, mở rộng vấn đề hoặc bài tập vận dụng HS tự học và đối chiếu kết quả hoặc “bắt chước” GV tiến hành TĐG kết quả học tập
+ Khi TĐG trở thành nhu cầu, thói quen thì HS có thể tiến hành hoạt động này một cách tự giác trong quá trình tự học của mình, độc lập tiến hành hoạt động TĐG Các em có thể TĐG về mức độ lĩnh hội kiến thức sau khi học xong một nội dung hay làm xong một bài tập
1.2.3.4 Ưu điểm và nhược điểm của hình thức TĐG
Trong đổi mới ĐG, TĐG kết quả học tập đã và đang trở thành một hình thức ĐG có vai trò quan trọng Ta có thể thấy được các ưu điểm cơ bản là TĐG cho phép HS chú ý hơn đến các mục tiêu học tập Khi HS có kỹ năng TĐG sẽ có nhiều khả năng hoàn thành được các nhiệm vụ khó khăn một cách tự tin hơn với khả năng của họ và có trách nhiệm hơn đối với việc học tập; Động lực học tập được nâng cao, HS định hướng tốt hơn hoạt động học tập và công việc tiếp theo; Cung cấp phản hồi về kết quả học tập để HS có thể tự cải thiện quá trình học tập; TĐG giúp cho HS học tập độc lập, tích cực, chủ động hơn
Tuy nhiên, trong một số trường hợp HS TĐG không đúng, có thể ĐG quá cao hoặc quá thấp về mình TĐG sẽ không cung cấp cho HS sự phản hồi đầy đủ
về thành tích học tập khi nó được sử dụng một cách đơn độc Do đó, cần kết hợp TĐG của HS với ĐG của GV và các lực lượng giáo dục khác
1.2.3.5 Các bước để HS TĐG kết quả học tập
Trang 22Bước 1: Xác định mục tiêu, nhiệm vụ học tập
Mục tiêu, nhiệm vụ học tập là kết quả cần phải đạt được ở HS sau mỗi nội dung hoặc hoạt động học tập của họ, thường được GV đặt ra trước, trong hoặc sau một bài học, một hoạt động, cũng có khi được chính HS đặt ra Mục tiêu, nhiệm vụ học tập phải bám sát và dựa trên cơ sở là chuẩn kiến thức, kỹ năng của môn học
Bước 2: Thực hiện hoạt động học tập
Trên cơ sở mục tiêu, nhiệm vụ học tập, HS tiến hành hoạt động học tập Có thể là hoạt động học tập ở lớp, ở nhà, có thể có GV hướng dẫn trực tiếp hoặc không Hoạt động có thể diễn ra trong thời gian ngắn hay dài tùy thuộc vào mục tiêu đặt ra là mục tiêu ngắn hạn hay dài hạn, mục tiêu trước mắt hay lâu dài
Bước 3: Đối chiếu kết quả học tập với mục tiêu, nhiệm vụ học tập
Để kiểm nghiệm hiệu quả hoạt động học tập, HS phải biết đối chiếu kết quả với mục tiêu, nhiệm vụ của bài học, môn học nhằm xác định mức độ đạt được sau khi học (xem mục tiêu nào đã đạt được, mục tiêu nào chưa đạt được)
Bước 4: Ra quyết định
Trên cơ sở đối chiếu, so sánh kết quả ĐG với mục tiêu, nhiệm vụ học tập,
HS phân tích, bình luận, nhận xét và ĐG, về kết quả học tập của mình Từ đó, xác định được nguyên nhân, bước tiếp theo trong hoạt động học của mình nhằm
tự rút kinh nghiệm, tự điều chỉnh kiến thức, kỹ năng và cải thiện việc học tập
1.2.4 Kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập của học sinh
1.2.4.1 Quan niệm v kỹ năng
Qua các tài liệu nghiên cứu như [21], [24], [27] thì có hai hướng tiếp cận như sau:
- Hướng thứ nhất: Xem xét kỹ năng nghiêng về mặt kỹ thuật của hành động, coi kỹ năng như là một phương tiện để thực hiện mà con người đã nắm vững Theo hướng này người có kỹ năng là người nắm vững tri thức về hành động theo đúng yêu cầu của nó
Trang 23- Hướng thứ hai: Xem xét kỹ năng nghiêng về năng lực con người,
là biểu hiện của năng lực con người chứ không đơn thuần là kỹ thuật của hành động Hướng này chú ý tới kết quả của hành động, coi kỹ năng là năng lực thực hiện một công việc có kết quả với chất lượng cần thiết trong một thời gian nhất định, trong những điều kiện tình huống mới
Cho dù quan niệm về kỹ năng chưa đồng nhất, nhưng về cơ bản không có
sự mâu thuẫn, trái ngược nhau và đều thống nhất ở một số điểm chung, đó là: nói đến kỹ năng tức là nói đến “biết làm”; kỹ năng là kiến thức trong hành động,
có cơ sở là kiến thức; kỹ năng là sự nắm vững cách thức thực hiện, trình tự tiến hành các thao tác, có kết quả khi hành động diễn ra; kỹ năng luôn được biểu hiện qua các nội dung cụ thể; kỹ năng được hình thành theo con đường luyện tập
Từ đó, ta có thể hiểu: Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành
động hoặc một hoạt động nào đó, dựa trên vốn kiến thức và kinh nghiệm đã có
để hành động phù hợp với đi u kiện cụ thể
1.2.4.2 Quan niệm v kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập của học sinh
