1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trường từ vựng ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa trong thơ lưu quang vũ

120 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trường Từ Vựng Ngữ Nghĩa Thể Hiện Tình Yêu Đôi Lứa Trong Thơ Lưu Quang Vũ
Tác giả Hoàng Thị Thủy Hằng
Người hướng dẫn PGS. TS. Hoàng Trọng Canh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Ngữ Văn
Năm xuất bản 2015
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 881,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu trường từ vựng - ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa trong thơ Lưu Quang Vũ, chúng tôi mong muốn góp thêm cứ liệu về nét riêng của Lưu Quang Vũ trong việc lựa chọn, tổ chức và

Trang 1

HOÀNG THỊ THỦY HẰNG

TRƯỜNG TỪ VỰNG NGỮ NGHĨA THỂ HIỆN TÌNH YÊU ĐÔI LỨA TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2015

Trang 2

HOÀNG THỊ THỦY HẰNG

TRƯỜNG TỪ VỰNG NGỮ NGHĨA THỂ HIỆN TÌNH YÊU ĐÔI LỨA TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 60.22.02.40

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS HOÀNG TRỌNG CANH

NGHỆ AN - 2015

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng nghiên cứu 9

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 10

6 Đóng góp mới của luận văn 10

7 Cấu trúc luận văn 11

Chương 1 NHỮNG GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 12

1.1 Từ và nghĩa của từ 12

1.1.1 Từ ngữ trong ngôn ngữ 12

1.1.2 Từ ngữ trong tác phẩm nghệ thuật 14

1.1.3 Nghĩa của từ 16

1.2 Trường từ vựng - ngữ nghĩa 20

1.2.1 Khái niệm trường ngữ nghĩa - trường từ vựng 20

1.2.2 Quan hệ ngữ nghĩa trong trường từ vựng - ngữ nghĩa 22

1.2.3 Hiện tượng chuyển trường 26

1.2.4 Giá trị biểu đạt tư tưởng, tình cảm của chủ thể sáng tạo khi dùng từ theo trường 27

1.3 Lưu Quang Vũ - cuộc đời và sự nghiệp 29

1.3.1 Vài nét về cuộc đời Lưu Quang Vũ 29

1.3.2 Sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật của Lưu Quang Vũ 30

1.4 Tiểu kết chương 1 33

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM TRƯỜNG TỪ VỰNG - NGỮ NGHĨA THỂ HIỆN TÌNH YÊU ĐÔI LỨA TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ 34

2.1 Kết quả khảo sát 34

2.2 Các trường nghĩa thể hiện tình yêu trong thơ Lưu Quang Vũ 34

Trang 4

2.2.3 Trường nghĩa theo quan hệ liên tưởng 48

2.2.4 Hiện tượng từ được dùng chuyển trường nghĩa chỉ tình yêu trong thơ Lưu Quang Vũ 56

2.3 Cách tổ chức trường từ vựng - ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa trong Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi của Lưu Quang Vũ 59

2.3.1 Các biện pháp tổ chức từ thuộc trường từ vựng - ngữ nghĩa thể

hiện tình yêu đôi lứa ………59

2.3.2 Hiệu quả nghệ thuật của cách thức tổ chức trường từ vựng - ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa trong thơ Lưu Quang Vũ 66

2.4 Tiểu kết 74

Chương 3 VAI TRÒ CỦA TRƯỜNG TỪ VỰNG NGỮ NGHĨA TRONG VIỆC THỂ HIỆN TÌNH YÊU ĐÔI LỨA TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ 76

3.1 Khái quát về tình yêu đôi lứa (Hay còn gọi là tình yêu nam nữ) 76

3.2 Vai trò của trường nghĩa liên tưởng về tình yêu đôi lứa 80

3.2.1 Khái niệm “biểu tượng” 80

3.2.2 Các biểu tượng về tình yêu đôi lứa trong thơ Lưu Quang Vũ 81

3.3 Vai trò của trường nghĩa thể hiện phẩm chất của người đàn ông trong tình yêu đôi lứa 95

3.3.1 Tiểu trường thể hiện phẩm chất khao khát yêu thương 95

3.3.2 Tiểu trường thể hiện phẩm chất sẵn sàng hy sinh, dâng hiến 98

3.3.3 Tiểu trường thể hiện tình cảm tình yêu luôn lo âu, trăn trở 102

3.4 Tiểu kết 107

KẾT LUẬN 109

TÀI LIỆU THAM KHẢO 112

Trang 5

Bảng 2.1 Nhóm từ xưng hô thể hiện tình yêu 36

Bảng 2.2 Nhóm danh từ thể hiện tình cảm, tình yêu 37

Bảng 2.3 Nhóm động từ thể hiện tình yêu 38

Bảng 2.3.a Nhóm động từ thể hiện tâm trạng 39

Bảng 2.3.b Nhóm động từ thể hiện hành động yêu 40

Bảng 2.4 Nhóm từ chỉ tính chất thể hiện tình yêu 42

Bảng 2.4.a Nhóm tính chất thể hiện mức độ tình yêu 44

Bảng 2.4.b Nhóm tính từ chỉ tính chất, trạng thái cảm xúc yêu đương 45

Bảng 2.5 Những từ có nghĩa chỉ hình ảnh thiên nhiên mang nghĩa biểu tượng về tình yêu 49

Bảng 2.6 Từ chỉ bộ phận con người mang nghĩa biểu tượng cho tình yêu 52

Bảng 2.7 Những từ ngữ chỉ đối tượng được liên liên tưởng 56

Bảng 2.8 Các từ thuộc trường nghĩa chỉ tình yêu đựợc dùng chuyển trường 57

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Văn học là nghệ thuật ngôn từ Đối với chủ thể sáng tạo, trong quá trình sáng tác, nhà văn bắt buộc phải sử dụng ngôn ngữ như chất liệu duy nhất Thông qua sự tổ chức ngôn ngữ, nhà văn bộc lộ cảm xúc, tư tưởng, tài năng và sức sáng tạo của mình Đối với khách thể tiếp nhận, muốn hiểu được ý nghĩa nghệ thuật của tác phẩm, người đọc cũng phải bắt đầu từ ngôn từ trong văn bản, hơn thế, còn phải tìm hiểu cách tổ chức ngôn từ trong tác phẩm theo từng thể loại Trong những năm gần đây, ngôn ngữ không chỉ được nghiên cứu theo hướng cấu trúc mà còn được nghiên cứu theo hướng hoạt động gắn liền với chức năng của từng loại ngôn bản và theo hướng tiếp cận liên ngành Vì vậy, nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật trở thành một hướng nghiên cứu quan trọng, không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà phê bình văn học mà cả các nhà ngôn ngữ học Tìm hiểu về trường từ vựng - ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa trong thơ Lưu Quang Vũ cũng là đề tài nằm trong hướng đi cần thiết ấy

1.2 Trong hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ, các từ không tồn tại một cách rời rạc mà chúng đều có quan hệ nhất định với nhau về một phạm vi ngữ nghĩa nào đó Mỗi tập hợp những từ có phạm vi ngữ nghĩa như vậy tạo nên một tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là “trường từ vựng”, “trường từ vựng - ngữ nghĩa” hay “trường nghĩa” (Semantic field)

Chẳng hạn, khi nói đến quê hương người ta nghĩ ngay đến cây đa,

giếng nước, sân đình ; nói đến cảm xúc của con người ta nghĩ ngay đến hỉ,

nộ, ái, ố, v.v

Việc tìm hiểu trường nghĩa như vậy không chỉ phản ánh mối quan hệ ngữ nghĩa của các đơn vị từ vựng trong một hệ thống ngôn ngữ, mà còn góp phần tìm hiểu nội dung tác phẩm cũng như phong cách tác giả qua cách họ sử dụng trường từ vựng trong tác phẩm

Trang 7

Nghiên cứu trường từ vựng - ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa trong thơ Lưu Quang Vũ, chúng tôi mong muốn góp thêm cứ liệu về nét riêng của Lưu Quang Vũ trong việc lựa chọn, tổ chức và sử dụng ngôn ngữ, qua đó góp phần nhận diện phong cách nghệ thuật của nhà thơ

1.3 Lưu Quang Vũ là tác giả đa tài, thành công trên nhiều thể loại sáng tác nhưng với bạn bè đồng nghiệp và những người yêu mến Lưu Quang Vũ thì thơ mới là “phần tâm huyết nhất cuộc đời anh” Lưu Quang Vũ là một tài

thơ “thuộc loại bẩm sinh” Ngay từ tập thơ đầu tiên in năm 1968 (Tập Hương

cây in chung với tập Bếp lửa của Bằng Việt) đến năm 2010, Nxb Hội nhà văn

đã phát hành tuyển thơ Lưu Quang Vũ với tiêu đề Gió và tình yêu thổi mãi

trên đất nước tôi đã gây được sự chú ý đặc biệt của bạn đọc Trong hơn 20

năm cầm bút, Lưu Quang Vũ đã thể hiện một hồn thơ nồng nàn, đắm đuối mà

vô cùng chân thành, giản dị, không hề có sự cầu kỳ, chải chuốt câu chữ Đến với thơ, Lưu Quang Vũ lặng lẽ miệt mài sáng tạo và đã tìm thấy niềm tin yêu cuộc đời theo cách của riêng anh Thể hiện điều ấy trong những thi phẩm của mình, Lưu Quang Vũ đã tạo nên một phong cách riêng, một giọng điệu riêng giàu sức ám ảnh Tuy nhiên còn ít công trình đi sâu khám phá về từ, nghĩa của

từ cũng như những đặc sắc trong kết hợp từ trong thơ Lưu Quang Vũ

Chọn đề tài “Trường từ vựng - ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa

trong thơ Lưu Quang Vũ” trong tuyển thơ Lưu Quang Vũ với tiêu đề Gió và

tình yêu thổi mãi trên đất nước tôi, chúng tôi mong muốn khảo sát đầy đủ và

toàn diện hơn hệ thống trường từ vựng đã góp phần khẳng định vai trò của trường nghĩa trong sử dụng ngôn ngữ vào hoạt động giao tiếp

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu trường từ vựng - ngữ nghĩa trên thế giới

Trên thế giới có nhiều cách hiểu khác nhau về trường từ vựng nhưng nhìn chung có thể qui vào hai khuynh hướng chủ yếu:

Trang 8

Khuynh hướng thứ nhất quan niệm trường từ vựng là toàn bộ các khái niệm mà các từ trong một ngôn ngữ biểu hiện Đại diện cho khuynh hướng này là J.Trier và L Wesigerber

Khuynh hướng thứ hai xây dựng lí truyết trường nghĩa trên cơ sở các tiêu chí ngôn ngữ học Trường nghĩa không phải là phạm vi các khái niệm nào

đó nữa mà là phạm vi tất cả các từ có quan hệ lẫn nhau về nghĩa Đại diện cho khuynh hướng này là W Porzig

Điển hình cho khuynh hướng thứ nhất này là J.Trier và J Wesigerber Trier nói tới trường khái niệm và trường từ vựng như sau: trường từ vựng bao phủ lên trường khái niệm như một cái áo khoác hay tấm vải phủ

Theo ông: “Một từ chỉ có ý nghĩa khi nằm ở trong trường, nhờ những quan hệ

của nó với các từ khác cũng thuộc trường ấy Trong hệ thống, tất cả chỉ nhận được ý nghĩa qua cái toàn thể Có nghĩa là từ của ngôn ngữ nào đó không phải là đại diện tách biệt của ý nghĩa, ngược lại mỗi một từ có nghĩa chỉ là vì

có các từ khác liên hệ trực tiếp với nó” [dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp (Chủ

biên), 17, tr 110]

