Xói mòn đất làm mất đất, phá huỷ lớp thổnhưỡng bề mặt, làm giảm độ phì của đất, gây ra bạc màu, ảnh hưởng trực tiếp tới sự sống và phát triển của thảm thực vật.... Các kiểu xói mòn do nư
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
PHẦN I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ XÓI MÒN DO NƯỚC 4
1.1 Các khái niệm 4
1.1.1 Xói món đát 4
1.1.2 Xói món đát dó nước 4
1.1.3 Các kiểu xói mòn do nước 4
1.2 Phương trình mất đất phổ dụng 5
1.3 Phương trình dự báo xói mòn của Trường ĐH Lâm nghiệp 6
1.4 Tác hại của xói mòn đất 6
1.4.1 Mất đất do xói mòn 6
1.4.2 Mất dinh dưỡng 6
1.4.3 Tác hại đến sản xuất 7
1.4.4 Tác hại đến môi trường 7
PHẦN II: TÌNH TRẠNG XÓI MÒN ĐẤT 8
2.1 Thế giới 8
2.2 Việt Nam 9
2.3 Tỉnh Điện Biên 10
2.3.1 Thực trạng xói mòn trên địa bàn tỉnh 10
2.3.2 Các nguyên nhân ảnh hưởng đến xói mòn trên địa bàn tỉnh 11
2.3.2.1 Độ che phủ thực vật 11
2.3.2.2 Địa hình ảnh hưởng đến xói mòn đất 12
2.3.2.3 Đặc điểm thổ nhưỡng ảnh hưởng đến xói mòn 13
2.3.2.4 Khí hậu, mưa ảnh hưởng đến xói mòn 14
2.3.2.5 Các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến xói mòn 15
PHẦN III: BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC ĐÃ ÁP DỤNG Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN 16
3.1 Xây dựng các công trình 16
3.2 Các biện pháp kỹ thuật nông nghiệp 16
3.2.1 Bón phân 16
3.2.2 Ruộng bậc thang 16
3.2.3 Các biện pháp nông nghiệp khác 17
3.3 Biện pháp lâm nghiệp 17
Trang 23.5 Giao đất giao rừng 19
3.6 Tuyên truyền giáo dục 19
3.7 Nâng cao đời sống của người dân địa phương 20
3.8 Biện pháp hành chính 20
PHẦN IV: KẾT LUẬN 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
Cuóc sóng cuá cón ngưới phu thuóc rát nhiệ u váó lớp đát tró ng trót đệ#sán xuát rá lướng thưc, thưc phá#m vá các nguyện liệu sán xuát cóng nghiệpphuc vu chó cuóc sóng cuá mình Tuy nhiện lớp đát có khá ná)ng cánh tác náylái luón chiu như*ng tác đóng mánh mệ* cuá tư nhiện vá các hóát đóng cánhtác dó cón ngưới Như*ng tác đóng náy có thệ# lám chung bi thóái hóá vá dá nmát đi khá ná)ng sán xuát, mót tróng như*ng nguyện nhán lám chó đát bi thóáihóá mánh nhát lá dó xói món
Xói mòn đất từ lâu được coi là nguyên nhân gây thoái hóa tài nguyên đấtnghiêm trọng ở các vùng đồi núi Xói mòn đất là một hiện tượng tự nhiên nhưng
do các hoạt động của con người đã làm cho hiện tượng này diễn ra ngày càngnghiêm trọng Mỗi năm ở vùng đồi núi nước ta bị mất đi một khối lượng đấtkhổng lồ do hiện tượng xói mòn Xói mòn đất làm mất đất, phá huỷ lớp thổnhưỡng bề mặt, làm giảm độ phì của đất, gây ra bạc màu, ảnh hưởng trực tiếp tới
sự sống và phát triển của thảm thực vật Vấn đề xói mòn đất đã được đề cập đếntrong các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nước từ nhiềuthập niên nay
Hiện tướng mát đát dó xói món mánh hớn rát nhiệ u só với sư táóthánh đát tróng quá trình tư nhiện, mót vái cm đát có thệ# bi mát đi chì tróngmót vái trán mưá, gióng hóá)c gió lóc tróng khi đó đệ# có đước vái cm đát đó
