1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

THỰC TRẠNG KHAI THÁC và QUẢN lý tài NGUYÊN THỦY hải sản ở VIỆT NAM và TRÊN THẾ GIỚI

25 74 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 424,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong 10 năm trở lại đây hoạt động khai thác hải sản đã nảy sinh nhiềutồn tại, bất cập như: công tác quản lý tàu cá; nghề khai thác hải sản phát triển tự phátkhông kiểm soát đ

Trang 1

KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ

Trang 3

năm 1990; sản lượng khai thác hải sản 2.226.600 tấn tăng 4,6 lần so với năm 2001;trong đó giá trị kim ngạch xuất khẩu từ khai thác hải sản đạt gần 2 tỷ USD, chiếm 33

% trong tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản (6,1 tỷ USD, 2011), tạo công ăn việc làmcho khoảng 700.000 lao động trực tiếp trên biển

Tuy nhiên, trong 10 năm trở lại đây hoạt động khai thác hải sản đã nảy sinh nhiềutồn tại, bất cập như: công tác quản lý tàu cá; nghề khai thác hải sản phát triển tự phátkhông kiểm soát được; tổ chức sản xuất trên biển mang tính nhỏ lẻ, phân tán, tự phátchưa có sự liên kết và hợp tác trong tổ chức sản xuất; công nghệ khai thác, công nghệbảo quản sản phẩm sau thu hoạch trên tàu còn lạc hậu so với các nước trong khu vực;

sự cạnh tranh trong khai thác ngày càng tăng; tình trạng đánh bắt bất hợp pháp vẫn diễn

ra đã làm cạn kiệt nguồn lợi hải sản vùng biển ven bờ; Thiếu thông tin, cơ sở dữ liệunghề cá để phục vụ chocông tác quản lý, qui hoạch khai thác hải sản; đầu tư cơ sở hạtầng còn dàn trải và thiếu đồng bộ… Mặt khác, hệ thống tổ chức quản lý khai thác vàthực thi pháp luật chưa được kiện toàn

Trang 4

I Tổng quan thủy hải sản trên thế giới

Dân số thế giới được dự đoán tăng từ mức hiện tại là 6,8 tỷ người lên đến 9 tỷ ngườinăm 2050 (UN-DESA 2009) Cùng với việc tăng dân số, nhu cầu về nguồn thực phẩm antoàn, nhiều dinh dưỡng cũng ngày càng tăng Khai thác thủy sản đóng góp vai trò quantrọng trong việc cung cấp nguồn thực phẩm này và góp phần cải thiện sinh kế của ngườidân cũng như phát triển kinh tế của nhiều nước trên thế giới Năm 2011, sản lượng khaithác toàn cầu đạt 90,4 triệu tấn, tăng 2% so với năm 2010, trong đó khai thác biển đạt78,9 triệu tấn, tăng 1,9% và khai thác nội đồng đạt 11,5 triệu tấn, tăng 2,6% so với năm

2010 Tuy nhiên, khai thác thủy sản toàn cầu đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớnnhư: Khai thác quá mức, suy kiệt nguồn lợi, biến đổi khí hậu…

1 Thực trạng

Trong mấy năm gần đây, sản lượng khai thác toàn cầu giảm sút cùng với tình trạngkhai thác quá mức đã chuyển tải thông điệp mạnh mẽ - tình trạng khai thác biển toàn cầuđang ngày càng xấu đi và ảnh hưởng đến sản lượng thủy sản toàn cầu Khai thác quá mứckhông chỉ gây hậu quả về mặt sinh thái mà còn góp phần làm giảm sản lượng khai thác

và ảnh hưởng xấu đến kinh tế xã hội trên toàn cầu Tỷ trọng trữ lượng thủy sản bị khaithác quá mức tăng từ 10% trong năm 1974 lên đến 26% trong năm 1989 Kể từ năm

