Hà Nội, 2011Đề tài: Chiến lược kinh doanh quốc tế của Wal-Mart tại thị trường Nhật Bản Danh sách thành viên nhóm 11... Một chiến lược kinh doanh quốc tế tốt sẽ xác định rõ ràng các mục
Trang 1ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
TIỂU LUẬN KINH DOANH QUỐC TẾ
Đề tài: Chiến lược kinh doanh quốc tế của Wal-Mart tại
thị trường Nhật Bản
Giáo viên hướng dẫn : Lê Quang Nhật
Sinh viên thực hiện : Nhóm 11
Trang 2Hà Nội, 2011
Đề tài: Chiến lược kinh doanh quốc tế của Wal-Mart tại
thị trường Nhật Bản
Danh sách thành viên nhóm 11
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
I Giới thiệu chung về Wal – Mart Stores Inc 2
1 Lịch sử hình thành 2
2 Quá trình phát triển 2
3 Thành công 4
4 Cơ sở thành công 6
II Chiến lược kinh doanh quốc tế của Wal-mart tại Nhật Bản 7
1 Giới thiệu chung về thị trường Nhật Bản 7
1.1 Môi trường kinh tế-chính trị 7
1.2 Môi trường văn hóa Nhật Bản 8
1.3 Tình hình thị trường Nhật Bản 8
1.3.1 Thị trường Nhật Bản 8
a Phân phối hàng hóa trên thị trường Nhật Bản 8
b Hệ thống thanh toán 10
1.3.2 Người tiêu dùng Nhật Bản 11
a Những yếu tố quyết định tới tiêu dùng của người Nhật 11
b Các tiêu chuẩn đánh giá hàng hóa của người tiêu dùng Nhật Bản 12
1.4 Xu hướng tiêu dùng mới 13
2 Nguyên nhân đầu tư vào Nhật Bản 13
2.1 Thị trường Nhật 13
2.2 Tập đoàn bán lẻ Wal – Mart 14
Trang 43 Nội dung chiến lược kinh doanh quốc tế của Wal-Mart tại Nhật Bản
15
3.1 Chiến lược cấp công ty 15
3.1.1 Nội dung chung 15
3.1.1.1 Xác định lĩnh vực kinh doanh 16
3.1.1.2 Xác định thị trường kinh doanh 16
3.1.1.3 Chiến lược tăng trưởng 16
3.1.2 Chiến lược cấp công ty cụ thể tại Nhật 17
3.2 Chiến lược cấp cơ sở 19
3.2.1 Chi phí quản lý 19
3.2.2 Chi phí quảng cáo-Marketing 20
3.2.3 Chi phí phân phối 21
3.3 Chiến lược cấp chức năng 22
3.3.1 Bộ phận thu mua hàng hóa 22
3.3.2 Hệ thống lưu kho 24
3.3.3 Bộ phận bán hàng 24
3.3.4 Bộ phận Marketing 25
3.3.5 Bộ phận nhân sự 26
4 Đánh giá kết quả 27
4.1 Thất bại của Walmart tại Nhật Bản 27
4.2 Một vài tín hiệu tích cực từ Wal-mart tại Nhật Bản 28
5 Nguyên nhân thất bại của wal-mart tại thị trường Nhật Bản 29
III Bài học kinh nghiệm và một số đề xuất cho doanh nghiệp Việt Nam khi kinh doanh tại Nhật Bản 31
1 Bài học kinh nghiệm từ Walmart 31
2 Đề xuất giải pháp kinh doanh tại Nhật Bản cho các doanh nghiệp Việt Nam 32
Trang 5KẾT LUẬN 36 TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, với sự tiến bộ của khoa học công nghệ, sự phát triển của các liên kết kinh tế và hơn hết là xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa đã đặt ra cho các công ty nhiều cơ hội làm ăn kinh doanh quốc tế hơn bao giờ hết Hoạt động kinh doanh quốc tế mang đến cho doanh nghiệp nhiều lợi ích từ mở rộng thị trường tiêu thụ đến tăng doanh thu hay là tiếp cận các nguồn lực mới Tuy nhiên để đạt được thành công trong hoạt động kinh doanh quốc tế đòi hỏi doanh nghiệp phải chuẩn bị và xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh quốc tế tốt Một chiến lược kinh doanh quốc tế tốt sẽ xác định rõ ràng các mục tiêu cần đạt được của công ty và qua đó dự kiến các hoạt động kinh doanh quốc tế, các chính sách
