Do ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa, diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, người chăn nuôi chưa chủ động được nguồn cung cấp thức ăn thô xanh cho bò sữa, và để khai thác được nh
Trang 1SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TP HỒ CHÍ MINH
TRUNG TÂM KHUYẾN NÔNG
CẨM NANG
ỨNG DỤNG TMR CHO CHĂN NUÔI BÒ SỮA
********
Trang 2SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TP HỒ CHÍ MINH
TRUNG TÂM KHUYẾN NÔNG
********
Cẩm nang ỨNG DỤNG TMR
CHO CHĂN NUÔI BÒ SỮA
Trang 3MỤC LỤC
Lời mở đầu 4
Phần 1 Đặc điểm bộ máy tiêu hóa của bò sữa 7
Phần 2 Nhu cầu dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi bò sữa 11
1 Nhu cầu dinh dưỡng 11
1.1 Chất dinh dưỡng cung cấp năng lượng 11
1.2 Chất dinh dưỡng cung cấp đạm 13
1.3 Chất dinh dưỡng cung cấp béo 14
1.4 Chất dinh dưỡng cung cấp khoáng 14
1.5 Chất dinh dưỡng cung cấp vitamin 15
1.6 Nhu cầu nước uống 15
2 Thức ăn chăn nuôi bò sữa 16
2.1 Thức ăn thô 16
2.2 Thức ăn củ quả 22
2.3 Thức ăn tinh 23
2.4 Phụ phế phẩm trong công nghiệp chế biến.24 2.5 Thức ăn bổ sung 27
Phần 3 Nuôi bò sữa theo khẩu phần phối trộn hỗn hợp tổng số (TMR) 36
1 Một số phương thức cho bò ăn 36
1.1 Cho ăn riêng từng loại thực liệu 36
1.2 Cho ăn theo khẩu phần phối trộn hỗn hợp tổng số (TMR) 37
2 Một số khẩu phần thức ăn TMR khuyến cáo sử dụng 41
2.1 Khẩu phần thức ăn TMR đang áp dụng thành công tại Trại Trình diễn và Thực nghiệm bò sữa công nghệ cao – Trung tâm Quản lý và Kiểm định giống cây trồng – vật nuôi 42
2.2 Một số khẩu phần thức ăn TMR cho bò sữa khuyến cáo sử dụng trên các nông hộ 46
2.3 Một số khẩu phần dành cho bò tơ 48
3 Phương pháp phối trộn thức ăn TMR và thời điểm cho ăn 49
4 Cách thay thế các thực liệu trong khẩu phần thức ăn 55
Phần 4 Một số quy trình chế biến thức ăn chăn nuôi 57
Một số địa chỉ cần liên hệ 63
Tài liệu tham khảo 64
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, chăn nuôi bò sữa ở
TP Hồ Chí Minh phát triển khá mạnh, góp phần đáng kể
trong việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, tạo
việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống nông thôn
ngoại thành; nhiều hộ đã tích lũy tăng quy mô nuôi trở
thành doanh nghiệp, trang trại nuôi bò sữa Tính đến
thời điểm 01/10/2015, tổng đàn bò sữa tại TP Hồ Chí
Minh đạt 101.134 con, trong đó đàn cái vắt sữa là
49.530 con, năng suất sữa bình quân đạt 5.657
kg/con/năm (16,07 kg/con/ngày)
Do ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa, diện tích
đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, người chăn nuôi
chưa chủ động được nguồn cung cấp thức ăn thô xanh
cho bò sữa, và để khai thác được nhiều sữa, các hộ chăn
nuôi có xu hướng “bồi bổ” cho bò như tăng nhiều thức