1990, nguồn lợi thủy sản bị khai thác quá mức tiếp tục tăng tuy ở mức độ chậm hơn Hầuhết trữ lượng của các loài thủy sản hàng đầu, chiếm khoảng 30% tổng sản lượng khaithác thế giới đều đã được khai thác triệt để nên không thể khai thác thêm, trong khi một

số loài khác vẫn ở trong tình trạng bị khai thác quá mức

Khai thác bất hợp pháp và các hoạt động liên quan là những thách thức mà các nướcđang phải đối mặt trong việc đảm bảo phát triển nghề cá bền vững và tăng cường hệ sinhthái lành mạnh Cộng đồng quốc tế tiếp tục bày tỏ mối quan ngại về quy mô và hệ quảcủa đánh cá bất hợp pháp Ở các nước đang phát triển, do khả năng về kỹ thuật còn hạnchế nên đang phải hứng chịu hậu quả về khai thác bất hợp pháp đã làm lu mờ những nỗlực của họ trong quản lý nghề cá, dẫn đến hệ quả tiêu cực trong việc thúc đẩy an ninhlương thực, xóa đói giảm nghèo và sinh kế bền vững

Tuy nhiên, một số nước đã triển khai các hoạt động quản lý khai thác hiệu quả, đạtđược những tiến bộ đáng kể trong việc giảm tỷ lệ khai thác quá mức và phục hồi nguồnlợi thủy sản và hệ sinh thái biển Tại Mỹ, 67% trữ lượng thủy sản hiện tại đã được khaithác bền vững, trong khi chỉ có 17% bị khai thác quá mức Tại Newzealand, 69% trữlượng thủy sản được khai thác bền vững, trong khi tại Úc, trữ lượng thủy sản khai thácquá mức chỉ chiếm 12%

Trang 5

Bên cạnh đó, một số nước đã áp dụng các chính sách và biện pháp hiệu quả trong việcchống khai thác bất hợp pháp như việc nâng cao nhận thức và tuyên truyền cho ngư dân,

do vậy tỷ lệ khai thác bất hợp pháp ở các vùng này đang giảm dần

2 Sản lượng

Nhìn chung, sản lượng khai thác tiếp tục ổn định ở mức 90 triệu tấn mặc dù có một sốthay đổi đáng kể về sản lượng ở từng nước, từng vùng và từng loài Trong vòng 7 năm(2004-2010), sản lượng khai thác biển (không tính cá cơm) đạt 72,1-73,3 triệu tấn, trongkhi sản lượng khai thác nội địa tăng liên tục, với mức tăng là 2,6 triệu tấn/năm

Năm 2010, sản lượng khai thác cá cơm của Peru giảm chủ yếu là do các biện phápquản lý trong khai thác như cấm khai thác trong quý 4 để bảo vệ nguồn lợi cá cơm Một

số nước khác như Liên Bang Nga, sản lượng khai thác tăng trong năm 2011 Tuy nhiên,sản lượng khai thác thủy sản của Nhật giảm đáng kể do ảnh hưởng bởi động đất và sóngthần tháng 3 năm 2011, ước tính giảm khoảng 21% tổng sản lượng thủy sản của nướcnày Nhìn chung, trong năm 2011, tổng sản lượng khai thác thủy sản toàn cầu đạt trên 90triệu tấn, mức cao nhất kể từ năm 2006

Do sản lượng khai thác cá cơm giảm đáng kể, Peru đã mất vị trí thứ hai sau TrungQuốc về số lượng trong thứ tự các nước khai thác biển chủ yếu Một vài nước châu Á nhưTrung Quốc, Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a và Việt Nam có mức tăng trưởng đáng kể Sản lượngcủa một số nước khác như Na-uy, Nga và Tây Ban Nha cũng phục hồi sau một vài nămtăng trưởng ì ạch

Sản lượng khai thác của Nga đã tăng hơn 1 triệu tấn kể từ năm 2004 Theo các nhàchức trách Nga, có được mức tăng trưởng này là do cắt giảm các thủ tục về hoạt động cậpcảng Sản lượng đánh bắt của Liên bang Nga được dự báo sẽ đạt mức 6 triệu tấn vào năm