cá n phái có thới gián háng trá)m ná)m, thám chì háng ngán ná)m mới táó ráđước Trện thệ giới há u như khóng có quóc giá náó lá khóng chiu ánh hướngcuá xói món, nhát lá ánh hướng cuá xói món dó nước
Tình Điện Biện với há u hệt diện tìch đát lá đó i nui, có đó dóc cáó, lướngmưá lớn (1800 - 2000mm/ná)m) táp trung váó 4 - 5 tháng muá mưá vớilướng mưá chiệm tới 80% tó#ng lướng mưá, thì hiện tướng xói món đát luónxáy rá vá gáy háu quá nghiệm tróng
Do vậy, để giảm thiểu xói mòn đất ở khu vực miền núi, hai vấn đề cầnđược nghiên cứu song song là thực trạng quá trình xói mòn đất, nguyên nhân, cácyếu tố ảnh hưởng và những giải pháp ngăn chặn xói mòn đất Với lý do đó nên
tôi làm tiểu luận hết môn Quản lý sử dụng đất: “Xói mòn đất do nước trên địa bàn tỉnh Điện Biên, nguyên nhân và các biện pháp bảo vệ”
Trang 4PHẦN I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ XÓI MÒN DO NƯỚC
1.1 Các khái niệm
1.1.1 Xói mòn đất
Lá quá trình lám mát lớp đát trện má)t vá phá huy các tá ng đát bệndưới dó tác đóng cuá nước mưá, bá)ng tuyệt tán hóá)c dó gió Đói với sán xuátnóng nghiệp thì nước vá gió lá hái quá trình quán tróng nhát gáy rá xói món
vá các tác nhán náy có mưc đó ánh hướng tá)ng giám khác nháu thệó các hóátđóng cuá cón ngưới đói với đát đái
Gó m có hái lóái xói món (xói món vát ly vá xói món hóá hóc):
- Xói món vát ly:
Lá sư tách rới vá di chuyệ#n như*ng phán tư đát khóng tán như cát, sệt,bun vá hớp chát hư*u cớ Sư di chuyệ#n đước xáy rá có thệ# thệó phướng ná>mngáng trện bệ má)t, hóá)c cu*ng có thệ# thệó phướng thá?ng đưng dóc thệó bệ dáy cuá phá@u diện đát quá các khệ hớ, kệ* nưt ló@ hó#ng có sáAn tróng đát
- Xói món hóá hóc:
Lá sư di chuyệ#n cuá vát liệu hóá tán Xói món hóá hóc có thệ# xáy rá dótác đóng cuá dóng cháy bệ má)t hóá)c dóng cháy ngá m tư tá ng náy đện tá ngkhác
1.1.2 Xói mòn đất do nước
Xói mòn do nước gây ra do tác động của nước chảy tràn trên bề mặt Đểxảy ra xói mòn nước cần có năng lượng của mưa làm tách các hạt đất ra khỏi thểđất sau đó nhờ dòng chảy vận chuyển chúng đi Khoảng cách di chuyển hạt đấtphụ thuộc vào năng lượng của dòng chảy, địa hình của bề mặt đất Xói mòn donước là loại xói mòn do sự công phá của những hạt mưa đối với lớp đất mặt vàsức cuốn trôi của dòng chảy trên bề mặt đất Đây là loại xói mòn ỡ những vùngđất dốc khi không có lớp phủ thực vật, gây ra các hiện tượng xói mặt, xói rãnh,xói khe
1.1.3 Các kiểu xói mòn do nước
Xói mòn theo lớp: Đất bị mất đi theo lớp không đồng đều nhau trên những
vị trí khác nhau của bề mặt địa hình Đôi khi dạng xói mòn này cũng kèm theonhững rãnh xói nhỏ đặc biệt rõ ở những đồi trọc trồng cây hoặc bị bỏ hoang
Xói mòn theo các khe, rãnh: Bề mặt đất tạo thành những dòng xói theo cáckhe, rãnh trên sườn dốc nơi mà dòng chảy được tập trung Sự hình thành các khelớn hay nhỏ tùy thuộc vào mức xói mòn và đường cắt của dòng chảy
Trang 5Xói mòn mương xói: Đất bị xói mòn cả ở dạng lớp và khe, rãnh ở mức độmạnh do khối lượng nước lớn, tập trung theo các khe thoát xuống chân dốc vớitốc độ lớn, làm đất bị đào khoét sâu.