và các giải pháp cần thực hiện để cạnh tranh thắng lợi trên thị trường và cải thiện căn bản tình hình và vị thế hiện tại của công ty
Wal- Mart là một trong những công ty có thị trường quốc tế rộng khắp thế giới Dù đã có nhiều năm kinh nghiệm trong kinh doanh quốc tế, song việc xây dựng một chiến lược kinh doanh quốc tế phù hợp và hiệu quả cho một thị trường vẫn luôn là một bài toán không hề đơn giản với các nhà quản lý của Wal
– Mart Trong phạm vi bài tiểu luận này, nhóm chúng tôi sẽ “phân tích chiến
lược kinh doanh quốc tế của Wal – Mart tại thị trường Nhật Bản”, qua đó
chúng tôi mong muốn giúp thầy cô và các bạn hiểu rõ hơn về cách mà Wal – Mart đã sử dụng khi hoạt động tại thị trường khó tính nhất nhì thế giới này Trong quá trình thực hiện không tránh khỏi những thiếu sót, nhóm rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn
Nhóm xin thành cám ơn
Nhóm 11
Trang 7NỘI DUNG
I Giới thiệu chung về Wal-mart Stores Inc
1 Lịch sử hình thành
Wal-Mart Stores, Inc là một công ty của Mỹ kinh doanh trong lĩnh vực bán
lẻ do Sam Walton sáng lập ra vào năm 1962
Câu chuyện hình thành của Wal-mart bắt đầu từ năm 1/9/1945 khi Sam Walton mở cửa hàng tạp phẩm Ben Franklin ở Newport, Arkansas Ngay khi
mở cửa hàng, Sam Walton đã quan tậm đến việc tìm kiếm những nguồn hàng trong vùng có giá rẻ hơn nguồn hàng hiện thời của ông rồi sau đó bán chúng với giá rẻ nhất có thể Chính điều này đã tạo nên thành công cho cửa hàng của ông Trong vòng 5 năm, cửa hàng tạp phẩm của ông đã đạt doanh số 250.000 đôla và đem lại 30.000 tới 40.000 đôla lợi nhuận trong một năm, trở thành cửa hàng Ben Franklin số một về doanh số và lợi nhuận
Sau thành công của cửa hàng Ben Frankilin, năm 1951, Walton mở cửa hàng “Five and Dime” (“Năm xu và một hào” – nghĩa là mọi thứ đều có giá dưới 10 xu Mỹ, và tung ra những đợt khuyến mãi đặc biệt, ví dụ như một tá kẹp
áo chỉ có giá 9 cent Đến năm 1960, Walton đã sở hữu 15 cửa hàng như vậy, kiếm được 1,4 triệu đô-la tổng doanh thu hàng năm Lúc này, ý tưởng về những cửa hàng mà ở đó mọi hàng hóa đều được bán rẻ hơn mọi nhà bán lẻ khác đã dần dần hình thành trong Sam Walton Và ngày 2/7/1962, ông cho khai trương cửa hàng Wal-Mart số 1 ở Rogers Trong vòng 5 năm, ông đã có 19 cửa hàng như vậy Đến ngày 31-10-1969, WalMart chính thức trở thành tập đoàn và mang tên WalMart Stores Inc
2 Quá trình phát triển
a Khẳng định vị trí số 1 trên thị trường Mỹ
Sau nhiều năm phấn đấu nỗ lực không ngừng, năm 1990, Wal-mart đã chính thức trở thành tập đoàn bán lẻ số 1 nước Mỹ Cũng tại năm này, từ những
Trang 8cửa hàng tạp hóa – tạp phẩm quen thuộc, Wal – Mart bắt đầu triển khai mô hình supercentre ( đại siêu thị) Mô hình đại siêu thị này ngay lập tức được Wal-Mart
áp dụng nhanh chóng Nếu như đến cuối năm 1990, Wal-mart mới chỉ 9 siêu thị trên toàn nước Mỹ Thì 10 năm sau ,đến cuối năm 2000, Walmart đã có 888 siêu thị – tức là trung bình mỗi tháng Walmart khai trương 7 siêu thị mới, liên tục
120 tháng liền Walmart hiện thời có khoảng 4.000 siêu thị và cửa hàng trong nước Mỹ (bao gồm 10 ở Alaska và 9 ở Hawaii), tức là cứ mỗi hạt trên đất nước này lại có nhiều hơn 1 cửa hàng Walmart Hàng tuần, hơn 100 triệu người Mỹ mua sắm ở Walmart – chiếm 1/3 dân số Mỗi năm 93% hộ gia đình Mỹ mua sắm ở Walmart ít nhất một lần