2020, tăng hơn 40% so với mức hiện tại

Sản lượng khai thác của Peru và Chi-lê giảm do sản lượng khai thác cá cơm giảm.Ngoài ra, sản lượng của một số các nước khác cũng giảm như: Nhật, Hàn Quốc, Thái Lan

Trang 6

ở châu Á, Argentina, Canada và Mexico ở châu Mỹ, Ai-len ở châu Âu và Newzealand.Moroco, Nam Phi và Senagal vẫn là 3 nước có sản lượng khai thác biển nhiều nhất ởchâu Phi.

Tây Bắc Thái Bình Dương vẫn là khu vực có sản lượng cao nhất, tập trung ở ba vùngTây Bắc Atlantic, Đông Bắc Atlantic và Đông Bắc Thái Bình Dương, với sản lượng đạt20,9 triệu tấn trong năm 2010, tương đương 27% Các loài cá nổi nhỏ có sản lượng caonhất trong khu vực này, với cá cơm Nhật đạt 1,9 triệu tấn trong năm 2003 và 1,1 triệu tấntrong năm 2009-2010 Các loài khác cũng đóng góp sản lượng lớn trong tổng sản lượngkhai thác vùng như cá hố, cá thu Nhật, Alaska Pollock; tuy nhiên các loài này đang bịkhai thác quá mức Sản lượng mực, bạch tuộc đạt 1,3 triệu tấn trong năm 2010

Năm 2010, sản lượng khai thác biển khu vực Trung Đông Thái Bình Dương đạt 2triệu tấn Khu vực Đông Nam Thái Bình Dương có những thay đổi bất thường với xuhướng giảm dần sản lượng khai thác từ năm 1993 Các loài cá nổi nhỏ chiếm tỷ trọng lớn

trong sản lượng khai thác Sản lượng cá cơm, cá sòng (Trachurus murphyi), cá trích Nam

Mỹ (Sardinops sagax) chiếm hơn 80% sản lượng khai thác vùng, trong khi sản lượng các

loài cá mòi và cá trích Thái Bình Dương chiếm tỷ trọng nhiều nhất vùng Trung ĐôngThái Bình Dương

Sản lượng khai thác vùng Trung Đông Atlantic tăng trong ba năm qua và đạt 4 triệutấn trong năm 2010 Các loài cá nổi nhỏ đóng góp gần 50% trong tổng sản lượng khaithác, tiếp theo là các loài cá tạp ven bờ Cá trích (Sardina pilchardus) có sản lượng caonhất, đạt 600-900 nghìn tấn trong 10 năm qua

Sản lượng khai thác Vùng Đông Nam Thái Bình Dương đạt 2,4 triệu tấn trong năm

2010, tương đương với mức sản lượng đầu những năm 1970 và đạt 3 triệu tấn trong cuốinhững năm 1980 Cá thu, cá tuyết và cá tuyết chấm đen là những loài có sản lượng caonhất

Tại Đông Bắc Atlantic, tổng sản lượng khai thác biển có xu hướng giảm sau năm

1975, sau đó phục hồi trong những năm 1990 và đạt mức 8,7 triệu tấn trong năm 2010.Tại khu vực Trung Tây Thái Bình Dương, sản lượng khai thác tiếp tục tăng trưởng, đạtmức 11,7 triệu tấn năm 2010, chiếm 14% tổng sản lượng khai thác biển toàn cầu

Sản lượng khai thác ở khu vực phía Đông Ấn Độ Dương có mức tăng trưởng cao,với tốc độ tăng trưởng đạt 17% trong giai đoạn 2007-2010, đạt 7 triệu tấn năm 2010.Vùng vịnh Benga và biển Andaman có mức tăng trưởng ổn định Nguyên nhân tạo ramức tăng trưởng này có thể do sự mở rộng vùng khai thác mới hoặc khai thác các loàimới Sản lượng khai thác biển Khu vực phía Tây Ấn Độ Dương đạt 4,5 triệu tấn năm

2006, sau đó giảm nhẹ trước khi đạt mức 4,3 triệu tấn trong năm 2010

Trang 7

Tại khu vực Biển Đen – Địa Trung Hải sản lượng khai thác biển giảm 15%, trongkhi khu vực Tây Bắc Atlantic sản lượng giảm 30 % kể từ năm 2007 Năm 2010, sảnlượng khai thác ở Đông Nam Thái Bình Dương (không tính cá cơm) giảm, trong khi sảnlượng phía Đông Nam Atlantic tăng.