Quan điểm của L Wesigerber về trường là quan niệm theo hệ dọc:

trường trực tuyến - trường truyền thống Cơ sở ngôn ngữ học của L

Wesigerber là khái niệm thế giới trung gian của ngôn ngữ Ông thay thế sự

phân tích các từ bằng sự phân tích khái niệm nằm trong “tinh thần” của một ngôn ngữ nào đó Ông đã phủ nhận hiện tượng đa nghĩa và đồng nghĩa của các đơn vị từ vựng

Sau J.Trier và L Wesigerber, nhiều nhà nghiên cứu cũng đưa ra những

quan niệm khác về trường dựa vào các tiêu chí khác nhau để tập hợp các đơn

vị từ vựng Đáng chú ý nhất là lý thuyết về trường của nhà ngôn ngữ học người Đức W Porzig Ông là người đại diện cho khuynh hướng thứ hai khi

nghiên cứu về trường Ông đã xây dựng khái niệm về các trường tuyến tính

Trang 9

(hệ ngang) hay còn gọi là trường từ vựng - cú pháp Ông quan niệm trường

dựa trên cơ sở các mối quan hệ chung nhất, những mối quan hệ ngữ nghĩa tạo nên “các trường cơ bản của ý nghĩa” Porzig chú ý tới hiện tượng nhiều nghĩa nên đã phân biệt được trường trung tâm và trường chuyển nghĩa

2 2 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu trường từ vựng - ngữ nghĩa ở Việt Nam

Lý thuyết trường từ vựng được Đỗ Hữu Châu giới thiệu vào Việt Nam

từ năm 1970 Đến nay, nó vẫn được coi là một trong những mô hình nghiên cứu của ngữ nghĩa học cấu trúc và miêu tả Nhiều công trình đã giới thiệu, vận dụng lý thuyết này vào nghiên cứu các trường từ vựng - ngữ nghĩa hay đối chiếu trường từ vựng của tiếng Việt với trường từ vựng tương ứng trong ngôn ngữ khác

Đỗ Hữu Châu là người đầu tiên áp dụng lý thuyết trường từ năm 1970 vào nghiên cứu từ vựng tiếng Việt Các nghiên cứu của ông được đề cập trong

các công trình như: “Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng” [6], “Đỗ Hữu Châu tuyển

tập” (tập 1) [7] và nhiều bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí ngôn ngữ Ông

đã vận dụng lý thuyết về trường nghĩa của các tác giả nước ngoài để xây dựng những quan niệm của mình về trường nghĩa Trước tiên, trường là một tập hợp bao chứa những đối tượng có tính tương liên với nhau Tập hợp đó tồn tại một cách khách quan, có mối liên hệ nội trợ chặt chẽ và làm nên một giá trị chung Và trường nghĩa được GS Đỗ Hữu Châu đưa ra khái niệm như sau: Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa Đó là những từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa [6;170]

Như vậy, một tập hợp từ đồng nhất với nhau ở một nét nghĩa tổng quát mang tính chất của một hệ thống con nằm trong hệ thống từ vựng lướn sẽ được gọi là trường nghĩa Trường nghĩa là kết quả của sự phản ánh khái quát mà mức

độ cao nhất là giúp xác lập từ loại Hay, hiểu một cách đơn giản: trường nghĩa, trường từ vựng là tập hợp những từ có ít nhất một nét chung về nghĩa

Trang 10

2.3 Lịch sử nghiên cứu thơ Lưu Quang Vũ

Năm 1968, tập thơ in chung Hương cây - Bếp lửa của Lưu Quang Vũ

và Bằng Việt ra đời và ngay lập tức nó đã nhận được sự quan tâm của nhiều

nhà nghiên cứu Trong bài viết “Một cây bút trẻ nhiều triển vọng”, nhà phê bình Hoài Thanh đã có những phát hiện tinh tế về thơ Lưu Quang Vũ: Một

tâm hồn rất tha thiết với đất nước, rất gắn bó với chế độ chúng ta mà nhiều băn khoăn day dứt Cái buồn ở anh là một cái buồn trung hậu Hoặc: Cảm xúc suy nghĩ của anh thường nhuần nhị, lời thơ cũng thường nhuần nhị Nghe phảng phất như ca dao mà không phải ca dao Rất dễ sảo mà vì chân tình nên không sảo Ngôn ngữ nắm rất chắc Chữ dùng chính xác mà uyển chuyển, rất Việt Nam Và ông khẳng định: Thơ Lưu Quang Vũ đúng nó là vàng thật Năng khiếu của anh đã rõ Miễn anh đi đúng, nhất định anh sẽ đi

xa [51, tr.18-19]

Tác giả Lê Đình Kỵ cũng đã có lời giới thiệu Lưu Quang Vũ với bạn

đọc Ông viết: Thơ Lưu Quang Vũ có một điệu tâm hồn riêng và không thiếu

tâm tình, một tâm tình sâu sắc, tự nhiên không rứt ra được, nó như có tự bao giờ và đem san sẻ cho các bài thơ Nhưng ông cũng đồng thời chỉ ra thơ Lưu Quang Vũ giàu cảm xúc và ít chất suy nghĩ và bày tỏ sự chờ đợi nhiều hơn

nữa ở cây viết này [51, tr.27 - 29]

Từ khi xuất hiện Hương cây đến lúc qua đời, mặc dù viết thơ rất nhiều

Lưu Qang Vũ không in thêm được tập thơ nào nữa Những bài thơ của ông bấy giờ bị xem là không hợp thời, là thể hiện sự bi quan, bế tắc Sau khi ông mất, trong một không khí dân chủ hóa sáng tác và phê bình văn học nghệ

thuật, những bản thảo thơ Lưu Quang Vũ mới lần lượt được xuất bản: Mây

trắng của đời tôi (1989), Bầy ong trong đêm sâu (1993), Lưu Quang Vũ - thơ

và đời (1997) và gần đây nhất là tuyển tập Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi (2010) Cùng với việc xuất bản thơ Lưu Quang Vũ một cách rộng rãi,

Trang 11

nhiều nhà phê bình đã có sự nhìn nhận toàn diện hơn về sáng tác thơ của ông, đánh giá vị trí thơ Lưu Quang Vũ với sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật của ông

và với nền thơ ca Việt Nam hiện đại

Trong bài viết Đọc thơ Lưu Quang Vũ, tác giả Vũ Quần Phương đã có những nhận xét đáng chú ý Ông viết: Sự cống hiến của anh cho sân khấu

đáng được ghi nhận Nhưng đọc hết bản thảo của anh để lại, tôi thấy thơ mới

là nơi anh ký thác nhiều nhất và tôi tin nhiều bài thơ của anh sẽ thắng được thời gian hay Đọc thơ anh có cảm giác anh viết kịch để sống với mọi người,

và làm thơ để sống với mình Nhà phê bình đã phát hiện thấy: Lưu Quang Vũ

đã mang một cái nhìn khác và tìm một chất thơ hoàn toàn khác với giai đoạn trước của anh và khác với cả khuynh hướng chung của cả nền thơ Thay vì ngọt ngào ca ngợi là sự chất vấn rát bỏng Ông đã lý giải nỗi buồn thường

thấy trong thơ Lưu Quang Vũ: Nỗi buồn của anh đi từ cảnh ngộ của anh

nhưng ý nghĩa của nó lớn hơn nhiều Trong nỗi buồn ấy thấy được số phận của dân ta và của con người nói chung [51, tr.33-35] Những phát biểu của

Vũ Quần Phương đã khơi dòng cho việc đánh giá lại những giá trị có thực của thơ Lưu Quang Vũ mà vì một lý do nào đó chưa được khẳng định

Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn khi viết bài Những bài thơ viển

vông cay đắng u buồn viết trong những năm chiến tranh đã thừa nhận: Hôm nay đây, đối diện với những bài thơ sống sót, những bài thơ từ cõi im lặng bước ra ấy, tôi có cảm tưởng như được thấy lại những vật kỷ niệm của chính mình [51, tr.27] Và ông cho rằng: Quả thật là đặt bên cạnh những bài thơ đã biết, cả những bài thơ rất hay của thời chiến, thì những dòng thơ sau đây có được cái vẻ độc đáo không gì thay thế được Chúng - và những gì tương tự như chúng - là một phần của cuộc đời ta, vì lý do nào

đó, có lúc ta phải lảng tránh, phải lãng quên, nên không vì thế mà chối bỏ chúng mãi mãi [51, tr.63-64]

Trang 12

Cũng cùng mục đích đánh giá lại vị thế của thơ Lưu Quang Vũ, tác giả

Nguyễn Thị Minh Thái viết: Trong tính cách sáng tạo của con người tài hoa,

trẻ trung Lưu Quang Vũ thì thơ là hồn cốt thâm hậu nhất, chứ không phải là kịch nghệ, báo chí, văn xuôi hay hội họa [51, tr.92]

Nhân kỷ niệm 20 năm mất Lưu Quang Vũ, tác giả Anh Chí trong bài

viết Lưu Quang Vũ - mộng ước, khổ đau và cái đẹp đã có những suy nghĩ sâu sắc Ông viết: Bây giờ, ngẫm lại những hiện tượng văn chương, những số phận

văn chương trong hơn bốn chục năm qua mà mình quan tâm, chúng tôi lại suy ngẫm về Lưu Quang Vũ Cá nhân chúng tôi coi anh là một tài năng khá đặc biệt của văn chương Việt Nam nửa sau thể kỷ XX Do cách anh đi trên đường đời, đường thơ luật khác biệt so với bạn thơ cùng trang lứa, cùng thời, nên anh

là một số phận thơ khác biệt hẳn ra, có thể gọi là cá biệt [51, tr.327] Ông nhận

định: Những bài thơ của anh bổ sung cho cái giá của chiến tranh mà con

người Việt Nam phải trả thật lớn lao, thật sâu sắc Và thực sự là nó làm cho nền thơ cứu nước của Việt Nam ta đỡ khiếm khuyết đi nhiều [51, tr.47]

Một số bài viết đã chú ý tìm hiểu những cảm hứng chủ đạo, những biểu hiện của cái tôi trữ tình hay những biểu tượng đặc sắc làm nổi bật hồn thơ

Lưu Quang Vũ Phạm Xuân Nguyên trong bài viết Tâm hồn trở gió đã nhận

thấy gió như một biểu tượng sinh động, đa nghĩa trong thơ Lưu Quang Vũ:

Lịch sử đất nước, qua con mắt thơ Lưu Quang Vũ, bao trùm là gió và tình yêu Cũng có thể mượn câu này để nói về thơ của chính anh Nhà phê bình

cũng đã chỉ ra một cảm hứng độc đáo của thơ Lưu Quang Vũ, đó là cảm hứng

nói thật, thật lắm, rất hiếm có trong thơ cùng thời Tác giả Vũ Quần Phương

trong bài đã dẫn ở trên lại cho rằng: Cảm hứng dân tộc, trong tiến trình lịch

sử, trong vẻ hùng vĩ của đất đai, trong vẻ đẹp óng ánh của ngôn ngữ và nhất

là trong đời sống làm lụng cực nhọc, trận mạc gian lao của người dân là một cảm hứng bền chắc trong thơ Lưu Quang Vũ

Trang 13

Gần đây nhất, luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Thị Kim Liên đã đi sâu tìm hiểu những biểu hiện đa diện của cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ, phác họa cái nhìn tổng thể về hồn thơ Lưu Quang Vũ Trong luận văn, từ việc phân tích những cảm xúc chủ đạo về người thân, trẻ em, quê hương - đất nước, và tình yêu; tác giả đã rút ra nhiều nhận xét tinh tế về cái tôi trữ tình nhiều xúc cảm và day dứt trong thơ Lưu Quang Vũ Đồng thời, tác giả cũng

