Phát động, khuyến khích giáo viên GV xây dựng ngân hàng câu hỏi trực tuyến, triển khai hệ thống thi trực tuyến các môn phục vụ học sinh HS và GV.” Do đó, việc đổi mới phương pháp dạy và
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
tiếp của PGS TS Võ Trung Hùng
công trình, thời gian, địa điểm công bố
hoàn toàn trách nhiệm
Tác giả
Trang 4
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu 2
2.2.Nhiệm vụ 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
4.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 3
4.2 Phương pháp thực nghiệm 3
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
6 Bố cục luận văn 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TRẮC NGHIỆM 5
1.1 TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN 5
1.1.1 Giới thiệu 5
1.1.2 Câu hỏi và đề thi trắc nghiệm 9
1.1.3 Xây dựng đề thi và đánh giá 14
1.1.4 Ứng dụng thi trắc nghiệm ở Việt Nam 17
1.2 MỘT SỐ HỆ THỐNG THI TRẮC NGHIỆM TRỰC TUYẾN 18
1.2.1 Kho thư viện trực tuyến Violet.vn 18
1.2.2 Kho dữ liệu đề thi trắc nghiệm vật lý 20
1.2.3 Website học trực tuyến Hocmai.vn 21
Trang 51.2.4 Nhận xét chung 23
1.3 MỘT SỐ CÔNG CỤ TẠO ĐỀ THI TRẮC NGHIỆM 24
1.3.1 Phần mềm trắc nghiệm Test Professional Version 7.0 - 2016 24
1.3.2 Phần mềm ExamGen 25
1.3.3 Phần mềm trắc nghiệm KENTEST 26
1.3.4 Phần mềm trắc nghiệm ECOEXAM 27
1.3.5 Phần mềm McMIX 28
1.3.6 Đánh giá các công cụ phần mềm 29
1.4 KẾT LUẬN 30
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH VÀ THIẾT KẾ HỆ THỐNG 31
2.1 MÔ TẢ BÀI TOÁN 31
2.1.1 Tổ chức thi tại trường THPT Trần Hưng Đạo 31
2.1.2 Yêu cầu phi chức năng 32
2.2 THIẾT KẾ HỆ THỐNG 32
2.2.1 Thiết kế hệ thống 32
2.2.2 Mô tả Actor và đặc tả Use Case của hệ thống 32
2.2.3 Biểu đồ hoạt động 42
2.2.4 Cơ sở dữ liệu 44
2.3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TRIỂN KHAI 49
2.4 KẾT LUẬN 49
CHƯƠNG 3: CÀI ĐẶT VÀ THỬ NGHIỆM 50
3.1 CÀI ĐẶT HỆ THỐNG 50
3.1.1 Môi trường cài đặt 50
3.1.2 Phát triển mô - đun quản lý ngân hàng câu hỏi 50
3.1.3 Phát triển mô - đun quản lý đề thi 51
3.1.4 Phát triển mô - đun quản lý ca thi 52
3.1.5 Phát triển mô - đun quản lý thi của HS 52
Trang 63.2 THỬ NGHIỆM CHO MÔN TIN HỌC 12 53
3.2.1 Quy trình thử nghiệm 53
3.2.2 Xây dựng ứng dụng 55
3.3 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 57
3.4 KẾT LUẬN 58
KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
Trang 7HỆ THỐNG HỖ TRỢ HỌC SINH THI TRẮC NGHIỆM BẬC THPT
Học viên: Hoàng Thị Tình
Mã số:………….Khóa: 35
Chuyên ngành: Khoa học máy tính Trường Đại học Bách Khoa - ĐHĐN
Tóm tắt - Đổi mới phương pháp dạy và học, đổi mới hình thức thi, phương pháp
kiểm tra – đánh giá là một việc làm cấp thiết Trắc nghiệm khách quan là một hình thức thi mang lại nhiều hiệu quả Hiện nay, những kho dữ liệu đề thi TNKQ hiện có rất đa dạng
và phong phú Điều quan trọng là làm thế nào chúng ta có thể khai thác và tận dụng được những kết quả thi của học sinh Kết quả thi một mặt đánh giá được quá trình dạy và học mặt khác phải cung cấp những thông tin phản hồi để học sinh thấy được mình tiến bộ đến đâu, biết mình làm chủ được kiến thức, kỹ năng nào và phần nào còn yếu kém, còn thiếu sót…qua đó điều chỉnh lại quá trình học Hơn nữa, giáo viên có thể điều chỉnh lại phương pháp ra đề, đặt câu hỏi nhằm đánh giá học sinh một cách chính xác hơn Do đó, trong luận văn này tôi nghiên cứu về hệ thống hỗ trợ học sinh thi trắc nghiệm bậc THPT Nội dung nghiên cứu gồm: (1) Tổng quan về trắc nghiệm (2) Phân tích và thiết kế hệ thống (3) Cài đặt và thử nghiệm Từ đó so sánh kết quả thu được sau khi thực hiện phương pháp thi trắc nghiệm thông thường và sử dụng hệ thống hỗ trợ thi trắc nghiệm đã mang lại kết quả khả quan
Từ khóa: Trắc nghiệm khách quan, hỗ trợ, trắc nghiệm
SUPPORT SYSTEM STUDENT EXAMINATION HIGH SCHOOL EXAMINATION
