TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA DƯỢC – ĐIỀU DƯỠNG TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH ĐIỀU DƯỠNG MÃ SỐ: 51720501 KHẢO SÁT KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ AN TOÀN TRUYỀN MÁU CỦA ĐIỀU DƯỠNG
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA DƯỢC – ĐIỀU DƯỠNG
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH ĐIỀU DƯỠNG
MÃ SỐ: 51720501
KHẢO SÁT KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ AN TOÀN TRUYỀN MÁU CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN
ĐA KHOA THÀNH PHỐ CẦN THƠ
NĂM 2017
Cần Thơ, năm 2017
Sinh viên thực hiện ĐOÀN THỊ TRÚC LY MSSV: 13D720501021 LỚP: ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG 8 Cán bộ hướng dẫn
Ths TRẦN TRÚC LINH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA DƯỢC – ĐIỀU DƯỠNG
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH ĐIỀU DƯỠNG
MÃ SỐ: 51720501
KHẢO SÁT KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ AN TOÀN TRUYỀN MÁU CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN
ĐA KHOA THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Ths TRẦN TRÚC LINH
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Để hoàn thành tiểu luận tốt nghiệp này, tôi xin chân thành cảm ơn:
Quý thầy cô trong Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo, khoa Dược - Điều dưỡng, các phòng ban của trường Đại học Tây Đô đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện tiểu luận này
Cô Ths Trần Trúc Linh, người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện tiểu luận
Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Bác sĩ và Điều dưỡng tại bệnh viện
đa khoa Thành phố Cần Thơ đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thu thập số liệu
Các bạn đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã động viên, ủng hộ tôi trong quá trình học cũng như thực hiện tiểu luận này
Sinh viên
Đoàn Thị Trúc Ly
Trang 4LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả, số liệu thu được trong tiểu luận là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nghiên cứu nào khác
Sinh viên
Đoàn Thị Trúc Ly
Trang 5TÓM TẮT
An toàn truyền máu là một trong những yêu cầu cơ bản của truyền máu An toàn truyền máu là một quy trình khép kín từ việc chỉ định truyền máu đúng, sử dụng đúng máu và các chế phẩm phù hợp, theo dõi và xử trí tốt các biểu hiện trong quá trình truyền máu, theo dõi các tai biến có thể xảy ra trong và sau khi truyền… nhằm hạn chế
và phòng ngừa các phản ứng bất lợi có thể ảnh hưởng đến tính mạng bệnh nhân cũng như sức khỏe của bệnh nhân về sau An toàn truyền máu ngày nay được hiểu theo nghĩa rộng là an toàn cho người cho máu, an toàn cho nhân viên làm công tác truyền máu và an toàn cho người nhận máu
Hiện nay, tại các cơ sở điều trị, công tác truyền máu thường do điều dưỡng đảm nhận,
do đó người điều dưỡng giữ vai trò hết sức quan trọng, cuối cùng của việc thực hiện truyền máu an toàn Vì vậy, yêu cầu người điều dưỡng cần có đầy đủ kiến thức và kỹ năng về an toàn truyền máu là điều rất cần thiết tại cơ sở y tế Xuất phát từ thực tế trên
nên đề tài: “Khảo sát kiến thức và thực hành về an toàn truyền máu của điều
dưỡng tại bệnh viện đa khoa Thành phố Cần Thơ năm 2017” được tiến hành
nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nhằm 2 mục tiêu sau:
1 Xác định tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức đúng về an toàn truyền máu tại bệnh viện đa khoa Thành phố Cần Thơ năm 2017
2 Xác định tỷ lệ điều dưỡng có thực hành đúng về an toàn truyền máu tại bệnh viện đa khoa Thành phồ Cần Thơ năm 2017
Phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang
Kết quả: kiến thức và thực hành của điều dưỡng về an toàn truyền máu còn rất hạn chế, điều dưỡng có kiến thức đúng đạt chiếm 21,1%, điều dưỡng có thực hành đúng đạt chiếm 42,2%; còn 9,2% điều dưỡng thỉnh thoảng hoặc không làm phản ứng chéo tại giường trước khi truyền máu; 87,2% điều dưỡng có thực hiện phản ứng vi sinh vật khi truyền máu; 42,2% điều dưỡng không nhớ thời gian làm nguội máu trước khi truyền; có 55% điều dưỡng biết được nhiệt độ thích hợp để bảo quản máu là 2-6 0C; hơn 85% điều dưỡng biết được các chỉ định truyền máu và 99,1% điều dưỡng biết truyền máu cùng nhóm là tốt nhất; đa số các điều dưỡng biết được các vấn đề cần theo dõi trong suốt quá trình truyền máu chiếm gần 80% và có 94,5% điều dưỡng biết ngừng truyền máu ngay khi phát hiện dấu hiệu bất thường; có 64,2% điều dưỡng biết được thể tích máu cần giữ lại trong túi máu khi kết thúc truyền máu,…
Kết luận: việc nâng cao kiến thức và thực hành an toàn truyền máu cho điều dưỡng là rất quan trọng, vì vậy cần tăng cường tập huấn và giám sát thường xuyên quy trình truyền máu nhằm đảm bảo an toàn cho người bệnh
Trang 6MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CẢM TẠ i
LỜI CAM KẾT ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii
CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA TRUYỂN MÁU 3
2.1.1 Lịch sử phát triển truyền máu của thế giới 3
2.1.2 Lịch sử phát triển truyền máu của Việt Nam 4
2.2 KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ AN TOÀN TRUYỂN MÁU 5
2.2.1 Định nghĩa 5
2.2.2 Các trường hợp được và không được truyền máu 6
2.2.3 Nguyên tắc trong truyền máu 7
2.2.4 Ý nghĩa trong thực hành truyền máu 8
2.3 TAI BIẾN THƯỜNG GẶP DO TRUYỀN MÁU VÀ BIỆN PHÁP XỬ TRÍ 8
2.3.1 Các tai biến truyền máu do miễn dịch 8
2.3.2 Các tai biến truyền máu do nhiễm trùng 9
2.3.3 Tai biến do truyền máu khối lượng lớn 9
2.3.4 Tai biến khác 10
2.4 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ AN TOÀN TRUYỀN MÁU 10
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 12
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 12
3.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu 12
3.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ 12
3.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 12
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
3.2.1 Thiết kế nghiên cứu 12
3.2.2 Cỡ mẫu 12
Trang 73.2.3 Phương pháp chọn mẫu 12
3.2.4 Nội dung nghiên cứu 12
3.2.5 Phương pháp thu thập số liệu 15
3.2.6 Phương pháp sai lệch 15
3.2.7 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 15
3.3 ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU 15
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 17
4.1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 17
4.2 THẢO LUẬN 24
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 30
5.1 KẾT LUẬN 30
5.2 ĐỀ NGHỊ 31 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức về an toàn truyền máu 13