Trên cơ sở quan niệm về TĐG và kỹ năng như trên, ở góc độ dạy học
chúng tôi quan niệm: kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập của HS là khả năng
thực hiện một hành động hoặc một hoạt động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có nhằm xác định mức độ kiến thức, kỹ năng của bản thân so với mục tiêu học tập
G.Polya [14] khẳng định rằng: “Trong toán học, kỹ năng là khả năng giải
các bài toán, thực hiện các chứng minh cũng như phê phán các lời giải và chứng minh nhận được” Do đó, ta có thể quan niệm về kỹ năng TĐG kết quả học tập
môn Toán như sau: kỹ năng TĐG kết quả học tập môn Toán của HS có thể hiểu là khả năng vận dụng các kiến thức đã có vào việc xem xét, đánh giá về việc lĩnh hội khái niệm, định lý, về lời giải của bài toán, về một chứng minh hay về mức độ kiến thức, kỹ năng của bản thân đối với một nội dung toán học nào đó so với mục tiêu, nhiệm vụ học tập
Trang 24Như vậy, kỹ năng TĐG kết quả học tập là kỹ năng được HS tiến hành
trong quá trình học, là một kỹ năng quan trọng để cải thiện quá trình học và nhờ TĐG giúp cho HS thấy được họ đã đạt được những gì và cách thức để cải thiện quá trình học TĐG có thể diễn ra và được rèn luyện trong cả quá trình học, dưới nhiều dạng: qua các câu hỏi, qua lời nhận xét của GV, đánh giá từ GV và bạn học, qua thảo luận nhóm, qua việc giải bài tập, qua hồ sơ học tập, Qua đó HS
tự mình phản ánh về những vấn đề tiềm ẩn, phân tích xem đã học như thế nào,
kỹ năng nào đã được hình thành, kỹ năng nào cần phải có HS có thể tiến hành
TĐG kết quả học tập dựa trên kiến thức hoặc hành vi của bản thân thông qua các nội dung học tập và chỉ có được kỹ năng thông qua con đường luyện tập
1.2.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng tự đánh giá KQHT của HS
a) Yếu tố chủ quan (Nội lực)
HS chiếm lĩnh tri thức, chân lý bằng hành động của chính mình hay họ là chủ thể của quá trình học tập Do đó, để học tập đạt hiệu quả thì HS cũng phải là chủ thể của quá trình đánh giá Hoạt động TĐG của HS chịu sự chi phối của các yếu tố chủ quan như: kiến thức bộ môn, động cơ, hứng thú học tập, hiện tượng tâm lý TĐG bản thân
- Kiến thức bộ môn là cơ sở để HS có thể TĐG HS phải có kiến thức tối thiểu mới có thể thực hiện được các kỹ năng cần thiết trong hoạt động TĐG như đối chiếu, so sánh, phê phán, bình luận
- Động cơ TĐG là yếu tố quan trọng để quyết định sự hình thành và phát triển kỹ năng TĐG Động cơ TĐG xuất phát từ động cơ học tập, muốn xác định mức độ nhận thức của bản thân so với mục tiêu học tập Chỉ khi nào HS có động
cơ học tập đúng đắn thì quá trình TĐG mới diễn ra tự giác, tích cực và chính xác Do đó, trong quá trình dạy học, người GV phải khơi dậy động cơ học tập đúng đắn cho HS, qua đó thúc đẩy động cơ TĐG
- “Hứng thú là một cơ chế bên trong để đảm bảo học tập có hiệu quả”
(Usinxki) Do đó, hứng thú học tập đóng vai trò rất quan trọng đối với quá trình
Trang 25học của HS, nó chính là động lực mạnh mẽ giúp cho quá trình học đạt hiệu quả Nếu HS có hứng thú học tập thì họ sẽ có nhu cầu TĐG về mình để xác nhận mức
độ nhận thức của bản thân và để điều chỉnh quá trình học
- Trong TĐG, người đánh giá và người được đánh giá là một nên chủ thể
sẽ có những đặc điểm tâm lý của người đánh giá và người được đánh giá Hiện tượng tâm lý TĐG bản thân phát sinh khi chủ thể chuẩn bị tự mình đánh giá và tiếp nhận đánh giá Tự mình đánh giá là nền tảng của bất kì đánh giá bên ngoài nào, có hai ý nghĩa: Một là, tự mình nhận thức; Hai là làm cơ sở nền tảng cho bộ phận đánh giá bên ngoài Đặc trưng của hình thức tự mình đánh giá này làm cho người đánh giá tự nhiên có tâm lý lo sợ – hoài nghi đánh giá bản thân và đánh giá bộ phận bên ngoài có tương thích không Đó là giai đoạn tự nhiên phát sinh hiện tượng tâm lý TĐG nhiều lần của người đánh giá
Tâm lý lo lắng kết quả tự đánh giá có được chấp nhận hay không có thể có ảnh hưởng tiêu cực đối với việc TĐG bản thân
+ Đánh giá quá thấp bản thân, lo sợ TĐG cao hơn so với đánh giá bên ngoài, bị ảnh hưởng của “hình tượng nhân cách”, do đó tự đánh giá thấp so với trình độ thực sự của bản thân