Innovating teaching - learning methods, exam forms and testing - evaluating methods is a vital step Objective testing is a form of examination that brings many benefits Nowadays, the data warehouse of objective testing exam is very rich and diverse The important thing is how we can exploit and take advantage of students’ test results Exam results are not only assessing the teaching and learning process but also providing feedback so that students can know how much they have progressed, what skills and knowledge they have mastered and which parts are weak and inadequate, etc… Through those things, students will adjust their learning process Moreover, teachers can adjust the methods of giving test questions to assess students more accurately Therefore, in this thesis, I will study the system of supporting students to take objective exam at high school The contents of the study include (1) Overview of testing (2) Analysis and system design (3) Installation and testing From that, I will compare the results attacked after the implementation of the conventional test method and using the test support system how has
attained positive results
Keywords: Objective testing, support, testing
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
1.2 So sánh kiểm tra TNKQ và tự luận 16 1.3 Tiêu chí đánh giá các kho dữ liệu đề mở 23 1.4 Các tiêu chí đánh giá khả năng các công cụ phần mềm 29 2.1 Danh sách các Use Case của hệ thống 35
Trang 101.4 Giao diện thi trắc nghiệm trực tuyến 19 1.5 Giao diện kết quả thi trắc nghiệm trực tuyến 19 1.6 Giao diện trang chủ Tracnghiem.thuvienvatly.com 20 1.7 Giao diện tham gia kiểm tra thử 20
1.9 Giao diện khung ma trận một đề thi 22 1.10 Giao diện tham gia thi trực tuyến 22 1.11 Giao diện phần mềm Test Professional 2016 24 1.12 Giao diện chương trình ExamGen 26
2.2 Use case tổng quát của hệ thống 33 2.3 Biểu đồ hoạt động của chức năng quản lý ngân hàng câu hỏi 42 2.4 Biểu đồ hoạt động của chức năng quản lý ca thi và đề thi 42 2.5 Biểu đồ hoạt động của chức năng quản lý hoạt động thi 43 2.6 Sơ đồ cơ sở dữ liệu của hệ thống 44 3.1 Giao diện danh sách câu hỏi cơ bản 49 3.2 Giao diện quản lý ngân hàng câu hỏi 50
Trang 113.3 Giao diện thống kê câu hỏi 50 3.4 Giao diện quản lý danh sách đề thi 50 3.5 Giao diện quản lý danh sách ca thi 51
3.10 Thuật toán hiển thị kết quả thi và thông tin hỗ trợ HS 54
3.12 Giao diện lựa chọn quản lý ngân hàng câu hỏi 55 3.13 Giao diện sau khi giáo viên lựa chọn xóa câu hỏi 56 3.14 Giao diện sau khi HS lựa chọn thi 56 3.15 Giao diện sau khi HS lựa chọn nộp bài và kết thúc 56 3.16 Giao diện sau khi phụ trách chuyên môn lựa chọn xem sách HS 57
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời đại hiện nay, sự bùng nổ công nghệ thông tin (CNTT) đã và đang tác động lớn đến công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, làm thay đổi toàn bộ thế giới Hầu hết các ngành nghề, lĩnh vực dần dần được tin học hóa, giáo dục và đào tạo cũng không ngoại lệ Việc tin học hóa một mặt góp phần nâng cao chất lượng, đổi mới phương pháp dạy và học; mặt khác nó giúp đổi mới công tác quản lý, kiểm tra đánh giá trong trường học
Chính vì vậy, từ năm học 2008 – 2009 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có chỉ thị số 55/2008/CT-BGDĐT ngày 30/9/2008 với chủ đề “Năm học đẩy mạnh ứng dụng CNTT” Công văn số 4095/ BGDĐT-CNTT hướng dẫn nhiệm vụ CNTT năm học 2018-
2019 chỉ rõ: “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT hỗ trợ đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, kiểm tra đánh giá trong tất cả các môn học Phát động, khuyến khích giáo viên (GV) xây dựng ngân hàng câu hỏi trực tuyến, triển khai hệ thống thi trực tuyến các môn phục vụ học sinh (HS) và GV.”