1.2 Phương trình mất đất phổ dụng
A = R.K.L.S.C.P Trong đó:
A - Lượng đất mất bình quân trong năm (tấn/ha/năm);
R - Yếu tố mưa và dòng chảy;
K - Hệ số bào mòn của đất (tấn/ha/đơn vị chỉ số xói mòn);
L - Yếu tố chiều dài của sườn dốc;
S - Yếu tố độ dốc;
C - Yếu tố che phủ và quản lý đất;
P - Yếu tố hoạt động điều tiết chống xói mòn
- Yếu tố mưa và dòng chảy (R): Ðây là thước đo sức mạnh xói mòn củamưa và sức chảy tràn trên mặt Yếu tố được thể hiện qua tổng lượng mưa vàcường độ mưa Sự phân bố của mùa mưa cũng là yếu tố chi phối và quyết địnhđến lượng đất mất do xói mòn Những trận mưa lớn nếu xảy ra ở những thời điểmđất trống trải cũng là nguyên nhân làm cho lượng đất bị mất nhiều hơn
- Hệ số xói mòn đất (K): Thể hiện mức độ bị bào mòn vốn có của đất, Cóhai đặc tính ảnh hưởng và liên quan chặt chẽ tới hệ số xói mòn đó là khả năngthấm và sự ổn định về mặt cấu trúc của đất Khả năng thấm của đất chịu ảnh h
Trang 6ưởng chủ yếu bằng sự ổn định của cấu trúc, đặc biệt là ở các tầng đất trên mặt vàthêm vào đó là thành phần cơ giới, hàm lượng hữu cơ có trong đất
- Yếu tố địa hình (L,S): Phản ánh chiều dài dốc và mức độ dốc Đất có độdốc càng lớn khả năng xói mòn càng lớn bởi vì chúng làm tốc độ của dòng chảy
và lượng nước chảy tràn tăng lên Chiều dài dốc cũng góp phần quan trọng đốivới khả năng xói mòn đất bởi vì chúng mở rộng diện tích nghiêng của dốc, do nótập trung nhiều lượng nước chảy trên mặt
- Yếu tố che phủ và quản lý (C): Chỉ ra mức độ tác động của các hệ thốngcây trồng và những khác biệt trong quản lý sử dụng đất đối với lượng đất bị mất
do xói mòn Các rừng và đồng cỏ là những hệ thống bảo vệ đất tự nhiên tốt nhất,tiếp đó là các loại cây trồng có khả năng che phủ cao thường được trồng mật độdày (ngũ cốc, họ đậu ) có khả năng bảo vệ đất khá tốt
1.3 Phương trình dự báo xói mòn của Trường ĐH Lâm nghiệp
Thệó phướng trình dư báó xói món cuá Trướng ĐH Lám nghiệp, tróngtrướng hớp trện mót diện tìch đó ng nhát chì có 1 kiệ#u rưng thì cướng đó xóimón đước tình thệó cóng thưc:
d = {2,31 x 10-6Kα2} /{[(TC/H) + CP + TM]2X}
Trong đó:
d là cường độ xói mòn tính bằng mm/năm;
α là độ dốc mặt đất tính bằng độ;
TC là độ tàn che của tầng cây cao;
H là chiều cao của tầng cây cao, tính bằng mét;
CP là tỷ lệ che phủ mặt đất của lớp thảm tươi;
TM là tỷ lệ che phủ mặt đất của lớp thảm khô
X là độ xốp của mặt đất
K là chỉ số xói mòn của mưa
1.4 Tác hại của xói mòn đất
- Đất bị thoái hóa bạc màu
Trang 7- Làm thay đổi tính chất vật lý của đất, đất trở nên khô cằn, khả năng thấmhút và giữ nước cảu đất kém
- Làm tổn hại tới môi trường sống của sinh vật, động thực vật đât, nên hạnchế khả năng phân giải của chúng, do đó độ phì của đất giảm
1.4.3 Tác hại đến sản xuất
Tác hại đến sản xuất nông nghiệp:
- Đất mặt bị bào mòn, đất trở nên nghèo, xấu, mất hết chất hữu cơ độ phìtrong đất Xói mòn đất gây nhiều thiệt hại to lớn trong nông nghiệp, đã lôi cuốnphần lớn các hạt đất có kích thước nhỏ có chứa chất phì làm đất trở nên nghèonàn