đã chỉ ra nghệ thuật thể hiện cái tôi trữ tình trên các phương diện: giọng điệu, thể thơ, ngôn ngữ, các môtip hình ảnh chủ đạo

Từ góc độ ngôn ngữ, Nguyễn Thị Thanh Bình đã triển khai nghiên cứu

thơ Lưu Quang Vũ với đề tài luận văn Đặc điểm ngôn ngữ thơ Lưu Quang

Vũ Đây có thể xem là công trình đầu tiên xem xét ngôn ngữ thơ Lưu Quang

Vũ trên nhiều phương diện từ ngữ âm, từ ngữ đến ngữ pháp Tác giả đã chỉ ra đặc điểm của các thể thơ thường sử dụng, một số biểu tượng tiêu biểu, giọng điệu Song có thể nói, vì triển khai trên một phạm vi rộng, luận văn có được cái nhìn khái quát nhưng thiếu đi nhiều đánh giá sâu sắc về một vấn đề cụ thể Đặc biệt, đề tài chưa bàn đến cơ chế nội tại cấu trúc nên văn bản thơ Lưu Quang Vũ và sự khác biệt của nó với những nhà thơ khác

Trên đây, chúng tôi lần lượt điểm qua những công trình cơ bản nghiên cứu về thơ Lưu Quang Vũ Từ đó có thể rút ra mấy kết luận sau đây:

- Thơ Lưu Quang Vũ, trong khoảng 20 năm lại đây, đã lần lượt được giới thiệu tới đông đảo người đọc Và cũng trong tinh thần cởi mở nhìn nhận lại những hiện tượng văn học nghệ thuật đã qua, thơ Lưu Quang Vũ là một trường hợp được nhiều nhà nghiên cứu phê bình chú ý Điều này cho thấy thơ Lưu Quang Vũ trước hết là một hiện tượng “có vấn đề” của đời sống văn học cần được xem xét lại dưới “không khí đọc” dân chủ

- Nhìn chung, nghiên cứu về thơ Lưu Quang Vũ mới chủ yếu là những bài viết nhỏ mang tính cảm nhận Các tác giả đã tập trung đánh giá khái quát

Trang 14

về vị thế thơ Lưu Quang Vũ Nhiều ý kiến đồng thuận thơ Lưu Quang Vũ có một vị trí đặc biệt trong sự nghiệp của ông và cho rằng những đóng góp của ông với nền thơ ca Việt Nam hiện đại còn lớn hơn nhiều so với những đóng góp về kịch Một số bài viết đã bước đầu tìm hiểu những vấn đề cụ thể trong thơ Lưu Vũ Quang như cảm hứng, cái tôi trữ tình, biểu tượng Tuy nhiên, sự nghiên cứu về ngôn ngữ thơ Lưu Quang Vũ còn khá thiếu vắng Một vài công trình có được thì còn dừng lại ở sự chung chung, thiếu những phân tích cặn kẽ

về một vấn đề cụ thể

Nghiên cứu trường từ vựng - ngữ nghĩa trong một tác phẩm cụ thể là một hướng đi mới Việc nghiên cứu trường nghĩa góp một phần rất quan trọng vào việc phân chia các lớp từ vựng cũng như vạch ra mối quan hệ bản chất giữa các nhóm từ trong một lớp, giữa các từ trong một nhóm chỉ ra giá trị của

nó với việc xây dựng chỉnh thể văn bản thơ là một vấn đề cần được triển khai

một cách nghiêm túc, sâu sắc hơn Đề tài tài “ Nghiên cứu trường từ vựng -

ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa trong thơ Lưu Quang Vũ” của chúng tôi

không nằm ngoài mục đích đó

3 Đối tƣợng nghiên cứu

Luận văn lựa chọn vấn đề “Trường từ vựng - ngữ nghĩa thể hiện tình

yêu đôi lứa trong thơ Lưu Quang Vũ” qua tuyển tập Gió và tình yêu thổi trên

đất nước tôi do Lưu Khánh Thơ biên soạn, Nxb Hội nhà văn, năm 2010 làm

đối tượng nghiên cứu

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đặt ra cho luận văn các nhiệm vụ:

- Trình bày một số luận điểm cơ bản về trường từ vựng nói chung và trường từ vựng trong thơ Lưu Quang Vũ nói riêng, làm cơ sở về lý thuyết và thực tiễn cho đề tài

- Khảo sát một cách có hệ thống và miêu tả một cách tương đối toàn diện

và đầy đủ về trường từ vựng - ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa trong thơ Lưu

Trang 15

Quang Vũ Trên cơ sở đó, luận văn tiến hành phân tích, miêu tả mối quan hệ giữa trường nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa với nội dung thể hiện tình yêu đôi lứa, góp phần khẳng định những giá trị tư tưởng trong các tác phẩm của nhà thơ Lưu Quang Vũ

5 Phương pháp nghiên cứu

Để triển khai đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp thống kê - phân loại: Chúng tôi tiến hành khảo sát thống

kê và phân loại về trường từ vựng - ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa làm cứ liệu minh xác cho việc phân tích đánh giá

- Phương pháp miêu tả: Từ số liệu, luận văn tiến hành mô tả đối tượng nghiên cứu, nhằm chỉ ra những đặc điểm cơ bản của đối tượng

- Phương pháp phân tích: Luận văn triển khai phân tích, chỉ ra vai trò, hiệu quả của trường từ vựng - ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa trong thơ Lưu Quang Vũ

- Phương pháp so sánh: So sánh các lớp từ thể hiện tình yêu đôi lứa trong thơ Lưu Quang Vũ với một số nhà thơ khác

6 Đóng góp mới của luận văn

Những kết quả thu được thông qua việc khảo miêu tả trường từ vựng -

ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa trong thơ Lưu Quang Vũ không chỉ có ý nghĩa về mặt lí luận mà còn có giá trị thực tiễn

Về lí luận, việc tìm hiểu trường từ vựng - ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa trong thơ Lưu Quang Vũ góp phần khẳng định vai trò của trường từ vựng - ngữ nghĩa trong hệ thống ngôn ngữ - một khái niệm cho đến nay vẫn còn có nhiều quan niệm khác nhau

Về thực tiễn, việc nghiên cứu trường từ vựng - ngữ nghĩa thể hiện trong tác phẩm văn học không chỉ góp phần khẳng định giá trị của tác phẩm đó, mà còn góp phần tìm hiểu phong cách sáng tác của nhà văn

Trang 16

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn sẽ được

triển khai thành ba chương như sau:

Chương 1 Những giới thuyết liên quan đến đề tài

Chương 2 Đặc điểm trường từ vựng - ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi

lứa trong thơ Lưu Quang Vũ

Chương 3 Vai trò của trường từ vựng - ngữ nghĩa thể hiện tình yêu

đôi lứa trong thơ Lưu Quang Vũ

Trang 17

Chương 1 NHỮNG GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Từ và nghĩa của từ

1.1.1 Từ ngữ trong ngôn ngữ

Từ là một khái niệm phức tạp cho nên nhiều nhà nghiên cứu đã phát biểu không thống nhất Cho nên Nguyễn Thiện Giáp đã dẫn ý kiến của F de

Saussure: “vì từ, mặc dầu khó định nghĩa, vẫn là một đơn vị mà trí tuệ buộc

phải chấp nhận, một cái gì có địa vị trung tâm trong cơ thể của ngôn ngữ”

[17; tr.195 - 197])

Từ là đơn vị cơ bản của từ vựng nói riêng và của ngôn ngữ nói chung

Từ cũng là cơ sở để cấu tạo các đơn vị lớn hơn là cụm từ, câu, văn bản Trong các đơn vị ngôn ngữ, từ là đơn vị duy nhất có thể đảm nhiệm nhiều chức năng nhất Bên cạnh chức năng định danh, từ còn có chức năng "phân biệt nghĩa", thể hiện nghĩa này hay nghĩa khác của từ nhiều nghĩa, chức năng biểu cảm, thẩm mĩ,… Ngoài ra, từ cũng có thể đảm nhiệm chức năng tiềm ẩn - chức năng thông báo của câu Thuộc tính nhiều chức năng của từ cho phép nó trở thành một loại đơn vị có tính chất phổ biến nhất, cho phép nó chiếm vị trí trung tâm trong cấu trúc của ngôn ngữ

Cũng là đơn vị có hai mặt như hình vị, cụm từ và câu, nhưng từ lại tồn tại trong hai biến dạng: với tính cách như một kí hiệu đa nghĩa tiềm tàng khi nằm trong hệ thống từ vựng và với tính cách một kí hiệu thực tại khi dùng trong lời nói Trong hệ thống từ vựng, từ có thể có nhiều nghĩa nhưng trong ngữ đoạn, tính nhiều nghĩa của từ bị loại bỏ, và chỉ có một nghĩa nào đó của

từ được thực tại hóa Đồng thời, trong ngữ đoạn nhiều khi từ còn có thêm những sắc thái ý nghĩa mới khác với các ý nghĩa của hệ thống

Từ có cấu trúc ý nghĩa rất phức tạp, bao gồm nhân tố từ vựng, nhân tố ngữ pháp vànhân tố dụng học Mỗi từ riêng biệt, ngoài ý nghĩa từ vựng vốn

Trang 18

có, bao giờ cũng có một nghĩa tố ngữ pháp chỉ ra từ loại của nó Tùy theo cái được biểu đạt là sự vật, hành động hay tính chất mà từ đó có các nghĩa tố chỉ

ra nó thuộc danh từ, động từ hay tính từ

Mặc dù hiện nay hầu hết các nhà ngôn ngữ học thừa nhận từ là đơn vị

cơ bản của ngôn ngữ, nhưng để nhận diện và định nghĩa từ thì rất khó Khó khăn lớn nhất trong việc định nghĩa từ là sự khác nhau về cách định hình, về chức năng và các đặc điểm ý nghĩa trong các ngôn ngữ khác nhau, thậm chí trong cùng một ngôn ngữ cũng khó Có từ mang chức năng định danh; có từ không mang chức năng định danh; có từ chỉ là dấu hiệu của những cảm xúc nào đó; có từ liên hệ với những sự vật, hiện tượng ngoài thực tế; có từ lại chỉ biểu thị những quan hệ trong ngôn ngữ; có từ có kết cấu nội bộ; hoặc có từ tồn tại trong nhiều dạng thức ngữ pháp khác nhau và cũng có từ chỉ tồn tại trong một dạng thức Hiện tượng đồng âm và đa nghĩa cũng gây không ít khó khăn trong việc tách biệt và đồng nhất các từ Vì vậy, cho đến nay vẫn chưa

có sự thống nhất trong cách định nghĩa và miêu tả các từ

Khi định nghĩa từ tiếng Việt, các nhà ngôn ngữ học đã có sự thống nhất chung về từ ở một số đặc điểm chính: âm thanh, ý nghĩa, cấu tạo và khả năng hoạt động Tuy nhiên, các nhà ngôn ngữ học Việt Nam vẫn chưa đưa ra một định nghĩa mang tính khái quát nhất Ở đây, chúng tôi chọn định nghĩa của tác giả Đỗ Hữu Châu làm cơ sở cho việc xác định và nghiên cứu đơn vị từ trong tác phẩm thơ của Lưu Quang Vũ: "Từ tiếng Việt là những phân đoạn ngữ âm

cố định, bất biến, phản ánh một cách trực tiếp theo quan hệ một - một số lượng hình vị và phương thức cấu tạo; toàn bộ ứng với một hoặc một số từ - ngữ nghĩa gồm một khuôn từ loại và những nét nghĩa riêng cho mỗi từ và ứng với một tập hợp với những đặc điểm ngữ pháp chủ yếu là ngoài từ phù hợp với mỗi từ-ngữ nghĩa Đó là những đơn vị trong hệ thống từ vựng tiếng Việt - tức là lớn nhất trong hệ thống từ vựng tiếng Việt - và nhỏ nhất để cấu tạo câu,

