LỜI CẢM ƠNSau một thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Đại học, chuyên ngành Môi trường với đề tài: “ Đánh giá hiện trạng quản lý nước thải từ
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG - -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ NƯỚC THẢI TỪ HOẠT ĐỘNG ĐÚC TẠI LÀNG NGHỀ CƠ KHÍ ĐÚC TỐNG XÁ, XÃ YÊN XÁ,HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH
Trang 2
Hà Nội – 2016
Trang 3HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG - -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ NƯỚC THẢI TỪ HOẠT ĐỘNG ĐÚC TẠI LÀNG NGHỀ CƠ KHÍ ĐÚC TỐNG XÁ, XÃ YÊN XÁ,HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH
TỈNH NAM ĐỊNH
Trang 4Hà Nội – 2016
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay tôi đã hoàn thành
khóa luận tốt nghiệp Đại học, chuyên ngành Môi trường với đề tài: “ Đánh
giá hiện trạng quản lý nước thải từ hoạt động đúc tại làng nghề cơ khí đúc Tống Xá, xã Yên Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định ”.
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy cô trong khoa Môi Trường đã giảng dạy và trang bị kiến thức thiết thực và bổ ích trong suốt quá trình học tập Đó chính là những nền tảng kiến thức vững chắc giúp em tự tin hơn trong thời gian thực tập đề tài tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn các cô chú và các anh chị cán bộ của xã Yên
Xá đã nhiệt tình giúp đỡ trong quá trình thực tập
Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Phạm Châu Thùy , người đã hướng dẫn góp ý tận tình, hết lòng giúp đỡ tôi trong quá trình thức tập tốt nghiệp cũng như hoàn thành đề tài
Trong quá trình thực tập đề tài, do điều kiện về thời gian, trình độ nghiên cứu của bản thân còn hạn chế nên khi thực hiện đề tài khó tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến của các thầy
cô giáo và các bạn để khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày… tháng … Năm 2016
Sinh viên
Trần Thị Giang
Trang 6
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Thông tin về một số làng nghề tái chế 3
Bảng 1.2 Hàm lượng một số kim loại nặng trong nước thải làng nghề tái chế kim loại ( mg/l) 6
Bảng 1.3 Thải lượng ô nhiễm do đốt than tại làng nghề tái chế kim loại ( tấn/ năm) 7
Bảng 1.4 Nồng độ các chất ô nhiễm môi trường nước từ hoạt động của một số làng nghề tái chế kim loại ( tại dòng thải của các cơ sở tái chế) 11
Bảng 3.1 Tình hình kinh tế xã Yên Xá qua 3 năm 2012 - 2014 28
Bảng 3.2 Giá trị SX-KD làm nghề đúc kim loại 30
Bảng 3.3 Các loại hình sản xuất và số lượng các cơ sở 31
Bảng 3.4 Khối lượng nguyên, nhiên liệu, hóa chất sử dụng sản xuất ( tính bình quân/1 công ty) 34
Bảng 3.5 Lượng nước thải trong quá trình làm mát lò của một số cơ sở sản xuất/ 1 ngày.39 Bảng 3.6 Giá trị một số thông số trong nước thải từ hoạt động đúc của làng Tống Xá 41
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ Bộ máy tổ chức quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường tỉnh Nam Định 15
Hình 3.1 Quy trình đúc đồng, nhôm 35
Hình 3.2 Quy trình đúc sắt, thép 37
Hình 3.3 Cơ cấu tổ chức quản lý môi trường của UBND xã Yên Xá 44
Hình 3.4 Mô hình hệ thống xử lý nước thải tại làng nghề cơ khí đúc Tống Xá 53
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1 Tỷ lệ người mắc các bệnh phổ biến tại làng nghề tái chế kim loại Châu Khê, Bắc Ninh 10 Biểu đồ 1.2 Nồng độ SO2 tại một số làng nghề năm 2010 13 Biểu đồ 1.3 Nồng độ NO2 tại một số làng nghề năm 2010 13 Biểu đồ 1.4 Nồng độ TSP trong không khí xung quanh một số làng nghề khu vực phía Bắc 14 Biểu đồ 3.1 Cơ cấu sử dụng lao động xã Yên Xá năm 2015 27 Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ các loại hình sản xuất tại làng Tống Xá 31 Biểu đồ 3.3 Nồng độ một số thông số chứa trong nước thải từ hoạt động đúc tại làng nghề Tống Xá so với QCVN 40:2011/BTNMT 42 Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ các cơ sở nộp phí BVMT của làng Tống Xá năm 2014 và 2015 49 Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ các cơ sở thực hiện quan trắc môi trường định kỳ của làng Tống Xá năm