Bảng 3.2 Nội dung đánh giá kiến thức 13
Bảng 3.3 Tiêu chuẩn đánh giá thực hành về an toàn truyền máu 14
Bảng 3.4 Nội dung đánh giá thực hành 14
Bảng 4.1 Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu 17
Bảng 4.2 Y lệnh truyền máu tại khoa 17
Bảng 4.3 Nguồn tiếp nhận thông tin về an toàn truyền máu 18
Bảng 4.4 Số nguồn tiếp nhận thông tin 18
Bảng 4.5 Các chỉ định truyền máu 19
Bảng 4.6 Nhóm máu truyền được an toàn 19
Bảng 4.7 Sơ đồ truyền máu hệ ABO 19
Bảng 4.8 Số máu tối đa khi truyền máu khác nhóm 20
Bảng 4.9 Nhiệt độ thích hợp khi bảo quản máu 20
Bảng 4.10 Các tai biến xảy ra khi truyền máu 20
Bảng 4.11 Thực hiện phản ứng chéo tại giường 21
Bảng 4.12 Thực hiện phản ứng sinh vật học trước khi truyền máu 21
Bảng 4.13 Thời gian cần thiết để làm nguội máu trước khi truyền 22
Bảng 4.14 Nhiệm vụ theo dõi bệnh nhân trong suốt quá trình truyền máu 22
Bảng 4.15 Việc làm đầu tiên khi có dấu hiệu bất thường 22
Bảng 4.16 Thể tích cần giữ lại trong túi máu khi kết thúc truyền máu 22
Bảng 4.17 Những vấn đề cần theo dõi khi truyền máu 23
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ truyền máu hệ ABO 7 Hình 4.1 Đánh giá kiến thức về an toàn truyền máu 18 Hình 4.2 Đánh giá thực hành về an toàn truyền máu 21
Trang 11CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU
Trong thực hành y khoa, máu rất quan trọng và cần thiết cho việc điều trị nội khoa, cấp cứu ngoại khoa và sản khoa; đồng thời nó cũng rất cần trong việc triển khai nhiều kỹ thuật cao như ghép tạng, mổ tim, Nhờ có máu mà nhiều bệnh nhân đã được cứu sống Tuy nhiên, việc truyền máu có thể gây ra nhiều tai biến nghiêm trọng nếu không được bảo đảm và tuân thủ các nguyên tắc về an toàn truyền máu [9] Truyền máu là một phương pháp điều trị không thể thiếu trong rất nhiều chuyên khoa Bên cạnh việc cứu sống bệnh nhân, mang lại hiệu quả điều trị mà chưa có một dược phẩm nào thay thế được, các phản ứng miễn dịch của truyền máu có thể gây tử vong trước mắt và ảnh hưởng sức khỏe người bệnh về sau nếu việc truyền máu không tuân thủ đúng quy chế truyền máu [14]
Hàng năm toàn thế giới (176 nước) có trên 100 triệu đơn vị máu được thu thập để truyền cho người bệnh, tuy nhiên con số này so với nhu cầu điều trị vẫn còn rất thiếu Mỗi năm có khoảng 500.000 phụ nữ chết khi sinh con, hầu hết những phụ nữ này thuộc các nước đang phát triển và trong số các trường hợp trên có 25% người mẹ sinh con bị chết vì mất máu nặng Máu quan trọng như vậy nhưng truyền máu cũng có thể làm lây truyền một số bệnh từ người cho máu sang người bệnh nếu các nguyên tắc về
an toàn truyền máu không được tôn trọng [6] Báo cáo hàng năm tại Anh cho thấy việc không xác định nhóm máu và các thành phần của nó, xác định sai bệnh nhân và không kiểm soát bệnh nhân trong quá trình truyền máu là nguyên nhân chính xảy ra các nguy
cơ sai lầm nghiêm trọng của việc truyền máu [17]
