Hầu hết các công trình nghiên cứu trên đã nêu lên được thực trạng chọn nghề của học sinh THPT lý do chọn nghề, động cơ chọn nghề, nguyện vọng chọn nghề, các nhân tố ảnh hưởng đến việc ch
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_ _
HOÀNG THỊ PHƯƠNG THẢO
NHU CẦU TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA VÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_ _
HOÀNG THỊ PHƯƠNG THẢO
NHU CẦU TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA VÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 60 31 04 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Trần Thị Minh Đức
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng
dẫn của Giáo sư – Tiến sĩ Trần Thị Minh Đức Các số liệu, kết quả nêu trong Luận
văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Học viên
Hoàng Thị Phương Thảo
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này, trước tiên em xin gửi lời tri ân tới cô giáo
GS – TS Trần Thị Minh Đức, người đã tận tình, quan tâm hết lòng, dẫn dắt và
giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo trong khoa Tâm lý học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và toàn thể quý thầy cô
đã giảng dạy trong chương trình Cao học Tâm lý học khóa 2012 – 2014, những người đã truyền đạt cho em những kiến thức hữu ích về Tâm lý học, làm cơ sở cho
em thực hiện tốt luận văn này
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các thầy cô giáo và các bạn học sinh trường THPT Ba Vì, trường Phổ thông Dân tộc Nội trú, trường THPT Lương Thế Vinh đã tận tình giúp đỡ em trong việc tham gia phỏng vấn và điều tra phiếu hỏi
Bên cạnh đó, em đã nhận được sự động viên của gia đình, người thân và bạn
bè Họ luôn bên cạnh em lúc em khó khăn nhất, em luôn biết ơn và trân trọng những tình cảm đó
Hà Nội, tháng 1 năm 2015
Học viên
Hoàng Thị Phương Thảo
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 5
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 5
1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài về tư vấn hướng nghiệp 5
1.1.2 Nghiên cứu ở trong nước về tư vấn hướng nghiệp 7
1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản 10
1.2.1 Lý luận về nhu cầu 10
1.2.2 Lý luận về tư vấn hướng nghiệp 16
1.2.3 Vài nét về đặc điểm tâm lý của học sinh trung học phổ thông trong tư vấn hướng nghiệp 23
1.2.4 Các nội dung cơ bản về nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của học sinh trung học phổ thông 27
1.2.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của học sinh 30
Chương 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu 33
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu 33
2.1.2 Khách thể nghiên cứu 34
2.2 Tổ chức nghiên cứu 35
2.1.1 Giai đoạn 1: Nghiên cứu lí luận 35
2.1.2 Giai đoạn 2: Nghiên cứu về mặt thực tiễn 35
2.3 Phương pháp nghiên cứu 37
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu 37
2.3.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi 38
2.3.3 Phương pháp phỏng vấn sâu 38
Trang 62.3.4 Phương pháp quan sát 39
2.3.5 Phương pháp nghiên cứu trường hợp 39
2.4 Phương pháp xử lí số liệu và thang đánh giá 40
2.4.1 Phương pháp xử lý số liệu khảo sát thực trạng 40
2.4.2 Thang đo và cách tính toán 41
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG NHU CẦU TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA VÌ – HÀ NỘI 44
3.1 Đánh giá chung về nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của học sinh trung học phổ thông 44
3.1.1 Xu hướng chọn nghề của học sinh trung học phổ thông 44
3.1.2 Động cơ lựa chọn nghề của học sinh 49
3.1.3 Những khó khăn học sinh thường gặp phải khi chọn nghề 52
3.2 Mức độ thể hiện nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của học sinh 56
3.2.1 Nhu cầu tư vấn hướng nghiệp thể hiện qua sự hiểu biết của học sinh về nghề 57
3.2.2 Nhu cầu thể hiện qua hành vi đi tư vấn hướng nghiệp của học sinh 66
3.2.3 Nhu cầu tư vấn hướng nghiệp thể hiện qua mặt cảm xúc của học sinh 72 3.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của học sinh 83
3.3 Nghiên cứu trường hợp điển hình 86
3.3.1 Một số đặc điểm nhân khẩu – xã hội của người tư vấn 86
3.3.2 Một số đặc điểm nhân khẩu – xã hội của học sinh được tư vấn 88
3.3.3 Quy trình thầy giáo S tư vấn hướng nghiệp cho học sinh N 89
3.3.4 Nhận xét chung 90
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Mẫu khách thể nghiên cứu 34
Bảng 2.2 Kết quả kiểm định độ tin cậy Alpha của các thang đo 36
Bảng 3.1: Những khó khăn chủ yếu của học sinh khi chọn nghề 53
Bảng 3.2: Nhận thức của học sinh về yêu cầu của các ngành nghề 61
Bảng 3.3: Thời điểm học sinh chọn nghề 61
Bảng 3.4: Hiểu biết của HS về đặc điểm tâm lý cá nhân phù hợp với các ngành nghề 62
Bảng 3.5: Lý do học sinh chưa đi tư vấn hướng nghiệp 68
Bảng 3.6: Thực trạng thông tin học sinh nhận được khi đi tư vấn hướng nghiệp 70
Bảng 3.7: Các hình thức học sinh mong muốn được tư vấn hướng nghiệp 75
Bảng 3.8: Đánh giá nhu cầu nâng cao hiểu biết của học sinh về đặc điểm tâm lý bản thân phù hợp với nghề 79
Bảng 3.9: Nội dung tư vấn cho học sinh về nhu cầu nâng cao nhận thức về nghề 80
Bảng 3.10: Nội dung tư vấn cho học sinh về nhu cầu nâng cao hiểu biết về thị trường lao động 82
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ các loại nhu cầu của A Maslow 15
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ tam giác hướng nghiệp và các hình thức hướng nghiệp 18
Biểu đồ 3.1: Dự định lựa chọn nghề tương lai của học sinh 44
Biểu đồ 3.2: Dự định lựa chọn nghề tương lai của học sinh ở 3 trường THPT 46 Biểu đồ 3.3: Dự định chọn ngành tương lai của học sinh 47
Biểu đồ 3.4: Những lý do chính dẫn đến quyết định chọn nghề của học sinh 49
Biểu đồ 3.5: Mức độ tự tin vào quyết định chọn ngành học của học sinh 55
Biểu đồ 3.6: Sự cần thiết của việc chọn nghề 57
Biểu đồ 3.7: Sự hiểu biết của học sinh ở ba trường đối với nghề định chọn 59
Biểu đồ 3.8: Các yếu tố ảnh hưởng tới động cơ chọn nghề của học sinh 63
Biểu đồ 3.9: Nhận định của học sinh về các hình thức TVHN 65
Biểu đồ 3.10: Thực trạng học sinh đi tư vấn hướng nghiệp 67
Biểu đồ 3.11: Thực trạng học sinh đã đi TVHN ở ba trường THPT đi tư vấn hướng nghiệp 67
Biểu đồ 3.12: Hình thức tư vấn hướng nghiệp học sinh đã tham gia 69
Biểu đồ 3.13: Sự hài lòng của học sinh về giáo viên/ nhân viên TVHN 72
Biểu đồ 3.14: Người có khả năng thực hiện công tác tư vấn hướng nghiệp 73
Biểu đồ 3.15: Thời điểm các em mong muốn được tư vấn hướng nghiệp 77
Biểu đồ 3.16: Các yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu TVHN của học sinh THPT 84
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghề nghiệp là phương tiện để đảm bảo cuộc sống vật chất và tinh thần của con người Nghề nghiệp vững vàng sẽ mang lại niềm vui và hạnh phúc cho cá nhân Khi mỗi người chọn được những nghề phù hợp với sở trường, năng lực của bản thân thì họ sẽ phấn khởi, hăng say và sáng tạo trong lao động, từ đó năng suất và hiệu quả lao động sẽ cao và như vậy sẽ giúp cá nhân phát triển tối đa khả năng của bản thân và thúc đẩy xã hội phát triển Đối với người lao động hiện nay, vấn đề không chỉ là có nghề, mà là có nghề nghiệp phù hợp Bản thân người lao động không dễ dàng làm tốt công việc lựa chọn nghề này, họ luôn nảy sinh nhu cầu cần sự trợ giúp của những người làm công tác tư vấn hướng nghiệp
Bước vào bậc cuối cấp của nhà trường phổ thông, tuổi trẻ học đường thường
có những hoài bão lớn lao gắn liền với cuộc sống tương lai của họ Không ít các câu
hỏi đại loại như: "Mình sẽ làm gì?", "Mình chọn nghề gì?", "Nghề nào phù hợp nhất với mình?"… luôn xuất hiện trong suy nghĩ của tuổi trẻ nhằm tìm kiếm một vị trí
thích hợp cho bản thân mình Đối với một số học sinh, việc tìm ra câu trả lời cho những vấn đề trên là không khó lắm Tuy nhiên, ở phần đông số học sinh còn lại, những câu hỏi trên đặt ra cho các em nhiều trăn trở, buộc các em phải đắn đo, suy nghĩ kỹ càng, bởi có biết bao nghề đáng yêu, đáng gửi gắm "số phận" của mình, có biết bao con đường để đạt tới mục đích của cuộc sống riêng Từ đó các em rất cần được định hướng đúng, được tư vấn rõ ràng và đầy đủ trong việc hướng nghiệp