Trang 19

chứa đựng trong bản thân những cấu trúc từ-ngữ nghĩa, từ-cấu tạo và từ-ngữ

pháp, chung cho nhiều từ khác cùng loại" [6; 336]

1.1.2 Từ ngữ trong tác phẩm nghệ thuật

Từ tồn tại trong hệ thống ngôn ngữ ở trạng thái tĩnh có những đặc điểm khác với từ trong hành chức Trong hoạt động ngôn ngữ, các từ mới thực sự bộc lộ những thuộc tính, đặc điểm vốn có của chúng trong hệ thống ngôn ngữ và hiện thực hoá các bình diện của nó Thậm chí, trong sử dụng,

từ có thể biến đổi và chuyển hoá những thuộc tính vốn có để cho phù hợp với các nhân tố cụ thể của từng hoạt động giao tiếp, để nhằm đạt được hiệu quả giao tiếp tốt nhất

Khi từ đi vào hoạt động ngôn ngữ, nghĩa của nó được hiện thực hoá, cụ thể hoá và được xác định Khi đó, các thành phần nghĩa trong cơ cấu nghĩa của từ sẽ giảm dần tính trừu tượng và khái quát đến mức tổi thiểu để đạt tới tính xác định, tính cụ thể ở mức tối đa

Chẳng hạn, từ “chạy” trong Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên

(Nhà xuất bản KHXH -TTTĐH, 1994, tr.130), với tư cách là đơn vị ngôn ngữ, xét về từ loại, có khi nó được xem là động từ và cũng có khi nó được xem như

tính từ Với từ loại động từ, từ “chạy” có 10 nghĩa khác nhau, cụ thể như

“Ngựa chạy đường dài”, “Thua chạy dài”, “chạy thư”, “chạy làng”… Và với từ loại tính từ từ “chạy” còn có nghĩa “thuận lợi, suôn sẻ, không bị mắc

mớ, ùn tắc”; cụ thể như “công việc rất chạy”; “bán hàng chạy”…Như vậy, khi đi vào mỗi phát ngôn thì một trong các nghĩa của từ "chạy" mới được bộc

lộ, cụ thể hóa và xác định

Mặt khác, cũng trong hoạt động ngôn ngữ, đồng thời với sự giảm thiểu tính khái quát thì từ lại có thể được gia tăng những sắc thái mới, nội dung mới

do chính sự vật mà nó biểu thị đem lại Ví dụ:

Chỉ có thuyền mới biết Biển mênh mông dường nào (Xuân Quỳnh)

Trang 20

Trong câu thơ trên thì “thuyền” không đơn thuần là “phương tiện giao thông đường thủy” mà chỉ người con trai, "biển" không đơn thuần là “đầu mối

giao thông” mà chỉ người con gái Tác giả đã mượn quan hệ gắn bó giữa thuyền và biển để nói lên sự nhớ nhung, chờ đợi, chung thủy trong tình yêu

nam nữ Như vậy, từ "thuyền" và "biển" ở đây không còn nguyên nghĩa như

trong từ điển nữa mà đã được phương thức tu từ ẩn dụ tác động vào nhằm tạo hiệu quả nghệ thuật cao trong diễn đạt

Các từ được kết hợp với nhau theo quy tắc ngữ pháp và ngữ nghĩa, bộc

lộ khả năng kết hợp từ vựng và kết hợp ngữ pháp của mình, nhưng hai loại quy tắc này không phải lúc nào cũng sóng đôi với nhau Có những câu hoàn toàn đúng về mặt ngữ pháp, nhưng lại không được chấp nhận về mặt ngữ nghĩa hoặc logic (trong điều kiện thông thường) Ngược lại, có những câu lại chứa những kết hợp từ được chấp nhận, được hiểu về mặt ngữ nghĩa, nhưng lại có cái gì đó bất thường về ngữ pháp

Đặc biệt, từ trong sáng tạo nghệ thuật được sử dụng ra sao và mang lại hiệu quả như thế nào còn tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố: đề tài, chủ đề của tác phẩm, năng lực ngôn ngữ, vốn sống, phong cách viết của tác giả Tìm hiểu đặc điểm sử dụng từ trong tác phẩm sẽ giúp ta có tiếp cận gần hơn với ngôn ngữ trong hoạt động, mà đây là một dạng hoạt động đặc thù của ngôn từ Vì vậy các nhà nghiên cứu từ lâu đã tốn không ít giấy mực để khám phá từ ngữ trong tác phẩm nghệ thuật, nhất là trong thơ Và tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu và đặc thù của mỗi bộ môn khoa học mà từ ngữ trong tác phẩm nghệ thuật được tiếp cận tìm hiểu ở những góc độ khác nhau

Nhà từ vựng học thì thống kê vốn từ của nhà văn, nhà thơ, khảo sát những lớp từ nổi bật và đặt chúng trong tương quan với vốn từ toàn dân để rút

ra hiệu quả nghệ thuật mà lớp từ đó mang lại cho tác phẩm cũng như thấy được dấu ấn riêng của người sáng tác trong cách sử dụng lớp từ đó Nhà ngữ

Trang 21

pháp học thì quan tâm đến đặc điểm cấu tạo của từ ngữ và cách kết hợp giữa chúng Nhà thi pháp học thì thống kê tần số sử dụng của một số lớp từ nổi bật, qua đó, rút ra quan niệm nghệ thuật của nhà văn, nhà thơ Người làm phong cách thì xem xét từ ngữ trong tác phẩm dưới góc độ phong cách chức năng và

sự lựa chọn từ ngữ của người nghệ sĩ Phân tích từ trong thơ Lưu Quang Vũ theo trường nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa, chúng tôi chú ý thu thập các từ được dùng theo trường và những kết hợp của chúng trong thơ

1.1.3 Nghĩa của từ

Quan điểm về nghĩa của từ:

Nghĩa của từ là một khái niệm quan trọng của ngôn ngữ học Giống như từ, nghĩa của từ cũng được giải thích theo nhiều cách khác nhau

A.A.Reformatskiy cho rằng: Nghĩa, đó là quan hệ của từ với sự vật, hiện tượng mà nó biểu thị, đó là quan hệ của sự kiện ngôn ngữ với sự kiện ngoài ngôn ngữ

P.A.Budagov lại viết:…có thể gọi nghĩa của từ là mối liên hệ được hình thành về mặt lịch sử giữa âm thanh của từ và sự phản ánh của sự vật hoặc hiện tượng, sự phản ánh đó nảy sinh trong nhận thức của chúng ta và được biểu hiện trong bản thân từ

B.N.Golovin cũng phát biểu tương tự P.A.Budagov:… Sự thống nhất của sự phản ánh vỏ vật chất của từ và sự vật tương ứng chúng tôi sẽ gọi là nghĩa

Theo Ju.D.Aprecjan thì “nội dung ngữ nghĩa của từ không phải là cái

gì tự thân Nó hoàn toàn bị quy định bởi những mối quan hệ được hình thành trong hệ thống những sự đối lập của từ này với các từ khác cùng thuộc trường ấy”

Trên đây là một số định nghĩa về nghĩa của từ Nhìn vào những định nghĩa đó ta thấy hiện lên những vấn đề chính sau: định nghĩa của

Trang 22

A.A.Reformatskiy nhấn mạnh vai trò của sự vật, hiện tượng trong việc quyết định nghĩa của từ, bởi ngôn ngữ không phải là “một bảng tên gọi, nghĩa là một cái bảng có bao nhiêu từ ngữ thì tương ứng với bấy nhiêu sự vật” (F.de Saussure) Định nghĩa của Ju.D.Aprecjan lại gạt đi sự vật ra khỏi lĩnh vực ý nghĩa của từ

Từ hiện thực của các định nghĩa về từ, Ogden và Richard đã đi tới mối quan hệ giữa ba nhân tố: sự vật, khái niệm về sự vật và từ trong sự hình thành nên ý nghĩa Tiếp nhận quan điểm đó, Stern đã vẽ ra tam giác nghĩa nổi tiếng, cho đến nay nó vẫn được nhắc lại khi thảo luận về ý nghĩa của từ, dưới đây là tam giác nghĩa đó đã được Ju.X.Xtepanov dẫn lại:

Từ tam giác nghĩa này, có nhiều tác giả cho rằng ý nghĩa của từ được tạo thành từ ba nhân tố giống quan niệm của Ogden, Richard và Stern Tuy nhiên, sau đó nhiều thiếu sót của tam giác nghĩa này đã bị chỉ ra Cụ thể là ba nhân tố nghĩa tác giả đưa vào chưa thực sự cụ thể và đúng trong mọi trường

hợp Như ở nhân tố từ ngữ âm, chỉ đưa mỗi nemyx, trong khi ở một số ngôn

ngữ mỗi từ có thể có rất nhiều hình thức ngữ âm Thiếu sót thứ hai ở chỗ tác giả chỉ đưa từ - ngữ âm mà không đưa các hình thức khác cũng liên hệ trực tiếp đến nghĩa như từ - ngữ pháp, từ - cấu tạo Cuối cùng, tam giác nghĩa này không thể giải thích được tất cả các kiểu loại từ, nó chỉ có thể giải thích được

Trang 23

thực từ mà không thể giải thích các tiểu từ, quan hệ từ Mạt khác, có thể nhận thấy Stern đã trình bày từ như là những sự kiện riêng rẽ Zveginxhev đã chỉ ra thiếu sót này và sửa đổi tam giác nghĩa như sau:

Nhưng sự thay đổi này cũng không đem lại nhiều kết quả, bởi dù thay đổi hay không thì tam giác nghĩa đó cũng tồn tại một nhược điểm nữa là không chỉ ra được quan hệ giữa những thực thể đặt ở mỗi đỉnh với nhau và quan hệ giữa mỗi thực thể đó với những nhân tố bên ngoài

Khắc phục hầu hết những hạn chế đó, Giáo sư Đỗ Hữu Châu đã đưa ra hình tháp nghĩa hình học không gian dưới đây Với những ưu điểm của nó có thể nói đây là cách hiểu khá hoàn hảo cho thuật ngữ “nghĩa của từ”

Trang 24

Ở đỉnh cao nhất của hình tháp là từ (trừu tượng) với hai thành phần hình thức và ý nghĩa Ở mỗi đỉnh của đáy là những nhân tố góp phần làm thành ý nghĩa, lần lượt là sự vật, hiện tượng, những hiểu biết của tư duy (khái niệm), nhân tố người sử dụng (nhân tố lịch sử - xã hội), các chức năng tín hiệu học, cấu trúc của ngôn ngữ

Ưu điểm của hình tháp nhọn này là một mặt tách được những thực thể đang xem xét (từ, các nhân tố) ra khỏi nhau, đồng thời vạch ra được những quan hệ giữa chúng Từ mối quan hệ giữa từ và sự vật hình thành ý nghĩa biểu vật, từ với khái niệm hình thành nghĩa biểu niệm, từ nhân tố người dùng hình thành ý nghĩa phong cách, liên hội, mối quan hệ với chức năng hình thành giá trị chức năng, mối quan hệ với cấu trúc (với từ khác) sẽ tạo thành ý nghĩa cấu trúc, và từ quan hệ giữa ý nghĩa với các thành phần hình thức mà hình thành các ý nghĩa cấu tạo từ, các ý nghĩa ngữ pháp