Do đó, việc đổi mới phương pháp dạy và học, đổi mới hình thức thi, kiểm tra đánh giá là một việc làm cấp thiết Từ trước đến nay, hầu hết GV chúng ta thường sử dụng chủ yếu hình thức kiểm tra tự luận, vấn đáp để đánh giá, xếp loại HS Vì vậy, đề thi thường mắc phải một số khuyết điểm như: nội dung kiến thức không bao trùm khối lượng kiến thức được học, kết quả còn phụ thuộc chủ quan người chấm, mất thời gian cho việc chấm thi… Để khắc phục những nhược điểm này, đã có nhiều quốc gia trong
đó có Việt Nam thực hiện phương pháp kiểm tra đánh giá mới – phương pháp trắc nghiệm khách quan (TNKQ)
Từ năm 2007, nước ta đã bắt đầu áp dụng hình thức thi trắc nghiệm (TN) cho các
kỳ thi tuyển sinh Cao đẳng và Đại học Từ năm học 2017-2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã tổ chức kỳ thi THPT Quốc gia với 5 bài thi trong đó có 4 bài thi theo hình thức trắc nghiệm (Toán, Ngoại Ngữ, Tổ hợp các môn Khoa Học Tự Nhiên và Tổ hợp các môn Khoa Học Xã Hội) Trường THPT Trần Hưng Đạo, Lệ Thủy, Quảng Bình đã và đang thực hiện theo đúng hình thức thi trắc nghiệm cho các môn thi tốt nghiệp THPT Quốc gia theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Thực tế cho thấy, bên cạnh những thuận lợi, ưu điểm thì việc áp dụng hình thức thi trắc nghiệm còn gặp nhiều khó khăn Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về các môn thi tốt nghiệp THPT Quốc gia thì số lượng các câu hỏi trong mỗi đề thi khá nhiều (Toán, Ngoại Ngữ là 50 câu; Lý, Hóa, Sinh, Sử, Địa, GDCD là 40 câu) Do đó, khi HS thực hiện ôn tập hoặc làm các bài thi TN, bên cạnh kết quả điểm thi đạt được thì
HS rất khó xác định được mình tiến bộ đến đâu, biết mình làm chủ được kiến thức, kỹ
Trang 13năng nào và phần nào mình còn yếu kém, thiếu sót… qua đó điều chỉnh lại quá trình học Ngoài ra, GV cũng rất khó đánh giá các câu hỏi trong ngân hàng đề thi đã phù hợp với đối tượng HS hay chưa Việc loại bỏ các câu hỏi quá dễ hoặc quá khó trong ngân hàng câu hỏi sẽ giúp cho việc đánh giá HS một cách chính xác hơn Do đó, cần có một công cụ hỗ trợ, phân tích kết quả thi giúp cho GV và HS điều chỉnh phương pháp, nâng cao chất lượng dạy và học
Nhằm tạo cho HS của trường THPT Trần Hưng Đạo, Lệ Thủy, Quảng Bình - nơi tôi giảng dạy - có điều kiện học tập và ôn thi đạt hiệu quả tốt hơn; đồng thời giúp cho
GV - các đồng nghiệp của tôi có thể thuận tiện hơn trong quá trình tạo đề thi, tôi quyết
định chọn đề tài: “Nghiên cứu xây dựng hệ thống hỗ trợ học sinh thi trắc nghiệm
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu
Mục tiêu của đề tài là xây dựng hệ thống hỗ trợ học sinh thi TNKQ tại trường THPT Trần Hưng Đạo, Lệ Thủy, Quảng Bình Sử dụng công cụ hỗ trợ, phân tích kết quả thi sẽ giúp cho HS và GV điều chỉnh phương pháp, nâng cao chất lượng dạy và học
2.2.Nhiệm vụ
Để hoàn thành mục tiêu đề ra, tôi đã tập trung nghiên cứu những nội dung sau:
Về lý thuyết: tìm hiểu tổng quan cơ sở lý thuyết về TNKQ, phân tích thực trạng về