ăn tinh (cám hỗn hợp, hèm bia, xác mì,…), giảm thức ăn
thô xanh hoặc thêm thức ăn tinh để bù vào lượng thức ăn
thô bị thiếu hụt nên dẫn đến mất cân đối dinh dưỡng
trong khẩu phần Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến
quá trình lên men ở dạ cỏ, từ đó ảnh hưởng đến năng
suất, chất lượng sữa và kèm theo là hàng loạt bệnh do sự
mất cân đối dinh dưỡng (tiêu chảy, chướng hơi,…), suy
giảm khả năng sinh sản (chậm động dục, khó thụ thai,
tăng khoảng cách lứa đẻ,…) Ngoài ra, tập quán khi cho
bò ăn của nông hộ thường tách riêng từng loại thức ăn (cỏ, cám, hèm bia, xác mì,…), làm cho môi trường dạ cỏ thay đổi theo loại thức ăn khác nhau ăn vào, ảnh hưởng đến hoạt động của hệ vi sinh vật dạ cỏ, nếu mỗi lần cung cấp thức ăn gây xáo trộn môi trường dạ cỏ sẽ ảnh hưởng ngay đến kết quả tiêu hóa
Tạo môi trường dạ cỏ luôn ổn định, góp phần tăng sinh khối hệ vi sinh vật để chuyển hóa hiệu quả nhất thức ăn thành sữa, nâng cao khả năng sinh sản, giảm thiểu bệnh tật thông qua việc sử dụng khẩu phần thức ăn phối trộn hỗn hợp tổng số (TMR) trong chăn nuôi bò sữa, mà nhiều nước có nền chăn nuôi bò sữa tiên tiến đã ứng dụng
Nhằm hỗ trợ kiến thức cho người chăn nuôi, qua kinh nghiệm thực tiễn, chúng tôi giới thiệu đến bạn đọc
Cẩm nang “Ứng dụng TMR cho chăn nuôi bò sữa” do
Trung tâm Khuyến nông TP Hồ Chí Minh phối hợp với Trung tâm Kiểm định giống cây trồng – vật nuôi biên soạn Nội dung cuốn sách trình bày về những vấn đề mấu chốt về khẩu phần thức ăn hợp lý trong chăn nuôi
bò sữa để giúp người chăn nuôi áp dụng góp phần nâng cao hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu của nhà thu mua về chất lượng sữa Chúng tôi hy vọng quyển cẩm nang này sẽ giúp ích cho những bạn đọc muốn gắn bó với nghề chăn nuôi bò sữa có được những kiến thức cơ bản để đi đến thành công trong chăn nuôi
Trang 5Trong quá trình biên soạn sẽ không tránh khỏi
những thiếu sót, rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng
góp của Quý bạn đọc để chất lượng cẩm nang ngày càng
tốt hơn
Chúc bạn đọc thành công
TRUNG TÂM KHUYẾN NÔNG TP HỒ CHÍ MINH
PHẦN 1
ĐẶC ĐIỂM BỘ MÁY TIÊU HÓA
CỦA BÒ SỮA
Bò là gia súc nhai lại nên cơ quan tiêu hóa có cấu tạo đặc biệt:
- Miệng: chức năng lấy thức ăn, tiết nước bọt và nhai lại
- Dạ dày bò: được chia làm 4 túi gồm dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách và dạ múi khế Trong đó, dạ cỏ và dạ tổ ong là thùng lên men lớn, chứa rất nhiều vi sinh vật cộng sinh tiêu hóa chất xơ; dạ lá sách giúp hấp thu và lọc thức ăn; dạ múi khế giúp tiêu hóa thức ăn bằng dịch vị giống như ở gia súc dạ dày đơn
Khi bò ăn, thức ăn được nhai và thấm nước bọt rồi nuốt xuống dạ cỏ Khoảng 20 – 30 phút sau khi ăn, bò bắt đầu quá trình nhai lại Đó là quá trình thức ăn được