Huyện Ba Vì là một huyện xa, ven nội thành thành phố Hà Nội, chính vì vậy điều kiện tiếp cận thông tin nghề nghiệp cũng như các hoạt động TVHN dành cho học sinh rất khó khăn Trong khi đó, nhu cầu cần tư vấn của học sinh theo đánh giá ban đầu là rất cao Tuy các em có thể tìm đến thầy cô, những người có hiểu biết để được giải đáp mọi thắc mắc về nghề nghiệp mà các em sẽ chọn, nhưng hiện tượng học sinh gặp nhiều khó khăn trong việc chọn trường, chọn nghề luôn xảy ra Xuất phát từ sự hiểu biết của các em về nghề nghiệp mà các em chọn thì rất mơ hồ và hạn chế Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình học tập và nghề nghiệp của các
em sau này
Trang 11Trong thực tế hiện nay, các nhà trường THPT của huyện Ba Vì có thực hiện tư vấn nghề, tuy nhiên hoạt động này chỉ mới dừng lại ở việc cung cấp thông tin tối thiểu
về các ngành nghề tuyển sinh của các trường đại học, cao đẳng, mà không hề quan tâm đến những yếu tố có liên quan khác Do đó, khi học sinh muốn tìm hiểu thêm các vấn
đề khác có liên quan thì hầu như các nhà trường đều không đáp ứng được, hoặc chưa định hướng được cho học sinh về những nội dung cần được tư vấn giúp các em ý thức được sự cần thiết và có nhu cầu cần phải được tư vấn khi chọn nghề
Hiện nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tư vấn hướng nghiệp như [32, 39, 42] Các công trình nghiên cứu này đề cập tới nhóm khách thể là học sinh THPT nói chung, chưa có công trình nào nghiên cứu trên nhóm khách thể là học sinh miền núi Do vậy, cần thiết phải có những công trình nghiên cứu trên nhóm khách thể miền núi để góp phần hoàn thiện hơn về bức tranh tư vấn hướng nghiệp hiện nay của nước ta
Xuất phát từ lí do trên tôi chọn nghiên cứu đề tài “Nhu cầu tư vấn hướng
nghiệp của học sinh trung học phổ thông trên địa bàn huyện Ba Vì – thành phố
Hà Nội.”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích thực trạng nhu cầu TVHN của học sinh THPT trên địa bàn huyện Ba Vì – thành phố Hà Nội, đề tài đưa ra một số kiến nghị góp phần giúp học sinh nâng cao nhu cầu TVHN, từ đó có khả năng chọn nghề phù hợp với sở thích và năng lực của các em
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu đặc điểm và các mức độ thể hiện nhu cầu TVHN của học sinh
THPT và các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu TVHN của học sinh
3.2 Khách thể nghiên cứu
300 học sinh trên ba trường THPT trên địa bàn huyện Ba Vì – Tp Hà Nội
4 Giả thuyết khoa học
Đa số học sinh THPT đều có nhu cầu TVHN, nhưng chưa xác định rõ ràng những nội dung cần được tư vấn khi chọn nghề, dẫn đến sự sai lệch trong nhận thức
về nghề và trong việc chọn nghề
Trang 12Nếu học sinh được TVHN đầy đủ nội dung thì sẽ giúp các em nâng cao nhu cầu TVHN và có khả năng chọn nghề phù hợp cho tương lai của mình
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận về nhu cầu TVHN của học sinh THPT
- Phân tích thực trạng nhu cầu TVHN của học sinh THPT trên địa bàn huyện
Ba Vì – thành phố Hà Nội
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm định hướng, phát triển nhu cầu TVHN cho
học sinh THPT trên địa bàn huyện Ba Vì – thành phố Hà Nội
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn về nội dung: Đề tài chỉ nghiên cứu các mức độ biểu hiện nhu cầu
TVHN ở học sinh và thực hiện quan sát một ca TVHN của giáo viên cho học sinh
mà không tập trung nghiên cứu vào kĩ năng, quy trình tư vấn của người tư vấn
- Giới hạn về khách thể: chỉ nghiên cứu trên 300 học sinh THPT
- Giới hạn về địa bàn: Số liệu được thu thập tại 3 trường: THPT Ba Vì,
THPT Lương Thế Vinh, THPT Dân tộc Nội trú thuộc vùng miền núi huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
7 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp phân tích trường hợp
- Phương pháp thống kê toán học
8 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục thì đề tài bao gồm 3 chương như sau:
Trang 13Chương 1: Cơ sở lý luận về nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của học sinh trung
học phổ thông
Chương 2: Phương pháp và tổ chức nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực trạng nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của
học sinh trung học phổ thông huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP
CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài về tư vấn hướng nghiệp
Hướng nghiệp xuất hiện đầu tiên ở Mỹ, bắt đầu từ năm 1850 đến 1940, gắn liền với những cá nhân như Francis Galton, Wilheim Wundt, James Cattell, Alfred Binet, Frank Parsons, Robert Yerkers, và E K Strong Cuối những năm 1800, một
hệ thống công nghiệp với quy mô lớn ra đời đã làm thay đổi mạnh mẽ môi trường làm việc và điều kiện sống Khu vực đô thị phát triển, cùng với tốc độ phát triển và tập trung hoá công nghiệp đã thu hút rất nhiều người dân lao động từ các khu vực nông thôn Để đáp ứng được yêu cầu của các nhà máy công nghiệp và điều kiện sống khắc nghiệt, chật chội trong những khu nhà ổ chuột, một nhu cầu đổi mới đã xuất hiện, một vài nhà nghiên cứu bắt đầu quan tâm đến hành vi con người, quan tâm đến các điều kiện sống và làm việc trong xã hội bị thay đổi bởi cuộc cách mạng công nghiệp Những điều kiện khách quan trên để làm nền móng cho ra đời một ngành khoa học, ngành tham vấn nghề [18]
Năm 1907, Jesse Davis (1917-1955) đã xây dựng cơ sở đào tạo đầu tiên về công tác hướng dẫn nghề tại Michigan Tuy nhiên, người có ảnh hưởng lớn nhất đến công tác hướng nghiệp ở Mỹ là Frank Parsons (1954-1908) Ông đã xuất bản cuốn sách “Cẩm nang hướng nghiệp” nhằm trợ giúp các cá nhân trong việc lựa chọn nghề nghiệp, F Parsons hi vọng công tác hướng nghiệp được đưa vào trường học – một
hi vọng được trở thành hiện thực năm 1908, sau khi ông mất Năm 1909 cuốn sách
“Chọn nghề” được coi là sự cống hiến to lớn mà ông đã để lại cho công tác hướng nghiệp Phòng tư vấn đầu tiên trên thế giới đã được F Parsons thành lập ở Boston (Mỹ) vào năm 1908 Parsons cho rằng công tác hướng nghiệp phải được thể hiện trong quá trình sau:
- Sự thấu hiểu một cách rõ ràng về bản thân, về khả năng, sở thích hoài bão, nguồn lực cũng như những hạn chế của cá nhân đối với nghề; động lực thúc đẩy cá nhân chọn nghề
Trang 15- Sự hiểu biết về những yêu cầu của nghề nghiệp, điều kiện thành công, những thuận lợi và khó khăn, những cơ hội và những triển vọng phát triển trong các giới hạn khác nhau của công việc [14]
Hiện nay, ở Mỹ đã kết hợp chặt chẽ việc tư vấn nghề với chương trình công nghệ và dạy nghề, họ cũng đã đưa môn “Hướng dẫn chọn nghề” (Career Guidance) vào giảng dạy trong trường phổ thông Từ bậc trung học đến đại học đều có các cố vấn tâm lý làm việc trong trường Công việc của họ xuất phát từ nhu cầu lựa chọn một nghề phù hợp trong tương lai của học sinh, họ đưa ra lời khuyên cho học sinh nên nộp đơn xin vào học trường đại học nào phù hợp với trình độ và năng khiếu học sinh Chương trình giáo dục THPT được cấu tạo mềm, gồm chương trình A và B
Từ khi vào học lớp 9, người cố vấn đã chỉ cho học sinh nên học theo chương trình nào tuỳ theo nhu cầu, nguyện vọng của em đó sau này muốn học lên đại học ngành
gì hay sau khi học xong phổ thông sẽ đi làm [dẫn theo 39]
Ở các nước trong khu vực Châu Á cũng có sự quan tâm đến vấn đề này Tại trường THPT, dù là trường công lập hay tư thục thì ở các em bắt đầu xuất hiện nhu cầu tìm hiểu và lựa chọn nghề nghiệp tương lai Và việc định hướng tương lai cho học sinh đều bắt đầu từ năm lớp 10 thông qua giờ hoạt động câu lạc bộ hoặc hướng dẫn riêng cho từng em của giáo viên chủ nhiệm Lớp 11 nhà trường mời các giảng viên ở bên ngoài như những sinh viên đã ra trường hay những lãnh đạo các doanh nghiệp đến nói chuyện về kinh nghiệm bản thân hay hoạt động ở doanh nghiệp của
họ Lớp 12 nhà trường tổ chức cho học sinh đi tham quan để định hướng cho tương lai [dẫn theo 27]
Như vậy, việc điểm qua tình hình của một số nước trên thế giới cho ta thấy việc TVHN cho học sinh phổ thông là một xu thế tất yếu của thời đại Vì vậy, hướng nghiệp đòi hỏi sự đánh giá dựa trên kết hợp những tiêu chí về giáo dục và
dự báo về nhân cách tương lai Nhà trường cần phải có những nhà TVHN chuyên môn để giúp học sinh lựa chọn khoá học thích hợp với nhu cầu, hứng thú, năng lực của học sinh (có tính đến nhu cầu của thị trường lao động), dự báo những khó khăn trong học tập và giúp học sinh giải quyết những khó khăn đó
Trang 161.1.2 Nghiên cứu ở trong nước về tư vấn hướng nghiệp
Ở Việt Nam, cũng có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề hướng nghiệp của học sinh THPT, trong đó có nhu cầu TVHN