Như vậy, có thể hiểu về ý nghĩa của từ như sau: Nghĩa của từ là nội dung tinh thần mà từ biểu hiện, nó được hình thành do sự kết hợp và tác động của nhiều nhân tố Trong số đó có những nhân tố nằm ngoài ngôn ngữ và những nhân tố nằm trong ngôn ngữ Nhân tố ngoài ngôn ngữ như: sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan, tư duy và người sử dụng Nhân tố trong ngôn ngữ như: chức năng tín hiệu học, hệ thống (cấu trúc) của ngôn ngữ

Gần đây nhất, trong Ngữ nghĩa học (tập bài giảng) (2008), GS Lê

Quang Thiêm đã đưa ra quan niệm mới về nghĩa Cũng chú ý tới các nhân tố tham gia vào sự hình thành nghĩa như các tác giả khác đồng thời thừa nhận nghĩa của từ là một thực thể tinh thần nhưng cái mới trong quan niệm của tác giả là nghĩa được nhìn từ góc độ chức năng Do nhìn nhậ như vậy nên quan niệm có sức giải thích tính đa dạng của nghĩa, vì nghĩa của từ được xét theo chức năng, gắn với chức năng trong hoạt động Đặc biệt trong công trình này tác giả đã nói rất rõ nghĩa biểu tượng, biểu trưng, loại nghĩa mà các tác giả khác ít khi nhắc đến Loại nghĩa này thể hiện trong thơ khá rõ

Trang 25

1.2 Trường từ vựng - ngữ nghĩa

1.2.1 Khái niệm trường ngữ nghĩa - trường từ vựng

Trường từ vựng là một lĩnh vực nghiên cứu từ vựng học xuất hiện từ

những năm 20 - 30 của thế kỉ XX Lí thuyết này bắt nguồn từ những tiền đề duy tâm của trường phái W Humboldt và phần nào từ những tư tưởng của F

de Saussure về tính cấu trúc của ngôn ngữ Tư tưởng cơ bản của lí thuyết này

là khảo sát từ vựng một cách hệ thống Trong Giáo trình ngôn ngữ học đại

cương, Saussure đã chỉ ra “Giá trị của bất cứ yếu tố nào cũng do những yếu

tố xung quanh quy định”[14, tr 224] và “Phải xuất phát từ cái toàn thể làm thành một khối để phân tích ra những yếu tố chứa đựng” ” [14, tr 220]

Người có công lao đưa lý thuyết trường vào ngôn ngữ học là hai nhà ngôn ngữ học người Đức J.Trier và L.Weisgerber

Trier cho rằng trong ngôn ngữ mỗi từ tồn tại trong một trường, giá trị của nó là do quan hệ với các từ trong trường quyết định, rằng trường là những hiện thực ngôn ngữ nằm giữa từ (riêng lẻ) với toàn bộ từ vựng, trường quan

hệ với toàn bộ từ vựng cũng như từ quan hệ với trường của mình Theo Trier

“Một từ chỉ có ý nghĩa khi nằm ở trong trường, nhờ những quan hệ của nó với

các từ khác cũng thuộc trường ấy Trong hệ thống, tất cả chỉ nhận được ý nghĩa qua cái toàn thể Có nghĩa là từ của ngôn ngữ nào đó không phải là đại diện tách biệt của ý nghĩa, ngược lại mỗi một từ có nghĩa chỉ là vì có các từ khác liên hệ trực tiếp với nó” [dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp,17, tr 110]

Ở Việt Nam, giáo sư Đỗ Hữu Châu là người nghiên cứu sớm và có nhiều công trình về lý thuyết trường

Khi định nghĩa về trường ông cho rằng: “Trường từ vựng là một tập

hợp các đơn vị từ vựng căn cứ vào một nét đồng nhất nào đó về ngữ nghĩa”

[6, tr 110]

Dựa vào quan điểm của F de Saussure về hai dạng quan hệ là quan hệ dọc và quan hệ ngang, tác giả đã phân chia thành hai loại trường nghĩa là

Trang 26

trường nghĩa ngang (trường nghĩa tuyến tính) và trường nghĩa dọc (trường nghĩa trực tuyến) Từ hai loại trường nghĩa đó, tác giả lại phân chia trường nghĩa dọc thành trường biểu vật và trường biểu niệm rồi đến trường tuyến tính

và trường liên tưởng

Nói về trường trong ngôn ngữ, tác giả Nguyễn Thiện Giáp phân biệt

trường từ vựng và trường nghĩa, ông phát biểu: “Trường nghĩa là phạm vi

những đơn vị từ vựng có quan hệ lẫn nhau về ý nghĩa”; còn “Trường từ vựng của một trường nghĩa là tập hợp những từ ngữ có những đơn vị từ vựng cơ sở cùng thuộc trường nghĩa này” [17, tr 437]

Theo Vũ Đức Nghiệu, Nguyễn Văn Hiệp: “Trường ngữ nghĩa (còn

được gọi là trường từ vựng) là những tiểu hệ thống, những tổ chức của từ vựng, gồm những từ ngữ có quan hệ về nghĩa với nhau một cách có hệ thống” [34, tr 339]

Ví dụ: Các từ: bố, mẹ, ông, bà, anh, em, cô, dì, chú, bác, cậu, mợ, cháu,

chắt, lập thành trường ngữ nghĩa những từ chỉ quan hệ thân tộc

Theo Phạm Tất Thắng nhấn mạnh đến yếu tố mang nghĩa chung làm

trung tâm tập hợ các từ trong trường: “Có thể xem trường từ vựng - ngữ nghĩa

như một hình chóp nón, mà đỉnh của nó là một từ chính, từ trung tâm hay từ khóa (keyword) mang ý nghĩa bao trùm lên toàn bộ cơ cấu ngữ nghĩa của những

từ khác (gọi là từ ngoại vi) trong phạm vi ảnh hưởng của nó” [49, tr 39]

Cho đến nay, dường như chưa có một sự nhất trí cao về khái niệm trường từ vựng - ngữ nghĩa Vì vậy dựa theo những quan niệm của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi nhận thấy một cách hiểu chung về trường từ vựng - ngữ nghĩa để làm cơ sở cho việc nghiên cứu:

“Mỗi tập hợp từ có quan hệ với nhau về nghĩa (meaning) như vậy tạo

thành một tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là “trường từ vựng”, “trường nghĩa” hay “trường từ vựng - ngữ nghĩa” [49, tr 38]

Trang 27

Có thể hình dung khái niệm trường từ vựng - ngữ nghĩa bằng một ví

dụ sau:

Trường ý niệm về người hay con người bao gồm các nhóm từ chỉ các mối quan hệ về nghĩa với nó như:

Về giới tính có các từ: nam, nữ, gái, trai

Về tuổi tác có các từ: Thiếu niên, thanh niên, trung niên, phụ lão

Về ngoại hình có các từ: cao, thấp, gầy, béo, mảnh mai, nhỏ nhắn, khập khiễng, múp mích,

Về hoạt động có các từ: đi, đứng, nói, cười, hát hò, chạy, nhảy, nhìn, ngó, đấm, đá

Về nghề nghiệp có các từ: công nhân, nông dân, giáo viên, bác sỹ, kỹ sư, Đến lượt mình mỗi từ trong một nhóm từ như vậy lại có thể kết hợp với những từ trong nhóm khác làm thành mạng lưới các mối quan hệ gồm nhiều tầng bậc rất phức tạp

Ví dụ trong tiểu trường về hoạt động của con người lại có thể phân loại

thành các nhóm trường nhỏ hơn nữa như:

- Hoạt động chân tay như: đi, đứng, chạy, đạp, đấm, tát, ném, xô, đẩy, lao, lia, kéo,

- Hoạt động bằng miệng như: nói, hát, la, mắng, hô, gào, thét, thổi, huýt,

- Hoạt động trí óc như: suy xét, nghiềm ngẫm, phán đoán, suy tưởng,

1.2.2 Quan hệ ngữ nghĩa trong trường từ vựng - ngữ nghĩa

1.2.2.1 Quan hệ dọc

Để phân biệt các kiểu quan hệ ngữ nghĩa trong trường từ vựng - ngữ nghĩa, các nhà từ vựng học thường nói đến nhóm trường từ vựng - ngữ nghĩa

(gọi là trường nghĩa hay trường) như: trường biểu vật và trường biểu niệm

(quan hệ trục dọc), trường tuyến tính (quan hệ trục ngang) và trường liên tưởng (quan hệ sử dụng)

Trang 28

- Trường nghĩa biểu vật

Theo Đỗ Hữu Châu, trường nghĩa biểu vật là: “Một tập hợp về những

từ đồng nghĩa về ý nghĩa biểu vật” [7, tr 588]

Ví dụ trường biểu vật của tiếng Việt:

Với từ “tóc” ta có trường:

- Bộ phận của tóc: ngọn tóc, chân tóc, sợi tóc, mái tóc, đuôi tóc,…

- Đặc điểm của tóc:

+ Đặc điểm ngoại hình: bồng bềnh, ngắn, dài, xoăn, thẳng, rễ tre, tóc

tơ, vàng, đen, bạc, trắng, nâu, xanh, đỏ,…

+ Tình trạng của tóc: chẻ ngọn, khỏe, mượt, rối, gãy, đứt, khô, sâu,… + Tạo hình của tóc: xoăn, thẳng, tóc bằng, tóc tém, đuôi ngựa, tóc búi,

tóc tết,…

Với từ “người” ta có trường:

- Bộ phận con người: chân, tay, đầu, mắt, miệng, lưỡi,

- Hoạt động của con người:

+ Hoạt động trí tuệ: Nghĩ, suy nghĩ, ngẫm nghĩ, nghiền ngẫm, phán

- Trường nghĩa biểu niệm

Theo Đỗ Hữu Châu, một trường biểu niệm là: “Một tập hợp các từ có

chung một cấu trúc biểu niệm” [7, tr 593]

Căn cứ để phân lập các trường biểu niệm là ý nghĩa biểu niệm của từ

Do có hiện tượng nhiều nghĩa biểu niệm, cho nên một từ có thể đi vào những trường biểu niệm (hay đi vào những trường nhỏ) khác nhau Vì vậy,

Trang 29

cũng giống như các trường biểu vật, các trường biểu niệm có thể “giao thoa”,

“thẩm thấu” vào nhau

Dưới đây là ví dụ về trường biểu niệm dẫn theo ví dụ của Đỗ Hữu Châu Trường biểu niệm (vật thể nhân tạo)… (thay thế hoặc tăng cường thao tác lao động) (cầm tay):

- Dụng cụ để chia, cắt: dao, cưa, búa, phảng, rìu, liềm, hái,

- Dụng cụ để xoi, đục: đục, dùi, khoan,…

- Dụng cụ để nện, gõ: búa, gồ, dùi đục, dùi cui,…

- Dụng cụ để đánh bắt: lưới, nơm, đó, đăng, câu, vó, bẫy,

- Dụng cụ để mài giũa: giũa, bào, đá mài, giấy ráp,…

- Dụng cụ để kìm giữ: kìm, kẹp, néo, móc,…

- Dụng cụ để chém giết (vũ khí): dao, gươm, kiếm, kích, giáo, đòng,

phủ, việt, qua, nỏ, cung, tên, súng,…

- Dụng cụ để xới đất: cày, cuốc, thuổng, mai, xẻng, bừa, cào,…

- Dụng cụ để lấy, múc: thìa, đũa, muôi, giuộc, gáo,…

Sự phân lập từ vựng thành trường biểu vật và trường biểu niệm như đã nói dựa trên sự phân biệt hai thành phần ngữ nghĩa trong từ Nó phản ánh cách nhìn từ vựng ở hai góc độ khác nhau Tuy nhiên, hai loại trường dọc này

có liên hệ với nhau: nếu lấy những nét nghĩa biểu vật trong cấu trúc biểu niệm làm tiêu chí lớn để tập hợp thì chúng ta có các trường biểu vật Nhưng khi cần phân một trường biểu vật thành các trường nhỏ thì lại phải dựa vào các nét nghĩa khác trong cấu trúc biểu niệm