Sản lượng khai thác biển của các loài chính như cá ngừ và tôm vẫn ổn định trongnăm 2010, trong khi sản lượng động vật thân đầu tăng trưởng trở lại sau khi giảm xuốngcòn 0,8 triệu tấn vào năm 2009 Tại vùng biển Antactic, sản lượng nhuyễn thể tăng hơn70% so với năm 2010

Sản lượng nhuyễn thể hai mảnh vỏ- trai và sò, đã từng chiếm hơn 50% trong sảnlượng khai thác nhuyễn thể hai mảnh vỏ vào những năm 1990 ngày càng giảm trongnhững năm gần đây Sản lượng khai thác trai và sò cũng có xu hướng giảm

4 Khai thác nội địa

Từ giữa những năm 2000 đến nay, tổng sản lượng khai thác nội địa tăng đáng kể, đạt11,2 triệu tấn trong năm 2010, tăng 30% kể từ năm 2004 Các nước châu Á đóng gópphần lớn trong tổng sản lượng khai thác nội địa toàn cầu chiếm gần 70% Trong mấy nămgần đây, tỷ trọng sản lượng khai thác nội địa của một số nước châu Á ngày càng tăng.Năm 2010, sản lượng khai thác nội địa của Ấn Độ tăng đáng kể, tăng 0,54 triệu tấn so vớinăm 2009 Sản lượng của Trung Quốc và Myanma đều tăng 0,1 triệu tấn

Sản lượng khai thác nội địa tại một số châu lục khác có những xu hướng khác nhau.Uganđa và Cộng hòa Tanzania là các nước có sản lượng cao ở châu Phi Tại một số nướcNam Mỹ như Agentina, Colombia, Vênêzuêla và một số nước Nam Mỹ khác sản lượngkhai thác nội địa có xu hướng giảm Tại châu Âu, sản lượng khai thác nội địa tăng tronggiai đoạn 2004-2010 do sản lượng của liên bang Nga tăng gần 50% Sản lượng khai thác

ở một số nước ở châu Đại Dương thay đổi không đáng kể

5 Các chiến lược quản lý

Mặc dù có sự khác nhau về mặt quản lý, nguồn lợi hải sản, các điều kiện kinh tế xã hội, nhưng các nước trong khu vực đều phải đối mặt với những vấn đề bức xúc như nhau trong quá trình phát triển nghề cá của mình

Để phát triển bền vững và quản lý tốt , các nước trong khu vực đã để ra các biện pháp quản lý và đã rất thành công trong quản lý nghề cá ven bờ Các biện pháp quản lý chủ yếu là:

- Ban hành luật nghề cá: Đây là cơ sở pháp lý để có quản lý nghề cá hữu hiệu Nhật

Bản đưa ra luật nghề cá Meifi vào năm 1901 và sửa lại anwm 1910 và năm 1949,

Trang 8

Luật nghề cá hiện từ năm 1949, đã cụ thể hóa bộ luật Meifi, đến nay Nhật Bản có 19 Luật liên quan đén nghề cá Trung Quốc ban hành Luật nghề cá năm 1986 Thái Lan