Thực trạng công tác TVHN được nhiều tác giả nghiên cứu như Nguyễn Viết
Sự, Hà Thị Đức, Lưu Xuân Mới Các tác giả này đề cập đến vấn đề nội dung TVHN
và những người làm công tác TVHN, tuy nhận thức được rất rõ tầm quan trọng và
sự cần thiết của công tác này đối với học sinh nhưng họ lại thiếu thông tin và điều kiện cần thiết để làm tốt Bên cạnh đó các tác giả cũng nói đến các nhân tố có ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề của học sinh và họ cho rằng việc lựa chọn nghề nghiệp phần lớn là do cá nhân học sinh quyết định (chiếm 46%), ít chịu sự tác động từ gia đình và các giáo viên [23]
Trong nghiên cứu của tác giả Lê Khắc Thìn về vấn đề “Tìm hiểu thực trạng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh lớp 12 và công tác hướng nghiệp ở trường THPT” cũng đã nhấn mạnh đến nguyện vọng chọn nghề của học sinh Do nước ta
mở cửa phát triển kinh tế nhiều thành phần, hợp tác kinh tế với nhiều nước trên thế giới, vì vậy các em có xu thế hướng vào các trường thuộc lĩnh vực kinh tế, công nghệ tiên tiến Như vậy, sự định hướng của học sinh vào các trường cũng phát triển theo xu thế phát triển của xã hội Tuy nhiên, có nhiều em chọn nghề theo rung cảm
từ nhỏ, từ mẫu người lý tưởng, có em chọn nghề theo sự vui thích của cá nhân, theo yêu cầu của cha mẹ Do đó có thể có sự không phù hợp giữa sở thích và nguyện vọng Hầu hết các em đều cho rằng nghề các em thích là phù hợp sở thích và khả năng của bản thân, hoặc yêu thích nghề vì phù hợp với nguyện vọng, được xã hội coi trọng Có 7,38% học sinh cho biết là chưa hiểu rõ về nghề nên không biết thích cái gì Bên cạnh đó, sự hiểu biết của học sinh về nghề định chọn là rất ít, chưa sâu sắc, không rõ ràng, cụ thể Những nguồn thông tin quan trọng nhất (cha mẹ, thầy cô, các phương tiện thông tin đại chúng) để giúp cho các em có nhận thức đúng đắn về nghề nghiệp thì chưa phát huy hết tác dụng Vì vậy, biểu tượng về nghề nghiệp mà học sinh định chọn không rõ ràng, phiến diện cũng là điều dễ hiểu [42]
Tác giả Nguyễn Ngọc Minh trong công trình nghiên cứu “Nhận thức của giáo viên về tư vấn hướng nghiệp trong nhà trường THPT” đã nêu lên được thực trạng TVHN hiện nay trong nhà trường THPT là hầu hết các trường THPT đều đặc
Trang 17cách các giáo viên kiêm nhiệm thêm công tác này, cho nên quá trình chuẩn bị thông tin, kiến thức cho công tác TVHN trong nhà trường của các giáo viên còn mang tính
tự phát, chưa có hệ thống Tác giả cũng nêu lên được thái độ của giáo viên đối với vai trò của TVHN trong nhà trường: đa số các giáo viên đều nhận biết và thông hiểu một cách thấu đáo và sâu sắc tầm quan trọng của công tác này, nhận biết được sự mong mỏi của học sinh về một ban chuyên trách TVHN trong nhà trường để giúp các em lựa chọn nghề nghiệp, trường thi khi các em ở những năm cuối cấp Gần như 100% học sinh đều chọn ý kiến mong muốn trong nhà trường có ban chuyên trách về TVHN để giúp các em trong việc chọn nghề [29]
Khi nghiên cứu hoạt động TVHN ở học sinh THPT, nhà tư vấn tâm lý Dương Diệu Hoa nhận thấy, nếu cho rằng công tác hướng nghiệp là chủ yếu hướng tới việc định hướng chọn nghề trong tương lai của thanh niên, thì chưa đúng với
chức năng của hướng nghiệp Trong thực tế, “Hướng nghiệp là làm cho cá nhân nhận ra chân giá trị của nghề và tìm thấy hạnh phúc khi tận tâm cống hiến tinh thần và sức lực cho nghề đó” Hướng nghiệp là làm cho cá nhân lấy việc hành nghề
làm lẽ sống chứ không phải là phương tiện kiếm sống [19] Khi cá nhân hiểu được giá trị nghề để cống hiến thì những động cơ khác như chọn nghề vì dễ xin việc làm, thu nhập cao, nghề danh giá… sẽ không phải là cơ bản Do vậy, TVHN không chỉ mang lại giá trị kinh tế, mà sâu xa hơn, đó là những giá trị nhân văn vì sự phát triển bền vững của xã hội
Trong một dự thảo về khung giáo dục hướng nghiệp được đăng tải trên mạng
Internet [38], do Ths Nguyễn Ngọc Tài (Viện Nghiên cứu giáo dục làm chủ nhiệm) cũng đồng quan điểm khi nhận định rằng: Người được hướng nghiệp cũng phải biết
đến giá trị nghề, “Giá trị nghề sẽ có nguy cơ bị bôi bẩn hoặc có triển vọng được thăng hoa khi bản thân người hành nghề đã lấy nghề đó làm phương tiện để thực hiện mục đích gì, với động cơ gì” Mỗi người trước khi chọn nghề nào đó, ngoài
việc xác định nó phù hợp với ta không, để xét xem tương lai ta có triển vọng trong nghề đó không, còn phải tính đến việc ta đóng góp gì cho nghề đó và sự đóng góp của ta có vì xã hội không?
Nghiên cứu xu hướng nghề nghiệp của học sinh theo các chỉ số, tác giả Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: Mức độ nhận thức nghề nghiệp, thái độ đối với nghề
Trang 18nghiệp, tính ổn định của thái độ, tác giả đã chỉ ra đặc điểm chung trong xu hướng nghề nghiệp của học sinh THPT và một số vấn đề khác Tác giả còn cho biết nhận thức về nghề của học sinh biết đến chưa nhiều Hứng thú nghề nghiệp của học sinh hình thành chưa tập trung và chưa rõ nét [44]
Tác giả Chu Văn Thảo với công trình nghiên cứu “Giải pháp quản lý nhằm đẩy mạnh công tác TVHN cho học sinh tại các Trung tâm kĩ thuật tổng hợp – hướng nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh” đã nhấn mạnh rằng đa số học sinh trung học trước khi chọn nghề chưa hiểu hết ý nghĩa và tầm quan trọng của việc chọn nghề có cơ sở khoa học, các em chưa hiểu rõ về nghề nghiệp, chưa đánh giá đúng năng lực bản thân Sự hiểu biết về nghề của các em còn đơn giản, nghèo nàn so với thế giới nghề nghiệp
vô cùng phong phú, đa dạng, thiếu thông tin về thị trường lao động đã làm các em lúng túng, khó khăn khi chọn nghề Nhìn chung, nhận thức của học sinh về các lĩnh vực của nghề nghiệp còn rất chung chung, đặc biệt đối với nghề mình định chọn các
em cũng mơ hồ Các em rất cần được TVHN trong việc lựa chọn các hướng đi sau khi tốt nghiệp THPT [40]
Cũng đề cập đến ý nghĩa của việc chọn nghề, tác giả Phạm Văn Sơn đã nghiên cứu hoạt động giáo dục hướng nghiệp và TVHN trong nhà trường phổ thông, giúp học sinh cấp THPT biết định hướng, lựa chọn cho mình một nghề nghiệp tương lai phù hợp Trên cơ sở tự đánh giá bản thân, cách thức lựa chọn cho mình một nghề phù hợp, tác giả còn gợi ý cho học sinh cách tìm kiếm việc làm và
tự tạo việc làm sau khi tốt nghiệp THPT [36]
Hầu hết các công trình nghiên cứu trên đã nêu lên được thực trạng chọn nghề của học sinh THPT (lý do chọn nghề, động cơ chọn nghề, nguyện vọng chọn nghề, các nhân tố ảnh hưởng đến việc chọn nghề của học sinh, nhận thức về nghề nghiệp của học sinh), nêu lên được thực trạng TVHN trong nhà trường THPT hiện nay cùng với nhu cầu TVHN của học sinhTHPT Đồng thời, các công trình nghiên cứu này cũng tổng hợp được ý kiến của học sinh với mong muốn trong nhà trường có được ban chuyên trách về TVHN để giúp các em trong việc chọn nghề cho tương lai Kết quả của các công trình nghiên cứu trên sẽ là cơ sở cho các công trình nghiên cứu tiếp theo và cũng là cơ sở để giúp chúng tôi giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu
do đề tài đặt ra, đó là đưa ra được bức tranh thực trạng nhu cầu TVHN của học sinh
Trang 19THPT trên địa bàn huyện Ba Vì, để từ đó đề ra một số kiến nghị giúp hoạt động TVHN phát huy hiệu quả và đáp ứng được nhu cầu hiện nay của học sinh
1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản
1.2.1 Lý luận về nhu cầu
1.2.1.1 Khái niệm về nhu cầu
Giống như các thực thể sống khác, để tồn tại, phát triển con người cần có những điều kiện và phương tiện nhất định: phải có sự giao tiếp với thế giới bên ngoài, phương tiện để thoả mãn các nhu cầu của con người (thức ăn, cá thể khác giới, sách báo, giải trí, tranh luận, hoạt động, vật dụng tiêu thụ và lao động…)
Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu khách quan của mỗi con người trong những điều kiện nhất định cảm thấy cần được thoả mãn để tồn tại và phát triển Nhu cầu thúc đẩy con người tích cực hoạt động nhằm tạo nên những điều kiện, những phương tiện tương ứng để thoả mãn những đòi hỏi của mình Nếu nhu cầu của con người được thoả mãn đầy đủ sẽ tạo ra điều kiện cần thiết để làm cho nhân cách phát
triển toàn diện và làm phát triển toàn bộ xã hội
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về nhu cầu:
S Freud (1856 – 1939) cũng đã đề cập đến vấn đề nhu cầu của cơ thể trong “Lý thuyết bản năng của con người” Ông khẳng định, phân tâm học coi trọng nhu cầu tự