- Năng xuất cây trồng giảm nhanh chóng do đất bị mất đi chất dinh dưỡng.Nghiêm trọng hơn, nhiều nơi do xói mòn đất mà sau nhiều vụ thu hoạch thìnhững vụ sau đó đã không thể thu hoạch được
- Do xói mòn đất, nương rẫy chỉ làm vài ba vụ rùi bỏ hóa Chế độ canh tácbừa bãi theo kiểu đốt nương làm rẫy đã làm cho nông sản giảm đi rất nhiều Rừng
bị chặt phá sẽ kèm theo hạn hán, lũ lụt
Tác hại đến thủy lợi: Mức độ xói mòn ở nước ta thuộc loại cao, phù xa cácsông lớn cuốn từ thượng nguồn về bồi đắp các con sông ở hạ lưu làm nâng mựcnước sông dẫn đến lụt lội Ngoài ra, sa bồi làm cho các công trình thủy lợi như hồchứa nước, kênh mương bị thu hẹp diện tích, hiệu suất sử dụng bị hạn chế, côngtác tưới tiêu gặp nhiều trở ngại
Tăng chi phí sản xuất để phục hồi đất, thu nhập của người dân thấp, đờisống của người dân gặp khó khăn
1.4.4 Tác hại đến môi trường
Các chất dinh dưỡng bị dòng chảy cuốn đi cùng với các hạt đất được thựcvật (chủ yếu là tảo) hấp thụ để phát triển sinh khối Khi tảo chết đi, sự phân hủycác chất hữu cơ bởi các vi sinh vật làm giảm lượng oxy trong nước đe dọa đến sựsinh tồn của các loài cá và động vật khác và cuối cùng sẽ phá vỡ sự cân bằng của
hệ sinh thái nước Xói mòn còn gây ô nhiễm nguồn nước do trong hạt đất có chứaphotpho, nitrat hay hấp thụ thuốc trừ sâu gây nguy hại đến sức khỏe con người.Bên cạnh đó, các hạt đất bị di chuyển bởi dòng chảy làm nước trở nên đục, tianắng mặt trời khó thâm nhập vào nước đục, làm hạ thấp khả năng quang hợp củathực vật thủy sinh
Môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, hạn hán, lũ lụt xảy ra liên tục làm ônhiễm nguồn nước và gây ra nhiều thiệt hại cho nhà nước và nhân dân
Xói mòn đất ở mức độ cao người ta gọi là hiện tượng lở đất, sạt núi gắnliền với hiện tượng lũ quét đã gây thiệt hại không những cho môi trường sinhthái, cảnh quan mà cả con người và xã hội
Trang 8PHẦN II: TÌNH TRẠNG XÓI MÒN ĐẤT
2.1 Thế giới
- Ở vùng nhiệt đới và xích đạo,sự thành lập tầng đất mặt mới ước lượngkhoảng 2,5 cm trong 500 năm, trong khi đó sự xói mòn trên đất canh tác có tỉ lệgấp 18-100 lần sự thành lập tầng đất mặt mới trong tự nhi ên Sự xói mòn đấtcũng xảy ra ở đất rừng nhưng ít nghiêm trọng hơn đất canh tác nông nghiệp Mặc
dù vậy nhưng việc quản lý, bảo vệ chống lại sự xói mòn đất rừng cũng là điều hếtsức được quan tâm vì tỉ lệ tái tạo đất rừng thấp hơn 2-3 lần đất canh tác
- Hiện trang thế giới ngày nay, sự xói mòn đất mặt của đất canh tác có tốc
độ lớn hơn sự đổi mới thành lập tầng đất mặt, phần lớn tầng đất mặt bị rửa trôi,được đưa vào sông hồ, đại dương, người ta ước tính trên thế giới có khoảng 7%lớp đất mặt của đất canh tác bị trong một chu kỳ là 10 năm
- Tài nguyên đất hiện bị suy giảm do áp lực tăng dân số (200.000người/ngày), giảm diện tích đất trồng để xây nhà (đô thị hóa), làm đường cao tốc
và nhà máy công nghiệp (tại Mỹ khoảng 2 triệu vùng đất trồng được dùng để pháttriển đô thị, 1 triệu vùng bị ngập nước), đất bị xói mòn do gió và nước