ợ từ dạ cỏ lên miệng và tại đây, trong vòng một phút, thức ăn được nhai nghiền mịn, trộn lẫn với nước bọt và được nuốt trở lại Nhờ nhai lại, tất cả các loại thức ăn thô đều được nghiền nhỏ, mịn Cùng với sự phân giải vi sinh vật trong thời gian thức ăn lưu lại ở dạ cỏ, độ bền của thành tế bào các loại thức ăn bị giảm và phá hủy, các thành phần dinh dưỡng được giải phóng dần, các phần thức ăn chìm sâu dần xuống phần dưới túi bụng dạ cỏ
Trang 6Thông thường, khoảng 65% nguồn dưỡng chất cung cấp cho bò sữa từ sự chuyển hóa các chất do quá trình lên men thức ăn và sinh khối từ xác của hệ vi sinh vật trong dạ cỏ, phần thức ăn còn lại sẽ được tiêu hóa bởi chính men tiêu hóa của bò ở dạ múi khế và trong ruột non Với sự đa dạng về chủng loài vi sinh vật, phát triển nhanh chóng về sinh khối sẽ cung ứng nguồn dưỡng chất có phẩm chất cao cho bò để sản xuất sữa có giá trị
về dinh dưỡng cao cấp dễ tiêu cho con người Mỗi loài
vi sinh vật sẽ phân giải và sử dụng một số chất chuyên biệt trong nguồn thức ăn của bò, trong một môi trường,
độ pH ổn định sẽ tạo ra nguồn sinh khối vi sinh vật tối
ưu cho bò Tuy nhiên, trong một số trường hợp môi trường dạ cỏ có thể thay đổi làm ảnh hưởng rất lớn đến
sự lên men thức ăn trong dạ cỏ Các nguyên nhân chủ yếu là:
- Tỷ lệ thức ăn tinh thô không phù hợp
- Đặc điểm của nguồn thức ăn thô
- Phương pháp cho ăn không thích hợp
- Đặc điểm của những thức ăn bổ sung nhất là thức ăn cung đạm
- Sự thiếu hay thừa một số khoáng chất cũng làm
pH dạ cỏ tăng hoặc giảm
Và từ đây, thức ăn được đẩy tới dạ tổ ong và sau đó tới
lỗ thông giữa dạ tổ ong và dạ lá sách Quá trình tiêu hóa
diễn ra như vậy, làm vơi dần lượng chất chứa trong dạ cỏ
và bò sữa lại tiếp nhận những thức ăn mới Khi tới dạ
múi khế, thức ăn được tiêu hóa như ở động vật dạ dày
đơn
Như vậy, tổng thời gian bò sữa nhai lại trong một
ngày đêm dài hay ngắn tùy thuộc vào loại thức ăn trong
khẩu phần Thông thường, bò sử dụng khoảng 35 – 40%
thời gian trong ngày để nhai lại (ợ thức ăn rồi nhai lại)
Ngoài ra, để bò sữa nhai lại được tốt, cần bảo đảm cho
chúng ở trong trạng thái hoàn toàn yên tĩnh Bất kỳ một
hành động gây xáo trộn nào đều có thể làm gián đoạn
quá trình nhai lại và ảnh hưởng không tốt đến quá trình
tiêu hóa thức ăn
- Ruột: tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng
Dạ
cỏ Ruột non
Dạ lá sách
Thực quản Miệng
Dạ tổ ong
Dạ múi khế
Hình 1: Sơ lược bộ máy tiêu hóa bò sữa
(Nguồn: Lê Đăng Đảnh, 2007)
Trang 7PHẦN 2
NHU CẦU DINH DƯỠNG VÀ THỨC ĂN
CHĂN NUÔI BÒ SỮA
1 Nhu cầu dinh dưỡng