2014 và 2015 49
Trang 10DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BOD Nhu cầu oxy sinh hóa (Biochemistry Oxygen Demand)
COD Nhu cầu oxy hóa học (Chemistry Oxygen Demand)
CN – TTCN Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp
SX – KD Sản xuất – kinh doanh
TN & MT Tài nguyên và Môi trường
TSS Tổng chất rắn lơ lửng
Trang 11MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Làng nghề là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam Làng nghề có ý nghĩa lớn thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn Hoạt động làng nghề thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia, giải quyết việc làm cho lực lượng lao động nông thôn Hoạt động làng nghề đóng góp vai trò quan trọng đối với vấn đề xóa đói giảm nghèo, góp phần nâng cao chất lượng cho cuộc sống người lao động Làng nghề phát triển từ rất sớm là nơi lưu trữ
nhiều giá trị văn hóa lâu đời Song cùng với sự giàu lên nhanh chóng là nạn ô
nhiễm môi trường nghiêm trọng Theo thống kê của Hiệp hội làng nghề Việt
Nam, nước ta có khoảng 2.800 làng nghề trong đó có 240 làng nghề truyền thống, giải quyết việc làm cho hơn 11 triệu lao động Có đến 90% trong tổng
số các làng nghề vi phạm pháp luật về môi trường Các kết quả quan trắc của
những năm gần đây cho thấy mức độ ô nhiễm của các làng nghề không có xu hướng giảm Nguyên nhân có thể kể đến là cở sở hạ tầng còn kém, công nghệ
áp dụng cho quy trình sản xuấtcòn lạc hậu, chưa có hệ thống xử lý chất thải hay công nghệ xử lý còn lạc hậu… dẫn đến chất thải phát sinh ra ảnh hưởng đến sức khỏe và môi trường
Đối với Nam Định, làng nghề phát triển mạnh góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội địa phương Hiện nay tỉnh Nam Định có khoảng 90 làng nghề, trong đó có 15 làng nghề chuyên sản xuất cơ khí, cô đúc nhôm, đồng, tẩy mạ,
19 làng nghề thủ công mỹ nghệ, mây tre đan, 7 làng nghề dệt, thêu ren với các làng nghề truyền thống và phát triển tương đối ổn định như các làng nghề:
cơ khí Xuân Kiên, chiếu cói Xuân Dục (Xuân Trường); mộc mỹ nghệ La Xuyên (Ý Yên); mộc gia dụng Phạm Rỵ, Tuy nhiên, các làng nghề tại Nam Định sản xuất chủ yếu theo phương thức tiểu thủ công, nên việc xử lý chất thải và không có hệ thống xử lý nước thải đang làm cho môi trường bị ô
Trang 12nhiễm tới mức báo động Một trong những làng nghề đó phải kể tên đến làng
cơ khí đúc Tống Xá Làng Tống Xã ở xã Yên Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định nổi tiếng với nghề đúc đồng Những năm gần đây, trong làng có nhiều
cơ sở sản xuất được mở ra và phát triển với quy mô lớn không chỉ đúc đồng
mà còn đúc gang, sắt, thép; kích thích, tăng trưởng kinh tế của địa phương
Tuy nhiên, đa phần các cơ sở đều có điều kiện làm việc thiếu thốn, không gian chật hẹp, vật liệu ngổn ngang, bừa bãi.… Không khí ngột ngạt, nồng nặc
từ các lò nung, lò nấu kim loại Ô nhiễm tiếng ồn nghiêm trọng vì tiếng đục đẽo, cưa cắt Nguồn nước bị ô nhiễm nghiêm trọng vì nước thải sản xuất Theo người dân xã Yên Xá, các cơ sở sản xuất thường hoạt động vào ban đêm Khí thải, chất thải ô nhiễm chưa qua xử lý được xả thẳng ra môi trường, gây ô nhiễm nghiêm trọng Trong thời gian qua, dù đã có những biện pháp cải tạo, nhưng tình trạng ô nhiễm vẫn chưa được cải thiện Do sản xuất phát triển quá nhanh, điều kiện cơ sở vật chất có hạn, nên chính quyền đang gặp nhiều
khó khăn và cần có thời gian để giải quyết triệt để vấn đề này Do đó, giải
quyết vấn đề xử lý nước thải đang là những yêu cầu bức thiết để duy trì và
phát triển làng nghề truyền thống cơ khí, đúc Yên Xá Xuất phát từ tình hình