1947 và bổ sung năm 1953 Philipin 1975

- Chương trình cấp giấy phép đánh cá Để bảo vệ nguồn lợi cá biển và đạt được sự cân

bằng tối ưu giữa năng lực khai thác và nguồn lợi, các nước đã ban hành các qui định

về hạn mức tổng công xuất máy tàu cho phép hoạt động ở mỗi vùng biển Cấm ngư

cụ và phương pháp đánh bắt có hại, qui định mùa cấm, vùng cấm, kích thước cá cho phép đánh bắt, kích thước mắt lưới và giới hạn tỉ lệ cá tạp, bảo vệ môi trường Qui định vùng cấm hoàn toàn sự hoạt động cuả nghề lưới kéo

- Phân chia ngư trường: Hầu hết các nước Đông Nam Á và Đông Á đã thực hiện phân

chia ngư trường theo tuyến Mỗi vùng sẽ qui định cỡ tàu và nghề được phép hoạt động Qui định vùng biển cấm nghề lưới kéo hoạt động (thường là các vùng biển ven bờ)

- Quản lí nghề cá ven bờ dựa vào cộng đồng: Thấy rõ tầm quan trọng và sự phức tạp

của quản lý nghề cá van bờ, nếu chỉ dựa vào số cán bộ ít ỏi của các cơ quan quản lý nghề cá cấp tỉnh sẽ không thể quản lý, bảo vệ nguồn lợi ven bờ và duy trì được sự phát triển bền vững của ngành khai thác cá biển

Quản lý nghề cá dựa trên cộng đồng đang là mô hình quản lý tốt vùng ven bờ cho nghề cá qui mô nhỏ Áp dụng mô hình này sẽ hạn chế đáng kể tình trạng cạnh tranh vô ích trong khai thác và bảo vệ tốt được nguồn lợi ven bờ mô hình này đang được nhiều nước nghiên cứu áp dụng

6 Triển vọng

Dự báo, sản lượng khai thác có mức tăng trưởng vừa phải, khoảng 3% trong giai đoạn2012-2021 Tỷ trọng sản lượng thủy sản khai thác dùng để sản xuất thức ăn sẽ khoảng17% trong năm 2021, giảm khoảng 6% so với giai đoạn 2009-2011 do nhu cầu tiêu dùngthủy sản của con người ngày càng tăng Sản lượng khai thác nội địa sẽ ít hơn so với sảnlượng khai thác biển Tuy nhiên, cá và các loài thủy sản khai thác từ nội địa đóng gópphần quan trọng trong thực đơn của mọi người trên toàn thế giới, đặc biệt là các quốc gia

ở châu Á Thái Bình Dương, Mỹ La tinh và Đông Âu Mức khai thác trong khai thác nộiđịa cũng khác nhau ở các vùng khác nhau do yếu tố văn hóa và nhân khẩu học Khai thácquá mức cũng vẫn còn tồn tại trong khai thác nội địa, đặc biệt là Nam Mỹ

II Khai thác thủy hải sản ở Việt Nam

1 Khai thác nội địa

Trang 9

1 Nguồn lợi thủy sản

Việt Nam có những thủy vực tự nhiên rất rộng lớn, hệ thống sông ngòi và kênh rạchchằng chịt, khí hậu nhiệt đới mưa nhiều Những điều kiện tự nhiên trên đem lại cho nước

ta những nguồn lợi:

- 1,7 triệu ha thủy vực nội địa

- 230 hồ tự nhiên và đầm phá với diện tích 34.600 ha, năng suất của hồ 250kg/ha.năm

- Hồ chứa nhân tạo với diện tích trên 40.000 ha, năng suất của hồ 17kg/ha.năm ở cáctỉnh phía Bắc và 30-65kg/ha.năm ở các tỉnh phía Nam

- Sông trong đó có 100 sông lớn, năng suất của sông 8-10kg/ha.năm ở các tỉnh phíaBắc và 135-150kg/ha.năm ở các tỉnh phía Nam

- 580.000 ha ruộng nước, trong đó 12% thuộc ĐB sông Hồng và 88% thuộc ĐB sôngCửu Long; 20% ĐB sông Hồng và với tỉ lệ nhỏ hơn ĐB sông Cửu Long bị ngập vàomùa mưa