+ Đánh giá bản thân một cách mơ hồ, qua loa chờ đợi sự đánh giá bên ngoài Để tránh xung đột mâu thuẫn giữa đánh giá bản thân và đánh giá bên ngoài, người TĐG có thể đánh giá một cách định tính khái quát hóa, vận dụng phán đoán, dùng các từ ngữ mơ hồ
+ Đánh giá bản thân quá cao Cho rằng TĐG là cơ sở nền tảng, đánh giá bên ngoài chỉ là qua loa, vì thế mong muốn coi khởi điểm của TĐG của bản thân cao hơn khởi điểm của TĐG bên ngoài
Do đó, bên cạnh việc trang bị các kiến thức cần thiết để HS TĐG, GV cần giúp HS có được động cơ, hứng thú và tâm lý thoải mái, tự tin khi thực hiện việc TĐG kết quả học tập, đảm bảo kết quả TĐG chính xác, thực sự mang lại hiệu quả đối với hoạt động học của HS và hoạt động dạy của GV
Trang 26b) Yếu tố khách quan (Ngoại lực)
HS luôn chịu sự tác động của các yếu tố khác như: GV, bạn bè, phương tiện thông tin, gia đình, xã hội, HS hiện nay tiếp thu các kiến thức chủ yếu trong nhà trường do đó TĐG kết quả học tập chịu ảnh hưởng lớn bởi nhân tố GV, bạn học
- Quá trình giảng dạy của GV có ảnh hưởng lớn đến hoạt động TĐG của
HS thông qua các yếu tố như: Tri thức chuyên môn (kiến thức chuyên môn của
GV có ảnh hưởng lớn đến tri thức của HS, nền tảng cơ bản để HS có thể TĐG
chính xác kết quả học tập của bản thân); Tri thức phương pháp (phương pháp
dạy học của GV có ảnh hưởng đến hứng thú, động cơ học tập và TĐG của HS Nếu GV ý thức được ý nghĩa của hoạt động TĐG, động viên, khuyến khích tạo
cơ hội để HS TĐG thì khả năng TĐG của các em sẽ không ngừng được rèn luyện và phát triển, dần dần sẽ hình thành ở các em kỹ năng, thói quen, nhu cầu TĐG Ngược lại, thì nó sẽ làm kìm hãm khả năng TĐG của HS Hơn nữa, bản thân sự đánh giá của GV sẽ là cách đánh giá mẫu để HS TĐG về mình)
- Sự ĐG của bạn bè cũng ảnh hưởng đáng kể đến TĐG của HS Trong quá trình học tập, đặc biệt đối với hình thức thảo luận nhóm, HS có thể TĐG kiến thức của bản thân qua việc đối chiếu mình với bạn hoặc qua những lời nhận xét của bạn Ngoài ra, đánh giá của bạn bè cũng là một động lực quan trọng khiến cho HS có nhu cầu tự khẳng định mình Do đó, trong quá trình học, GV phải chú ý và tăng cường sự đánh giá lẫn nhau giữa các HS để giúp HS TĐG
- Ngoài việc nghe giảng ở trên lớp, HS còn phải nghiên cứu SGK, tiếp thu các kiến thức qua các tài liệu và phương tiện thông tin đại chúng để bổ sung, hệ thống, sắp xếp các kiến thức đã có đồng thời cũng có thể tự kiểm tra, TĐG Do đó, tài liệu, SGK và các phương tiện thông tin cũng ảnh hưởng đến việc TĐG
1.2.5 Hình thành kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập của HS
Theo từ điển giáo dục, để hình thành được kỹ năng trước hết cần có kiến thức làm cơ sở cho việc hiểu, luyện tập từng thao tác riêng rẽ cho đến khi thực hiện được hành động theo mục đích, yêu cầu Có những kỹ năng hình thành
Trang 27không cần qua luyện tập, nếu biết tận dụng hiểu biết và kỹ năng tương tự đã có
để chuyển sang thực hiện hành động, hoạt động mới
Quá trình hình thành kỹ năng thường tuân theo quy luật, thường bắt đầu
từ sự nhận thức (để thông hiểu về mục đích, ý nghĩa, cơ chế, tiến trình, ) và kết thúc ở hành động cụ thể Bao gồm ba giai đoạn chính:
Giai đoạn lĩnh hội: đây là giai đoạn GV phải định hướng, tạo động cơ,
nhu cầu học tập và trang bị hiểu biết về kỹ thuật cho HS
Giai đoạn quan sát: thông qua hệ thống bài tập, các thao tác kỹ thuật,
phân tích của GV về kỹ năng cần rèn luyện để HS quan sát, rút ra những kết luận nhận thức cho chính bản thân mình
Giai đoạn hình thành: kỹ năng được hình thành nhờ sự luyện tập thường
xuyên, cùng với sự phân tích, tự điều chỉnh hoạt động của HS Trong giai đoạn này, GV tổ chức để HS rèn luyện thông qua hệ thống bài tập rèn luyện với hoạt động nhóm, hoạt động cá nhân
Như vậy, kỹ năng chỉ được hình thành thông qua luyện tập nhiều lần Để hình thành kỹ năng cho HS, GV phải trang bị cho các em các tri thức về kỹ năng, GV làm mẫu để HS quan sát việc thực hiện các thao tác và GV giúp HS tiến hành thực hành, luyện tập các thao tác về kỹ năng cần hình thành
1.3 M t số vấ đề về hình thành kỹ ă g tự đá h giá kết quả học tập môn Toán cho học sinh lớp 3
1.3.1 Sơ lược nội dung môn Toán lớp 3
Nội dung chương trình SGK môn Toán lớp 3 có 5 tiết/ tuần x 35 tuần =
175 tiết gồm có 169 tiết học và 6 tiết kiểm tra Trong đó có 74 tiết dạy bài mới
và 94 tiết luyện tập, thực hành, luyện tập chung, ôn tập
Với tiết học bài mới có phần bài mới đặt trong khung có nền xanh, kiến thức toán lớp 3 kế thừa kiến thức toán lớp 1, lớp 2 và là nền tảng để học kiến thức toán lớp 4, lớp 5
Trang 281.3.1.1 Số học
- Phép nhân và phép chia trong phạm vi 1000 (tiếp theo)
- Củng cố các bảng nhân với 2, 3, 4, 5 (tích không quá 50) và các bảng chia cho 2, 3, 4, 5 (số bị chia không quá 50) Bổ sung cộng, trừ các số có ba chữ số
có nhớ một lần
- Lập các bảng nhân với 6, 7, 8, 9, 10 (tích không quá 100) và các bảng chia cho 6, 7, 8, 9, 10 (số bị chia không quá 100)
- Hoàn thiện các bảng nhân và các bảng chia
- Nhân chia ngoài bảng trong phạm vi 1000: nhân số có hai, ba chữ số với một số có một chữ số (có nhớ không quá một lần); chia số có hai, ba chữ số cho
số có một chữ số Chia hết và chia có dư
- Thực hành tính: tính nhẩm trong phạm vi các bảng tính; nhân nhẩm số có hai chữ số với số có một chữ số (không nhớ); chia nhẩm số có hai chữ số với số
có một chữ số không có dư ở từng bước chia Củng cố về cộng, trừ, nhân, chia trong phạm vi 1000 theo các mức độ đã xác định
- Làm quen với biểu thức số và giá trị biểu thức
- Giới thiệu các thứ tự thực hiện các phép tính trong biểu thức số có đến 2 dấu phép tính, có hoặc không có ngoặc
- Giải các bài tập tìm x biết a : x = b (với a, b là số trong phạm vi đã học)
1.3.1.2 Giới thiệu các số trong phạm vi 100 000
Giới thiệu hàng nghìn, hàng chục nghìn (hàng vạn), hàng trăm nghìn
- Phép cộng và phép trừ có nhớ không liên tiếp và không quá hai lần trong phạm vi 100 000 Phép nhân số có bốn chữ số với số có một chữ số có nhớ không liên tiếp và không quá hai lần, tích không quá 100 000 Phép chia số có năm chữ số cho số có một chữ số (chia hết và chia có dư)
- Tính giá trị biểu thức có đến ba dấu phép tính, có hoặc không có dấu ngoặc
Trang 29- Giới thiệu các phần bằng nhau của đơn vị (dạng 1/n, với n là các số tự nhiên từ 2 đến 10) Thực hành so sánh các phần bằng nhau của đơn vị trên hình
vẽ trong trường hợp đơn giản
- Giới thiệu bước đầu về chữ số La Mã
1.3.1.3 Đại lượng và đo đại lượng
- Bổ sung và lập bảng các đơn vị độ dài từ mi-li-mét đến ki-lô-mét Nêu mối quan hệ giữa hai đơn vị kế tiếp nhau, giữa mét và ki-lô-mét, giữa mét và xăng-ti-mét, mi-li-mét Thực hành đo và ước lượng độ dài
- Giới thiệu đơn vị đo diện tích xăng-ti-mét vuông
- Giới thiệu gam Đọc, viết, làm tính với các số đo theo đơn vị gam Giới thiệu 1kg = 1000g
- Ngày, tháng, năm Thực hành xem lịch
- Phút, giờ Thực hành xem đồng hồ, chính xác đến từng phút Tập ước lượng khoảng thời gian trong phạm vi một số phút
- Giới thiệu tiếp về tiền Việt Nam Tập đổi tiền với các trường hợp đơn giản
Trang 301.3.1.5 Yếu tố thống kê
- Giới thiệu bảng số liệu đơn giản
- Tập sắp xếp lại số liệu của bảng theo mục đích, yêu cầu cho trước
1.3.1.6 Giải bài toán có lời văn
- Giải bài toán có hai bước tính với các mối quan hệ trực tiếp và đơn giản
- Giải bài toán rút về đơn vị và các bài toán có nội dung hình học
1.3.2 Sự cần thiết phải hình thành kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Toán cho học sinh lớp 3
Quy luật cơ bản “Hoạt động dạy và học thống nhất biện chứng với nhau” chi phối quan hệ thầy và trò trong quá trình dạy học GV với vai trò chủ đạo, tổ chức, điều khiển, lãnh đạo hoạt động nhận thức của HS, còn HS với hoạt động học (hoạt động nhận thức), vừa là đối tượng vừa là chủ thể nhận thức Do đó không thể không vận động trên cơ sở phát huy cao độ tính tự giác, tích cực, độc lập dưới sự hướng dẫn, điều khiển của GV Với tư cách là một khâu trong quá trình dạy học, quá trình đánh giá phải có sự thống nhất giữa đánh giá của GV
Trang 31với TĐG của HS Hơn nữa, chỉ khi nào TĐG được mình thì HS mới thực sự trở thành chủ thể của hoạt động nhận thức
Theo quan điểm duy vật biện chứng, thực tiễn là điểm khởi đầu và cũng là điểm kết thúc trong hoạt động nhận thức của HS, kết quả hoạt động thực tiễn (hoạt động học tập) sẽ phản ánh trình độ nhận thức (kết quả học tập) của người học Do đó, HS chỉ có thể TĐG được kết quả học tập của mình thông qua chính
các hoạt động học tập của các em
1.3.2.2 Tự đánh giá xét từ góc độ tâm lý học và giáo dục học