b Quá trình bành trướng ra thế giới
Không chịu bó hẹp trong thị trường nội địa, năm 1991, Wal-Mart bắt đầu thâm nhập thị trường thế giới với việc mở siêu thị đầu tiên ở Mexico Quá trình bành trướng ra thế giới bắt đầu từ đây, khi mà Wal-mart trong nhiều năm liên tiếp, liên tục bành trướng không ngừng nghỉ ra khắp các châu lục từ châu Mỹ là Brazil, Mexico, cho đến châu Âu là Anh, Đức, châu Phi là Nam Phi và ở châu
Á là Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Ấn Độ, châu Úc là Úc….Wal- Mart
đã chi hàng chục tỉ đô cho mục tiêu bành trướng ra thế giới này Trong 12 tháng tính đến tháng 1/2009, Wal-Mart đã bỏ ra 4,1 tỷ USD để mở thêm nhiều siêu thị trên toàn cầu, và tiêu thêm 4,4 tỷ USD nữa trong năm tài chính hiện nay cho mục đích bành trướng địa bàn Số tiền đầu tư này chưa tính đến các thương vụ mua lại, tức thôn tính các đối thủ không đủ sức tồn tại Người ta từng nhắc đến nhiều câu chuyện nói về việc ở nơi nào Wal-Mart đặt chân tới, ở đó có cửa hàng bán lẻ phải treo biển ngừng hoạt động hoặc co cụm lại
Cho đến nay, thị trường nước ngoài lớn nhất của Wal-Mart là Mexico với 1.322 cửa hàng, tiếp đến là Braxin 373, Nhật Bản 371, Anh 368, Canađa 313 và Cuba 266 và gần 200 đại lý ở Trung Quốc….Như vậy, không chỉ chiếm vị trí số
Trang 91 tại Mỹ, Walmart cũng vẫn là nhà bán lẻ lớn nhất ở cả Mexico lẫn Canada, và nhà bán tạp phẩm lớn thứ nhì ở Anh.
Với hơn 4688 cửa hàng và đại siêu thị trên toàn thế giới, người ta ước tính hơn 138 triệu người mua sắm tại chuỗi cửa hàng Wal-Mart trên khắp thế giới mỗi tuần
3 Thành công
Nếu như lấy thước đo doanh thu lợi nhuận để xác định sự thành công, có lẽ Wal-Mart sẽ là công ty thành công nhất thế giới Năm 1979, Wal-Mart lần đầu đạt doanh thu 1 tỉ USD/năm Ðến thời điểm 1993 thì nó đã ở mức thu vào một tỉ USD / tuần Năm 2001, doanh thu mỗi ngày của Wal-Mart đã gần bằng con số
ấy, bình quân 42 triệu USD một giờ
So sánh với doanh thu của các đối thủ như Target và Kmart & Sears ( công
ty bán lẻ lớn thứ hai và thứ 3 ở Mỹ ) thì mỗi năm, chỉ trong riêng ngày lễ Thánh Patrick 17/3 thôi, Wall-Mart đã bán còn nhiều hơn một năm doanh thu của Target Còn với Kmart thì doanh thu 2009 của Wal-Mart đã gấp Kmart đến gần
27 lần
Trang 10Trên thị trường thế giới, Wal-mart cũng bỏ xa Carrefour ( Pháp) - tập đoàn bán lẻ lớn thứ 2 trên thế giới và Tesco (Anh) - tập đoàn bán lẻ lớn thứ 3 trên thế giới khi mà doanh số bán hàng của các công ty này chỉ bằng 1/3 và 1/4 so với doanh số bán hàng của Wal- Mart
Top 10 công ty bán lẻ lớn nhất thế giới năm 2007
gia
Xếp hạng
Doanh số bán hàng năm 2007 (tỷ USD)
Thêm vào đó, trong nhiều năm liên tiếp từ 2002 đến 2010, bảng xếp hạng các công ty có doanh thu lớn nhất thế giới của Fortune luôn xếp Wal – Mart ở vị trí dẫn đầu hoặc đứng thứ hai, vượt lên trên nhiều đại gia trong ngay cả những ngành công nghiệp lời lãi như dầu khí (Exxon Mobil), hay máy bay (Boeing), ôtô (Ford, General Motors), hàng điện tử (General Electric), và thậm chí cả tài chính-ngân hàng (Citi Group)
Trang 11Ngoài ra, xét về mặt tài sản, với tổng thị giá cổ phiếu trên thị trường hiện nay là 210 tỷ USD, Wal-Mart có tài sản tương đương với nền kinh tế Nigiêria.
Như vậy, với những con số doanh thu ấn tượng có thể khẳng định Wal-Mart ngày nay đang thành công hơn bao giờ hết Wal - Mart không còn chỉ là tập đoàn bán lẻ lớn nhất nước Mỹ mà đã trở thành tập đoàn bán lẻ đa quốc gia lớn nhất thế giới đồng thời cũng là tập đoàn lớn nhất thể giới trong lịch sử
4 Cơ sở thành công
Có thể nói Wal – Mart thành công được như ngày nay là nhờ vào khả năng
bán hàng hóa rẻ hơn mọi đối thủ của công ty này Khả năng bán hàng hóa giá rẻ
đó xuất phát từ các yếu tố sau:
Thứ nhất, đó là nhờ khả năng phát triển cửa hàng nhanh chóng và khả năng
mua hàng hóa khổng lồ Ngày nay, số lượng các siêu thị và cửa hàng cửa mart hiện diện trên toàn thế giới nhiều hơn bất cứ nhà bán lẻ nào Lượng hàng hóa mà Wal-mart mua từ một công ty cũng nhiều hơn bất cứ khách hàng nào cộng lại
Thứ hai, đó là nhờ khả năng cắt giảm chi phí tối thiểu Wal-Mart tận dụng
triệt để mọi cơ hội để giảm giá thành đầu vào, bao gồm chi phí vận hành, lương nhân viên và giá thu mua sản phẩm…
Thứ ba, đó là khả năng thương lượng với các nhà sản xuất Wal-Mart là một
nhà phân phối khổng lồ và do đó các thương hiệu sản phẩm không thể để mình
bị loại bỏ khỏi các kệ hàng nhà bán lẻ Kết quả là, một nhà sản xuất của một thương hiệu nổi tiếng phải chấp nhận phương châm của Wal – Mart là “giá chi giảm chứ không tăng “ cho dù nó có ảnh hưởng đến lợi nhuận chỉ để được có mặt trong chuỗi cửa hàng Wal-Mart
Như vậy, nói một cách đơn giản, bởi vì Wal-Mart có thể mua rẻ, và có được những sản phẩm từ các nhà sản xuất trên kệ của mình với giá rẻ, cho nên có thể bán ra với giá rẻ hơn bất kỳ đối thủ cạnh tranh nào Và chính nhờ chính sách
Trang 12bán giá rẻ suốt 4 thập kỷ qua này đã giúp Wal – Mart có được thành công như ngày nay.
II Chiến lược kinh doanh quốc tế của Wal – Mart tại thị trường Nhật Bản
1 Giới thiệu chung về thị trường Nhật Bản
1.1 Môi trường kinh tế - chính trị
• Môi trường kinh tế
- Hiện trạng kinh tế : Kinh tế Nhật Bản là một nền kinh tế thị trường phát
triển Quy mô nền kinh tế này theo thước đo GDP với tỷ giá thị trường lớn thứ hai trên thế giới sau Mỹ, còn theo thước đo GDP ngang giá sức mua lớn thứ ba sau Mỹ và Trung Quốc.Nhật Bản ngày nay là một thị trường mở quy mô lớn với
số dân 127,11 triệu dân (tính đến tháng 9 năm 2001) có mức sống khá cao (GDP theo đầu người năm 2001 là 32 585 USD một người).Năm 2002, tốc độ tăng trưởng GDP của Nhật Bản đã đạt 0,2%, tăng mạnh so với mức tăng của nền kinh tế sau khủng hoảng kinh tế khu vực năm 1997 (0,3%) Mặc dù có một số ảnh hưởng không tốt của sự giao động trong chính sách, một vài tập đoàn bị phá sản, nhưng tương lai của nền kinh tế Nhật Bản vẫn rất sáng sủa
- Triển vọng kinh tế: Nhật Bản là một nước phát triển có thu nhập bình quân
đầu người thuộc nhóm cao nhất thế giới hiện nay vì vậy, người tiêu dùng Nhật Bản dành một khoản tiền tương đối lớn hàng năm để chi tiêu cho tiêu dùng hàng ngày (theo thống kê thì hơn 70% thu nhập của ngân sách gia đình Nhật Bản dùng để trang trải các chi phí sinh hoạt) và trong những năm gần đây tỷ trọng tiêu dùng trong thu nhập của người Nhật có xu hướng tăng lên, trong khi tỷ lệ tiết kiệm có xu hướng giảm đi
Trang 13Đặc trưng văn hóa của thị trường Nhật: Yếu tố con người và văn hóa tác động và hình thành nên nét đặc trưng của thị trường Nhật Bản.
• Ý thức tôn trọng những giá trị truyền thống
Mặc dù rất nhạy cảm đối với văn hoá nước ngoài, song người Nhật rất ý thức về tài sản văn hoá của họ Tư liệu lịch sử văn hoá, đền đài, chùa chiền… đại bộ phận vẫn còn được bảo tồn cho đến ngày nay Hơn thế, các ngành nghề truyền thống không những không bị mai một đi mà còn được cải tiến kỹ thuật và càng trở nên tinh tế hơn
• Tính hiếu kỳ và nhạy cảm với văn hóa nước ngoài
Chúng ta có thể nói rằng không có dân tộc nào nhạy bén về văn hoá của nước ngoài như người Nhật Họ không ngừng theo dõi những biến động tình hình bên ngoài, đánh giá và cân nhắc những ảnh hưởng của các trào lưu và xu hướng chính đang diễn ra đối với Nhật.Và chính tinh thần thực dụng, tính hiếu
kỳ và óc cầu tiến của người Nhật là những động lực thúc đẩy họ bắt kịp với các nước tiên tiến
• Các mối quan hệ
Hệ thống phân phối hàng hóa Nhật Bản có sự cấu kết chặt chẽ giữa các nhà sản xuất và các nhà phân phối theo vòng khép kín và bài ngoại, nhất là những hệ thống cửa hàng chuyên môn hóa chỉ kinh doanh một loại hàng nhất định Sự cấu kết này thể hiện như sau: các nhà sản xuất cung cấp vốn cho các nhà bán buôn
và các nhà bán buôn lại cung cấp tài chính cho các nhà bán lẻ, thực hiện chế độ
Trang 14định giá bán lẻ, chiết khấu hoa hồng thường xuyên và rộng rãi, chế độ các nhà sản xuất sẵn sàng mua lại hàng hóa nếu không bán được và các nhà bán lẻ chỉ kinh doanh những mặt hàng đó do các nhà bán buôn và các nhà sản xuất giao.Trong hệ thống phân phối của Nhật Bản còn tồn tại hệ thống nhập khẩu song song Theo đó, bất cứ một công ty nào cũng có thể nhập khẩu bất cứ một sản phẩm nào từ nước ngoài song song với các tổng đại lý nhập khẩu Tuy nhiên, dịch vụ chăm sóc khách hàng, bảo dưỡng, bảo hành của hệ thống nhập khẩu song song không tốt vì các tổng đại lý nhập khẩu từ chối chăm sóc các sản phẩm được nhập khẩu theo hệ thống nhập khẩu song song
• Phương thức bán hàng trên thị trường
Đặc điểm rất độc đáo trong hệ thống phân phối hàng hóa của Nhật Bản là
sự tồn tại của hệ thống duy trì giá bán lẻ của nhà sản xuất kiểm soát giá bán lẻ thông qua các chính sách chiết khấu hoa hồng và mua lại hàng hóa Đối với chính sách mua lại hàng hóa, khác với Châu Âu và Mỹ (người mua phải gánh chịu mọi rủi ro về sản phẩm trong phạm vi khu vực phân phối Chỉ những hàng hóa bị khuyết tật mới được trả lại), tại Nhật Bản người tiêu dùng có thể trả lại các loại hàng hóa như may mặc, sách báo và dược phẩm Tất nhiên, hàng hóa đó phải còn nguyên mác, dán tem Đối với chính sách chiết khấu hoa hồng, Nhật Bản thực hiện nhiều loại chiết khấu và được chiết khấu thường xuyên, chứ không chỉ chiết khấu vào lúc thanh toán tiền hàng như ở Châu Âu
• Xu hướng hiện nay
Do nền kinh tế Nhật Bản suy thoái kéo dài, việc đồng yên tăng giá dẫn đến hàng hóa nhập khẩu có tính cạnh tranh về giá cả, thu nhập và cuộc sống của người Nhật Bản tăng đáng kể dẫn đến nhu cầu hàng hóa đa dạng và phong phú, hơn nữa do đầu tư nước ngoài của các doanh nghiệp Nhật Bản gia tăng nhanh chóng, buộc phải tái nhập khẩu hàng hóa được sản xuất tại các nhà máy ở nước ngoài, hệ thống phân phối của Nhật Bản đã có một số thay đổi theo hướng đơn giản, thông thoáng và quốc tế hóa hơn, giảm dần tính khép kín và bài ngoại: đa