Thông thường, chi phí thức ăn trong chăn nuôi bò sữa chiếm 30 – 40% /tổng chi phí Do đó, khẩu phần ăn của bò phải đảm bảo được ổn định cả về chất lượng và chủng loại thức ăn để mang lại hiệu quả sản xuất tối đa Thành phần thức ăn nuôi dưỡng bò sữa bao gồm các chất dinh dưỡng sau:
1.1 Chất dinh dưỡng cung cấp năng lượng:
Năng lượng rất cần thiết cho các hoạt động của cơ thể, trong đó chất xơ, chất bột đường và chất béo là những chất dinh dưỡng cung cấp năng lượng chính cho
bò sữa Trong trường hợp thức ăn cung cấp không đủ năng lượng cho bò, chúng phải huy động năng lượng dự trữ trong cơ thể dẫn đến sụt cân Vì vậy, người chăn nuôi phải chú ý cung cấp đủ năng lượng cần thiết cho đàn bò 1.1.1 Chất xơ
Bò sữa tiêu hóa chủ yếu nhờ vào hệ vi sinh vật của dạ cỏ lên men để tạo thành các acid béo bay hơi Các acid béo này được sử dụng để chuyển hóa thành năng lượng cho bò Ngoài ra, nó còn sử dụng để tổng hợp nên
Như vậy, tạo môi trường dạ cỏ thích hợp cho hệ vi
sinh vật dạ cỏ tồn tại, hoạt động và phát triển là điểm
mấu chốt để nâng cao hiệu quả tiêu hóa thức ăn
Hình 2: Khả năng tiêu hóa ở dạ cỏ
(Nguồn: Lê Đăng Đảnh, 2007)
Trang 8mỡ của cơ thể và di chuyển đến tuyến vú để tổng hợp
thành mỡ sữa, đường sữa và đạm sữa Chất xơ còn giúp
cho dạ dày, ruột nhu động Như vậy, chất xơ ngoài ý
nghĩa là chất dinh dưỡng, còn cần thiết để đảm bảo độ
choán của dạ dày Hàm lượng chất xơ thích hợp cho bò
sữa là 16 - 25% vật chất khô trong khẩu phần Trường
hợp hàm lượng chất xơ trong khẩu phần quá thấp (dưới
13%) sẽ dẫn đến rối loạn tiêu hóa và giảm tỷ lệ mỡ trong
sữa Ngược lại, khi hàm lượng chất xơ trong khẩu phần
quá cao sẽ làm giảm khả năng thu nhận thức ăn, giảm
giá trị năng lượng/kg chất khô khẩu phần, giảm khả
năng tiêu hóa ở dạ cỏ và giảm tỷ lệ mỡ trong sữa
Các loại thức ăn cung cấp chất xơ chủ yếu là các
loại cỏ, rơm, phụ phế phẩm nông nghiệp
1.1.2 Chất bột đường
Chất bột đường rất quan trọng trong trao đổi chất
và cân bằng năng lượng Gồm 2 thành phần chính là tinh
bột và đường (tinh bột có nhiều trong hạt ngũ cốc, khoai
tây, khoai lang, khoai mì; còn đường có nhiều trong
ngọn mía, rỉ mật đường,…)
- Tinh bột khi vào dạ cỏ phần lớn được vi sinh vật
dạ cỏ lên men phân giải thành các đường đơn và được
hấp thu để cung cấp năng lượng
- Đường và các sản phẩm phân giải tinh bột là
nguồn nguyên liệu cung cấp năng lượng cho bò sữa,
ngoài ra còn là nguồn nguyên liệu quan trọng cho hệ vi sinh vật dạ cỏ phát triển
Thiếu hoặc thừa chất bột đường đều làm rối loạn hoạt động sống của hệ vi sinh vật dạ cỏ, làm rối loạn quá trình tiêu hóa thức ăn, sự đồng hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng khác Cụ thể là khi cho bò ăn khẩu phần dư thừa chất bột đường, sẽ dẫn đến rối loạn tiêu hóa, giảm khả năng tiêu hóa chất xơ, làm tăng lượng acid lactic thấm vào máu gây độc, là một trong những nguyên nhân gây bệnh đau móng, què chân ở bò sữa Ngược lại, khi cho bò sữa ăn thiếu chất bột đường thì khẩu phần thiếu năng lượng, giảm sản lượng sữa