việc thi và tổ chức thi TNKQ của trường và nghiên cứu tài liệu về các công nghệ, ngôn ngữ lập trình, mã nguồn mở…liên quan đến hệ thống hỗ trợ học sinh thi trắc nghiệm (TN)
Về thực tiễn: nghiên cứu các công cụ hỗ trợ xây dựng website và tổ chức lưu trữ
kho đề thi bằng ngôn ngữ PHP và MySQL, cài đặt triển khai trên hệ thống mạng LAN hiện có tại trường, kiểm thử và hoàn thiện các tính năng theo yêu cầu của đề tài
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi tập trung nghiên cứu phương pháp ra đề thi TNKQ và phương pháp đánh giá kết quả HS Các tính năng của phần mềm thi TN và một số bài báo và luận văn tốt nghiệp cao học khóa trước
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một luận văn cao học, tôi giới hạn việc nghiên cứu ở các lĩnh vực sau: phương pháp ra đề thi trắc nghiệm phổ biến (thi trắc nghiệm với nhiều lựa chọn), cách tạo đề thi (bao gồm các câu hỏi với nhiều nội dung và mức độ khác nhau),
Trang 14phân tích kết quả thi để hỗ trợ HS tiến bộ, giúp GV tạo ngân hàng đề thi TN hiệu quả hơn
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu, tôi đã sử dụng hai phương pháp chính là nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm
4.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Với phương pháp này, tôi tập trung nghiên cứu các tài liệu liên quan đến lý thuyết
về trắc nghiệm và hình thức tổ chức thi trắc nghiệm; các tài liệu liên quan đến lập trình Net, ngôn ngữ lập trình PHP phiên bản 7.3 và MySQL
4.2 Phương pháp thực nghiệm
Xây dựng ứng dụng Hệ thống hỗ trợ học sinh thi trắc nghiệm, đưa vào thử nghiệm tại trường THPT Trần Hưng Đạo, Lệ Thủy, Quảng Bình và đánh giá tính hiệu quả đạt được
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về khoa học: Trong giáo dục, đánh giá kết quả học tập bằng các kỳ thi, kiểm tra
là công việc phải tiến hành thường xuyên, không kém phần nặng nhọc cho người quản
lý và khó đảm bảo độ chính xác tính công bằng khách quan đối với người học Do đó, việc cải tiến hệ thống thi, kiểm tra đã và đang được nhiều người quan tâm Vì vậy, để đáp ứng những thay đổi trên trong môi trường giáo dục cần phải tổ chức hệ thống đào tạo điện tử, trong đó hệ thống thi trắc nghiệm là một phần quan trọng Ở Việt Nam, nhiều năm nay đã áp dụng hình thức thi TN và kết quả thu được rất khả quan do những
ưu điểm của nó trong việc kiểm tra, đánh giá trình độ người dự thi như: chấm điểm, đưa
ra kết quả nhanh và chính xác, lượng kiến thức kiểm tra lớn, bao quát nhiều vấn đề, tránh được việc học tủ, học vẹt Do đó, TN đang là khuynh hướng của hầu hết các kỳ thi ở Việt Nam hiện nay
Về thực tiễn: Giải quyết tốt các phương pháp để GV có thể linh động trong quá
trình tạo, cập nhật kho dữ liệu đề thi, xác định mức độ khó của từng câu hỏi, tạo đề thi
tự động (bao gồm các câu hỏi khác nhau với mức độ khác nhau); phân tích dữ liệu thi
để hỗ trợ HS tiến bộ, giúp GV tạo ngân hàng đề thi TN hiệu quả hơn đồng thời có thể
tổ chức thuận tiện cho HS tự ôn luyện thi và tham gia thi