Trái lại, khi phân lập các trường biểu niệm, chúng ta dựa vào cấu trúc biểu niệm, song khi phân nhỏ chúng ra, đến một lúc nào đó phải sử dụng đến nét nghĩa biểu vật

Dựa vào ý nghĩa của từ mà chúng ta phân lập được các trường Nhưng cũng chính nhờ các trường, nhờ sự định vị của từng từ một trong trường thích hợp mà chúng ta hiểu sâu sắc thêm ý nghĩa của từ

Trang 30

1.2.2.2 Quan hệ ngang

Trường nghĩa tuyến tính (trường nghĩa ngang)

Theo Đỗ Hữu Châu: “Nói đến trường nghĩa tuyến tính là nói đến khả

năng những từ kết hợp với từ trung tâm làm thành một ngữ đoạn kiểu như: trời cao, trời xanh, trời mưa, trời nồm, hoặc cổng trời, vòm trời,.) [7, tr 59]

Để lập nên các trường nghĩa tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm gốc rồi tìm tất cả những từ có thể kết hợp với nó thành những chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ

Ví dụ trường nghĩa tuyến tính của từ ăn là cơm, cháo, bún,… ít, nhiều,

nhanh, chậm…, lười, tham,… Trường nghĩa tuyến tính của từ đi là nhanh, chậm, khập khiêng, tập tễnh, lững thững,

Cùng với các trường nghĩa dọc, các trường nghĩa tuyến tính góp phần làm sáng tỏ những quan hệ và cấu trúc ngữ nghĩa của từ vựng, phát hiện những đặc điểm nội tại và những đặc điểm hoạt động của từ

1.2.2.3 Quan hệ liên tưởng - Trường liên tưởng

Nhà ngôn ngữ học Pháp Ch Bally là tác giả đầu tiên của khái niệm trường liên tưởng Theo ông, mỗi từ có thể là trung tâm của một trường liên tưởng như từ bò của tiếng Pháp chẳng hạn, có thể gợi ra liên tưởng: 1 Bò cái,

bò mộng, bê, sừng, gặm cỏ,… 2 Sự cày bừa, cái cày, cái ách,… 3 Những ý niệm về tính thụ động mà chúng ta gặp trong các lối so sánh trong các thành ngữ Pháp v.v…

Khi nói đến trường liên tưởng Đỗ Hữu Châu viết: “Nói đến “trường

liên tưởng” là nói đến những từ có mối liên hệ về nghĩa với từ trung tâm theo quan hệ so sánh trong các hoạt động giao tiếp Theo mối quan hệ này ý nghĩa của các từ không chỉ biểu hiện ở những thông tin bề nổi xuất hiện do mối quan hệ chiều dọc hay chiều ngang với từ trung tâm, mà nó nằm ở tầng sâu ý nghĩa lịch sử - văn hóa và phụ thuộc vào đặc tính tâm lí của mỗi cá nhân và tính dân tộc, thời đại” [7, tr 610]

Trang 31

Chẳng hạn khi nói đến dòng sông người ta nghĩ đến chia ly, hay nói đến dải yếm người ta nghĩ đến giao duyên:

“Ước gì sông rộng một gang

Bắc cầu giải yếm cho chàng sang chơi”

Dễ dàng nhận thấy rằng các từ trong một trường liên tưởng là sự hiện thực hóa, sự cố định từ bằng các ý nghĩa liên hội có thể có của từ trung tâm

Các từ trong một trường liên tưởng trước hết là những từ cùng nằm trong trường biểu vật, trường biểu niệm và trường tuyến tính, tức là những từ

có quan hệ cấu trúc đồng nhất và đối lập về ngữ nghĩa với các từ trung tâm

1.2.3 Hiện tượng chuyển trường

Nói về hiện tượng chuyển trường, Đỗ Hữu Châu cho rằng: hiện tượng

chuyển trường từ vựng là: “Một từ ngữ thuộc trường ý niệm này được chuyển

sang dùng cho các sự vật thuộc trường ý niệm khác” [7, tr 68]

Khi các từ ngữ được dùng đúng trường của chúng thì do sự trung hòa

về đối lập của ngữ cảnh, tác dụng gợi hình ảnh của nó giảm đi Ví dụ: “non một cân”, “già nửa lượng”, Các từ non, già không gợi hình ảnh bởi vì

chúng dùng đúng với các từ thuộc trường ý niệm cơ bản của chúng Khi từ ngữ chuyển trường thì sự đối lập ngữ cảnh làm cho khả năng gợi hình, gợi cảm của nó tăng lên Ví dụ trong câu thơ:

“Già nhân ngãi non vợ chồng”

(Truyện Kiều - Nguyễn Du)

Từ già, non vốn chỉ trọng lượng (thuộc trường nghĩa trọng lượng)

chuyển sang chỉ mức độ tình cảm (thuộc trường nghĩa về người)

Hiện tượng chuyển trường từ vựng - ngữ nghĩa không chỉ có ý nghĩa

mở rộng phạm vi quan hệ của trường đó với những trường khác, mà còn làm cho quá trình sử dụng của chúng trở nên sinh động hơn, đa dạng hơn

Ví dụ các từ ngữ thuộc lĩnh vực võ thuật như đánh đòn tỉa, đánh đòn

âm, đánh hồi lùng được áp dụng vào lĩnh vực văn học để miêu tả cuộc chiến

Trang 32

đấu cam go quyết liệt của người lái đò và sóng thác sông Đà như: “Ngay cả

khi bị thương, người lái đò vẫn cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt méo bệch như cái luồng sóng đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm” (Người lái đò sông Đà - Nguyễn Tuân)

Hiện tượng chuyển nghĩa nhằm mục đích tăng khả năng diễn đạt và hiệu quả cho lớp từ ngữ thuộc trường từ vựng - ngữ nghĩa được nói đến Trong thơ, việc dùng từ chuyển trường một cách sáng tạo thường đưa đến hiệu quả bất ngờ thú vi Vì thế trong thơ Lưu Quang Vũ, bên cạnh xét các từ theo tiêu chí tập hợp từ theo trường nghĩa biểu vật, biểu niệm nhưng vì từ được dùng trong hoạt động nên chúng tôi se kết hợp xét từ trong quan hệ kết hợp và quan hệ liên tưởng

1.2.4 Giá trị biểu đạt tư tưởng, tình cảm của chủ thể sáng tạo khi dùng từ theo trường

Chủ thể sáng tạo trong ngôn ngữ học là những người làm ra văn bản ngôn từ: bài thơ, bài văn, bài báo, bài tiểu luận, báo cáo khoa học… hay đơn thuần chỉ là một văn bản nói trong giao tiếp hàng ngày

Tuy nhiên khi nghiên cứu tác phẩm văn học theo hướng ngôn ngữ học,

ta cũng cần phải hiểu thêm rằng, chủ thể sáng tạo hay còn gọi là tác giả văn học, ngoài việc tạo ra văn bản ngôn từ còn là “người có ý kiến riêng về đời sống và thời cuộc Đó là người phát biểu một tư tưởng mới, quan niệm mới, một cách hiểu mới về các hiện tượng đời sống, bày tỏ một lập trường xã hội

và công dân nhất định Xét về đặc trưng, tác giả văn học là người xây dựng thành công các hình tượng nghệ thuật độc đáo, sống động, có khả năng tồn tại được trong sự cảm thụ thích thú của người đọc Về mặt nghề nghiệp, tác giả văn học là người xây dựng được một ngôn ngữ nghệ thuật mới, có phong cách, giọng điệu riêng, có bộ mặt riêng trong thể loại, có hệ thống hình ảnh biểu tượng đặc trưng riêng” [12; tr 289]

Trang 33

Có thể hiểu rằng, không một chủ thể sáng tạo nào sáng tạo ra văn bản ngôn từ mà không hướng đến một mục đích nào đó, có thể là giao tiếp, báo cáo, tư duy, trình bày quan điểm, đối với các nhà văn, nhà báo thì nhu cầu thể hiện tâm tư tình cảm của họ cao hơn hẳn người làm các ngành nghề khác nên việc tạo ra văn bản ngôn từ phần lớn là để phục vụ nhu cầu này

Từ vựng là một trong những phương tiện đắc lực giúp nhà văn thể hiện

rõ ý đồ của mình Hệ thống từ vựng trong tác phẩm, hay nhiều tác phẩm của một tác giả giúp ta thấy được phong cách và tình cảm của nhà văn Chúng ta

sẽ thấy rõ điều này thông qua việc xác lập và giải nghĩa các trường từ vựng - ngữ nghĩa trong tác phẩm

Ví dụ trong tác phẩm Bác ơi của nhà thơ Tố Hữu, ta sẽ thấy trường từ nói về những sự vật quen thuộc gắn liền với Bác: vườn cau, gốc dừa, lối sỏi,

thang gác, chuông nhỏ, phòng lặng, rèm buông, trái bưởi, hoa nhài… từ

trường từ đó nói lên sự nhớ thương, đau xót của nhà thơ trước sự ra đi của Bác Cảnh vật vẫn còn đó mà Bác đã không còn, mặt khác từ những sự vật đơn sơ, gần gũi đó nhà thơ ngầm thể hiện sự cảm phục, tiếc thương sâu sắc đến Bác - một nhân cách lớn, một lối sống giản dị quên mình vì mọi người

Hay trong tác phẩm Chí Phèo của nhà văn Nam Cao, để thể hiện sự tha

hóa của Chí Phèo sau khi đi tù về, tác giả đã sử dụng những từ ngữ, mà chúng

ta có thể tập hợp thành một trường từ tả ngoại hình của Chí Phèo: (đầu) trọc

lốc, (răng) trắng hớn, (mặt) đen, câng câng, (mắt) gườm gườm…

Sở dĩ trường từ có chức năng biểu đạt tư tưởng, tình cảm của chủ thể sáng tạo là do trong quá trình sáng tác, tác giả đã rất cân nhắc trong việc sử dụng từ ngữ để phục vụ cho ý đồ của mình Các từ này, tập hợp với nhau bởi các nét nghĩa chung thành một trường nên cũng biểu hiện ý đồ đó Tuy nhiên, khi xếp từ thành các trường ta sẽ thấy rõ hơn, tập trung hơn điều tác giả muốn gửi gắm bằng việc sử dụng các từ ngữ đó

Trang 34

Từ giá trị biểu đạt tư tưởng tình cảm của chủ thể sáng tạo của các trường từ vựng - ngữ nghĩa, ta càng thấy rõ hơn vai trò của việc nghiên cứu từ vựng theo hệ thống, tức là xếp chúng thành các trường

1.3 Lưu Quang Vũ - cuộc đời và sự nghiệp

1.3.1 Vài nét về cuộc đời Lưu Quang Vũ

Lưu Quang Vũ sinh ngày 17/4/1948 tại Hạ Hòa, Phú Thọ, là con trai đầu của nhà viết kịch Lưu Quang Thuận và bà Vũ Thị Khánh Ông sống cùng với bố mẹ ở Phú Thọ cho đến khi hòa bình lập lại (1954), cả nhà chuyển về

Hà Nội Thiên hướng và năng khiếu nghệ thuật của ông đã sớm được bộc lộ

từ nhỏ và miền quê trung du Bắc Bộ đã in dấu trong nhiều sáng tác của Lưu Quang Vũ sau này

Năm 1965, Lưu Quang Vũ vào bộ đội, làm việc tại quân chủng phòng không không quân Đây là giai đoạn có những thay đổi lớn trong cuộc đời Lưu Quang Vũ Ông làm rất nhiều thơ Thơ ông bên cạnh những cảm xúc hồn nhiên trong trẻo của tuổi học trò mộng mơ còn là hơi thở, cảm xúc mới, tiêu biểu cho một thế hệ háo hức lên đường diệt Mỹ Chùm thơ đầu tiên của ông