do cá nhân như các nhu cầu tự nhiên, đặc biệt là nhu cầu tình dục Việc thoả mãn nhu cầu tình dục sẽ giải phóng năng lượng tự nhiên, và như thế, tự do cá nhân thực sự được tôn trọng, kìm hãm nhu cầu này sẽ dẫn đến hành vi mất định hướng của con người
[47] Erich Fromm, nhà phân tâm học mới, quan niệm rằng: “Nhu cầu tạo ra cái tự nhiên của con người” [Dẫn theo 4] Dựa theo quan điểm của trường phái phân tâm học
trong TVHN cho thấy việc xuất hiện nhu cầu TVHN là tất yếu khi học sinh tham gia vào các hoạt động khác nhau ở nhà trường Nghiên cứu nhu cầu TVHN cần xác định rõ mức độ của nhu cầu này để tổ chức các hoạt động TVHN phù hợp giúp các em thỏa mãn nhu cầu và tự lựa chọn cho mình được ngành nghề phù hợp
X.L Rubinstein khẳng định rằng con người có nhu cầu sinh vật, nhưng bản chất của con người là sản phẩm của xã hội vì thế phải xem xét đồng thời các vấn đề cơ bản của con người với nhân cách Nói đến nhu cầu của con người nói đến việc đòi hỏi một cái gì đó hay một điều gì đó nằm ngoài con người trong quá trình hoạt động để thoả
Trang 20mãn nhu cầu Khả năng đáp ứng những đòi hỏi ấy một mặt phụ thuộc vào thế giới đối tượng trong những điều kiện cụ thể, mặt khác nó phụ thuộc vào sự nỗ lực, năng lực của chính chủ thể Do đó, khi nói đến nhu cầu sẽ xuất hiện hai hệ thống là: thế giới đối tượng và trạng thái tâm lý của chủ thể Tức là phải có mối quan hệ thống nhất giữa hai yếu tố khách quan (của đối tượng) và yếu tố chủ quan (của chủ thể) trong hoạt động thoả mãn nhu cầu Nhu cầu mang tính tích cực, thúc đẩy con người hoạt động tìm kiếm cách thức, phương tiện đối tượng thoả mãn nó [Dẫn theo 15]
A.N Leonchiev cho rằng: cũng như những đặc điểm tâm lý khác của con người, nhu cầu cũng có nguồn gốc trong hoạt động thực tiễn Theo ông, nhu cầu thực sự bao giờ cũng có tính đối tượng: nhu cầu bao giờ cũng là nhu cầu về một cái
gì đó Trong mối quan hệ giữa đối tượng thoả mãn nhu cầu và nhu cầu, ông cho rằng: đối tượng tồn tại một khách quan và không xuất hiện khi chủ thể mới chỉ có cảm giác thiếu hụt hay đòi hỏi Chỉ khi chủ thể thực sự hoạt động thì đối tượng thoả mãn nhu cầu mới xuất hiện và lộ diện ra Nhờ có sự lộ diện ấy mà nhu cầu mới có tính đối tượng của nó [25] Như vậy, dựa vào quan điểm của A.N.Leonchiev, muốn xuất hiện nhu cầu TVHN ở học sinh cần tổ chức các hoạt động TVHN đa dạng từ
đó HS mới tìm được đối tượng thỏa mãn nhu cầu này của mình
B.Ph Lomov khi nghiên cứu về nhân cách, ông cũng đề cập khá nhiều đến
nhu cầu Ông cho rằng nhu cầu như là một thuộc tính của nhân cách “Nhu cầu cá nhân là đòi hỏi nào đó của nó về những điều kiện và phương tiện nhất định cho việc tồn tại và phát triển Nhu cầu đó nhất thiết bắt nguồn từ những quá trình xảy
ra có tính khách quan trong đó cá nhân tham dự vào suốt cả đời sống của mình
Dĩ nhiên, nhu cầu là trạng thái của cá nhân, nhưng là nhu cầu về một cái gì đó nằm ngoài cá nhân” [26]
- Theo từ điển Tâm lý học (2000) giáo sư Vũ Dũng đã định nghĩa: “Nhu cầu
là một trạng thái của cá nhân được tạo ra do cá nhân đó thiếu những đối tượng cần
cho sự tồn tại và phát triển và là nguồn gốc hoạt động của cá nhân đó” [12]
- Theo tác giả Phạm Minh Hạc (2004) “Nhu cầu là một thuộc tính của nhân cách, biểu thị mối quan hệ tích cực của cá nhân với hoàn cảnh, là những đòi hỏi mà
cá nhân thấy cần phải được thỏa mãn trong điều kiện nhất định để có thể tồn tại và
phát triển” [15]
Trang 21Như vậy, nhu cầu là những đòi hỏi khách quan của mỗi người trong những điều kiện nhất định đảm bảo cho sự sống và sự phát triển của con người Và khác với nhu cầu mang tính bản năng của loài vật, nhu cầu của con người mang tính xã hội, ngay cả nhu cầu sinh học: ăn uống, sinh hoạt tình dục cũng được xã hội hoá Nhu cầu của con người thay đổi và phát triển theo sự phát triển của xã hội
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về nhu cầu, chúng tôi thống nhất sử dụng khái niệm của tác giả Nguyễn Quang Uẩn (1998) nêu ra trong giáo trình Tâm lý học
đại cương làm công cụ cho luận văn này: “Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thoả mãn để tồn tại và phát triển” [45]
1.2.1.2 Các mức độ của nhu cầu
Nhu cầu có thể tồn tại ở nhiều mức độ khác nhau X.L Rubinstein cho rằng, trên con đường chiếm lĩnh đối tượng luôn luôn có sự tham gia của ý thức ở những mức độ khác nhau Chính ý thức đó giúp cho nhu cầu ở con người khác hẳn với nhu cầu ở con vật Do vậy việc xem xét các mức độ khác nhau của nhu cầu sẽ thấy rõ nhu cầu với tư cách là hoạt động tâm lý thì còn mức độ ý thức của nhu cầu sẽ xác định những dạng cụ thể của nhu cầu [Dẫn theo 15]
- Ý hướng là giai đoạn đầu tiên, mức độ thấp nhất của nhu cầu Mặc dù trong
giai đoạn này, nhu cầu được phản ánh trong ý thức còn mù mờ, chưa rõ ràng Nhưng chính những tính chất của ý hướng cũng chứng minh được những phẩm chất đặc biệt của nó khác hẳn với nhu cầu ở động vật Bởi vì, ý hướng của con người, không thể tách rời thế giới trọn vẹn của nhân cách Ý hướng không tách rời cuộc sống của con người với tư cách là một thực thể xã hội Ý hướng được xem là bước đầu tiên xuất hiện nhu cầu khi mà nhu cầu chưa ý thức được đối tượng được thoả mãn Có nghĩa là, trong mức độ này của nhu cầu, chủ thể chưa ý thức về đối tượng thoả mãn nhu cầu (cũng như chưa phản ánh được phương thức, phương tiện thoả mãn nhu cầu đó) Khi đối tượng thoả mãn nhu cầu được chủ thể ý thức thì bản thân nhu cầu đó chuyển sang một giai đoạn mới, mức độ mới, đó là ý muốn
- Ý muốn là giai đoạn thứ hai của nhu cầu khi mà chủ thể đó nhận ra được đối
tượng cũng như mục đích của hoạt động thoả mãn nhu cầu Tuy nhiên, ở mức độ này chủ thể vẫn chưa tìm ra được phương pháp, phương tiện thoả mãn nhu cầu Lúc này, ý muốn có liên quan đến hoạt động rộng lớn (tính ước mơ, tính cảm xúc ) Một khi xuất
Trang 22hiện ý muốn như thế sẽ xuất hiện khuynh hướng mới cho phép chủ thể đi tìm con đường và phương tiện để thực hiện ý muốn này Như vậy, khi mà chủ thể đã xác định được đối tượng, tìm thấy được ý nghĩa của những hoạt động của mình sẽ tạo nên tính tích cực bên trong của chủ thể, thúc đẩy quá trình tìm kiếm phương thức để thoả mãn nhu cầu của mình Cho đến khi các con đường và phương tiện đó được tìm thấy thì ý muốn biểu hiện dưới dạng một khuynh hướng được nhận rõ hoàn toàn Theo mức độ nhận thức ấy, ý muốn sẽ chuyển sang một giai đoạn mới là ý định
- Ý định là giai đoạn cao của ý thức trong nhu cầu của con người, nghĩa là
bản thân chủ thể đó nhận thức rõ cả về mục đích và phương tiện thực hiện mục đích của hành động Chủ thể có khả năng nhận thức rõ sự sẵn sàng hành động theo một phương hướng xác định, đồng thời chủ thể cũng có khả năng nhận thức về những kết quả (và hậu quả do những hành động của mình mang lại) Ý định tự thân nó không chỉ là mục đích mà còn là hành động, hành động dẫn tới mục đích
Ba giai đoạn phát triển này của một nhu cầu cụ thể cho phép ta nhìn thấy cách vận hành của một nhu cầu cụ thể Tuy nhiên, bất cứ một nhu cầu nào ở con người sẽ khó mà được thỏa mãn nếu không thông qua các dạng hoạt động khác nhau Hay nói một cách khác là nhu cầu, với sức mạnh nội tại của nó, chỉ có thể được thực thi trong hoạt động
Quan điểm của X.L Rubinstein không những xác định rõ bản chất của nhu cầu
mà còn chỉ ra quá trình hình thành nhu cầu
Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi chọn cách phân chia nhu cầu thành ba mức độ của X.L Rubinstein: ý hướng, ý muốn và ý định để làm công cụ đánh giá mức độ tương ứng của nhu cầu TVHN của học sinh THPT
1.2.1.3 Đặc điểm về nhu cầu
- Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng cụ thể Người ta luôn có nhu cầu về
một cái gì đó, không có nhu cầu chung chung
+ Nội dung cụ thể của nhu cầu thường là một vật thể mà người ta đã cố gắng
để có được; hoặc một hoạt động nào đó mà con người muốn được thoả mãn (một
công việc, một buổi tham quan…)
+ Cá nhân nhận thức rõ ràng về nhu cầu và kèm theo nó là trạng thái cảm
xúc tiêu biểu (tính hấp dẫn của đối tượng liên quan đến một nhu cầu nhất định)
Trang 23+ Làm cho con người nảy sinh ý chí thúc đẩy, thoả mãn nhu cầu đó, thậm chí phải tìm kiếm cách thức để thoả mãn nhu cầu đó Vì vậy, nhu cầu là một trong
- Nhu cầu có tính chất chu kỳ Khi thoả mãn một nhu cầu nào đó không có