- Trước tình hình nay để đủ lượng lương thực nuôi sống nhân loại ngày naycàng tăng, con người đã sử dụng lượng phân bón gấp 9 lần, thuỷ lợi gấp 3 lầntrong các thập ni ên từ 1950-1987, điều nay tạm thời đã che dấu được suy thóiđất Tuy nhiên thực tế phân bón không đủ chất để phục hồi lại độ phì nhiêu củađất như đất tự nhiên được vì có những chất không thể tổng hợp được bằng cácphản ứng hoá học, điều này chứng tỏ nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt hơn
- Tỉ lệ xói đất tuỳ theo địa h ình, sự kết cấu của đất, tác động của mưa, sứcgió, dòng chảy đối tượng canh tác Sự xói mòn đất do hoạt động của con ngườixảy ra rất nhanh ở các quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc, Nga, Hoa Kỳ tínhchung các quốc gia n ày sản xuất hơn 50% số lương thực trên thế giới và số dâncũng chiếm 50%dân số thế giới Ở Trung Quốc theo báo cáo hàng năm mặt đất bịbào mòn trung bình 40 tấn cho mỗi hecta, trong cả nước có 34% diện tích đất bịbào mòn đất làm sông bị lấp đầy bùn là một vấn đề nghiêm trọng xảy ra ở đây,trong cả nước có khoảng 25% diện tích đất bị bào mòn mạnh Ở Nga theo ướctính của The World Watch Institule là nơi có diện tích đất canh tác lớn nhất và cótầng đất mặt bị xói mòn nhiều nhất thế giới
- Ở Hoa Kỳ theo điều tra của SCS (Soil Conservation Service) ước tính cókhoảng 1/3 tầng đất mặt canh tác bị vào sông, hồ, biển, tỉ lệ xói mòn trung bình là
18 tấn/ha còn ở Iowa và Missouri hơn 35 tấn/ha Các chuyên gia cho rằng sự xóimòn tầng đất mặt diễn ra hàng năm ở Hoa Kỳ đủ để phủ đầy một đầm dài5600km (3500 dặm) làm mất đi gần ¼ lớp canh tác trong cả n ước, tính ra sự haophí chất dinh dưỡng cho cây do sự xói mòn gây ra hàng năm trị giá 18 tỷ USD.Các nhà nghiên cứu ước tính rằng nếu không có những biện pháp bảo vệ đất
Trang 9chống lại sự xói mòn thì khoảng chừng 50 năm tới thì diện tích đất canh tác bịxói mòn tương đương với các ban New York, New Jersey, Maine, NewHampshire, Massachusetts và Connecticut
- Dân nghèo ngày càng tăng thì sự canh tác cũng gia tăng theo, đó cũng lànguyên nhân làm tăng sự xói mòn của đất Sự xói mòn đất không chỉ là vấn đề dohoạt động canh tác mà còn do s ự quản lý và sử dụng không hợp lý đất rừng, đấtđồng cỏ, mà còn do các hoạt động xây dựng của con người theo sự gia tăng dân
số (hoạt động xây dựng làm xói mòn đất chiếm khoảng 40% đất bị xói mòn) Mặtkhác hậu quả của sự xói mòn còn làm trở ngại sự vận chuyển đường thuỷ, làmgiảm sức chứa của các đập thuỷ điện, xáo trộn cuộc sống hoang dã của các loàisinh vật từ đó ảnh hưởng đến môi trường sinh thái tự nhiên
- Tuy nhiên hiện nay người ta chưa đưa ra một phương pháp nào để bảo vệđất chống sự xói mòn một phương pháp nào để bảo vệ đất chống sự xói mòn mộtcách có hiệu quả, nên đây là một vấn đề cần được sự quan tâm
2.2 Việt Nam
Theo số liệu thống kê hiện trạng sử dụng đất trong những năm gần đây chothấy Việt Nam có khoảng 25 triệu hecta đất dốc, nguy cơ xói mòn và rất lớnkhoảng 10 tấn/ha/năm Theo các quan trắc có hệ thống từ năm 1960 đến nay thì