được tin trên Tạp chí Văn nghệ quân đội gồm ba bài: Gửi tới các anh, Lá

bưởi lá chanh và Đêm hành quân Tập Hương cây - Bếp lửa (in chung với

Bằng Việt) ra đời khi Lưu Quang Vũ tròn 20 tuổi Thời gian cuối đời lính, Lưu Quang Vũ gặp nhiều trắc trở và thơ ông không còn sôi nổi như trước Năm 1970, Lưu Quang Vũ xuất ngũ Hạnh phúc gia đình tan vỡ Đây

là thời kì dằn vặt cô đơn và đau xót đến cùng cực trong cuộc đời Lưu Quang

Vũ Ông làm rất nhiều thơ, làm thơ như ghi nhật kí Những vần thơ u buồn và tuyệt vọng nhưng vẫn tha thiết vượt lên những mệt mỏi và hoài nghi để sống

và để viết

Năm 1973 đánh dấu một sự kiện quan trọng trong cuộc đời Lưu Quang Vũ Ông kết hôn với nhà thơ Xuân Quỳnh Tình yêu và sự chăm sóc

Trang 35

chu đáo của Xuân Quỳnh đã sưởi ấm trái tim nhiều tổn thương của Lưu Quang Vũ, làm hồi sinh tình yêu cuộc đời, niềm vui sống, làm việc trong ông

Năm 1978, Lưu Quang Vũ vào làm biên tập ở Tạp chí Sân khấu Năm 1979, Lưu Quang Vũ đã hoàn thành kịch bản dài đầu tay Sống mãi tuổi 17 dựa trên

kịch bản cũ của Đào Duy Ky, vở này được Nhà hát tuổi trẻ dàn dựng, tham gia Hội diễn sân khấu toàn quốc năm 1980 và nhận được huy chương vàng

Và từ đó cho đến khi khép lại cuộc đời, Lưu Quang Vũ đã viết say sưa, sung sức với khoảng 50 vở kịch gây tiếng vang trên cả nước nhưng con người tài hoa ấy đã đột ngột rời xa thế giới khi chỉ mới 40 tuổi

Ngày 29/8/1988, Lưu Quang Vũ đã qua đời trong một vụ tai nạn ô tô thảm khốc cùng vợ là nữ sĩ Xuân Quỳnh và con trai Quỳnh Thơ Sự ra đi đột ngột của hai người nghệ sĩ tài hoa ấy đã để lại nỗi đau xót vô hạn và sự trống trải khôn cùng cho đời sống văn nghệ nước nhà Lưu Quang Vũ đã ra đi khi chỉ mới 40 tuổi, nhưng sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật mà ông để lại cho đời vẫn còn giá trị sống mãi với thời gian

1.3.2 Sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật của Lưu Quang Vũ

1.3.2.1 Lưu Quang Vũ - một nghệ sĩ đa tài

Lưu Quang Vũ là một nghệ sĩ đa tài, một nhà thơ, nhà văn, họa sĩ và một nhà viết kịch Ở phương diện nào ông cũng cống hiến những tác phẩm nghệ thuật độc đáo với phong cách riêng biệt

Kịch là lĩnh vực đã đưa tên tuổi Lưu Quang Vũ trở nên nổi tiếng khắp

cả nước cuối thế kỉ XX Chỉ trong khoảng 9 năm Lưu Quang Vũ đã sáng tạo hơn 50 vở kịch và được diễn rầm rộ trên khắp các sân khấu từ Bắc vào Nam:

Tôi và chúng ta, Hồn Trương Ba da hàng thịt, Hẹn ngày trở lại, Khoảnh khắc

và vô tận, Nét quán xuyến trong toàn bộ sáng tác, làm nên phong cách và

âm hưởng chủ yếu của kịch Lưu Quang Vũ chính là tính hiện đại trong chủ đề

tư tưởng các vở diễn, ngay cả khi ông viết về đề tài lịch sử, truyện cổ dân

Trang 36

gian Kịch Lưu Quang Vũ đi sát đời sống, biến những sự kiện có thật trong đời thành những chi tiết nghệ thuật sinh động và nâng lên thành ý nghĩa phổ quát Mỗi vở kịch đều chứa đựng những trăn trở, băn khoăn và những suy ngẫm sâu sắc của ông về cuộc sống Phan Ngọc đã đánh giá về thơ Lưu

Quang Vũ: Trong cái nhìn của tôi, Việt Nam có những nhà văn hóa lớn Theo

tôi nghĩ, Lưu Quang Vũ là nhà viết kịch lớn nhất thế kỉ này của Việt Nam (thế

kỉ XX), là một nhà văn hóa [35, tr.149]

Truyện ngắn Lưu Quang Vũ được in trong ba tập: Người kép đóng hổ (1983), Mùa hè đang đến (1983), và Truyện ngắn Lưu Quang Vũ (1994) Nhận xét về truyện ngắn Lưu Quang Vũ, tác giả Phong Lê viết: Văn xuôi Lưu

Quang Vũ - cầu nối giữa thơ và kịch Nói đúng và sát hơn là truyện ngắn Lưu Quang Vũ Những truyện ngắn mang dư vị thơ Và những truyện ngắn hàm

chứa nhiều chất kịch Những truyện ngắn của Lưu Quang Vũ đã tạo được nét

riêng lúc bấy giờ Tác giả Lê Minh Khuê đánh giá: Truyện ngắn của anh khi

đó là một bản sắc riêng Anh viết những chuyện thường ngày vào thời gian văn học thiên về cổ vũ Vào thời điểm hiện nay, chuyện về con người bình thường không còn xa lạ, nhưng từ những năm 1975 đến 1985, truyện ngắn của Vũ đã là tiếng nói của những người thường gặp, không to tát, không lên gân, ai cũng có thể tìm thấy chút riêng của mình trong đó [51, tr.113]

Với những cống hiến to lớn cho nền văn học nghệ thuật nước nhà, Lưu

Quang Vũ đã được Nhà nước vinh danh Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học

nghệ thuật năm 2000

1.3.2.2 Thơ ca trong sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật của Lưu Quang Vũ

Thơ Lưu Quang Vũ được viết chủ yếu trong những năm 1965-1975 Văn học Việt Nam giai đoạn này được khái quát là chặng đường phát triển của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Thơ ca nhìn chung cũng hòa vào không khí rộn ràng ấy Về nội dung, thơ tiếp tục đậm đà tính thời sự và là một bài ca đằm thắm về Tổ quốc Thơ tập trung ngợi ca cuộc sống hạnh phúc

Trang 37

trong lao động, tình yêu và trong sự thay da đổi thịt hàng ngày của đất nước Chủ nghĩa anh hùng cách mạng là chủ đề chủ đạo của thơ ca bấy giờ Xuân

Diệu với các tập thơ Hai đợt sống (1967), Tôi giàu đôi mắt (1970), Hồn tôi

đôi cánh (1976) đã thể hiện tinh thần cổ vũ cuộc chiến đấu nhiệt thành Huy

Cận mở rộng hồn thơ với Chiến trường gần, chiến trường xa (1973), Cuộc

họp mặt thiếu niên anh hùng (1973), Những người mẹ, những người vợ

(1974) Chế Lan Viên tập trung vào chủ đề chống Mỹ Từ Hoa ngày thường,

chim báo bão (1967), ông viết liên tiếp Những bài thơ đánh giặc (1972), Đối thoại mới (1973) và Ngày vĩ đại (1975) Tế Hanh, nhà thơ của Lòng miền Nam gửi miền Bắc trước đây, đến chặng này vẫn bền bỉ hát Khúc ca mới

(1967), Đi suốt bài ca (1970), Câu chuyện quê hương (1973) và Theo nhịp

tháng ngày (1974)

Một sự kiện nổi bật ở chặng thơ này là sự xuất hiện của đông đảo nhà thơ trẻ, những Nguyễn Duy, Bằng Việt, Lê Anh Xuân, Lâm Thị Mĩ Dạ, Xuân Quỳnh, Phạm Tiến Duật, Phan Thị Thanh Nhàn , những nhà thơ cùng thời với Lưu Quang Vũ Cảm hứng chủ đạo trong thơ của họ vẫn là tình yêu và lòng ngợi ca, tự hào về Tổ Quốc, quê hương, là niềm vui rạo rực của người lính ra chiến trường, là tình yêu say mê tuổi trẻ gắn liền với tình yêu đất nước Nhìn chung, thơ ca Việt Nam chặng 1965-1975 đã thể hiện hào hùng chủ nghĩa anh hùng cách mạng về những đề tài lớn là quê hương, đất nước, người lính với nguồn cảm hứng chủ đạo là ngợi ca, tôn vinh

Lưu Quang Vũ cũng thuộc số những nhà thơ trẻ của chặng thơ

1965-1975, nhưng cách ông đi trên đường thơ của mình thật riêng biệt Lưu Quang

Vũ đã lặng lẽ làm thơ, lặng lẽ tìm một lối riêng Sinh thời, Lưu Quang Vũ mới

chỉ in được nửa tập thơ, đó là tập Hương cây - Bếp lửa (in chung với Bằng Việt), năm 1968 Hai tập thơ Mây trắng của đời tôi (1989) và Bầy ong trong

đêm sâu (1993) ra đời sau khi ông mất đã phần nào làm rõ thêm bản sắc thơ

Lưu Quang Vũ Ngoài ra, Lưu Quang Vũ có 12 tập thơ đã được đặt tên và có

Trang 38

những tập đã hoàn thành như Cuốn sách xếp lầm trang, Cỏ tóc tiên và những tập thơ còn dang dở Năm 2010, tuyển thơ Gió và tình yêu thổi trên đất nước

tôi của Lưu Quang Vũ được ra đời với nhiều bài lần đầu công bố đã thực sự

mang lại cho người đọc nhiều cảm nhận mới mẻ về thơ ông Giới phê bình và đông đảo bạn đọc đã có được cái nhìn toàn diện hơn về thơ Lưu Quang Vũ, về một con người, một cá tính riêng biệt, độc đáo và tài năng trong thơ

1.4 Tiểu kết chương 1

Nhìn chung, trường từ vựng là một tổ chức của từ vựng bao gồm những

từ có quan hệ với nhau một cách có hệ thống Một trường có thể có nhiều cấp

độ, gồm những trường nhỏ hơn, đồng thời những trường nhỏ hơn này lại có thể được phân chia ra những trường nhỏ hơn nữa

Việc xác định và phân lập trường được tiến hành chủ yếu dựa trên mối quan hệ ý nghĩa giữa các đơn vị trong trường: quan hệ dọc, quan hệ ngang, quan hệ liên tưởng, hiện tượng chuyển trường Dựa vào những vấn đề lí thuyết đã nêu, luận văn sẽ tìm hiểu về khả năng chuyển nghĩa của từ nhằm xác định nghĩa biểu tượng của trường từ vựng thể hiện tình yêu trong thơ Lưu Quang Vũ Đặc biệt, chúng tôi lưu ý đến vai trò trung tâm - điển hình, vì nó là nhân tố quy tụ các đơn vị làm thành một hệ thống và cũng chính nó biểu đạt

rõ nhất các đặc tính của một trường từ vựng

Lưu Quang Vũ là một nhà thơ có phong cách đặc biệt, những vấn đề tư tưởng được ông gửi gắm trong cách thức lựa chọn từ ngữ cho tới cách thức tổ chức văn bản Một trong những nét nổi bật ở tuyển thơ Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi của Lưu Quang Vũ chính là việc sử dụng trường từ vựng - ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa một cách đa dạng, phong phú và linh hoạt theo một cách riêng, in đậm dấu ấn sáng tạo của tác giả Những lí thuyết nghiên cứu trường từ vựng - ngữ nghĩa của những tác giả đi trước là những cơ sở cần thiết để chúng tôi tiến hành tìm hiểu, miêu tả và phân tích trường từ vựng thể hiện tình yêu đôi lứa trong thơ Lưu Quang Vũ ở những chương tiếp theo