Đề tài sẽ góp phần xây dựng hệ thống hỗ trợ học sinh thi trắc nghiệm bậc Trung học phổ thông
6 Bố cục luận văn
Báo cáo của luận văn được tổ chức thành 3 chương chính:
Trang 15Chương 1 Tổng quan về trắc nghiệm
Trong chương này, tôi trình bày tổng quan về trắc nghiệm khách quan, một số hệ thống thi TN trực tuyến, một số công cụ tạo đề thi trắc nghiệm Trên cơ sở đó, tôi đưa
ra một số nhận xét, đánh giá cho các trang Web TN trực tuyến, cũng như một vài phần mềm TN đã có hiện nay tại Việt Nam
Chương 2 Phân tích và thiết kế hệ thống
Chương 2 Tôi tập trung nghiên cứu, đưa ra các giải pháp để tổ chức và phân tích thiết kế hệ thống kho dữ liệu sao cho hợp lý và hiệu quả
Chương 3 Cài đặt và thử nghiệm
Tiến hành xây dựng ngân hàng câu hỏi, xây dựng hệ thống hỗ trợ ôn tập và thi Sau đó tiến hành thử nghiệm cho môn học Tin học 12 tại trường THPT Trần Hưng Đạo,
Lệ Thủy, Quảng Bình
Trang 16CHƯƠNG 1
Trong chương này, tôi trình bày tổng quan về trắc nghiệm khách quan, một số hệ thống thi TN trực tuyến, một số công cụ tạo đề thi trắc nghiệm Sau đó đưa ra một số nhận xét, đánh giá cho các trang Web TN trực tuyến, cũng như một vài phần mềm TN
đã có hiện nay tại Việt Nam
Ưu điểm của phương pháp TNKQ khi sử dụng cho kỳ thi là đánh giá bao phủ được một môn học hoặc chương trình học trong một thời gian ngắn do đó giảm thiểu sự may rủi, chấm điểm một cách khách quan và hết sức nhanh chóng nhờ máy móc, giảm thiểu được nạn “quay cóp” Mặt khác, ưu điểm quan trọng của phương pháp TNKQ là nó cho phép sử dụng một quy trình lâu dài để chế tác, thử nghiệm, chỉnh sửa từng câu hỏi nhằm thu được các câu hỏi có chất lượng cao để thiết kế nên một đề trắc nghiệm (ĐTN) tốt, đồng thời vẫn đảm bảo được tính bí mật của ĐTN và có một khoa học đo lường hiện đại với những thành tựu to lớn hỗ trợ cho quy trình xây dựng các ĐTN thành các thước đo chuẩn xác, khoa học đó tạo khả năng thiết kế ĐTN tương đương để có thể tổ chức nhiều lần thi mà kết quả so sánh được với nhau
Bên cạnh đó, phương pháp TNKQ có những hạn chế nhất định như HS có khuynh hướng đoán mò đáp án và không thấy rõ diễn biến tư duy của HS khi làm bài
b Cách phân loại trắc nghiệm trong giáo dục
TN theo nghĩa rộng là một hoạt động để đo lường năng lực của các đối tượng nào
đó nhằm những mục đích xác định Trong giáo dục TN được tiến hành thường xuyên ở các kỳ thi, kiểm tra để đánh giá kết quả học tập, giảng dạy đối với một phần của môn học, toàn bộ môn học, đối với cả một cấp học; hoặc để tuyển chọn một số người có năng lực nhất vào học một khoá học
Có thể phân chia các phương pháp TN ra làm 3 loại: loại quan sát, loại vấn đáp và loại viết
Trang 17Hình 1.1 Sơ đồ phân loại phương pháp trắc nghiệm
Loại quan sát: Giúp xác định những thái độ, những kỹ năng thực hành hoặc một
số kỹ năng về nhận thức, chẳng hạn cách giải quyết vấn đề trong một tình huống đang được nghiên cứu
Loại vấn đáp: Thường được để đánh giá khả năng đáp ứng các câu hỏi được nêu
một cách tự phát trong một tình huống cần kiểm tra, cũng thường được sử dụng khi tương tác giữa người hỏi và người đối thoại là quan trọng, chẳng hạn để xác định thái
độ người đối thoại
Loại viết: Thường được sử dụng nhiều nhất vì nó có những ưu điểm sau:
- Cho phép kiểm tra nhiều thí sinh một lúc
- Cho phép thí sinh cân nhắc nhiều hơn khi trả lời
- Đánh giá được một vài loại tư duy ở mức độ cao
- Cung cấp bản ghi rõ ràng các câu trả lời của thí sinh để dùng khi chấm
- Người ra đề không nhất thiết phải tham gia chấm bài
Trắc nghiệm viết được chia thành 2 nhóm chính:
- Nhóm các câu hỏi TN buộc trả lời theo dạng mở, thí sinh phải tự trình bày ý kiến trong một bài viết dài để giải quyết vấn đề mà câu hỏi nêu ra Người ta gọi TN theo kiểu này là kiểu tự luận (essay)
- Nhóm các câu hỏi TN mà trong đó đề thi thường gồm rất nhiều câu hỏi, được lấy từ ngân hàng câu hỏi có sẵn Mỗi câu nêu ra một vấn đề cùng với những thông tin cần thiết sao cho thí sinh chỉ phải trả lời vắn tắt cho từng câu Người ta thường gọi nhóm các câu TN này là TNKQ (objective test)
Trang 18Để tạo đề kiểm tra, đề thi theo phương pháp TNKQ thông thường có các kiểu câu hỏi trắc nghiệm như sau:
c Các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Trắc nghiệm được gọi là khách quan vì hệ thống cho điểm khách quan, kết quả chấm điểm là như nhau, không phụ thuộc vào người chấm điểm bài trắc nghiệm TNKQ
có 4 hình thức chủ yếu được sử dụng trong các kỳ kiểm tra định kỳ hoặc các kỳ thi quốc gia [4]:
Câu đúng sai (yes/no question)
Đây là hình thức trắc nghiệm đơn giản nhất, được trình bày dưới dạng một câu phát biểu; thí sinh trả lời bằng cách chọn câu trả lời Đúng hoặc Sai
Ưu điểm: Là loại câu hỏi rất thông dụng, thích hợp với những kiến thức sự kiện, cho phép kiểm tra nhiều kiến thức trong thời gian ngắn, việc soạn đề tương đối dễ dàng Hạn chế: Dễ đoán mò (xác suất đúng – sai là 50%), độ tin cậy thấp và đề thường
có khuynh hướng trích nguyên văn trong sách giáo khoa nên HS dễ có thói quen học vẹt hơn là tìm tòi, suy nghĩ
Ví dụ với câu trắc nghiệm hệ quản trị CSDL Access:
Trong hệ quản trị CSDL Access có 4 loại đối tượng chính, đúng hay sai?
A Đúng B Sai
Đáp án: A
Câu nhiều lựa chọn (multiple choise questions)
Là dạng câu hỏi có nhiều phương án, HS chỉ cần chọn một trong các phương án
đó Số phương án càng nhiều thì khả năng “may rủi” càng ít Câu hỏi dạng này gồm hai phần: Phần gốc và phần lựa chọn
Phần gốc (câu dẫn) là một câu hỏi hay một câu được bỏ lửng (chưa hoàn tất) phải đặt ra một vấn đề hay đưa ra ý tưởng rõ ràng giúp HS hiểu rõ nội dung câu trắc nghiệm
để chọn câu trả lời thích hợp
Phần lựa chọn gồm nhiều cách giải đáp trong đó có một phương án là đúng hay đúng nhất, các phương án còn lại là phương án nhiễu (hay còn gọi là "mồi nhử"), hấp
dẫn như nhau đối với HS chưa nắm rõ vấn đề
Ví dụ với câu trắc nghiệm hệ quản trị CSDL Access:
Chế độ nào cho phép thực hiện cập nhật dữ liệu trên bảng một cách đơn giản?
A Chế độ hiển thị trang dữ liệu B Chế độ biểu mẫu
C Chế độ thiết kế D Một đáp án khác
Đáp án: B
Trang 19Câu ghép đôi( matching items)
Là những câu hỏi được chia làm hai phần:
Phần 1: Nội dung kiểm tra
Phần 2: Các câu trả lời tương ứng cho phần 1 nhưng bị xáo trộn vị trí, trong đó có
cả những câu đáp án không chính xác
Khi làm bài, thí sinh phải ghép hai phần thành từng cặp sao cho đúng nhất Độ may rủi: Gọi n là số câu hỏi có ở phần 1, m là số phương án trả lời ở phần 2 (thông thường thì m gấp 2, 3 lần n), quy tắc xác suất: Độ may rủi=n!/m! (rất thấp)
Ưu điểm: Dễ viết, dễ xây dựng, đặc biệt thích hợp với mức tư duy thấp, thích hợp cho hoạt động kiểm tra đầu vào cấp học, giảm tỉ lệ đoán mò của HS Việc xây dựng câu hỏi ít tốn kém
Hạn chế: Không đánh giá được khả năng diễn đạt ý tưởng, khả năng áp dụng kiến thức đã học
Ví dụ với câu trắc nghiệm hệ quản trị CSDL Access:
Hãy tìm ở cột bên phải đáp án tương ứng khi các phát biểu sau nói về chức năng của các đối tượng trong hệ quản trị CSDL Access:
1) Dùng đê lưu trữ dữ liệu
2) Tạo giao diện thuận lợi để nhập hoặc hiển thị dữ liệu
3) Định dạng, tính toán, tổng hợp các dữ liệu được chọn và
in ra
4) Sắp xếp, tìm kiếm và kết xuất dữ liệu từ một hay nhiều
bảng
a) Biểu mẫu b) Bảng c) Mẫu hỏi d) Báo cáo
Đáp án: 1b; 2a; 3d; 4c
Câu điền khuyết (supply items)
Có hai dạng là những câu hỏi với giải đáp ngắn hoặc với những câu phát biểu với
một hay nhiều chỗ để trống, HS phải điền vào bằng một hay một nhóm từ cần thiết để hoàn chỉnh mệnh đề, nhận xét hay quy luật đó
Ưu điểm: HS dễ có cơ hội diễn đạt, trình bày do đó phát huy được tính sáng tạo của HS
Hạn chế: Việc chấm bài mất nhiều thời gian Các yếu tố về chữ viết, đánh vần sai ảnh hưởng đến đánh giá câu hỏi
Ví dụ với câu trắc nghiệm cơ sở dữ liệu quan hệ:
Trang 20Trong cơ sở dữ liệu quan hệ, thuật ngữ quan hệ được gọi là
HS, qua đó sẽ cải tiến từng bước phương pháp học tập, giảng dạy Vì thế, các kỳ thi tốt nghiệp quốc gia thường chọn câu TN dạng nhiều lựa chọn trong đề thi
Để ra ĐTN với kiểu câu hỏi dạng nhiều lựa chọn (multiple choise questions) cần tuân theo các nguyên tắc ra đề
1.1.2 Câu hỏi và đề thi trắc nghiệm
a Những nguyên tắc ra đề thi trắc nghiệm loại nhiều lựa chọn
Khi ra câu hỏi trắc nghiệm chúng ta cần tuân thủ theo những nguyên tắc chung cho mọi loại câu hỏi Đối với loại câu hỏi nhiều lựa chọn, thì chúng ta cần tuân thủ theo các nguyên tắc sau :
- Sử dụng ngôn ngữ phù hợp, rõ ràng với người học
- Tránh các kiến thức quá riêng biệt hoặc câu hỏi quan điểm riêng của HS, chỉ hỏi sự kiện, kiến thức
- Các phương án sai phải hợp lý và chỉ nên dùng 4 hoặc 5 phương án chọn
- Đảm bảo mọi câu dẫn nối liền với mọi phương án chọn theo đúng ngữ pháp
- Phải chắc chắn chỉ có một phương án chọn là đáp án đúng
- Tránh dùng câu phủ định hoặc phủ định hai lần
- Tránh việc làm cho phương án đúng khác biệt so với phương án nhiễu ví dụ cụm từ “tất cả những phương án trên”, “không có phương án nào”
- Phải sắp xếp phương án đúng và các phương án nhiễu theo thứ tự ngẫu nhiên
- Ngoài những nguyên tắc chung trên, chúng ta cũng cần để ý đến một vài tham
số nó cũng làm ảnh hưởng đến kết quả đánh giá thí sinh
Trang 21b Các tham số đặc trưng cho một câu hỏi và đề thi trắc nghiệm
Để nghiên cứu định lượng với số liệu chi tiết hơn cho các CH hoặc ĐTN người ta phải đưa vào các tham số đặc trưng Khi soạn thảo xong một CH hoặc một ĐTN người soạn thảo chưa thể xác định các tham số đó, vì chúng chỉ được xác định bằng phương pháp thống kê từ kết quả trả lời của thí sinh đối với các CH [8]
Theo lý thuyết trắc nghiệm cổ điển:
Độ khó: Độ khó p bằng tỷ số phần trăm thí sinh làm đúng CH trên tổng số thí sinh
tham gia làm CH đó
Tổng số thí sinh làm đúng CH
Độ khó p của câu thứ i= -
Tổng số thí sinh tham gia làm
Độ khó của một câu hỏi trắc nghiệm chấp nhận được trong khoảng 0,25- 0,75
Độ phân biệt: Để phân biệt trong nhóm thí sinh có những người có năng lực khác
nhau: giỏi, trung bình, kém
Trong đó:
D: Độ phân biệt;
C: Số thí sinh làm đúng CH thuộc nhóm giỏi;
T: Số thí sinh làm đúng CH thuộc nhóm kém;
S: Số lượng thí sinh của một trong hai nhóm nói trên (27 % tổng số)
của phép đo Có nhiều cách để tính độ tin cậy của ĐTN như phương pháp trắc nghiệm
- trắc nghiệm lại, phương pháp các ĐTN tương đương, phương pháp nhân đôi ĐTN, phương pháp Kuder-Richardson
Độ giá trị: Độ giá trị của ĐTN là đại lượng biểu thị mức độ đạt được mục tiêu đề
ra cho phép đo nhờ ĐTN
c Phân biệt các câu hỏi trắc nghiệm theo các mức độ nhận thức
Đề kiểm tra bao gồm các câu hỏi, bài tập theo 4 mức độ yêu cầu: Nhận biết; Thông hiểu; Vận dụng; Vận dụng cao
Câu nhận biết
Là các câu hỏi tái hiện định nghĩa, khái niệm, nội dung kiến thức đã học
Yêu cầu: Cần đặt câu hỏi đơn giản nhất, chỉ cần đọc câu hỏi và các phương án trả lời là HS có thể trả lời ngay, không cần nghĩ nhiều; người học chỉ cần sử dụng từ một
Trang 22đến hai thao tác tư duy; các phương án trả lời có độ nhiễu đơn giản nhất; câu dẫn nên ngắn gọn, dễ hiểu
Câu thông hiểu
Yêu cầu câu này là diễn đạt đúng kiến thức hoặc mô tả đúng kỹ năng đã học bằng ngôn ngữ theo cách riêng của mình, có thể thêm các hoạt động phân tích, giải thích, so sánh, áp dụng trực tiếp (làm theo mẫu) kiến thức, kỹ năng đã biết để giải quyết các tình huống, vấn đề trong học tập Người học cần sử dụng hai đến ba thao tác tư duy Nói cách khác đó là câu ở mức độ cao hơn nhận thức, có độ khó hơn câu nhận biết Để trả lời câu hỏi này, HS cần hiểu được kiến thức đã học Đối với câu hỏi dạng này có thể hỏi ngược
Câu vận dụng
Là câu hỏi yêu cầu HS vận dụng kiến thức để nhận xét, đánh giá một hành vi, vấn
đề, tình huống nào đó Người học cần sử dụng từ ba đến bốn thao tác tư duy
d Chất lượng của các câu hỏi và đề thi trắc nghiệm
Đánh giá kết quả học tập của HS là một công việc hết sức quan trọng trong quá trình giáo dục Kiểm tra đánh giá là một phần không thể thiếu được của quá trình dạy học, ít nhất nó phải vì sự tiến bộ của HS Có nghĩa là phải cung cấp những thông tin phản hồi để mỗi HS biết được mình tiến bộ đến đâu? Biết mình làm chủ được kiến thức,
kỹ năng nào và phần nào còn hỏng…những sai sót nào trong nhận thức HS thường mắc…qua đó điều chỉnh quá trình dạy và học Do vậy, khi xây dựng đề thi bao giờ cũng cần phải xác định mục tiêu, nội dung kiểm tra, đánh giá
Để một đề trắc nghiệm đo được cái cần đo, tức là đo được mức độ đạt các mục tiêu
cụ thể của môn học Một đề thi tốt kết hợp với việc tổ chức kỳ thi tốt sẽ làm cho kỳ thi đạt được độ giá trị cao
Một khâu quan trọng của quy trình biên soạn đề thi là xây dựng ma trận đề thi Ma trận đề thi là bảng mô tả tiêu chí của đề thi gồm hai chiều, một chiều là nội dung hay mạch kiến thức chính cần đánh giá, một chiều là các cấp độ tư duy của HS theo các cấp độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng và vận dụng cao Trong mỗi ô là chuẩn kiến thức,
kỹ năng chương trình cần đánh giá, tỉ lệ % số điểm, số lượng câu hỏi và tổng số điểm của câu hỏi Số lượng câu hỏi của từng ô phụ thuộc vào mức độ quan trọng của mỗi