nghĩa nhu cầu ấy bị chấm dứt Nhu cầu của con người như đã trình bày luôn thay đổi và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội Tính chất chu kỳ này do tính chất chu kỳ của sự biến đổi của hoàn cảnh sống xung quanh và của trạng thái cơ thể gây
nên khi đó nhu cầu được tái hiện, củng cố và phát triển
- Nhu cầu của con người khác xa về chất so với nhu cầu của con vật Nhu cầu của con người mang bản chất xã hội Ở con người cũng tồn tại những nhu cầu
mang tính bản năng, nhưng đã được xã hội hóa, được chế ước bởi xã hội Một trong những sự khác biệt về chất giữa nhu cầu của con vật và nhu cầu của con người là sự khác biệt về điều kiện và phương thức thỏa mãn Ở con người, những yếu tố này ngày càng được nâng lên trình độ cao hơn, tốt hơn, văn minh hơn nhờ vào khả năng lao động sáng tạo Còn ở con vật, điều kiện và phương thức thỏa mãn về bản chất vẫn là thuần túy bản năng, nếu có sự thay đổi nhất định nào đó cũng do con người sáng tạo ra [45]
Như vậy, đối tượng, nội dung, tính chất chu kỳ của nhu cầu là do xã hội quy định Mức độ phát triển của nhu cầu do tính chất của sản xuất xã hội và phân phối sản phẩm quyết định Điều đó cũng giải thích mức độ phát triển nhu cầu khác nhau
ở những con người trong xã hội khác nhau, nền sản xuất khác nhau…
Trong quá trình nghiên cứu đề, chúng tôi đi sâu tìm hiểu các đặc điểm của nhu cầu để từ đó làm cơ sở cho đề tài xây dựng các đặc điểm của nhu cầu TVHN cho học sinh THPT Mặt khác muốn làm nảy sinh và biến nhu cầu đi TVHN của học sinh thành hành động thì cần phải giúp học sinh xác định được đối tượng cụ thể
Trang 24của nhu cầu ấy và các phương thức thỏa mãn nhu cầu Từ đó sẽ giúp học sinh chuyển được nhu cầu từ ý hướng sang ý định và biến thành hành động
1.2.1.4 Phân loại nhu cầu
Có nhiều tác giả khác nhau đưa ra các cách phân loại nhu cầu khác nhau [30]
- Erich Fromm, nhà phân tâm học mới đưa ra những nhu cầu:
+ Nhu cầu quan hệ người – người
+ Nhu cầu tồn tại “cái tâm” con người
+ Nhu cầu đồng nhất bản thân và xã hội với dân tộc, giai cấp, tôn giáo
+ Nhu cầu về sự bền vững và hài hoà
+ Nhu cầu nhận thức, nghiên cứu
- Theo nhà tâm lý học nhân văn A Maslow, thì nhu cầu của con người thành
5 nhóm nhu cầu cơ bản, chúng xuất hiện từ lúc sinh và trong quá trình phát triển nhân cách Từ đó ông đề ra tháp nhu cầu của con người như sau:
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ các loại nhu cầu của A Maslow
Nhu cầu sinh học: là các nhu cầu cơ bản của con người như không khí, nước,
lương thực, ngủ, quan hệ tình dục
Nhu cầu an toàn: cần có cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, việc làm, gia
đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo
Nhu cầu xã hội: vì mỗi cá nhân là một tế bào của xã hội, không tồn tại và
phát triển độc lập, bất cứ cá nhân nào cũng cần có những mối tương tác với xã hội, được giao lưu tình cảm
Nhu cầu được tôn trọng: đây là nhu cầu cần được quý trọng, kính mến và
được người khác tin tưởng
Trang 25Nhu cầu được tự thể hiện: con người muốn sáng tạo, được thể hiện khả năng,
thể hiện bản thân mình và được người khác công nhận
Sau đó, vào những năm 1970 và 1990, sự phân cấp này đã được các nhà tâm
lí học thuộc trường phái tâm lí học nhân văn hiệu chỉnh thành 7 bậc và cuối cùng là
8 bậc [30]: 1/Nhu cầu cơ bản, 2/Nhu cầu về an toàn, 3/Nhu cầu về xã hội, 4/Nhu cầu được quý trọng, 5/Nhu cầu được thể hiện mình, 6/Nhu cầu về nhận thức, 7/Nhu cầu
về thẩm mỹ, 8/Sự siêu nghiệm
Như vậy, chưa có cách phân chia nào chỉ rõ vị trí của nhu cầu TVHN, tuy nhiên chúng tôi quan niệm: nhu cầu TVHN có thể được phân loại là một loại nhu cầu tinh thần của con người Đây là một loại nhu cầu đặc biệt
1.2.2 Lý luận về tư vấn hướng nghiệp
1.2.2.1 Tư vấn
Tư vấn trong tiếng Anh là consultant (có nghĩa từ tiếng Latin: “consultare” bắt nguồn từ “consul” và “counsel”) [48] được nhiều tác giả trên thế giới và Việt
Nam quan tâm theo nhiều khía cạnh khác nhau
- Theo các chuyên gia hiệp hội tâm lý học Mỹ “Tư vấn tâm lý là quá trình giúp các cá nhân khắc phục những trở ngại tâm lý trong quá trình trưởng thành, khiến người ta phát triển một cách lí tưởng” [35]
- Tổ chức tư vấn thế giới định nghĩa như sau: “Tư vấn là một quá trình trợ giúp dựa trên các kĩ năng, trong đó một người dành thời gian, sự quan tâm và sử dụng thời gian một cách có mục đích để giúp đỡ thân chủ khai thác tình huống, xác định và triển khai các giải pháp khả thi trong thời gian cho phép” [35]
- Quan niệm của một số tác giả nước ngoài về tư vấn chỉ ra rằng người tư
vấn đóng vai trò như người chịu trách nhiệm tìm ra những giải pháp (R.Schein, 1969); hay thu thập thông tin, chẩn đoán vấn đề và đề xuất giải pháp (D.J.Kuroius
& J.C.Brukbaker, 1976) Theo Larry Greiner và Robert Metzger thì tư vấn là một dịch vụ cho lời khuyên theo hợp đồng, nhà tư vấn chịu trách nhiệm về chất lượng và
sự đúng đắn trong lời khuyên [dẫn theo 41]
- Hiệp hội Tham vấn Hoa Kì (1998) đã định nghĩa tư vấn là: “Mối quan hệ
giữa một người trợ giúp chuyên nghiệp và người, nhóm người hoặc một chỉnh thể
xã hội cần được giúp đỡ trong đó nhà tư vấn cung cấp sự giúp đỡ cho thân chủ trong việc xác định và giải quyết một vấn đề liên quan đến công việc hoặc người khác” [dẫn theo 14]
Trang 26- Ở Việt Nam, việc cung cấp thông tin, cho lời khuyên, trợ giúp những khó khăn tâm lí, chỉ bảo hay hướng dẫn… cho một cá nhân, hoặc một tổ chức, khi họ có nhu cầu thường gọi là tư vấn Thuật ngữ Tư vấn hay Tham vấn trong từ điển tiếng
Việt đều được dịch là Tư vấn Đó là sự “Đóng góp ý kiến về những vấn đề được hỏi đến, nhưng không có quyền quyết định” [14]
Nhìn chung, theo định nghĩa của các tác giả về tư vấn thì tư vấn chính là quá trình thu thập thông tin, chẩn đoán vấn đề thân chủ đang vướng mắc, sau đó bằng
những kỹ năng và kiến thức chuyên môn giúp thân chủ tìm ra hướng giải quyết tốt nhất
Từ những khái niệm trên, chúng tôi quan niệm: Tư vấn là quá trình trợ giúp của nhà tư vấn đối với thân chủ bằng cách sử dụng tối đa những kiến thức chuyên môn và kỹ năng mà nhà tư vấn có để giúp thân chủ giải quyết những vấn đề khó
khăn đang vướng mắc Tư vấn vừa phải có tính chuyên nghiệp, vừa phải có tính hệ thống
Như vậy, trong hoạt động tư vấn, chúng tôi nhận thấy:
- Tư vấn là một quá trình tương tác tích cực giữa người tư vấn và người được
tư vấn (đó là người có nhu cầu tư vấn)
- Người tư vấn là người có trình độ chuyên môn, có kinh nghiệm, được đào tạo chuyên nghiệp Người tư vấn có kiến thức, kỹ năng và các phẩm chất đạo đức phù hợp với hoạt động tư vấn
- Người được tư vấn là người đang gặp khó khăn về các vấn đề liên quan đến tâm lý hay các mối quan hệ xã hội mà không tự giải quyết được và có nhu cầu được giúp đỡ
- Kết quả của hoạt động tư vấn là người được tư vấn lớn mạnh về nhận thức
và tự giải quyết được vấn đề khó khăn của mình
Tư vấn là một quá trình, trong đó người tư vấn sẵn sàng chia sẻ năng lực chuyên môn của mình với người được tư vấn Khi họ tham gia vào quá trình tư vấn một cách tích cực, cả hai bên hợp tác thật sự thì sẽ đạt được mục tiêu của người có nhu cầu tư vấn
1.2.2.2 Hướng nghiệp
Thuật ngữ “Hướng nghiệp” được F.Parson đề xướng vào năm 1908 khi lần đầu tiên tổ chức tại Boston (Mỹ) một Hội đồng nghề nghiệp giúp đỡ việc chọn nghề cho người lao động” [20] Theo đó, hướng nghiệp được hiểu như một quá trình giúp cho cá nhân tìm hiểu nghề, đối chiếu với phẩm chất của mình rồi chọn lấy một nghề phù hợp
Trang 27- Tại Hội nghị lần thứ IX những người đứng đầu cơ quan giáo dục nghề
nghiệp các nước XHCN họp tại La Ha-ba-na (Cu-ba) vào tháng 10/1980 đã thống
nhất khái niệm: “Hướng nghiệp là hệ thống những biện pháp dựa trên cơ sở tâm lý học, sinh lý học, y học và nhiều khoa học khác để giúp đỡ học sinh chọn nghề phù hợp với nhu cầu xã hội, đồng thời thỏa mãn tối đa nguyện vọng thích hợp với những năng lực, sở trường và điều kiện tâm sinh lý cá nhân nhằm mục đích phân bổ hợp lý
và sử dụng có hiệu quả nhất lực lượng dự trữ có sẵn của đất nước” [34]
- Theo tác giả Phạm Tất Dong thì “Hướng nghiệp là một hệ thống tác động của xã hội về giáo dục, về y học, kinh tế học nhằm giúp thế hệ trẻ chọn được nghề phù hợp với hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của cá nhân, vừa đáp ứng nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân” [10]
- Theo K.K Platonop, “Hướng nghiệp là một hệ thống các biện pháp tâm lý