1.1.3 Chất béo
Chất béo được sử dụng trong khẩu phần để làm tăng năng lượng thức ăn của khẩu phần nhất là cho bò sữa ở giai đoạn đầu của thời kỳ tiết sữa Ở giai đoạn này năng lượng thu được từ thức ăn thường thấp hơn năng lượng bò cần để cho sản phẩm vì vậy bò thường bị giảm trọng lượng
1.2 Chất dinh dưỡng cung cấp đạm
Chất đạm rất cần thiết cho cơ thể bò Nó là thành phần quan trọng tạo nên cơ bắp, nuôi thai và tạo đạm trong sữa Nhu cầu đạm trên bò sữa phụ thuộc vào năng suất sữa Năng suất sữa cao thì nhu cầu đạm cũng cao, khi thiếu đạm trong khẩu phần thì bò biếng ăn, lông xù,
Trang 9giảm sản lượng sữa, đường cong tiết sữa không đạt đỉnh
cao, giảm trọng lượng ở giai đoạn đầu của chu kỳ sữa,
ảnh hưởng đến lên giống và tỷ lệ đậu thai, giảm sức đề
kháng đối với bệnh tật, bê sinh ra có trọng lượng thấp,…
Những thức ăn giàu đạm là cỏ non, cỏ họ đậu, dây
đậu phộng, khô dầu đậu phộng, khô dầu đậu nành, bột
cá, hèm bia, urê
1.3 Chất dinh dưỡng cung cấp chất béo
Nhu cầu về chất béo ở bò không cao Chất béo có
thể được sử dụng để cung cấp năng lượng, đặc biệt là
trong giai đoạn đầu của chu kỳ tiết sữa, khi mà năng
lượng trong khẩu phần phải cao để cung cấp đầy đủ cho
bò
Thông thường, chất béo có nhiều trong các loại
hạt và các loại khô dầu (khô dầu dừa, khô dầu bông
vải,…)
1.4 Chất dinh dưỡng cung cấp chất khoáng
Chất khoáng cần cho việc tạo xương, nuôi thai và
tạo ra các khoáng chất trong sữa Nhu cầu chất khoáng
ở bò sữa rất cao, một phần phải cung cấp từ thức ăn, một
phần phải được bổ sung thêm vì trong thức ăn không đủ
hoặc không cân đối Thức ăn của bò chủ yếu có nguồn
gốc từ thực vật, cho nên nếu vùng nào thừa hay thiếu
chất khoáng trong đất sẽ dẫn đến hiện tượng thiếu hay
thừa chất khoáng trong thức ăn và bò nuôi ở vùng đó
cũng bị thiếu hay thừa chất khoáng
Thiếu chất khoáng bò sẽ còi cọc, chậm lớn Nếu trong giai đoạn nuôi con, thiếu khoáng bò sẽ tự tiêu hao khoáng trong cơ thể, sinh ra tình trạng mềm xương và nhiều chứng bệnh khác, đặc biệt là các chứng bại liệt trước và sau khi sinh Có thể bổ sung khoáng cho bò sữa bằng các loại bột xương, bột sò và các loại premix Biện pháp bổ sung có hiệu quả nhất là bổ sung khoáng dưới dạng đá liếm
1.5 Chất dinh dưỡng cung cấp vitamin
Tuy nhu cầu vitamin của bò thấp nhưng nếu thiếu thì quá trình trao đổi chất sẽ ngưng trệ và bò không phát triển được Thông thường, bò rất cần các vitamin A, B,
D Các vitamin khác thì hệ vi sinh vật dạ cỏ có thể tổng hợp được, đủ cho nhu cầu của bò
- Vitamin A, B rất cần thiết để duy trì sức khỏe và cho sữa Nó có nhiều trong cỏ xanh, cỏ ủ chua, bắp hạt,…