Tại Việt Nam, vấn đề về an toàn truyền máu chưa được xác định đầy đủ Có rất ít tài liệu và giám sát về an toàn truyền máu được công bố Tình hình ở nước ta nhu cầu máu rất lớn, với gần 80 triệu dân, với số lượng người bệnh hàng năm chúng ta cần khoảng 400.000 lít máu [14] Năm 2013, tại bệnh viện đa khoa Thành phố Cần Thơ sử dụng hơn 7.000 đơn vị máu để điều trị cho người bệnh cùng với sự phát triển các chuyên khoa sâu, theo dự đoán số lượng máu sử dụng sẽ tăng hơn nữa vào những năm mới An toàn truyền máu là một chuỗi các hoạt động gắn kết chặt chẽ và đan xen với nhau; bất kỳ một mắc xích nào trong chuỗi hoạt động này không được thực hiện bảo đảm đúng nguyên tắc quy định thì sẽ làm ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của người bệnh [9]
Hiện nay, tại các cơ sở điều trị, công tác truyền máu thường do điều dưỡng đảm nhận,
do đó người điều dưỡng giữ vai trò hết sức quan trọng, cuối cùng của việc thực hiện truyền máu an toàn Vì vậy, yêu cầu người điều dưỡng cần có đầy đủ kiến thức và kỹ năng về an toàn truyền máu là điều rất cần thiết tại cơ sở y tế [14] Xuất phát từ thực tế
trên nên đề tài: “Khảo sát kiến thức và thực hành về an toàn truyền máu của điều
Trang 12dưỡng tại bệnh viện đa khoa Thành phố Cần Thơ năm 2017” được tiến hành
nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nhằm 2 mục tiêu sau:
1 Xác định tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức đúng về an toàn truyền máu tại bệnh viện đa khoa Thành phố Cần Thơ năm 2017
2 Xác định tỷ lệ điều dưỡng có thực hành đúng về an toàn truyền máu tại bệnh viện đa khoa Thành phồ Cần Thơ năm 2017
Trang 13CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA TRUYỀN MÁU
2.1.1 Lịch sử phát triển truyền máu thế giới
Thời cổ xưa, khi hệ thống các nhóm máu (NM) chưa được phát hiện, con người đã phải chứng kiến một thực tế phũ phàng là người thân (bệnh nhân) của họ đã phải chết
do mất máu nặng mà họ không làm gì được Đã có thời kỳ con người dùng máu súc vật truyền cho người với hy vọng cứu sống được người thân của mình, nhưng họ đã thất bại thảm hại [12]
Tất cả thành công của truyền máu (TM) đều được bắt đầu ở thế kỷ XIX và phát triển mạnh ở thế kỷ XX Nền tảng cho nghiên cứu về TM được bắt đầu từ kết quả nghiên cứu giải phẩu của Williams Harvey ông đã chứng minh rằng máu chảy trong hệ tuần hoàn, có hai hệ thống: động mạch đẩy máu đi và tĩnh mạch đưa máu trở lại tim Nhờ vậy có thể lấy máu ra khỏi cơ thể và cũng có thể đưa máu vào hệ tuần hoàn qua hệ thống mạch máu [6]
- Sang thế kỷ thứ XIX: năm 1818 Blundell (1790-1977) đã làm sống lại TM Ông đã tiến hành TM trực tiếp từ người sang người Blundell đã TM người cho 10 người khác bằng xilanh, 5 người sống và 5 người tử vong Các bệnh nhân (BN) đều được ghi chép
tỉ mỉ và ông kết luận rằng, TM động vật cho người là không được, TM người cho người có kết quả ở một số BN Kết quả này phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có yếu tố kỹ thuật, máu đông, bơm tiêm TM và sự khác nhau giữa các cá thể trong cùng một loài….Đây là kết quả rất quan trọng cho nghiên cứu tiếp theo [6]
- Tới thế kỷ XX: vấn đề bí ẩn của truyền máu đã được mở ra:
+ Năm 1900, Karl Landsteiner phát hiện ra hệ nhóm máu ABO, mở đầu cho kỷ nguyên TM Thoạt nhiên, K.Landsteiner xác định 2 kháng nguyên A và B, cùng với hai kháng thể tương ứng là Anti-A và Anti-B, từ đó có 3 nhóm hồng cầu A, B và O [13] Ông đã mở ra các điều bí ẩn TM người cho người gây tử vong và tạo dựng các hướng nghiên cứu mới: miễn dịch huyết học, miễn dịch ghép, di truyền, nguồn gốc loài người và y học pháp lý [6]