- giáo dục, y học, nhằm giúp cho con người đi vào cuộc sống thông qua việc lựa chọn cho mình một nghề nghiệp vừa đáp ứng nhu cầu xã hội, vừa phù hợp với hứng thú năng lực của bản thân Những biện pháp này sẽ tạo nên sự thống nhất giữa quyền lợi của xã hội với quyền lợi của cá nhân" [dẫn theo 21]
Từ định nghĩa trên, K.K Platonop đưa ra sơ đồ tam giác hướng nghiệp
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ tam giác hướng nghiệp và các hình thức hướng nghiệp
Nhu cầu nhân lực của thị trường lao động (2)
Định hướng nghề
Đặc điểm tâm lý và sinh lý
của cá nhân (3)
Trang 28Tam giác hướng nghiệp được tạo thành từ ba cạnh: (1) Đặc điểm, yêu cầu của các ngành/ nghề trong xã hội; (2) nhu cầu nhân lực của thị trường lao động; (3) đặc điểm tâm lý và sinh lý của cá nhân Sự kết hợp khác nhau của các cạnh tạo nên các hoạt động khác nhau trong hướng nghiệp [dẫn theo 3]
+ Hoạt động định hướng nghề, trong quá trình này giáo viên cung cấp cho học sinh những hiểu biết về thế giới nghề và đặc điểm, yêu cầu của những nghề học sinh định chọn Đồng thời giới thiệu những ngành nghề mà xã hội và địa phương đang có nhu cầu nhân lực hàng năm Từ đó, học sinh lựa chọn được những nghề để học và làm đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động
+ Hoạt động tư vấn nghề, thông qua các hoạt động học tập, hoạt động ngoại khóa, học nghề làm cho học sinh bộc lộ năng lực, sở trường, năng khiếu về một ngành nghề nào đó Và căn cứ vào yêu cầu của các ngành nghề trong xã hội để tìm
ra sự phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của cá nhân Sự phù hợp đó giúp cho học sinh có thể chọn nghề phù hợp với bản thân mình
+ Hoạt động tuyển chọn nghề, trong quá trình này, giáo viên cung cấp các thông tin về nhu cầu nhân lực của thị trường lao động và giúp học sinh tự nhận ra những hứng thú, năng lực về thể chất và tinh thần, tính cách phù hợp hợp với nghề
Sự phù hợp của hai “cạnh” này nhằm giải tỏa những lo lắng của học sinh khi chọn
một nghề nào đó khi học xong lại không xin được việc
Sự hợp nhất của ba hoạt động này giúp cho học sinh trong hoạt động hướng nghiệp có thể chọn được một nghề nào vừa phù hợp với khả năng và nghề đó đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động
Như vậy, từ việc phân tích những quan niệm ở trên, theo chúng tôi hướng
nghiệp được hiểu là: Một hệ thống các tác động mang tính sư phạm nhằm dẫn dắt thế
hệ trẻ đi vào thế giới nghề nghiệp, giúp các em chọn được nghề một cách hợp lý
Kết quả của hoạt động hướng nghiệp là làm thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi chọn nghề (chọn trường học) của đối tượng theo chiều hướng phù hợp giữa
sự lựa chọn của cá nhân với các yêu cầu của nghề được lựa chọn Qua đó đảm bảo lợi ích tối đa của cá nhân và xã hội, khai thác và sử dụng triệt để khả năng, tiềm năng và ưu thế của cá nhân trong việc hành nghề trong suốt cuộc đời và đảm bảo sự
Trang 29khai thác hợp lý nguồn nhân lực trong sự phát triển kinh tế của xã hội Ngoài việc hiểu công tác hướng nghiệp là chủ yếu hướng tới việc định hướng chọn nghề trong tương lai của thanh niên thì hướng nghiệp là làm cho cá nhân nhận ra giá trị của nghề và tìm thấy hạnh phúc khi tận tâm cống hiến tinh thần và sức lực cho nghề đó
1.2.2.3 Tư vấn hướng nghiệp
Tư vấn hướng nghiệp có mục đích là giúp học sinh lựa chọn được ngành, nghề phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của bản thân và nhu cầu nhân lực của thị trường lao động Để trợ giúp học sinh đạt được mục tiêu đó, thì hoạt động tư vấn phải bắt đầu từ người được tư vấn Người được tư vấn (học sinh) đến với nhà tư vấn
vì họ đang gặp khó khăn để lựa chọn một nghề Có thể họ chưa có hiểu biết gì về bản thân, về nghề nghiệp hay về thị trường lao động; hoặc họ có hiểu một chút nhưng chưa đúng và đầy đủ; hoặc là họ đang gặp mâu thuẫn giữa năng lực và hứng thú, giữa cái bản thân muốn nhưng gia đình không cho phép, giữa nghề họ hứng thú nhưng lại khó xin việc…Từ đó, có nhiều quan điểm khác nhau về TVHN cho học sinh từ các nhà tâm lý học trong và ngoài nước
- Theo F Parsons (1909), "Tư vấn hướng nghiệp là việc trợ giúp một cá nhân lựa chọn một nghề" Ông quan niệm công thức 3 phần như sau: "Thứ nhất, bạn phải có sự hiểu biết rõ ràng về bản thân bạn, năng khiếu, năng lực, hứng thú, khả năng xoay sở, những hạn chế và những phẩm chất khác Thứ 2, kiến thức về những yêu cầu, điều kiện thành công, thuận lợi hay không thuận lợi, cơ hội và những hoàn cảnh khác nhau trong công việc Thứ 3, lập luận sâu sắc về mối quan
hệ giữa những đặc điểm của hai nhóm trên trong thực tế" [dẫn theo 49]
Tiếp tục mở rộng công thức của F Parson, Edmund G.Williamson (1965) cho rằng TVHN là một quá trình gồm 6 bước: phân tích, tổng hợp, chẩn đoán, tiên lượng, tư vấn và theo dõi Cách tiếp cận của Williamson về tư vấn được biết đến là
tư vấn có chỉ dẫn (hay tư vấn có hướng dẫn, cho lời khuyên) Trong quá trình tư vấn, nhà tư vấn sử dụng trắc nghiệm tâm lý để đo những đặc điểm nhân cách (hứng thú, tài năng, trí tuệ)
- Theo tác giả K.K Platonop (2007) “Tư vấn nghề là hệ thống những hình thức y học và những hình thức tác động đa dạng khác nhằm phát hiện, nhằm khám phá những khả năng tinh thần và thể lực của học sinh trong lựa chọn nghề” [dẫn theo 29]
Trang 30Một số tác giả Việt Nam đồng ý với quan niệm của F.Parson và K.Platonop khi cho rằng, trong hoạt động TVHN phải chú ý đến ba yếu tố đó là đặc điểm nghề, đặc điểm tâm lý cá nhân và nhu cầu nhân lực của thị trường lao động Trong quá trình tư vấn, nhấn mạnh đến vai trò chỉ dẫn, trọng tâm của nhà tư vấn Chẳng hạn
như Phạm Tất Dong (2000) chỉ ra: “TVHN là hệ thống những biện pháp tâm lý – giáo dục nhằm đánh giá toàn bộ năng lực thể chất và trí tuệ của thanh thiếu niên, đối chiếu các năng lực đó với những yêu cầu do nghề đặt ra đối với người lao động,
có cân nhắc đến nhu cầu nhân lực của địa phương và xã hội, trên cơ sở đó có những lời khuyên về nghề có căn cứ khoa học, loại bỏ những trường hợp may rủi, thiếu chín chắn trong khi chọn nghề [9]
Như vậy, từ tất cả các định nghĩa về TVHN được nêu ở trên, chúng tôi quan
niệm rằng: TVHN là một hoạt động nhằm giúp cho các cá nhân nâng cao nhận thức
về đặc điểm nghề, nhu cầu xã hội đối với nghề và hiểu biết về đặc điểm tâm lý bản thân để lựa chọn nghề phù hợp
Trong quan niệm này, TVHN có những đặc điểm cụ thể sau:
+ Mục đích của TVHN là giúp cá nhân nâng cao nhận thức để tự chọn được
nghề phù hợp nhất với bản thân
+ Giữa người tư vấn và người được TVHN có mối quan hệ tương tác, tin cậy + Nội dung tâm lý của hoạt động tư vấn: Nâng cao nhận thức về đặc điểm nghề, nhu cầu xã hội đối với nghề và hiểu biết đặc điểm tâm lý bản thân để lựa chọn nghề phù hợp
1.2.2.4 Nhu cầu tư vấn hướng nghiệp
Trong quá trình rèn luyện ở nhà trường THPT ý thức chọn nghề của học sinh THPT có một ý nghĩa nghiêm túc, trực tiếp, và cấp bách thúc đẩy các em học tập Chính ý thức này sẽ làm nảy sinh ở học sinh nhu cầu cần được TVHN để các em có
cơ sở khoa học cho việc chọn cho mình một nghề phù hợp trong tương lai
Nếu nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu của sự tồn tại và phát triển của con người nói chung thì nhu cầu TVHN là nhu cầu thiết yếu đối với mỗi cá nhân khi đứng trước quyết định chọn cho mình một nghề phù hợp và hoạt động tốt ở lĩnh vực nghề đó
Trang 31Nhu cầu TVHN thuộc nhu cầu về nhận thức của con người , như vậy nhu cầu này sẽ có đầy đủ các đặc điểm chung của một nhu cầu nhận thức nói chung, đồng thời có thêm những đặc điểm riêng của TVHN Từ cơ sở lý luận về nhu cầu nói
chung, nhu cầu nhận thức nói riêng, chúng tôi cho rằng “Nhu cầu TVHN là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thoả mãn nhằm giúp cho các cá nhân nâng cao nhận thức về đặc điểm nghề, nhu cầu xã hội đối với nghề và hiểu biết về đặc điểm tâm lý bản thân để lựa chọn nghề phù hợp.”
Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài, khách thể chúng tôi nghiên cứu là học
sinh THPT Vậy có thể hiểu “Nhu cầu TVHN của học sinh THPT là sự đòi hỏi tất yếu mà học sinh thấy cần được thoả mãn nhằm nâng cao nhận thức về đặc điểm nghề, nhu cầu xã hội đối với nghề và hiểu biết về đặc điểm tâm lý bản thân để lựa chọn nghề phù hợp, để từ đó góp phần hình thành phát triển nhân cách nghề nghiệp
ở lứa tuổi này.”