Theo tâm lý học và lý luận dạy học hiện đại cho rằng cần tạo điều kiện để
HS ngày càng tự đảm đương những chức năng vốn chỉ là của GV, trong đó có việc đánh giá kết quả học tập của bản thân
Theo Kharlamov, hoạt động học tập chỉ thực sự có hiệu quả khi người học
là chủ thể tự giác, tích cực của quá trình học tập
Người ta thường nêu lên những tiền đề “tự nhiên” hay được tạo ra ở các nhà trường làm cơ sở cho sự biện luận như sau:
- Khả năng nội quan (Introspection), kinh nghiệm bản thân được hình
thành và phát triển từ tuổi thiếu niên
- Theo thời gian và tuổi đời, HS tự tích lũy được những hiểu biết, kinh nghiệm về bản thân trong sự giống và khác những người xung quanh, về cả những chuẩn mực đánh giá nào đó Trong tâm lý học phát triển, H.Thomas đã có
lần bị phê phán vì không coi khả năng TĐG là tiêu chuẩn của sự phát triển
- HS có thể TĐG còn nhờ ở sự chỉ dẫn, hỗ trợ, nhận xét của nhóm, GV
và gia đình hay nói khác đi là thông qua các cơ chế tâm lý xã hội
- Các công trình thực nghiệm cho thấy, dưới tác động của nhà trường, việc đánh giá quá cao về bản thân của HS có thể thay đổi theo hướng ngày càng
phù hợp với thực tế hơn
Năm 1990, Mayer và Pete Salovey công bố mô hình lý thuyết về trí tuệ xúc cảm, hiện nay nó đã trở thành một vấn đề được quan tâm nghiên cứu, ứng dụng
Trang 32khá rộng rãi ở nhiều quốc gia, trên nhiều lĩnh vực Những thành phần chủ yếu của trí tuệ cảm xúc là: khả năng nhận biết, đánh giá và thể hiện cảm xúc của bản thân; khả năng nhận biết và đánh giá cảm xúc của người khác; sử dụng cảm xúc để
định hướng hành động
Một trong những cơ sở tâm lý học của hoạt động TĐG của HS là mối quan
hệ giữa cảm xúc và sự phát triển trí tuệ Hơn nữa, khuyến khích TĐG ở HS giúp họ phát huy tinh thần trách nhiệm của bản thân trong quá trình học Những người học tích cực tham gia vào TĐG sẽ thành thạo trong quá trình củng cố hoạt động của họ
Họ biết đánh giá chính xác về bản thân và nhận xét với thái độ xây dựng đối với công việc của người khác TĐG không chỉ phát triển ở người học khả năng phân
tích tỉ mỉ điểm mạnh, điểm yếu mà còn cho thấy những thông tin đó rất có giá trị
Theo tâm lý học, ý thức về cái “tôi”, còn gọi là ý thức về mình, là một thành phần trong cấu trúc của nhân cách Trên bình diện đạo đức, ý thức về mình xuất hiện dưới hình thức “nhu cầu tự khẳng định” và “lương tâm”, “lòng tự trọng”, “danh dự”, Liên quan mật thiết với nhu cầu tự khẳng định là nhu cầu TĐG những hoạt động, những phẩm chất và khả năng của bản thân Lúc đầu là sự đánh giá của xã hội, của tập thể đối với đứa trẻ rồi hình thành năng lực của chính
đứa trẻ TĐG mình
Con đường hiệu quả nhất để HS nắm vững kiến thức, phát triển kỹ năng là phải đưa HS vào vị trí chủ thể trong hoạt động nhận thức Vai trò chủ thể của
HS trong hoạt động nhận thức thể hiện ở việc HS tự định hướng, tự tổ chức, tự
điều chỉnh và TĐG kết quả học tập của mình
a) Thông qua TĐG, HS thấy rõ hơn mục tiêu, nhiệm vụ môn học
Theo Black và Wiliam đã cho rằng HS chỉ có thể TĐG khi họ có một bức tranh đầy đủ, rõ ràng về mục tiêu học tập và quá trình học là phương tiện để hướng tới Khi ý thức được mục tiêu, nhiệm vụ học tập, HS có thể TĐG mức độ kiến thức, kỹ năng, do đó công việc học tập của họ trở nên có định hướng rõ
Trang 33ràng, chủ động, tích cực hơn Hơn nữa, HS chỉ có thể đạt được thành tích về học
tập nếu họ hiểu mục đích và có thể TĐG xem họ cần phải làm gì để đạt được nó
Như vậy, để TĐG được thì HS phải nắm chắc mục tiêu, nhiệm vụ học tập Ngược lại, TĐG giúp cho HS tự đối chiếu kết quả học tập của bản thân mình với mục tiêu, nhiệm vụ học tập để thấy được mức độ đạt được của bản thân Do đó, thông qua TĐG, HS sẽ thấy rõ hơn mục tiêu, nhiệm vụ học tập của mình
b) TĐG cung cấp cho HS thông tin phản hồi về chính quá trình học của họ
“Sự thay đổi có ý nghĩa nhất trong việc nâng cao kết quả học tập của HS là thông tin phản hồi Miêu tả đơn giản nhất cho việc cải cách giáo dục chính là tận dụng các chức năng của thông tin phản hồi” Tramel, Schloss và Alper cho biết
“Chúng tôi từng nghĩ rằng thông tin phản hồi là một cái gì đó thuần tuý được thực hiện bởi GV Tuy vậy, các nghiên cứu cho thấy HS cũng có thể tự đi u chỉnh quá trình học tập của mình một cách hiệu quả nhờ thông tin phản hồi.”