- Có 544 loài cá nước ngọt, trong đó 243 loài cá ở các sông miền Bắc, 134 loài ở miềnTrung và 255 loài ở miền Nam, chỉ có 70 loài có giá trị kinh tế

- Có 186 loài cá nước lợ mặn, trong đó có nhiều loài cá có giá trị kinh tế như cá song(cá mú), cá hồng, cá trap, cá vược (cá chẽm), cá măng, cá cam, cá bống, cá bớp, cáđối, cá dìa

- Có 700 loài động vật không xương sống trong đó 55 loài giáp xác, 125 loài hai mãnh

vỏ và chân bụng

2 Đặc điểm khai thác nội địa

Khai thác nội địa có xu hướng giảm, thể hiện nguồn lợi thủy sản đang bị suy giảmnghiêm trọng do việc khai thác quá mức, khai thác hủy diệt, đặc biệt là tình trạng ô nhiễmmôi trường do các hóa chất dung trong nông nghiệp và do các công trình thủy lợi để kiểmsoát lũ đã làm mất nơi ở, các bãi sinh sản và bãi ương nuôi của cá di cư hoặc các động vậtthủy sản khác

Bảng 2.1 Khai thác thủy sản nội địa qua các năm Năm 2000 2002 2004 2006 2008 2010 2011 2012

Sản lượng

(1000tấn) 241,3 227,0 206,6 202,9 189,7 194,4 206,1 203,5

(Nguồn: Tổng cục thống kê qua các năm)Phương tiện khai thác thủy sản nội địa rất thô sơ, chủ yếu là các công cụ khai tháctruyền thống có từ lâu đời như chài, lưới, đăng,…, chưa kể tới kích điện, xung điện… đây

Trang 10

là những phương tiện có tính hủy diệt rất cao, ngư dân có thể đánh bắt bất kỳ đối tượng

và kích thước nào mà gần như không gặp phải trở ngại nào

Khai thác thủy sản nội địa đóng vai trò quan trọng đối với dân nghèo vùng nông thônViệt Nam, không chỉ đối với những người đánh bắt chuyên nghiệp mà cả đối với những

hộ dân coi kết hợp đánh cá như một sinh kế phụ bên cạnh những nghề khác

3 Giá trị sản lượng khai thác

Sản lượng khai thác cá nội địa bao gồm cả khai thác thủy sản dựa trên nuôi thả, thôngqua việc thả giống ở các hồ chứa, đập hoặc các mặt nước khác, chủ yếu là cá chép và cá

Năm 2010

Tỷ lệ (%)

Năm 2012

Tỷ lệ (%)

2 Khai thác biển

1 Nguồn lợi hải sản

Theo thống kê cho thấy biển Việt Nam có chừng 11.000 loài sinh vật đã được pháphiện Trong đó có khoảng 6000 loài động vật đáy, 2.038 loài cá, 1640 loài giáp xác, 2500loài nhuyễn thể, 650 loài rong biển, 25 loài mực, 7loài bạch tuộc,… Vùng biển đặc quyềnkinh tế của nước ta trữ lượng hải sản dao động trong khoảng 3,2 – 4,2 triệu tấn/năm vớikhả năng khai thác bền vững 1,4 – 1,8 triệu tấn Với những tiếm năng trên ngành khai

Trang 11

thác thủy hải sản ở Việt Nam xuất hiện từ rất sớm nhưng chủ yếu tập trung đánh bắt ven

bờ trong khi nguồn lợi xa bờ chưa khai thác hết

Nguồn lợi xa bờ

Đây là vùng nước ngoài khơi thuộc vùng biển đặc quyền kinh tế, được tính từ đườngcách bờ biển 24 hải lí đến giới hạn ngoài của vùng biển Việt Nam Mặc dù hoạt động khaithác đã diễn ra từ những năm 90 nhưng chưa có nhiều nghiên cứu về nguồn lợi ở khu vựcnày Trong những năm gần đây hoạt động khai thác đã diễn ra khá mạnh mẽ ở nhiều ngưtrường ở cả 5 vùng biển khơi vịnh Bắc Bộ, Duyên hải Trung Bộ, Đông Nam Bộ, TâyNam Bộ và vịnh Thái Lan

Dựa trên những số liệu sẵn có và phân tích thực tiễn khai thác trong những năm gầnđây có thể thấy rằng nguồn lợi thủy sản xa bờ ở nước ta nhìn chung không giàu, mứcphong phú trung bình, độ sâu càng lớn mật độ càng giảm và nguồn lợi cũng ít phong phú.Các loại hải sản có giá trị kinh tế cao chỉ chiếm số lượng và tỉ lệ thấp, thành phần cá tạpchiếm tỉ lệ cao Trong đó vùng biển Đông Nam Bộ có khả năng khai thác hải sản xa bờlớn nhất chiếm 49,7% khả năng khai thác cả nước, sau đó là Vịnh Bắc Bộ (16%), biểnmiển Trung (14,3%), Tây Nam Bộ(11,9%) Tuy nhiên, lượng cá có thể xuất khẩu trongsản lượng đánh bắt xa bờ là không cao, ở miền Bắc chỉ chiếm khoảng 5 – 15% sản lượng,miền Trung chỉ xuất khẩu được một số loài cá nổi lớn và mực, ở Đông và Tây Nam Bộlượng cá này cũng chỉ chiểm khoảng 20 – 30% Tỉ lệ cá tạp trung bình chiếm đến 40%.Nhìn chung, nguồn lợi mang tính phân án, đàn cá nhỏ, khó đạt hiệu quả cao khi tiếnhành khai thác ở quy mô lớn; điều kiện thủy văn, khí hậu ở vùng này thất thường, cónhiều dông, bão thêm vào đó công tác hậu cần chưa tốt làm cho quá trình khai thác chịunhiều rủi ro, tốn thêm chi phí

Nguồn lợi ven bờ

Vùng nước mặn ven bờ là vùng sinh thái quan trọng nhất đối với các loài thủy sinhvật Vùng này có nguồn thức ăn dồi dào do phù sa và các loại chất vô cơ cũng như hữu cơhòa tan từ các cửa sông lạch đổ ra Đó là nguồn thức ăn rất tốt cho các loài sinh vật bậcthấp và đến lượt mình chúng lại trở thành thức ăn cho tôm, cá Vì vậy, vùng này là bãisinh sản, cư trú, phát triển của nhiều loài thủy sản

Vùng Đông Nam Bộ và vùng Tây Nam Bộ là vùng sinh thái có sản lượng khai tháccao nhất, có thể chiếm tới 67% tổng lượng hải sản khai thác ở Việt Nam

Vịnh Bắc Bộ với hàng nghìn hòn đảo tạo nên nhiều bãi triều quanh đảo, có thể nuôicác loài nhuyễn thể có giá trị như trai ngọc,vẹm xanh, vẹm nâu, hàu sông, hàu biển, bàongư, sò huyết, sò lông, ngao dầu, ngao mật,

Trang 12

Đặc tính nguồn lợi này gây khó khăn cho hoạt động khai thác khi phải chọn lựa cácthông số kỹ thuật của ngư cụ sao cho vừa kinh tế,vừa có tính chọn lọc cao (các ngư cụ cókhả năng đánh bắt một cách lựa chọn đối tượng cần khai thác) Nghề đánh cá biển củaViệt Nam mang tính chất đa loài Do kích cỡ cá cũng như kích cỡ đàn rất khác nhau nêncần có đội tàu đa dạng.

Đặc tính phong phú về loài nhưng số lượng cá thể mỗi loài lại không nhiều cũng gâykhó khăn cho các nhà chế biến Với mỗi mẻ lưới, nhất là đối với nghề lưới kéo (giã cào),phải rất mất công phân loại cá, tôm theo loài để xử lý,bảo quản và chế biến

Ngày đăng: 09/09/2021, 14:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w