Nhu cầu TVHN với tư cách là nhu cầu nhận thức, ngoài những đặc điểm của nhu cầu nói chung, có những đặc điểm riêng Cụ thể là:
+ Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng: Đối tượng của nhu cầu TVHN của
chính là những tri thức về nghề nghiệp học sinh định chọn trong tương lai mà học sinh muốn có khi tham gia hoạt động TVHN Nói một cách cụ thể, đó chính là nhận thức đúng đắn của học sinh về thế giới nghề nghiệp, về những đặc điểm tâm sinh lý của bản thân, về những điều kiện riêng của bản thân, cũng như về nhu cầu của thị trường lao động Từ sự nhận thức đó sẽ giúp học sinh tạo lập được kĩ năng tìm kiếm
và chọn lọc thông tin cần thiết, kĩ năng phân tích, đánh giá và tự đánh giá bản thân trong mối tương quan với nghề nghiệp mà các em định chọn Để có được sự nhận thức đúng đắn đó, các em cần đến sự hỗ trợ của những người làm công tác TVHN
+ Điều kiện và phương thức để thỏa mãn nhu cầu TVHN: Bản thân hoạt
động TVHN phải được tổ chức dưới nhiều hình thức tư vấn đa dạng, phong phú và nội dung tư vấn phải đầy đủ, sâu và rộng, giải quyết được những băn khoăn, thắc mắc của các em Thông qua các hoạt động TVHN nhằm giúp các em khám phá hứng thú, năng lực bản thân, xây dựng kế hoạch nghề nghiệp, rèn luyện cho mình những kĩ năng tương ứng với nghề nghiệp tương lai
Trang 32+ Nhu cầu TVHN cũng mang tính chu kỳ, có nghĩa là nhu cầu này chỉ được
hình thành và củng cố trong điều kiện được thỏa mãn một cách có hệ thống Nói một cách khác, nhu cầu này được thể hiện ở các mức độ khác nhau theo các khối học khác nhau của học sinh và đòi hỏi sự thỏa mãn ngày một cao hơn Nhu cầu TVHN được củng cố tốt khi mà học sinh có ý thức về ý nghĩa xã hội của nó, đồng thời con người ý thức được ý nghĩa của nó đối với bản thân, muốn vậy cần phải có
sự hỗ trợ thêm của giáo dục và dư luận tập thể Ở mức độ cao nhất để thỏa mãn nhu cầu, học sinh sẽ chủ động tìm kiếm thông tin và tham gia các hoạt động TVHN để
tự tin ra quyết định chọn lựa nghề nghiệp tương lai
+ Nhu cầu TVHN mang bản chất lịch sử - xã hội bởi nó gắn liền với sự phát
triển của xã hội Sự phát triển của xã hội đã đẩy nhanh quá trình mở rộng hệ thống ngành nghề cùng với những yêu cầu ngày càng cao đối với người lao động đã làm cho đối tượng của nhu cầu TVHN ngày càng phong phú hơn và phương thức để thỏa mãn nhu cầu cũng ngày càng đa dạng hơn
1.2.3 Vài nét về đặc điểm tâm lý của học sinh trung học phổ thông trong
tư vấn hướng nghiệp
Học sinh THPT là những người hiện đang theo học tại các trường THPT, theo chương trình quy định của Bộ giáo dục và đào tạo, có độ tuổi từ 16 đến 18 tuổi
Theo các tác giả của hướng nghiên cứu về đặc điểm nhân cách cá nhân phù hợp với nghề, trong hoạt động TVHN học sinh phải tìm hiểu, đánh giá đúng các đặc điểm nhân cách của bản thân như: xu hướng nghề nghiệp (bao gồm nguyện vọng, hứng thú, động cơ), năng lực (khả năng), tính cách phù hợp nghề Người học sinh phải có nhận thức về thế giới nghề nghiệp, về nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nhu cầu nhân lực của các ngành nghề trong xã hội, từ đó xác định sự phù hợp nghề [1, 6] Do vậy, xét trong hoạt động TVHN cho học sinh THPT, chúng tôi quan tâm đến một số biểu hiện tâm lý của học sinh như: Nhận thức về thế giới nghề nghiệp và đặc điểm, yêu cầu nghề; hiểu biết về nhu cầu nhân lực của các nghề trong
xã hội; hiểu biết tâm lý bản thân: xu hướng, năng lực, tính cách phù hợp với nghề
1.2.3.1 Nhận thức về nghề của học sinh trung học phổ thông
Theo tác giả E.A.Klimov thì: “Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức lao động vật chất và tinh thần của con người một cách có giới hạn, cần thiết cho xã hội
Trang 33(do sự phân công lao động xã hội mà có), nó tạo cho con người khả năng sử dụng lao động của mình để thu lấy những phương tiện cần thiết cho việc tồn tại và phát triển” Bất cứ nghề nào cũng hàm chứa trong nó một hệ thống giá trị: tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo, truyền thông, hiệu quả do nghề mang lại Hoạt động trong bất kỳ nghề nào, mỗi cá nhân phải tiêu tốn một lượng vật chất (thể xác) và tinh thần (tâm lý)
nhất định [24]
Nhận thức nghề là quá trình phản ánh các đặc trưng cơ bản của nghề, những biểu hiện định giá của xã hội trong những điều kiện phát triển kinh tế - xã hội cụ thể với giá trị của nghề và những đặc điểm phát triển tâm lý, sinh lý của những con người làm việc trong nghề đó [21] Nhận thức về nghề còn bao gồm một sự hiểu biết về công việc, yêu cầu nghề và trình độ giáo dục và đào tạo để đáp ứng những yêu cầu nghề đó Những hiểu biết này có thể từ những thông tin được công bố, thông tin từ internet, thông tin nghe nhìn, kinh nghiệm cá nhân, thực hành, thực tập
và kinh nghiệm làm việc
1.2.3.2 Hiểu biết thị trường lao động với nghề của học sinh trung học phổ thông
Học sinh có hiểu biết rõ chiến lược phát triển kinh tế xã hội của cả nước và địa phương để từ đó biết được số lượng nguồn nhân lực cần đào tạo cho nhu cầu trong nước và cho xuất khẩu Bên cạnh đó còn nhận thức được nhu cầu việc làm ở địa bàn khác nhau và với các nghề khác nhau trong hiện tại và tương lai Ngoài ra, học sinh còn thấy được những đòi hỏi ở nhà tuyển dụng về trình độ chuyên môn, năng lực, thái độ đạo đức ở người lao động Những thông tin này giúp cho học sinh soi dọi vào nghề mình định chọn có khả năng xin việc làm sau khi học nghề xong hay không, những thông tin này học sinh biết được qua phương tiện thông tin đại chúng hay thông qua sự trợ giúp của người TVHN
1.2.3.3 Hiểu biết về tâm lý bản thân phù hợp với nghề của học sinh trung học phổ thông
Một số đặc điểm tâm lý bản thân xét trong sự phù hợp nghề trong hoạt động TVHN được xem xét ở một số đặc điểm nhân nhân cách như: xu hướng, năng lực,
tính cách cá nhân phù hợp với nghề
Trang 34- Xu hướng nghề của học sinh Đứng trước thế giới nghề nghiệp vô cùng
phong phú, các em có thể hướng hoạt động của mình vào một nghề và thúc đẩy hoạt
động nhằm từng bước thực hiện nghề đó Theo Rubinstein, “Vấn đề xu hướng trước hết trả lời câu hỏi về khuynh hướng thúc đẩy như là động cơ quy định hoạt động của con người” [16] Việc hướng hoạt động của mình vào nghề gì, điều đó phụ
thuộc chủ yếu vào trình độ phát triển nhận thức và tình cảm đối với nghề đó Xu hướng nghề có thể thay đổi và điều chỉnh phụ thuộc vào trình độ nhận thức của học sinh và hiệu quả của TVHN Xu hướng nghề tập trung ở động cơ chọn nghề và hứng thú với nghề
+ Động cơ chọn nghề Động cơ là cái thúc đẩy hành động, gắn liền với việc
thỏa mãn những nhu cầu của chủ thể, là toàn bộ những điều kiện bên trong và bên ngoài có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể và xác định tính xu hướng của
nó [12, tr182] Động cơ chọn nghề là trả lời câu hỏi bạn sẽ làm nghề gì? Vì sao bạn chọn nghề đó? Mỗi người chọn nghề có hệ thống động cơ riêng và có động cơ giữ vai trò chủ đạo, chi phối các động cơ khác Vai trò của các động cơ trong hệ thống thay đổi tùy thuộc vào điều kiện sống cụ thể cũng như vào các hoạt động sống cụ thể của mỗi người Do vậy, mỗi học sinh chọn nghề sẽ có động cơ riêng Một động
cơ có khả năng thúc đẩy con người hành động để thỏa mãn động cơ đó, về mặt chủ quan, bao giờ cũng gắn với trải nghiệm cảm xúc dương tính của chủ thể Được làm việc đúng với mong muốn, nguyện vọng chính đáng, sẽ tạo động lực cho cá nhân thành công trong công việc
+ Hứng thú là sự mong muốn nhận thức một sự vật, một hiện tượng hoặc
một lĩnh vực hoạt động mà cá nhân thấy hấp dẫn và bị lôi cuốn vào đó [2] Hứng thú nghề là thái độ có lựa chọn của học sinh đối với một số dạng hoạt động lao động nhất định, một số nghề nhất định mà mình cảm thấy hấp dẫn và tập trung vào dạng lao động ấy, nghề ấy Có nhiều người, khi còn nhỏ đã cảm thấy bị hấp dẫn bởi một vài nghề nào đó do có ấn tượng tốt với một số đặc điểm của nghề đó Họ quan tâm đến nghề, tìm hiểu về nó nhiều hơn, tìm cách va chạm với nó, qua đó hứng thú có thể được củng cố và phát triển nhưng cũng có thế hứng thú sẽ mất đi Hứng thú có thể biểu hiện đối với một số hoặc nhiều lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp Hứng thú với môn học thường có mối liên hệ chặt chẽ với việc chọn nghề
Trang 35- Năng lực nghề nghiệp là những thuộc tính tâm lý giúp cho con người lĩnh