Grant Wiggins (1993) cũng đã nhận thấy ích lợi của cách sử dụng thông tin phản
hồi từ phía HS trong dạng TĐG
Như vậy, xuất phát từ ý nghĩa to lớn của thông tin phản hồi và vị trí, vai trò của việc TĐG kết quả học tập cho thấy: Việc điều chỉnh kế hoạch học tập dựa trên cơ sở các thông tin phản hồi đó thể hiện được vai trò của TĐG đối với quá trình học của HS TĐG sẽ giúp các em định hướng rõ ràng hơn kế hoạch trong tương lai, các em sẽ phấn khởi, tự tin hơn trong học tập Cùng với thời gian, các
em có thể nhận ra rõ hơn và giải quyết tốt hơn các nhiệm vụ học tập của bản thân
c) TĐG giúp HS chủ động, tích cực hơn trong học tập và là xu thế mới trong dạy học
Để quá trình đổi mới giáo dục thực sự mang lại hiệu quả tốt đòi hỏi phải đổi mới về đánh giá, bên cạnh đánh giá của GV cần phải chú ý và kết hợp với TĐG của HS, tức là tăng cường kỹ năng TĐG ở HS trong quá trình dạy học
HS nên được giúp đỡ để phát triển khả năng và thói quen của sự tự phản chiếu để họ có thể tăng khả năng tự điều khiển và điều chỉnh
Trang 34Bả g X hướng mới t o g đá h giá ớp học
Chưa đổi mới Đổi mới
- Chỉ nhấn mạnh kết quả - Đánh giá cả quá trình
- Các kỹ năng riêng lẻ - Các kỹ năng tổng hợp
- Một câu trả lời đúng duy nhất - Nhiều câu trả lời đúng
- Các tiêu chuẩn giữ kín/ bí mật - Các tiêu chuẩn công khai
- Các tiêu chí giữ kín/ bí mật - Các tiêu chí công khai
- Rất ít thông tin phản hồi - Rất nhiều thông tin phản hồi
- Đánh giá ở bên ngoài - Học sinh tự đánh giá
- Những đánh giá đơn lẻ - Những đánh giá đa dạng
- Không thường xuyên - Liên tục
Như vậy TĐG là một trong những vấn đề được quan tâm trong xu hướng mới đánh giá lớp học
1.3.3 Các kỹ năng thành phần của kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh lớp 3
Nhóm 1: Kỹ năng tự đánh giá ti m năng bản thân
Đây là kỹ năng học tập cơ bản, nó giúp HS hiểu được những ưu nhược điểm về tâm lý, trí tuệ, xu hướng, tính cách từ đó có được sự lựa chọn về nội
Trang 35dung, phương pháp, hình thức học tập phù hợp giúp cho hoạt động học tập đạt hiệu quả tốt Trong nhóm kỹ năng này, chúng tôi đề cập các kỹ năng sau:
- Kỹ năng 1: Kỹ năng tự đánh giá ti m năng Kỹ năng này nhằm giúp
HS TĐG xem mình có năng khiếu, thế mạnh hay thuộc dạng trí khôn nào, từ
đó lựa chọn và đánh giá được hướng học tập nào thích hợp nhất Chẳng hạn, HS TĐG xem mình có kỹ năng về hình học, yếu tố đại số hay giải toán có lời văn, khi đó HS tự xác định năng khiếu của mình để có định hướng cho việc nâng cao
và phát huy tiềm năng của bản thân ở những lớp học tiếp theo
- Kỹ năng 2: Kỹ năng tự đánh giá v phong cách học Kỹ năng này
nhằm giúp HS xác định và đánh giá được cách thức học tập nào thích hợp nhất Tức là TĐG xem bản thân thích học theo hình thức nghiền ngẫm hay trầm tư, ồn
ào hay yên lặng, học cá nhân hay học nhóm; Qua đó mà lựa chọn được cách học thích hợp Chẳng hạn, nếu người học là người thích yên tĩnh khi học thì phải
bố trí góc học tập riêng để khi học không bị ai quấy phá mới có thể tập trung chú
ý cao độ và có hiệu quả Còn nếu với cách học tập đó mà người học vừa học vừa
có người xem tivi (xem phim chẳng hạn) thì họ sẽ bị phân tán tư tưởng dẫn đến hiệu quả không cao,
- Kỹ năng 3: Kỹ năng tự đánh giá v ti m năng trí tuệ và tâm lý Kỹ
năng này nhằm giúp HS lựa chọn và đánh giá, điều chỉnh được cách học tập sao cho thích hợp nhất với khả năng mình Chẳng hạn, TĐG xem họ có trí nhớ tốt không, đặc điểm tâm lý, tính cách của họ như thế nào, ảnh hưởng gì đến việc học; TĐG xem họ tiếp thu kiến thức nhanh hay chậm Qua đó, họ tự xác định, điều chỉnh việc học Chẳng hạn, nếu HS tự biết mình chưa thông minh thì có thể chăm chỉ, siêng năng hơn trong việc học ở trường cũng như ở nhà
Nhóm 2: Kỹ năng tự đánh giá v động cơ, thái độ, ý thức học tập
Theo tâm lý học (trí tuệ xúc cảm), HS chỉ tích cực khi họ nhận thức được nhiệm vụ học tập, khi đó họ tự tạo được động cơ, từ đó tạo ra hứng thú, dẫn đến việc học được tập trung cao độ và có hiệu quả cao Do đó, kỹ năng này (gọi
Trang 36là kỹ năng 4) nhằm giúp HS thấy được rõ hơn động cơ học tập của mình (Học để làm gì? Học cho ai?), thái độ, ý thức học tập (Học tập đã tích cực chưa? Tự giác chưa?),
Nhóm 3: Kỹ năng tự đánh giá v việc tổ chức việc học tập
Kỹ năng này giúp HS thấy được rõ hơn việc tổ chức hoạt động học tập
của họ đã khoa học, hợp lý chưa, thấy được sự tuân thủ các kế hoạch học tập của họ như thế nào và họ cần phải điều chỉnh như thế nào để hoạt động học tập thật sự có hiệu quả Cụ thể như sau:
- Kỹ năng 5: Kỹ năng tự đánh giá việc xây dựng và thực hiện kế
hoạch Kỹ năng này giúp HS xác định xem bản thân có biết xây dựng thời gian
biểu (trong ngày, trong tuần, trong tháng hoặc trong năm) không, đã thực hiện đúng thời gian biểu chưa, hiệu quả việc thực hiện đó như thế nào, có cần điều chỉnh gì không,
- Kỹ năng 6: Kỹ năng tự đánh giá khâu tổ chức việc học ở nhà Kỹ
năng này giúp HS xác định xem họ học tập có đúng giờ quy định không, sử dụng có hiệu quả các phương tiện hỗ trợ việc học (máy vi tính, internet, máy tính cầm tay, tivi, radio, ghi âm, ), sử dụng các tài liệu phục vụ học tập (như SGK, sách bài tập, sách giáo viên, sách tham khảo, ) như thế nào
Nhóm 4: Kỹ năng tự đánh giá việc lĩnh hội kiến thức, vận dụng kỹ năng:
Kỹ năng này giúp HS TĐG mức độ đạt được về kiến thức, kỹ năng so với mục tiêu, nhiệm vụ học tập Từ đó biết được họ đã đạt được kiến thức, kỹ năng gì, mức độ đạt được như thế nào, cần phải bổ sung kiến thức, cụ thể có các kỹ năng sau:
- Kỹ năng 7: Kỹ năng tự đánh giá việc học các nội dung khi có sự xuất
hiện của giáo viên Kỹ năng này nhằm TĐG kiến thức cũ, việc lĩnh hội khái
niệm, quy tắc; TĐG việc giải bài tập,
- Kỹ năng 8: Kỹ năng tự đánh giá mức độ đạt được nội dung môn học
khi không có sự xuất hiện của giáo viên Kỹ năng này nhằm TĐG việc hoàn
Trang 37thành nhiệm vụ học tập do GV giao cho; TĐG kiến thức, kỹ năng đã học, kỹ năng bổ sung, TĐG mức độ đạt chuẩn kiến thức, kỹ năng trong chương trình môn học; TĐG mức độ đạt được về kiến thức, kỹ năng đã học so với yêu cầu, nhiệm vụ học tập do lớp, GV và nhà trường đặt ra; TĐG sự tiến bộ trong học tập; TĐG kiến thức, kỹ năng của bản thân để định hướng việc tham gia các kỳ thi, lựa chọn hướng học tập hoặc các trường học,
1.3.4 Biểu hiện và mức độ kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh lớp 3
1.3.4.1 Biểu hiện kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh lớp 3
HS có kỹ năng TĐG kết quả học tập nếu có khả năng thu thập, phân tích
và lý giải thông tin về kiến thức, kỹ năng của mình; biết so sánh, đối chiếu với mục tiêu, nhiệm vụ học tập; có khả năng ra quyết định và điều chỉnh hoạt động học tập của bản thân sao cho đạt được mục tiêu, nhiệm vụ học tập đó Trong
môn Toán, biểu hiện kỹ năng TĐG kết quả học tập của HS là:
- Có thể tự nhận biết được đặc điểm về tâm lý, trí tuệ, tính cách và phong cách học của bản thân phù hợp với môn Toán
- Có thể tự lựa chọn hình thức học tập phù hợp với đặc điểm tâm lý, trí tuệ, tính cách và phong cách học của bản thân để học môn Toán tốt hơn
- Có thể tự điều chỉnh việc học để phát huy được tiềm năng trí tuệ, tâm
lý của bản thân trong học môn Toán
- Có thể tự nhận biết được động cơ học tập đã đúng đắn chưa, thái độ, ý thức học tập đã tốt chưa (tự giác, chủ động, tích cực chưa…)
- Có thể tự điều chỉnh thái độ, ý thức học tập theo hướng tích cực hơn;