có khoảng 10-20% lãnh thổ bị ảnh hưởng xói mòn từ trung bình đến mạnh Do
đó, mỗi năm ở vùng đồi núi nước ta bị mất đi một khối lượng đất khổng lồ dohiện tượng xói mòn Xói mòn đất làm mất đất, phá huỷ lớp thổ nhưỡng bề mặt,làm giảm độ phì của đất, gây ra bạc màu, ảnh hưởng trực tiếp tới sự sống và pháttriển của thảm thực vật v.v… Đồng thời, tùy thuộc vào đặc điểm hình thái địamạo mà vật liệu xói mòn có thể được vận chuyển theo dòng chảy tạo ra nguồnchất lơ lửng và tích tụ tại những vị trí thích hợp thường là các vùng trũng, làmảnh hưởng tới chất lượng môi trường nước và trầm tích
- Nước ta nằm trong vùng nhiệt đới ẩm và có lượng mưa tương đối lớn (từ1800- 2000mm) nhưng lại phân bố không đồng đều và tập trung chủ yếu trongcác tháng của mùa mưa từ tháng 4-5 đến tháng 10 riêng vùng duyên hải miềnTrung thì lượng mưa bắt đầu và kết thúc muộn hơn từ 2-3 tháng Lượng mưa lớntập trung lại tạo ra dòng chảy có cường độ rất lớn, đây là nguyên nhân chính gây
ra hiện tượng xói mòn đất ở Việt Nam Hàng năm nước của các con sông mangphù xa đổ vào biển Đông khoảng 200 triệu tấn, người ta ước tính trung bình 1m3chứa từ 50g-400g phù sa, riêng đồng bằng sông Hồng 1000g/m3 và có khi đạt2000g/m3
- Với tổng diện tích đất tự nhiên 33.121 triệu ha, với khoảng 25 triêu ha đấtdốc, chiếm hầu hết lãng thổ miền núi và trung du Cùng với những biến động củamôi trường thì Việt Nam đang đứng trước nguy cơ thoái hóa đất do xói mòn là rấtlớn
- Nguyên nhân chính dẫn đến sự xói mòn đất là do sự khai phá rừng để lấy
gỗ và lấy đất canh tác Từ năm 1983-1994 trên cả nước ta có khoảng 1,3 triệu
Trang 10hecta rừng đã bị khai thác để lấy gỗ và lấy đất trồng trọt, gây nên sự xói mòn vàrửa trôi lớp đất mặt làm cho đất ở các nơi này ngày càng trở nên bạc màu Chỉtính riêng cho các vùng phía bắc sông Hồng và dọc theo dãy Trường Sơn thì đã
có khoảng 700000 ha đất bị bạc màu
- Sự xói mòn do gió mặc dù xảy ra ít nghiêm trọng hơn nhưng cũng là vấn
đề đáng quan tâm ở các vùng duyên hải, vùng trung du và rừng núi Để giảm bớt
sụ xói mòn, nhiều biện pháp đã được thực hiện như trồng cây chắn gió, khôi phụclại rừng ở đầu nguồn và trồng cây gây rừng, phủ các đồi trọc
Các số liệu thống kê hiện trạng sử dụng đất năm 2008 cho thấy, Việt Nam
có khoảng 25 triệu ha đất dốc nên nguy cơ xói mòn và rất lớn Theo các quan trắc
có hệ thống từ năm 1960 đến nay thì có khoảng 10-20% lãnh thổ bị ảnh hưởngxói mòn từ trung bình đến mạnh Đặc biệt là khu vực miền núi và trung du Dothảm thực vật che phủ bị tàn phá đã dẫn đến hiện tượng sụt lở đất, làm giảm diệntích đất đồi, thu hẹp đất ruộng Quan trắc ở 14 khu vực thuộc Phú Thọ, Bắc Kạn,Thái Nguyên, Đắk Lắk cho thấy, tỷ lệ mất đất tới 1-2%/năm Kết quả nghiên cứu
về xói mòn đất của Hội Khoa học đất Việt Nam ở huyện Quỳnh Nhai - Sơn Lacũng cho phép ước tính lượng đất mất hàng năm lên tới hơn 800 nghìn tấn, thiệthại mỗi năm khoảng trên 15 tỷ đồng