- Vitamin D có nhiều trong các loại thức ăn ủ chua, cỏ khô, xác đậu, hèm bia Khi bò nuôi nhốt, không được tắm nắng sẽ bị thiếu viatamin D, làm ảnh hưởng đến sự hấp thu canxi
1.6 Nhu cầu nước uống
Bò cần nước cho các chức năng hoạt động cơ thể, sản xuất sữa, điều hòa thân nhiệt Lượng nước uống phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, năng suất sữa, nhiệt độ môi
Trang 10trường, loại thức ăn và khẩu phần ăn, đặc biệt bò sữa cần
nước cho quá trình sản xuất sữa Hàng ngày bò cần một
lượng nước khá lớn bằng khoảng 1/10 trọng lượng cơ
thể Thiếu nước là nguyên nhân trực tiếp làm giảm năng
suất sữa Tốt nhất là luôn có đủ nước sạch cho bò sữa
uống suốt ngày đêm
Nước uống cho bò phải đảm bảo được 4 yêu cầu
sau:
+ Tự do (thỏa mãn theo nhu cầu): trong máng
uống phải luôn có sẵn nước cho bò uống tự do
+ Sạch: không có thức ăn thừa, nhiễm phân, nước
tiểu và rêu
+ Ngon: không mùi, không vị, mát
+ Lành: không có nguy cơ gây bệnh do ký sinh
trùng, kim loại nặng,…
2 Thức ăn chăn nuôi bò sữa
Bò sữa là động vật nhai lại, có dạ dày bốn túi, có
khả năng tiêu hóa và sử dụng nhiều loại thức ăn khác
nhau Thức ăn của bò sữa được chia làm 3 nhóm chính
sau:
2.1 Thức ăn thô:
Là loại thức ăn có khối lượng lớn nhưng hàm
lượng chất dinh dưỡng có trong 1 kg thức ăn thấp (có
nghĩa bò phải tiêu thụ một lượng lớn loại thức ăn này
mới có thể đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể) Đây là thức ăn chủ yếu của bò, hàm lượng chất xơ thô trong loại thức ăn này lớn hơn 18% Thành phần chủ yếu của thức ăn thô là chất xơ Ngoài ra, trong thức ăn thô cũng có chứa một ít tinh bột, các chất đường dễ tan
và một lượng đáng kể đạm thô, muối khoáng và các vitamin Hàm lượng đường dễ tan ở thân cao hơn ở lá và khi cây ở giai đoạn ra hoa thì hàm lượng đường đạt cao nhất Ngược lại, hàm lượng đạm tổng số sẽ giảm đi theo mức độ trưởng thành của cây
Thức ăn thô làm đầy dạ cỏ đảm bảo sự hoạt động bình thường chức năng dạ cỏ, làm tăng tỷ lệ béo trong sữa Các loại thức ăn thô gồm: thức ăn thô xanh, thức ăn thô khô, thức ăn củ quả, phụ phẩm công nghiệp,…
(1) Thức ăn thô xanh: bò cần thức ăn thô xanh cho nhai lại, cung cấp cơ chất cho vi sinh vật dạ cỏ và cho tiêu hóa ở dạ cỏ Thức ăn thô xanh bao gồm các loại cỏ, thân lá cây còn xanh (ngọn mía, thân cây bắp, ngọn lá khoai mì,…) Đặc điểm chung của các loại thức ăn thô xanh là chứa nhiều nước (60 - 85%), dễ tiêu hóa, các chất dinh dưỡng có tỷ lệ khá cân đối, có tính ngon miệng
và bò thích ăn, chứa nhiều đạm và vitamin có chất lượng cao, đôi khi có chứa những chất kích thích sinh trưởng, sinh sản và khả năng tiết sữa,…
- Cỏ tự nhiên và cỏ trồng:
+ Cỏ tự nhiên là hỗn hợp các loại cỏ hòa thảo mọc