có thể tự xác định được động cơ học tập đúng đắn để nâng cao hiệu quả học tập
- Có thể tự nhận thức được về tính khoa học, hợp lý, hiệu quả trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch học môn Toán ở nhà
Trang 38- Có thể tự điều chỉnh kế hoạch học tập môn Toán theo hướng hợp lý, hiệu quả hơn
- Có thể tự nhận thức được hiệu quả của việc sử dụng các tài liệu học tập
và các phương tiện hỗ trợ việc học
- Có thể tự rút kinh nghiệm, tự điều chỉnh việc sử dụng các tài liệu học tập và các phương tiện hỗ trợ việc học
- Có thể xác định được mức độ kiến thức, kỹ năng của bản thân so với mục tiêu, nhiệm vụ học tập môn Toán
- Biết xác định mức độ lĩnh hội khái niệm, quy tắc, phương pháp…
- Biết phát hiện ra những thiếu hụt, những sai lầm trong kiến thức, kỹ năng môn Toán
- Biết đánh giá được lời giải của bài toán
- Biết tự rút kinh nghiệm, tự điều chỉnh để học tập môn Toán ngày một tiến bộ
1.3.4.2 Mức độ kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh lớp 3
Mức độ 1: Bắt chước tự đánh giá kết quả học tập Khi dạy học ở trên lớp, GV nên tận dụng các cơ hội để làm mẫu việc đánh giá KQHT cho HS, giúp
HS thấy được sự cần thiết phải đánh giá, TĐG và bắt chước GV có thể cài đặt hoạt động này thông qua việc dạy học các khái niệm, quy tắc, dạy học giải bài tập, GV cũng nên cố gắng giúp HS thấy được các bước, các thao tác cần thiết
để thực hiện hoạt động đánh giá Qua đây HS sẽ học được cách thức để đánh giá KQHT, tức là HS được trang bị kiến thức về đánh giá Như vậy, ở mức độ này
HS đã nhận thức sự cần thiết TĐG và có được kiến thức nhất định về đánh giá
và TĐG
Ví dụ 1.1 Để giúp HS có cách đánh giá tiến tới TĐG việc hiểu một khái
niệm trong môn Toán, ở những thời điểm ban đầu, GV cần phải làm mẫu để HS
có thể quan sát tiến tới bắt chước
Trang 39Chẳng hạn, để hiểu việc HS nắm khái niệm về bài toán dạng liên quan đến rút về đơn vị, GV có thể tìm kiếm thông tin phản hồi thông qua việc tiến hành như sau:
Hoạt động của GV Hoạt động của HS
GV nêu đề bài:
1 Có 35l mật ong chứa đ u vào 7 can
Hỏi mỗi can có mấy lít mật ong ?
A 4 B 5
C 6 D 7
2 Có 35l mật ong chứa đ u vào 7 can
Hỏi 2 can như thế có mấy lít mật ong ?
3 Có 35l mật ong chứa đ u vào 7 can
Hỏi có 45l mật ong đựng được trong
mấy can như thế ?
Hiểu nhiệm vụ
Yêu cầu HS làm bài và gọi 2 HS lên
bảng làm
Vận dụng kiến thức – kỹ năng được học, làm và TĐG từng phần
Yêu cầu HS kiểm tra lại bài làm của
mình và chỉnh sửa nếu có
Tự đánh giá kết quả (cảm tính)
Sau khi HS làm xong, yêu cầu HS nhận
xét bài làm của bạn trên bảng
Đánh giá bài làm của bạn (cảm tính)
Chiếu bảng hướng dẫn đánh giá Kiểm tra lại việc TĐG kết quả học
tập thông qua việc đối chiếu với bảng hướng dẫn đánh giá
Phân tích đáp án, nhận xét, đánh giá câu
trả lời của hai HS làm trên bảng và những
nhận xét của HS khác
Chính xác hóa việc đánh giá TĐG vừa thực hiện
Trang 40Yêu cầu HS khác tự đối chiếu và TĐG
bài làm của mình
TĐG về kiến thức – kỹ năng và TĐG việc thực hiện theo bảng hướng dẫn đánh giá, sửa chữa sai lầm nếu có
Minh hoạ hướng dẫn đánh giá của ý 1 ở ví dụ trên (bảng hướng dẫn đánh giá
được xây dựng theo tiến trình làm bài tập của HS, với yêu cầu mức độ từ thấp đến cao, từ chưa đạt đến mức tốt)
Hiểu dạng
câu hỏi
Câu hỏi trắc nghiệm khách quan dạng nhi u lựa chọn, trong đó chỉ có 1 phương án đúng
Xác định đúng phần dẫn và phần lựa chọn
Câu hỏi trắc nghiệm khách
Không hiểu
hỏi là trắc nghiệm khách quan
Biết được
yếu tố đã
cho
Hiểu rõ rằng có 35l mật ong và chứa đ u vào 7 can thì có thể tìm được số lít mật ong trong mỗi
can
Nhận ra được
2 yếu tố là có 35l mật ong
và chứa đ u vào 7 can
số lít mật ong và số
can
Không
được số lít mật ong và
số can