Không chỉ bị xói mòn, rửa trôi, các kết quả trong tình trạng xói mòn,nghiên cứu cũng đưa ra những con số giật nghiêm trọng mình: Trên 50% diệntích đất tự nhiên của cả nước (3,2 triệu ha đất đồng bằng, 13 triệu ha đất đồi núi)
có nguy cơ bị thoái hóa
Tình trạng xói mòn và đất đang đe dọa trực tiếp tới sự phát triển kinh tế.Ước tính, mất mát do canh tác n ương rẫy và quảng canh ở Việt Nam (trong diệntích 2,6 triệu ha) không dưới 700 triệu USD so với diện tích nh ư vậy không bịthoái hóa Và con số này dường như ngày một gia tăng Tốc độ hủy hoại bởichính bàn tay con người ngày một tăng mặc cho những nỗ lực không ngừng củarất nhiều tổ chức trong và ngoài nước
2.3 Tỉnh Điện Biên
2.3.1 Thực trạng xói mòn trên địa bàn tỉnh
Điện Biên là tỉnh miền núi biên giới thuộc vùng Tây Bắc, miền Bắc ViệtNam, cách thủ đô Hà Nội gần 500km về phía Tây Bắc
Tỉnh Điện Biên với tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh hiện nay là954.124,95 ha chiếm 16,97% diện tích vùng Tây Bắc, chiếm 2,89% diện tích cảnước Trong đó, đất sản xuất nông nghiệp ít 154.845 ha (chiếm 16,19%), bìnhquân đầu người chỉ đạt 0,36 ha; còn lại chủ yếu là đất lâm nghiệp 776.745,85 ha(chiếm 79,5%); Tính đến 31/12/2015 diện tích có rừng của tỉnh là 367.469,51 ha,
tỷ lệ che phủ rừng 38,5%
Điện Biên có địa hình phức tạp, nhìn chung là dạng địa hình đồi núinghiêng dần theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, được cấu tạo bởi những dãy núi
Trang 11chạy dài theo hướng Tây dọc biên giới Việt - Lào Xen lẫn với các dãy núi cao lànhững thung lũng, sông suối nhỏ hẹp và dốc, phân bổ khắp nơi trong địa bàn tỉnh.
Ngoại trừ thung lũng Mường Thanh rộng hơn 15.000 ha là cánh đồng lúanổi tiếng nhất của tỉnh và toàn vùng Tây Bắc thì hầu hết Điện Biên có địa hìnhnúi cao (2.000-1.800 m) hiểm trở, chia cắt mạnh và độ dốc lớn (>30 độ)
Khí hậu của tỉnh mang tính chất đặc trưng của khí hậu vùng Tây Bắc, mộtnăm chia làm 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa từ tháng 4 đếntháng 10: Mùa này nóng, ẩm, mưa nhiều, mưa tập trung chủ yếu vào các tháng 6,
7, 8 lượng mưa chiếm 80 - 90% Lượng mưa lớn tập trung lại tạo ra dòng chảy cócường độ rất lớn làm tăng nguy cơ xảy ra xói mòn
Điện Biên là tỉnh thuộc lưu vực của các con sống lớn như sông Hồng, sôngĐà…theo tài liệu của Bộ Nông
nghiệp và PTNT thì Hệ số bào
mòn của lưu vực sông Đà là
1.220 tấn/km2; lưu vực sông
Hồng là 55.600 tấn/km2 (riêng
phần chảy quan Việt Nam là
11.200 tấn/km2) Như vậy, với
diện tích tự nhiên là 954.124,95
rất lớn
Điện Biên với 21 dân tộc
anh em trong đó có nhiều dân tốc
canh tác nông nghiệp không bền
vững, dùng lửa để dọn thực bì,
các hoạt động chăn gia súc chủ
yếu là thả giông, đến đầu mùa
khô đốt dọn thực bì để cỏ non
mọc phục vụ chăn nuôi làm tăng
nguy cơ xảy ra xói mòn
năng lượng hạt mưa, làm chậm
tích tụ nước, tạo kết cấu bền của
thể đất, tăng mức độ thấm nước
của đất, tăng ma sát cơ học thông qua bộ rễ và thảm lá rụng