Trang 39

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM TRƯỜNG TỪ VỰNG - NGỮ NGHĨA THỂ HIỆN TÌNH YÊU ĐÔI LỨA TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ

2.1 Kết quả khảo sát

Theo tư liệu khảo sát, trong số 130 bài thơ trong tuyển tập “ Gió và tình

yêu thổi trên đất nước tôi” (2010), có 196 đơn vị từ vựng để gọi tên, miêu tả

đối tượng tình yêu đôi lứa Số lần xuất hiện 1989 lần

Dựa trên quan điểm phân loại trường của tác giả Đỗ Hữu Châu, luận văn phân loại trường nghĩa về tình yêu trong thơ Lưu Quang Vũ theo các quan hệ để thấy được các từ có thể có nghĩa khác nhau đã tham gia các kết hợp để thể hiện tình yêu đôi lứa trong thơ ông

2.2 Các trường nghĩa thể hiện tình yêu trong thơ Lưu Quang Vũ

2.2.1 Trường nghĩa theo quan hệ dọc

Các kiểu trường nghĩa thể hiện trên trục dọc thường được nói đến gồm trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm

Nói đến “trường biểu vật” hay “trường biểu niệm” là nói đến những từ

có quan hệ với từ trung tâm về nghĩa biểu vật hay nghĩa biểu niệm Tất nhiên, những từ này phải có mối quan hệ cùng phạm trù với từ trung tâm

Trường nghĩa theo quan hệ dọc gồm có 100 đơn vị từ vựng để gọi tên, miêu tả đối tượng tình yêu đôi lứa Số lần xuất hiện 1602 lần, chiếm 80,54% Dựa vào phân loại các nhóm trường nghĩa theo quan hệ dọc có thể phân loại trường nghĩa theo quan hệ dọc thể hiện tình yêu trong thơ Lưu Quang Vũ gồm 4 tiểu trường nhỏ (nhóm từ) sau:

Nhóm từ xưng hô thể hiện tình yêu

Nhóm từ chỉ sự vật thể hiện tình yêu

Nhóm từ hành động thể hiện tình yêu

Nhóm từ tính chất thể hiện tình yêu

Trang 40

Những từ ngữ thuộc các tiểu trường trong quan hệ dọc nói trên gồm:

Nhóm từ xưng hô thể hiện tình yêu trong thơ Lưu Quang Vũ gồm: anh,

em, tôi, ta, hắn, chúng ta, chúng mình, mình

Nhóm từ chỉ sự vật thể hiện tình yêu trong thơ Lưu Quang Vũ gồm các

từ sau: tình yêu, niềm vui, nỗi buồn, niềm tin, nỗi đau, lòng đau, lòng tin, nỗi

khổ, lời yêu, nỗi nhớ

Nhóm từ chỉ hành động thể hiện tình yêu trong thơ Lưu Quang Vũ gồm:

nhớ, yêu, thương, tìm, buồn, sợi, đợi, khóc, mong, ôm, nắm, gửi, hiểu, cầm, hôn, dâng, giận, trách, trao, chờ, hứa, lo, trao, đến, chờ đợi, mỉm cười, lo âu,

lo buồn, buồn lo, buồn khổ, chia tay, âu yếm, hẹn ước, ngóng đợi, đợi mong, chờ mong, nhớ mong, mong ước, cảm thương, thương mến, yêu thương, thân yêu, thương yêu, thương nhớ

Nhóm từ chỉ tính chất thể hiện tình yêu trong thơ Lưu Quang Vũ gồm:

sướng vui, hồi hộp, u uất, tức giận, đau đớn, bồi hồi, lưu luyến, bỡ ngỡ, căm giận, thao thức, cay đắng, đắm đuối, xót xa, u buồn, tan nát, kinh hoàng, bàng hoàng, buồn đau, nghẹn ngào, khát khao, âm thầm, đau khổ, hi vọng, xót đau, khao khát, khổ đau, bối rối, hạnh phúc, thất vọng, vui sướng

2.2.1.1 Nhóm từ xưng hô thể hiện tình yêu

Nhóm từ xưng hô thể hiện tình yêu trong thơ Lưu Quang Vũ gồm 8 từ,

số lần xuất hiện là 1280 lần, chiếm 79,9% Trong đó nhóm từ xưng hô được chia làm hai nhóm: Nhóm đại từ nhân xưng và từ xưng hô Nhóm đại từ nhân xưng gồm 6 từ, số lần xuất hiện 217 lần chiếm 13,54%, nhóm từ xưng hô gồm

2 từ, số lần xuất hiện 1063 lần, chiếm 66,39% Kết quả thống kê trên được thể hiện cụ thể qua bảng 2.1 sau:

Ngày đăng: 09/09/2021, 20:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (1997), Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945 - 1995, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945 - 1995
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1997
8. Hữu Đạt (1998), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1998
9. Nguyễn Đăng Điệp (1994), “Giọng điệu thơ trữ tình”, Văn học, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu thơ trữ tình”, "Văn học
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Năm: 1994
14. F. de Saussure (2006), Giáo trình ngôn ngữ học đại cương (Cao Xuân Hạo dịch), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngôn ngữ học đại cương
Tác giả: F. de Saussure
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
15. Nguyễn Trọng Hoàn (2002), Nhà văn trong mắt nhà văn, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn trong mắt nhà văn
Tác giả: Nguyễn Trọng Hoàn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
17. Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết (2006), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
18. Nhiều tác giả (1994), Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh gửi lại, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh gửi lại
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1994
23. Mã Giang Lân (2003), “Nhận xét ngôn ngữ thơ Việt Nam hiện đại”, Văn học, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận xét ngôn ngữ thơ Việt Nam hiện đại”, "Văn học
Tác giả: Mã Giang Lân
Năm: 2003
24. Nguyễn Lai (1991), Ngôn ngữ và sáng tạo văn học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ và sáng tạo văn học
Tác giả: Nguyễn Lai
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1991
25. Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa (1998) Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
26. Phong Lê (1998), “Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ - Tình yêu và số phận”, Văn học, (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ - Tình yêu và số phận”, "Văn học
Tác giả: Phong Lê
Năm: 1998
27. Nguyễn Thế Lịch (2005), “Yếu tố chuẩn trong cấu trúc so sánh”, Ngôn ngữ, (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yếu tố chuẩn trong cấu trúc so sánh”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Thế Lịch
Năm: 2005
28. Đỗ Thị Kim Liên (2001), “Khảo sát câu “bất qui tắc” trong văn bản thơ”, Những vấn đề lí thuyết lịch sử văn học và ngôn ngữ, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát câu “bất qui tắc” trong văn bản thơ”, "Những vấn đề lí thuyết lịch sử văn học và ngôn ngữ
Tác giả: Đỗ Thị Kim Liên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
29. Trần Thị Kim Liên (2009), Cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ, Luận văn Thạc sĩ Ngữ Văn, Đại học Vinh, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ
Tác giả: Trần Thị Kim Liên
Năm: 2009
30. Phương Lựu (2004), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
31. Nguyễn Đăng Mạnh (1996), Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
32. Trần Nhuận Minh (2001), “Ngôn ngữ thơ hiểu thế nào cho phải”, Ngôn ngữ, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ hiểu thế nào cho phải”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Trần Nhuận Minh
Năm: 2001
33. Nguyễn Xuân Nam (1985), Thơ - Tìm hiểu và thưởng thức, Nxb Tác phẩm mới, Hội Nhà văn Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ - Tìm hiểu và thưởng thức
Tác giả: Nguyễn Xuân Nam
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1985
35. Phan Ngọc (1991) “Thơ là gì?”, Văn học, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ là gì?”, "Văn học
36. Phan Ngọc (2002), Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ học, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ học
Tác giả: Phan Ngọc
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Nhóm từ xƣng hô thể hiện tình yêu - Trường từ vựng ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa trong thơ lưu quang vũ
Bảng 2.1. Nhóm từ xƣng hô thể hiện tình yêu (Trang 41)
Bảng 2.2. Nhóm danh từ thể hiện tình cảm, tình yêu - Trường từ vựng ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa trong thơ lưu quang vũ
Bảng 2.2. Nhóm danh từ thể hiện tình cảm, tình yêu (Trang 42)
Bảng 2.3. Nhóm động từ thể hiện tình yêu - Trường từ vựng ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa trong thơ lưu quang vũ
Bảng 2.3. Nhóm động từ thể hiện tình yêu (Trang 43)
Bảng 2.3.a. Nhóm động từ thể hiện tâm trạng - Trường từ vựng ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa trong thơ lưu quang vũ
Bảng 2.3.a. Nhóm động từ thể hiện tâm trạng (Trang 44)
Bảng 2.3.b. Nhóm động từ thể hiện hành động yêu - Trường từ vựng ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa trong thơ lưu quang vũ
Bảng 2.3.b. Nhóm động từ thể hiện hành động yêu (Trang 45)
Bảng 2.4. Nhóm từ chỉ tính chất thể hiện tình yêu - Trường từ vựng ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa trong thơ lưu quang vũ
Bảng 2.4. Nhóm từ chỉ tính chất thể hiện tình yêu (Trang 47)
Bảng 2.4.a. Nhóm tính chất thể hiện mức độ tình yêu - Trường từ vựng ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa trong thơ lưu quang vũ
Bảng 2.4.a. Nhóm tính chất thể hiện mức độ tình yêu (Trang 49)
Bảng 2.4.b. Nhóm tính từ chỉ tính chất, trạng thái cảm xúc yêu đƣơng - Trường từ vựng ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa trong thơ lưu quang vũ
Bảng 2.4.b. Nhóm tính từ chỉ tính chất, trạng thái cảm xúc yêu đƣơng (Trang 50)
Những từ có nghĩa chỉ hình ảnh thiên nhiên đã được tác giả dùng làm biểu tượng cho tình yêu như: hoa, quả  - Trường từ vựng ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa trong thơ lưu quang vũ
h ững từ có nghĩa chỉ hình ảnh thiên nhiên đã được tác giả dùng làm biểu tượng cho tình yêu như: hoa, quả (Trang 54)
Bảng 2.6. Từ chỉ bộ phận con ngƣời mang nghĩa biểu tƣợng cho tình yêu  - Trường từ vựng ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa trong thơ lưu quang vũ
Bảng 2.6. Từ chỉ bộ phận con ngƣời mang nghĩa biểu tƣợng cho tình yêu (Trang 57)
Bảng 2.7. Những từ ngữ chỉ đối tƣợng đƣợc liên tƣởng - Trường từ vựng ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa trong thơ lưu quang vũ
Bảng 2.7. Những từ ngữ chỉ đối tƣợng đƣợc liên tƣởng (Trang 61)
2.2.4. Hiện tượng từ được dùng chuyển trường nghĩa chỉ tình yêu trong thơ Lưu Quang Vũ  - Trường từ vựng ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa trong thơ lưu quang vũ
2.2.4. Hiện tượng từ được dùng chuyển trường nghĩa chỉ tình yêu trong thơ Lưu Quang Vũ (Trang 61)
Bảng 2.8. Các từ thuộc trƣờng nghĩa chỉ tình yêu đựợc dùng chuyển trƣờng  - Trường từ vựng ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa trong thơ lưu quang vũ
Bảng 2.8. Các từ thuộc trƣờng nghĩa chỉ tình yêu đựợc dùng chuyển trƣờng (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm