Mặt khác khi làm các thí nghiệm vật lí có tác dụng to lớn trong việc phát triển nhận thức của học sinh, giúp các em quen dần với phương pháp nghiên cứu khoa học vì qua đó các em được tập
Trang 1Lời Ngỏ
Thời đại ngày nay, khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, kho tàng kiến thức của nhân loại tăng lên nhanh chĩng Cái mà hơm nay cịn mới thì ngày mai
cĩ thể đã trở thành lạc hậu Muốn thực hiện cơng nghiệp hĩa, hiện đại hĩa đất nước thì điều khơng thể thiếu là phải nhanh chĩng tiếp thu những thành tựu khoa học và cơng nghệ hiện đại của thế giới
Nhà trường cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản và học sinh phải biết tự mình cập nhật những kiến thức mới theo kịp thời đại Những kiến thức mà học sinh nắm được khơng phải tự phát mà là cả một quá trình rèn luyện cĩ mục đích, cĩ kế hoạch và cĩ tổ chức chặt chẽ Nĩ là quá trình học sinh tự nỗ lực và phát huy khả năng tư duy sáng tạo của mình dưới sự hướng dẫn của giáo viên Trong quá trình ấy, mức độ tự lực của học sinh càng cao thì kiến thức nắm được càng sâu sắc, tư duy càng phát triển, năng lực nhận thức được nâng cao, kết quả học tập ngày càng tiến bộ
Sự phát triển của kinh tế thị trường cùng với sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức địi hỏi mỗi người lao động khơng những phải cĩ trình độ văn hĩa mà cịn phải thật sự năng động, sáng tạo thì mới cĩ thể hịa nhập với sự phát triển của xã hội Do đĩ vấn đề quan trọng đối với một con người là khơng chỉ tiếp thu thơng tin mà cịn phải biết xử lý thơng tin để tìm ra giải pháp tốt nhất cho vấn đề đặt ra trong cuộc sống
Vì vậy vấn đề đặt ra cho người làm cơng tác giáo dục là làm thế nào để việc giảng dạy của mình đem lại kết quả cao và phát huy khả năng sáng tạo, hình thành năng lực hoạt động của học sinh, tạo cho các em lịng say mê khoa học Là một giáo viên cơng tác để phục vụ cho sự nghiệp “trồng người” muốn gĩp phần nhỏ vào đĩ với đề tài:
” Tổ chức, hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm trong giờ học vật lí-phần điện học” mơn vật lí 9
Trong quá trình làm đề tài này, ngồi sự nỗ lực cố gắng của bản thân cịn được sự hỗ trợ của các thầy, cơ đồng nghiệp và sự cộng tác nhiệt tình của tập thể học sinh Tơi thành thật cảm ơn tất cả đã giúp tơi hồn thành đề tài này
Xin chân thành cám ơn!
Trang 2I/ PHẦN I: LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1/ Đặt vấn đề:
a) Cơ sở lí luận:
Nước ta đang trong thời kì mở cửa để hội nhập nền kinh tế thế giới đưa đất nước sớm trở thành một nước công nghiệp phát triển Muốn đạt được mục tiêu đó đòi hỏi phải hội đủ tất cả các nguồn lực bên trong lẫn bên ngoài và nhân tố không thể thiếu là nguồn nhân lực
Vì vậy ngành giáo dục có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành con người mới XHCN- con người có trình độ khoa học kĩ thuật, năng động, sáng tạo,
có tác phong công nghiệp Đặc biệt trong thời đại ngày nay khi mà cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đang diễn ra như vũ bão trên phạm vi toàn thế giới thì kéo theo hàng loạt các phát minh khoa học ra đời, một hệ quả tất yếu của sự phát triển
là khối lượng kiến thức khoa học mà con người tích lũy ngày càng đồ sộ Dân tộc Việt Nam phải hòa mình vào dòng chảy đó nếu không sẽ bị tụt hậu Chính vì thế mỗi người cán bộ, công nhân, học sinh dù đang hoạt động hay công tác trong lĩnh vực nào, ngành nào cũng phải hoạt động tích cực, sáng tạo để đem lại hiệu quả cao góp phần công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và một trong những yếu tố giúp con người hoạt động có hiệu quả là làm việc có mục tiêu, tác phong khoa học và
có phương pháp cụ thể
b) Cơ sở thực tiễn:
Từ thực tiễn của cuộc sống nên công tác giáo dục cũng có nhiều thay đổi Bên cạnh nhiệm vụ trang bị những kiến thức và hiểu biết cần thiết, mỗi bộ môn ở trường phổ thông còn phải rèn luyện và phát triển ở học sinh những kĩ năng, năng lực nhận thức và góp phần hình thành ở các em những phẩm chất, nhân cách phù hợp với yêu cầu xã hội hiện nay như tinh thần trách nhiệm, tác phong làm việc khoa học, khả năng hòa nhập, hợp tác, tự đánh giá, nhận định, phê phán,…
Một trong các bộ môn ấy thì vật lí – môn khoa học thực nghiệm được bộ giáo dục và đào tạo đưa vào học chính thức từ năm lớp 6, nội dung kiến thức môn vật lí ở cấp trung học cơ sở có thể chia thành các phần: cơ, nhiệt, quang, điện, âm học, năng lượng Ở các lớp đầu cấp các hiện tượng, thuộc tính, quá trình vật lí được khảo sát ở mức độ bán định lượng, định tính; ở các lớp cuối cấp mức độ định lượng và trừu tượng hóa tăng dần
Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm vì vậy trong giảng dạy và học tập môn vật lí, thí nghiệm là một khâu có vai trò rất quan trọng Nó không chỉ làm tăng tính hấp dẫn của môn học, giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn các kiến thức lý thuyết đã học và rèn luyện kĩ năng thực nghiệm của học sinh Điều quan trọng hơn nữa là việc sử dụng thí nghiệm trực quan từng bước tạo cho học sinh một trực giác nhạy bén đối với các hiện tượng vật lí
Tiến hành thí nghiệm vật lí trong nhà trường là một trong các biện pháp quan trọng nhất để phấn đấu nâng cao chất lượng dạy và học vật lí Điều này quyết định bởi vì đặc điểm của khoa học vật lí là khoa học thực nghiệm, nguyên tắc dạy học là nguyên tắc trực quan, “ học đi đôi với hành”
Mặt khác khi làm các thí nghiệm vật lí có tác dụng to lớn trong việc phát triển nhận thức của học sinh, giúp các em quen dần với phương pháp nghiên cứu khoa học vì qua đó các em được tập quan sát, đo đạc, được rèn luyện tính cẩn
Trang 3thận, kiên trì Điều đó rất cần cho việc giáo dục kỹ thuật tổng hợp, chuẩn bị cho học sinh tham gia hoạt động thực tế Bên cạnh đó do được tận mắt, tự tay tháo lắp các dụng cụ, thiết bị và đo lường các đại lượng nhờ vậy mà các em có thể nhanh chóng làm quen với những dụng cụ và thiết bị trong đời sống và sản xuất sau này
Đặc biệt khi thực hiện các thí nghiệm vật lí còn rèn luyện cho học sinh kĩ năng thực hành, thái độ ứng xử trong thực hành Đây là yếu tố cần thiết cho việc học tập vật lí ở các cấp học trên
Bên cạnh đó Bộ giáo dục và đào tạo đã triển khai thay sách giáo khoa với mục tiêu giảm tải kiến thức, tăng tính chủ động, sáng tạo cho học sinh đồng thời phần lớn các kiến thức khoa học tự nhiên mới đều được rút ra từ thực nghiệm cho nên trong dạy học vật lí việc khai thác hiệu quả vai trò của thí nghiệm là một trong những vấn đề hết sức cần thiết Thí nghiệm là nguồn cung cấp thông tin chính xác,
dễ hiểu về các sự vật và hiện tượng, là phương tiện tốt để kiểm tra tính đúng đắn của các kiến thức vật lí, là phương tiện rèn luyện sự khéo léo cho học sinh Thí nghiệm góp phần đánh giá năng lực và phát triển khả năng tư duy, giúp củng cố và vận dụng kiến thức một cách vững chắc cho học sinh Thí nghiệm có tác động mạnh đến giác quan của học sinh, thông qua thí nghiệm và bằng thí nghiệm có thể tạo ra cho học sinh sự hứng thú, tích cực trong học tập giống như Lê nin đã từng nói về con đường biện chứng của nhận thức chân lý khách quan là “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn”
Qua nhiều năm giảng dạy vật lí ở nhà trường tôi nhận thấy rằng với các tiết học có sử dụng thí nghiệm học sinh tỏ ra hứng thú, hiểu bài hơn vì thế nên tôi luôn suy nghĩ và tìm ra biện pháp để tổ chức và rèn luyện cho học sinh kĩ năng, phương pháp tiến hành thí nghiệm có hiệu quả để từ đó các em tiếp thu kiến thức tốt hơn
và vận dụng kiến thức vào thực tiễn một cách sáng tạo hơn Với mong muốn như
vậy nên tôi đã chọn đề tài: “Tổ chức, hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm trong
giờ học vật lí- phần điện học” môn vật lí 9.
2) Mục đích đề tài:
- Rèn cho học sinh tác phong làm việc khoa học, có kế hoạch, có kĩ năng sáng tạo và vận dụng kiến thức vào thực tiễn
- Rèn luyện cho học sinh các kĩ năng thực hành và thái độ ứng xử trong thực hành
- Rèn kĩ năng phân tích, xử lý thông tin và giải thích các hiện tượng vật lí thực tế
- Giúp học sinh rèn luyện tinh thần trách nhiệm cao, khả năng hợp tác thông qua việc học tập theo nhóm
- Bản thân mong muốn các em được khắc sâu kiến thức hơn sau mỗi lần thí nghiệm
3) Lịch sử đề tài:
Trước những biến đổi của xã hội ta phải đổi mới phương pháp dạy học, theo phương pháp này thì học sinh là “trung tâm” của quá trình dạy học, các em phải suy nghĩ nhiều hơn, làm nhiều hơn và thảo luận nhiều hơn
Đặc biết đối với môn vật lí các em không còn tiếp thu kiến thức theo kiểu truyền thụ - tiếp nhận nữa mà các em trực tiếp tiến hành thí nghiệm, được quan sát thực tiễn, tự do thảo luận để rút ra nhận xét, kết luận cần thiết
Trang 4Trước đây học sinh bắt đầu làm quen với môn học này từ năm lớp 7 nhưng
từ khi chương trình sách giáo khoa đổi mới thì các em lại bắt đầu học bộ môn này ngay từ năm lớp 6 và theo chương trình cũ thì con đường hình thành kiến thức thiên về mô tả thí nghiệm rồi thông báo kết luận còn chương trình mới bây giờ học sinh tiếp nhận kiến thức bằng con đường thực nghiệm, xuất phát từ kinh nghiệm cuộc sống, từ những quan sát thực tiễn, giảm nhẹ những suy luận phức tạp Cho nên đề tài này đề cập đến một vấn đề tương đối mới và phù hợp với định hướng đổi mới phương pháp áp dụng cho việc giảng dạy vật lí nhưng nó được cụ thể hơn
4) Phạm vi đề tài:
Là giáo viên dạy vật lí, nhận thức sâu sắc được tầm quan trọng của thí nghiệm vật lí trong việc đáp ứng mục tiêu của bộ môn cho nên tôi nghiên cứu và chọn đề tài này nhằm giúp học sinh tiến hành thí nghiệm đạt hiệu quả cao
Đối tượng mà tôi nghiên cứu là toàn thể học sinh khối 9 trường trung học cơ
sở Nguyễn Thành Nam, tôi tổ chức cho học sinh ở các tiết học và trong cả tiết thực hành và tiết bồi dưỡng học sinh giỏi
Ngoài ra với đề tài này còn có thể áp dụng cho tất cả học sinh bậc trung học trong việc học tập các bộ môn khoa học tự nhiên đặc biệt là những môn có tiến hành thí nghiệm như sinh học, hóa học, công nghệ,
Để hoàn thành bài tập nghiên cứu này trong quá trình thực hiện tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu: phân tích, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa các thí nghiệm liên quan đến đề tài Ngoài ra tôi còn sử dụng một số phương pháp
để phục vụ cho việc nghiên cứu như: điều tra giáo dục, quan sát sư phạm, thực nghiệm sư phạm
Trang 5II/ PHẦN II: NỘI DUNG VÀ CÔNG VIỆC ĐÃ LÀM:
1) Thực trạng đề tài:
Chương trình vật lí phổ thông cơ sở được chia thành 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: lớp 6 và lớp 7: vì khả năng tư duy của học sinh còn hạn chế, vốn kiến thức toán học chưa nhiều nên chương trình chỉ đề cập đến những hiện tượng vật lí quen thuộc thường gặp hàng ngày về mặt định tính, rất ít công thức, phần nhiều dừng ở mức hình thành biểu tượng Ví dụ như:
* Lớp 6:
+ Các máy cơ đơn giản: chỉ khai thác khía cạnh được lợi về lực thiệt về đường đi,… dừng lại ở mức độ bán định lượng, không đi đến công thức chính xác,
…
+ Sự chuyển thể của các chất: dừng lại ở việc tìm hiểu các đặc điểm định tính của quá trình này mà không yêu cầu hình thành công thức và tính toán nhiệt lượng thu vào hay tỏa ra khi vật chuyển thể,…
* Lớp 7:
+ Khi tìm hiểu đường truyền của ánh sáng, yêu cầu học sinh làm thí nghiệm
để quan sát dây tóc bóng đèn, từ thực tế dẫn dắt học sinh đưa ra dự đoán câu C1, hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm kiểm tra dự đoán (C2),…
+ Tìm hiểu định luật phản xạ ánh sáng: yêu cầu học sinh dự đoán mối quan
hệ giữa góc phản xạ và góc tới, làm thí nghiệm kiểm tra mối quan hệ này
+ Dự đoán sự rung động của âm thoa khi phát ra âm và tìm cách kiểm tra dự đoán
- Giai đoạn 2: lớp 8 và lớp 9: vì khả năng tư duy của học sinh đã phát triển, học sinh đã có một số hiểu biết ban đầu về các hiện tượng vật lí xung quanh, ít nhiều có thói quen hoạt động theo những yêu cầu chặt chẽ của việc học vật lí, vốn kiến thức toán học cũng được nâng cao thêm một bước Do đó việc học môn vật lí
ở giai đoạn này đặt ra mục tiêu cao hơn Các kiến thức vật lí được lựa chọn, sắp xếp một cách hệ thống hơn theo lôgic của khoa học vật lí, trình tự phức tạp tăng dần lên của các dạng vận động vật chất
- Chương trình vật lí lớp 9 học sinh được tiếp tục học mảng kiến thức về điện học, điện từ học, quang học mà các em đã được học ở lớp 7 đồng thời được
bổ sung thêm kiến thức về năng lượng và ánh sáng Học sinh được tìm hiểu về những kiến thức ứng dụng thực tế ở mức độ cao hơn như: tìm hiểu tại sao dây dẫn điện trong nhà lại có kích thước khác với dây dẫn điện ngoài trời; hoặc là giải thích được tại sao có trường hợp bếp điện sử dụng dây nung là dây mayso bị đứt tại sao khi nối lại để tiếp tục sử dụng thì cường độ dòng điện qua dây nung lại tăng
so với trước (hiệu điện thế giữa hai đầu dây không đổi) ; hoặc là tại sao người ta
có thể điều chỉnh độ sáng, tối của đèn điện được? hoặc là học sinh hiểu được ý nghĩa số ghi trên các dụng cụ, thiết bị điện, có thể tính được tiền điện tiêu thụ hàng tháng của hộ gia đình, Hoặc ở mức độ cao hơn nữa học sinh được tìm hiểu nguyên tắc tạo ra dòng điện xoay chiều, tìm hiểu cấu tạo của máy phát điện xoay chiều; tìm hiểu về từ tính của nam châm, nam châm điện, cách làm tăng lực từ của nam châm điện; ứng dụng của nam châm điện trong thực tế;
Trang 6Như vậy ta có thể xem môn vật lí ở trường THCS là cầu nối quan trọng, một mặt nó phát triển và hệ thống hóa các kiến thức, kĩ năng mà học sinh lĩnh hội ở bậc tiểu học, mặt khác nó góp phần chuẩn bị cho học sinh những kiến thức, kĩ năng và thái độ cần thiết để tiếp tục học lên THPT và THCN, học nghề hoặc đi vào các lĩnh vực lao động sản xuất đòi hỏi những hiểu biết nhất định về vật lí chẳng hạn như ngành điện, giao thông vận tải, hàng hải, ngành cơ khí,
- Ngoài ra môn vật lí bồi dưỡng cho học sinh lòng ham thích khoa học, trí tò
mò, sự sáng tạo, ý thức tích cực và gần gũi với thiên nhiên thông qua việc giải thích các hiện tượng tự nhiên đồng thời cũng rèn cho học sinh những kĩ năng, kĩ xảo trong việc sử dụng dụng cụ có nhiều ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày như: thước đo độ dài, cân, nhiệt kế, đòn bẩy, ròng rọc, mặt phẳng nghiêng, công tơ điện, đồng hồ đo điện đa năng, …Bên cạnh đó việc tiếp thu tốt các kiến thức vật lí còn giúp học sinh có nhiều cơ hội tham gia cuộc thi sáng tạo khoa học kĩ thuật cho thanh thiếu niên Đây là một trong những cuộc thi có tầm cỡ cấp quốc gia mà Bộ giáo dục và đào tạo đang triển khai thực hiện
Trong chương trình vật lí THCS nói chung và vật lí lớp 9 nói riêng hầu hết các tiết học đều có thực hiện thí nghiệm hoặc xử lý kết quả thí nghiệm bởi vì phương pháp thực nghiệm là phương pháp tối ưu để học sinh lĩnh hội kiến thức một cách tự nhiên và sâu sắc nhất Điểm chung của các loại thí nghiệm là hình thành kiến thức vật lí, học sinh tự khẳng định lại sự đúng đắn của lý thuyết, chuyển kiến thức chung thành kiến thức riêng của mình Do đó việc thực hiện thí nghiệm thành công sẽ đem lại hiệu quả cao trong quá trình dạy và học, tạo được sự hứng thú của học sinh đối với bộ môn và góp phần thúc đẩy sự tích cực, chủ động hợp tác của học sinh trong việc thực hiện các nhiệm vụ học tập (đây là một trong những tiêu chí đánh giá tiết dạy theo mô hình mới hiện nay)
- Bên cạnh đó qua trao đổi với một số thầy cô đồng nghiệp tôi nhận thấy:
+ Một số giáo viên dạy vật lí cảm thấy rằng dạy môn này khá vất vả nhất là đối với chương trình đổi mới hiện nay, vất vả là vì mỗi bài đều có thí nghiệm thậm chí có bài thực hiện khoảng 2 – 3 thí nghiệm Các thí nghiệm chiếm khá nhiều thời gian của giờ lên lớp nên thường xảy ra “cháy giáo án” Cả giáo viên và học sinh luôn ở trong trạng thái chạy đua với thời gian nên không có nhiều thời gian để mở rộng kiến thức thêm cho học sinh đó là chưa kể nếu thí nghiệm không thành công hoặc kết quả sai số nhiều thì phải mất nhiều thời gian để kiểm tra lại các dụng cụ, cách tiến hành thí nghiệm, ghi kết quả thí nghiệm và xử lý số liệu
Máy phát điện xoay chiều Ứng dụng của nam châm điện
Trang 7+ Một số giáo viên khác cho rằng tuy có vất vả nhưng tình trạng “cháy giáo án” vẫn có thể khắc phục được chỉ cần ta chuẩn bị tốt, lựa chọn dụng cụ thí nghiệm và khéo léo điều khiển học sinh sao cho các thí nghiệm diễn ra nhanh chóng và đạt hiệu quả cao thì có thể phân bố lại thời gian một cách hợp lý trong từng tiết học như vậy ta phải thêm một khoảng thời gian để chuẩn bị và lựa chọn dụng cụ thí nghiệm trước cho học sinh
+ Một thực tế chung mà phần lớn giáo viên dạy vật lí đều công nhận đó là
do sỉ số lớp học quá đông nên khi chia nhóm thì số học sinh ở mỗi nhóm khá đông gây khó khăn cho việc quản lý các em trong quá trình làm thí nghiệm; một số dụng
cụ nhận về là có hạn nhưng lại không đồng nhất với nhau về kỹ thuật, hướng dẫn
sử dụng đôi khi sử dụng tiếng nước ngoài nên cũng gây không ít khó khăn cho giáo viên và học sinh khi thực hành, đối chiếu, so sánh kết quả
Nhìn chung qua trao đổi thì phần lớn giáo viên đều nhận thấy rằng việc tổ chức cho học sinh thực hiện tốt thí nghiệm vật lí có vai trò quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng bài dạy, chất lượng môn học vì thế ngay từ những bài học đầu tiên tôi luôn cố gắng cho học sinh làm quen với các dụng cụ thí nghiệm và hướng dẫn các em cách sử dụng các dụng cụ thí nghiệm
Ngay từ đầu năm học tôi đã quyết định chọn học sinh khối 9 làm đối tượng nghiên cứu của mình vì vậy khi trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm tôi chú ý quan sát và lưu ý đối với nhóm thực hiện khá – tốt các yêu cầu của thí nghiệm và các nhóm thực hiện chưa đạt yêu cầu, sau đó tôi thảo luận riêng với các nhóm này để tìm ra nguyên nhân như thế nào Sau đây tôi xin trích một vài
ý kiến có liên quan đến đề tài này:
Câu hỏi trao đổi Nhóm thực hiện khá – tốt Nhóm chưa đạt yêu cầu
1 Em có xem
trước nội dung bài
học ở nhà không?
2 Theo em cần
phải làm gì để thực
hiện tốt các yêu
cầu thí nghiệm
trong sách giáo
khoa?
- Dạ có, em đọc khoảng 2-3 lần
- Xem trước nội dung ở nhà
- Vào lớp chú ý quan sát
kĩ và lắng nghe giáo viên hướng dẫn
- Làm thí nghiệm tuyệt đối nghiêm túc
- Các bạn trong nhóm hợp tác, tích cực giúp đỡ lẫn nhau
- Rất ít khi xem
- Không cần xem trước vì vào lớp cô hướng dẫn lại
- Vào lớp có quan sát giáo viên hướng dẫn nhưng thí nghiệm dài nên chúng em không nhớ các bước
- Các bạn trong nhóm mỗi người một ý tranh cãi
mà không đưa ra phương
án thí nghiệm nên kết quả thường chậm hơn các nhóm khác
Qua trao đổi với các em học sinh tôi nhận thấy có một số nguyên nhân sau đây dẫn đến kết quả tiến hành thí nghiệm của các em chưa cao là:
Trang 8+ Các em quá chủ quan, không nhận thức được tầm quan trọng của việc đọc sách giáo khoa ở nhà
+ Các em chưa có tính kỷ luật cao trong khi tiến hành thí nghiệm, một số
em còn hay nghịch phá dụng cụ hoặc dửng dưng không tự giác hòa nhập cùng chung sức với các bạn
+ Do đối với học sinh các dụng cụ rất lạ mắt, hấp dẫn nên các em chỉ tập trung chú ý quan sát dụng cụ mà không chú ý nghe theo lời hướng dẫn của giáo viên mà đôi lúc còn khám phá dụng cụ thí nghiệm theo một hướng khác không như giáo viên đã hướng dẫn
+ Do các em chưa có kĩ năng hoạt động và làm việc theo nhóm mặc dù các
em đã được làm quen với phương pháp học này từ lớp 6
+ Không biết mục đích thí nghiệm là gì?
+ Để tiến hành thí nghiệm thì phải mất khá nhiều thời gian trong một tiết học nên nếu không có kế hoạch hay sự sắp xếp, chuẩn bị chu đáo thì khó tránh khỏi tình trạng không kịp thời gian và điều này ít nhiều ảnh hưởng đến hứng thú thực hành và chất lượng học tập của học sinh
Đầu năm học tôi có thực hiện một khảo sát đối với học sinh khối 9 với nội dung: yêu cầu học sinh mắc mạch điện gồm 2 bóng đèn mắc nối tiếp sau đó tiến hành đo cường độ dòng điện I qua mỗi bóng đèn và hiệu điện thế giữa hai đầu mỗi đèn (đã học ở chương trình vật lí lớp 7)
Kết quả đạt được như sau:
Lớp Sỉ số Nhóm đạt yêu cầu Chưa đạt yêu cầu
91 31 (4 nhóm) Nhóm 1: có 4 HS trong
nhóm
Còn lại: 27 HS
92 29 (4 nhóm) Nhóm 3: có 3 HS trong
nhóm
Còn lại: 26 HS
93 27 (4 nhóm) Nhóm 4: có 3 HS trong
nhóm
Còn lại: 24 HS
* Trong đó: nhóm đạt yêu cầu: mắc đúng mạch điện; một số mắc đúng dụng cụ đo cường độ dòng điện và hiệu điện thế nhưng đa số chưa đọc được kết quả đo
Chưa đạt yêu cầu: chưa mắc đúng mạch điện gồm 2 đèn mắc nối tiếp, chưa
sử dụng được dụng cụ đo theo yêu cầu
2) Nội dung cần giải quyết:
Từ thực trạng trên, với trách nhiệm của người giáo viên khiến tôi luôn suy nghĩ phải làm thế nào đây? Và cuối cùng tôi quyết định đặt ra cho mình vấn đề là phải tìm biện pháp để tổ chức, hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm vật lí có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng học tập của các em với những nội dung cần giải quyết như sau:
- Phải làm thế nào để học sinh ý thức được vai trò của thí nghiệm trong quá trình học vật lí?
- Phải có biện pháp tổ chức và hướng dẫn học sinh tiến hành thí nghiệm vật
lí một cách hiệu quả
- Phải làm thế nào để kích thích tính tò mò khoa học và hứng thú đối với môn học?
Trang 93) Biện pháp giải quyết:
Từ cơ sở nghiên cứu trên cộng với kinh nghiệm của bản thân và sự học hỏi kinh nghiệm từ các thầy, cô đồng nghiệp tôi đã tiến hành một số biện pháp cụ thể như sau:
Đối với giáo viên:
- Phải phân biệt được sự khác nhau của một số loại thí nghiệm
- Phải nắm rõ tính năng của các dụng cụ thí nghiệm
- Phải tiến hành thí nghiệm trước vài lần và đảm bảo thí nghiệm phải thành công
- Đảm bảo bố trí thí nghiệm cho cả lớp quan sát được
- Giáo viên phải thực hiện đúng tinh thần, mục tiêu và yêu cầu của chương trình sách giáo khoa mới
- Giao việc về nhà cho học sinh sau mỗi bài học
- Kết hợp thí nghiệm với các phương tiện trực quan, nghe nhìn
Đối với học sinh:
- Chia nhóm một cách hợp lí
- Giáo dục học sinh vai trò quan trọng của việc em trước nội dung sách giáo khoa ở nhà
- Cần kích thích tính tự giác, tích cực hoạt động của học sinh vè rèn cho các
em thói quen hợp tác với các bạn trong nhóm
- Giáo dục học sinh ý thức làm việc có tổ chức, kỷ luật và ý thức bảo vệ của công
Đối với thí nghiệm phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau đây:
- Thí nghiệm phải thành công
- Thí nghiệm phải chính xác
- Thí nghiệm phải an toàn
Sau đây tôi xin đi vào phân tích từng biện pháp cụ thể:
3.1) Đối với giáo viên:
3.1.1) Giáo viên cần phải phân biệt được sự khác nhau của một số loại thí nghiệm
a) Thí nghiệm phát hiện kiến thức mới: từ những thí nghiệm đơn giản giáo viên hướng dẫn học sinh rút ra được nhận xét để từ đó hình thành khái niệm mới
Các bước tiến hành thí nghiệm như sau:
Bước 1: Đặt vấn đề:
- Từ những vấn đề trong cuộc sống, những hiện tượng gần gũi với các em, giáo viên làm xuất hiện tình huống gây tò mò, kích thích sự khám phá của các em
- Giáo viên cho học sinh đưa ra nhiều phương án
(Giáo viên tuyệt đối không dùng kết luận trong sách giáo khoa làm giả thiết);
Bước 2:
- Giáo viên nêu mục đích thí nghiệm
- Giáo viên giới thiệu dụng cụ thí nghiệm, cách lắp ráp
- Giáo viên nêu các bước tiến hành thí nghiệm đã ghi sẵn trên bảng phụ
Bước 3:
Trang 10- Học sinh chọn dụng cụ thí nghiệm và lắp ráp dụng cụ.
- Học sinh tiến hành thí nghiệm, thảo luận, ghi kết quả thí nghiệm
Bước 4:
- Học sinh lần lượt trả lời hệ thống các câu hỏi của giáo viên đặt ra
- Học sinh tự rút ra kết luận
Bước 5:
- Giáo viên giải thích một số vấn đề liên quan mà các em thắc mắc, giải thích sự sai lệch về kết quả thí nghiệm nếu có
- Nâng cao kiến thức đối với học sinh khá giỏi
Bước 6:
- Chuẩn xác hoá các câu trả lời, câu kết luận, cũng cố kiến thức
Ví dụ: thiết kế tiến trình bài học: Sự phụ thuộc của cường độ dòng điện vào
hiệu điện thế giữa hai đầu dây dẫn (nội dung I của bài)
Bước 1: đặt vấn đề:
- Ở lớp 7 ta đã biết, khi hiệu điện thế đặt vào hai đầu bóng đèn càng lớn thì dòng điện chạy qua đèn có cường độ càng lớn và đèn càng sáng Bây giờ ta cần tìm hiểu xem cường độ dòng điện chạy qua dây dẫn điện có tỉ lệ với hiệu điện thế đặt vào hai đầu dây dẫn đó hay không?
Bước 2:
- Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát sơ đồ hình 1.1 sách giáo khoa
- Nêu mục đích thí nghiệm: tìm hiểu cường độ dòng điện chạy qua dây dẫn có tỉ lệ
với hiệu điện thế đặt vào hai đầu dây dẫn đó hay không bằng cách thực hiện đo cường độ dòng điện chạy qua dây dẫn ứng với các hiệu điện thế khác nhau đặt vào
hai đầu dây dẫn đó
- Giới thiệu dụng cụ thí nghiệm:
1 bảng lắp điện
1 dây constantan (φ 0,3mm, dài 1800mm)
1 ampe kế
1 vôn kế
1 nguồn điện 6V
1 ngắt điện (khóa)
Dây nối
- Hướng dẫn học sinh các bước tiến hành thí nghiệm:
+ Lắp vào bảng mạch điện theo sơ đồ như hình vẽ
•
•
+
+
-+ -Dây dẫn đang xét