+ Năm 1940, Landsteiner và Wiener đã tiến hành một thực nghiệm trên khỉ Macacus Rhesus, và đã phát hiện ra hệ nhóm máu Rh Sự phát triển ra nhóm máu hệ Rh đã giải thích được những trường hợp vàng da tan máu ở trẻ sơ sinh Khác với NM hệ ABO, hệ
Rh chỉ có kháng nguyên mà không có kháng thể tự nhiên Kháng nguyên đầu tiên của
hệ Rh được phát hiện là kháng nguyên D, người có kháng nguyên D trên bề mặt hồng cầu được gọi là người có NM Rh dương và người không có kháng nguyên D trên bề mặt hồng cầu được gọi là người có NM Rh âm [8] Đây là tiến bộ mới, được coi như công trình thế kỷ trong công tác bảo vệ sức khỏe (SK) con người
Trang 14+ Do nhu cầu máu trong điều trị ngày càng tăng, Braxton (1869) đưa ra dung dịch chống đông bằng phosphate Sau đó Weil (1915) đã đưa ra dung dịch citrate, dung dịch này dùng suốt thời gian đại chiến thứ nhất Loutit (1943) đã phát hiện ra công thức ACD (acide - citrate - dextrose) để chống đông lượng máu lớn Năm 1970 do nhu cầu bảo quản máu lâu hơn nên ACD được thay thế bằng CPD (citrate - phosphate - dextrose)
+ Ngân hàng máu đầu tiên được xây dựng tại một bệnh viện ở Chicago (1936) Năm
1940 ở Mỹ, nước đầu tiên đã tổ chức chương trình thu gom máu qua Hội Chữ Thập đỏ [6] Năm 1947 Cohn đã thành công nghiên cứu tách các thành phần huyết tương bằng ethanol lạnh (cold ethanol) Cuối thế kỷ XX, vai trò bạch cầu trong an toàn truyền máu (ATTM) đã được đề cập, bạch cầu trong máu bảo quản tạo ra nhiều chấ gây sốt, gây dị ứng ứng như prostaglandin, histamine,… làm cho chất lượng máu bị thay đổi
+ Một trong các thành tựu lớn của thế kỷ XX và đang được phát triển của thế kỷ XXI
là vấn đề tế bào gốc (Stam cells) ứng dụng trong điều trị bệnh Từ những năm 70 của thế kỷ trước cùng với các hiểu biết củ kháng nguyên bạch cầu HLA, các chất ức chế miễn dịch và các cytokin tạo máu, ghép tủy tế bào gốc sinh máu đã phát triển thêm một bước mới [6]
2.1.2.Lịch sử phát triển truyền máu của Việt Nam
- Ở Việt Nam, TM được bắt đầu áp dụng từ các năm đầu thập kỷ 40 tại các bệnh viện
ở Hà Nội, Sài Gòn Phương pháp lúc đó là truyền trực tiếp từ người cho sang người nhận qua máy Touvolet hay một cách thụ động hơn qua các bơm tiêm cỡ lớn [12]
- Cuối năm 1945, trung tâm TM đầu tiên được hình thành ở Viện Grall Sài Gòn Sau
đó một là một trung tâm mới được xây dựng tại Gò Vấp, Sài Gòn Trung tâm TM đầu tiên ở Hà Nội được thành lập từ tháng 7-1948 tại Viện Pasteur Hà Nội Do nhu cầu cầu quân đội Pháp nên hai trung tâm TM ở Nam Định (tháng 4-1951) và Hải Phòng (tháng 10-1953) được thành lập thêm [12]
- Từ năm 1993-2005: truyền máu Việt Nam phát triển toàn diện theo hướng phát triển của truyền máu hiện đại của khu vực và thế giới
+ Vận động cho máu tình nguyện quy mô toàn quốc bắt đầu từ 24/01/1994 Một năm sau (1995) Bộ Y tế và Hội Chữ Thập đỏ quyết định lấy ngày 6/1 là ngày bầu cử khóa quốc hội đầu tiên 1946 làm ngày động viên toàn dân tham gia hiến máu, tới năm 2000 Chính phủ quyết định đổi sang ngày 7/4 ngày SK toàn cầu giành cho ATTM làm ngày
cổ động hiến máu toàn quốc [6]
+ Tháng 01/1995 Bộ Y tế - Tài chính - Kế hoạch đã xây dựng giá tiền cho một đơn vị máu Đổi mới trang thiết bị thu gom và bảo quản máu từ chai thay bằng túi dẻo, thay giường bằng ghế lấy máu, xây dựng tủ lạnh bảo quản máu và huyết tương Sàng lọc đủ