hội kiến thức nghề một cách nhanh chóng và rất thành công trong quá trình hành nghề [1] Bất kỳ một hoạt động nào cũng đều đòi hỏi phải có một tập hợp những năng lực nhất định Khi học sinh được TVHN, các em sẽ tự phát hiện ra mình có khả năng trong một lĩnh vực nào đó Năng lực chỉ được hình thành thông qua hoạt động học tập, lao động và trong quá trình làm việc, năng lực tiếp tục phát triển và thể hiện
- Tính cách của học sinh có phù hợp với nghề, tính cách bao gồm những nét
riêng biệt của cá nhân đảm bảo cho họ khi thực hành nghề có hiệu quả Ví dụ, những người có tính kiên trì, cẩn thận có thể làm nghề kế toán Tuy nhiên, những nét tính cách có thể được điều chỉnh cho phù hợp với nghề nếu cá nhân đó có đam
mê cháy bỏng và có năng lực thực sự với nghề
- Một số khó khăn liên quan đến lựa chọn nghề đó là: sự thay đổi của thị
trường lao động và đặc điểm cá nhân, nhiều thanh thiếu niên gặp khó khăn khi quyết định hoặc đặt niềm tin ở sự trợ giúp của nhà tâm lý để khám phá nghề và lựa chọn nghề Một số học sinh cũng gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin về nghề
và thế giới nghề, trong việc tìm hiểu bản thân, nhu cầu nhân lực của thị trường lao động Ngay trong học sinh có sự mâu thuẫn giữa nghề học sinh thích (hứng thú) với khả năng (năng lực) thực tế của các em Hay giữa nghề học sinh thích với tính cách của học sinh hoặc giữa cái học sinh thích, có khả năng và phù hợp với tính cách nhưng điều kiện sức khỏe lại không cho phép… Những điều này làm cho học sinh không biết quyết định chọn nghề của mình là có đúng đắn không và những mâu thuẫn đó có thể hóa giải được không Khi gặp khó khăn này, các em luôn nảy sinh
ra nhu cầu được trợ giúp kịp thời về những định hướng nghề nghiệp điều đó sẽ là động lực để các em cố gắng trong học tập và cũng như khi chọn một nghề nào đó để làm
Những khó khăn khác liên quan đến khó khăn trong việc quyết định chọn nghề, học sinh nhiều khi phải đấu tranh giữa cái mình thích với mong muốn của người lớn trong gia đình hay hoàn cảnh gia đình Sự mâu thuẫn không được giải quyết, buộc học sinh phải tự chọn hoặc chọn nghề theo ý người lớn Dù theo khía cạnh nào cũng làm cho học sinh bất an khi chọn nghề Hơn thế nữa, khi quyết định
Trang 36chọn một nghề nào đó, điều học sinh và gia đình các em lo lắng nhất là nghề đó có xin được việc khi ra trường hay không Do đó, có mâu thuẫn giữa nghề học sinh cho rằng phù hợp với bản thân nhưng lại sợ khó xin việc khi ra trường Những điều lo lắng trước khó khăn này sẽ trở thành nhu cầu, mong muốn có sự trợ giúp của nhân viên tư vấn, nhờ đó học sinh sẽ biết được nghề mình chọn có tương lai như thế nào trong xã hội đang phát triển
1.2.4 Các nội dung cơ bản về nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của học sinh trung học phổ thông
Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, quan điểm tiếp cận nghiên cứu nhu cầu TVHN của các tác giả trên thế giới và Việt Nam, chúng tôi nhận thấy rằng lý thuyết
về mô hình “Tam giác hướng nghiệp” của K.K Platonop rất có giá trị và phù hợp
trong bối cảnh xã hội Việt Nam khi hoạt động TVHN chưa chuyên nghiệp và hiện đại Vì vậy, trong phần này, đề tài tập trung tìm hiểu những nội dung cơ bản về nhu
cầu TVHN từ góc độ tâm lý học bao gồm: Nhu cầu nâng cao nhận thức về nghề của học sinh THPT; Nhu cầu nâng hiểu biết thị trường lao động với nghề của học sinh THPT; Nhu cầu nâng cao hiểu biết về tâm lý bản thân phù hợp với nghề lựa chọn của học sinh THPT
1.2.4.1 Nhu cầu nâng cao nhận thức về nghề của học sinh trung học phổ thông
Theo tác giả Lê Đức Phúc (1989), nhu cầu nâng cao nhận thức về nghề của học sinh THPT được thể hiện ở các khía cạnh như: (1) Nhu cầu nâng cao nhận thức
về các ngành nghề trong xã hội và địa phương trong điều kiện, khả năng hiện nay; (2) Nhu cầu nâng cao nhận thức về đặc điểm của nghề hoặc một số nghề sẽ chọn (đặc điểm của nghề, nhiệm vụ công việc cụ thể của những người làm nghề này; sản phẩm chủ yếu của nghề; những nơi làm việc của nghề ); (3) Nhu cầu nâng cao nhận thức về những yêu cầu của nghề: về trình độ chuyên môn, về sức khỏe, đặc điểm tâm lý [10] Trên cơ sở đó, học sinh nhận thức nghề mình định chọn và lựa chọn được nghề phù hợp
Những tiêu chí thể hiện nội dung này cụ thể như [10]:
- Học sinh có nhu cầu tìm hiểu những thông tin về hệ thống các ngành nghề trong xã hội
Trang 37- Học sinh có nhu cầu tìm hiểu những thông tin về đặc điểm của nghề gồm: đối tượng lao động, mục đích lao động, công cụ lao động, điều kiện lao động, sản phẩm lao động
- Học sinh có nhu cầu tìm hiểu thông tin về giá trị xã hội của nghề
- Học sinh có nhu cầu tìm hiểu những thông tin về nơi làm việc của các ngành nghề trong xã hội và ngành nghề định lựa chọn
- Học sinh có nhu cầu tìm hiểu những thông tin về yêu cầu sinh lý – y tế: Chiều cao, cân nặng, khả năng chịu đựng tiếng ồn, sức bền bỉ dẻo dai, nhanh nhạy của các giác quan hoặc khuyết tật như cận thị, viễn thị…
- Học sinh có nhu cầu tìm hiểu những thông tin về yêu cầu năng lực chung: Chú ý, trí nhớ, tư duy, ngôn ngữ và năng lực chuyên biệt như mắt tinh, tai thính, ước lượng khoảng cách bằng mắt…
- Học sinh có nhu cầu tìm hiểu những thông tin về yêu cầu kỹ xảo vận động,
kỹ xảo trí tuệ, kỹ năng giao tiếp, cảm giác-vận động, sự phối hợp thành thục các động tác…
- Học sinh có nhu cầu tìm hiểu những thông tin về yêu cầu nhân cách của người lao động như: Hứng thú, tính cách, năng lực nghề nghiệp…
- Học sinh có nhu cầu tìm hiểu những thông tin về thách thức và triển vọng đối với nghề học sinh định lựa chọn
- Học sinh có nhu cầu tìm hiểu những thông tin về hệ thống trường, lớp đào tạo ở các bậc đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiêp, trường nghề ở địa phương
và cả nước Các thông tin tên trường, địa điểm, trình độ tuyển sinh, thời gian học, chỉ tiêu tuyển sinh, các ngành nghề đào tạo
Xác định nhu cầu nhận thức nghề là khâu quan trọng trong quá trình hướng nghiệp, nếu mỗi cá nhân học sinh có nhận thức về nghề ở mức độ thấp hoặc sai sót
sẽ dẫn đến việc cá nhân rất khó khăn trong việc lựa chọn được nghề phù hợp với bản thân Chính vì vậy trong đề tài chúng tôi đưa ra các nội dung cụ thể này để điều tra về mức độ mong muốn của các em về nội dung muốn được tìm hiểu khi đi TVHN để từ đó làm sáng rõ hơn về nhu cầu TVHN của học sinh THPT
Trang 381.2.4.2 Nhu cầu nâng cao hiểu biết thị trường lao động của học sinh trung học phổ thông
Theo tác giả Nguyễn Hữu Dũng: “Thị trường lao động là nơi diễn ra sự trao đổi theo nguyên tắc thỏa thuận về các quan hệ lao động (việc làm, tiền công và các điều kiện làm việc khác) giữa người lao động (phía cung lao động) và người sử
dụng lao động (phía cầu lao động) dưới hình thức hợp đồng lao động” [11, tr12]
Như vậy nhu cầu nâng cao hiểu biết thị trường lao động của học sinh THPT nhận thức đúng và chính xác những thông tin về thị trường lao động, để từ đó học sinh có thể tự lựa chọn một nghề phù hợp với thị trường lao động Những tiêu chí
thể hiện nội dung này cụ thể như:
- Học sinh có nhu cầu nhận thức mục tiêu chung của đất nước về kinh tế, xã hội,
khoa học trong thời gian tới và mục tiêu kinh tế xã hội của từng vùng và địa phương
- Học sinh có nhu cầu tìm hiểu những thông tin về nhân lực của địa phương,
của vùng miền, của đất nước và từng ngành kinh tế trong xã hội
- Học sinh có nhu cầu tìm hiểu về nghề định chọn có đáp ứng được nhu cầu
hiện tại và tương lai của xã hội
- Học sinh có nhu cầu tìm hiểu yêu cầu xã hội đang cần những nghề gì, số lượng bao nhiêu
- Học sinh có nhu cầu tìm hiểu về nhân lực của các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, sản xuất các mặt hàng đạt tiêu chuẩn quốc tế và tham gia thị trường lao động quốc tế, nhất là những ngành,
sản phẩm mà Việt Nam có ưu thế và khả năng cạnh tranh
- Học sinh có nhu cầu tìm hiểu những thông tin về yêu cầu của xã hội (yêu cầu của nhà tuyển dụng) về thể lực, sự hiểu biết và kiến thức nghề nghiệp, kỹ năng nghề nghiệp, thái độ, tác phong và thói quen làm việc, khả năng thích ứng, sức sáng
tạo và những yêu cầu đặc biệt của nhà tuyển dụng đối với nghề
- Học sinh có nhu cầu tìm hiểu các cơ hội và thách thức của nghề đặt ra đối
với người lao động trong hoạt động nghề nghiệp
Cụ thể trong luận văn này, chúng tôi tập trung làm rõ nhu cầu TVHN của học sinh ở mức độ mong muốn được cung cấp các thông tin cụ thể về từng nội dung
hiểu biết về thị trường lao động nói trên