ô nhiễm ở làng nghề Tống Xá, với mong muốn tìm ra giải pháp giảm thiểu ô nhiễm đặc biệt là vấn đề ô nhiễm nước của làng nghề, em đã chọn đề tài:
“Đánh giá hiện trạng quản lý nước thải từ hoạt động đúc tại làng nghề cơ
khí đúc Tống Xá, xã Yên Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định”
Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá các giải pháp quản lý nước thải từ hoạt động đúc tại làng nghề Tống Xá, xã Yên Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định
- Đề xuất một số giải pháp quản lý nước thải từ hoạt động đúc phù hợp cho làng nghề
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về làng nghề tái chế kim loại
1.1.1 Giới thiệu về làng nghề tái chế kim loại
Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa , thực hiện phát triển kinh
tế thị trường và chủ động hội nhập quốc tế, làng nghề Việt Nam đã biết phát huy thế mạnh của mình và thích ứng với bối cảnh mới nên vẫn tiếp tục phát triển và còn tìm kiếm được nhiều thị trường mới
Theo Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, hiện nay nước ta có 2790 làng nghề Dựa phân loại theo loại hình sản xuất, loại hình sản phẩm, có thể phân thành 6 nhóm ngành nghề sản xuất chính gồm:
- Thủ công mỹ nghệ: gốm, sứ, thủy tinh mỹ nghệ, sơn mài, đồ gỗ mỹ nghệ, chạm mạ vàng…: 39%
- Chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi, giết mổ: 20%
- Dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da: 17%
- Tái chế phế liệu( giấy, nhựa, kim loại):4%
- Ngành nghề khác: 15%
(Nguồn: Tổng cục Môi trường, 2008)
Mặc dù chiếm tỷ lệ nhỏ nhưng làng nghề tái chế là loại hình làng nghề phát triển nhanh về quy mô và loại hình tái chế trong thời gian vài chục năm gần đây cùng với sự phát triển kinh tế nông thôn Các làng nghề tái chế góp phần tận thu, tái sử dụng một lượng không nhỏ chất thải từ sản xuất công nghiệp và cả sinh hoạt Công nghệ tái chế phát triển giúp giảm lượng chất thải, nâng cao hiệu quả kinh tế của quá trình sản xuất và làm giảm giá thành sản phẩm Với loại hình làng nghề tái chế, có thể chia ra thành 3 loại cơ bản: tái chế kim loại, tái chế giấy, tái chế nhựa Đa số các làng nghề nằm ở phía Bắc, công nghệ sản xuất đã từng bước được cơ khí hóa Đối với các làng nghề
ở miền Trung, miền Nam ra đời và phát triển muộn nên quy mô và lĩnh vực hoạt động không lớn
Bảng 1.1 Thông tin về một số làng nghề tái chế
Trang 14TT Làng nghề Số lượng Đại danh
3 Tái chế giấy >150 hộ sản xuất Dương Ô – Phú Lâm – Bắc Ninh
4 Tái chế sắt
vụn, kim loại
700 cơ sở Văn Môn – Yên Phong – Bắc Ninh;
Đa Hội – Châu Khê – Bắc Ninh; Bình Yên – Nam Trực – Nam Định, Vân Chàng – Nam Định, Tống Xá – Yên Xá – Nam Định
5 Tái chế dung
môi, dầu thải
30 cơ sở TP Hồ Chí Minh; Bình Dương,
Đồng nai
(Nguồn: Tạp chí khoa học công nghệ, số 9/5 – 2011)
Với nguyên liệu chủ yếu là sắt vụn, sắt thép phế liệu, các làng cơ khí, đúc được xếp vào loại hình làng nghề tái chế kim loại Số lượng làng nghề tái chế kim loại chiếm tỷ lệ lớn nhất trong nhóm các làng nghề tái chế chất thải và phế thải Theo Đề tài KC 08-09 về môi trường – làng nghề, với tổng số 90 làng nghề tái chế thì làng nghề tái chế kim loại chiếm 81 làng nghề Có thể kể đến một số làng nghề tái chế kim loại tiêu biểu: Làng nghề cơ khí Tống Xá – Yên Xá – Nam Định; làng nghề cơ khí Mỹ Đồng – Thủy Nguyên – Hải Phòng; làng nghề đúc nhôm Vân Chàng - Nam Định ; làng nghề đúc đồng Phước Kiều – Quảng Nam ; làng nghề đúc đồng Ngũ Xá – Hà Nội ; làng đúc nhôm Mẫn Xá – Bắc Ninh…
Trong các làng này tuy có thể khác nhau về quy trình sản xuất, quy trình công nghệ nhưng đều có một số đặc điểm chung sau:
Trang 15- Các làng nghề phần lớn có quy mô vừa và nhỏ, nằm xen kẽ với khu dân
cư, hình thành chủ yếu trên cơ sở gia đình, kinh nghiệm được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
- Công nghệ sản xuất và thiết bị ở các làng nghề phần lớn lạc hậu, chắp
vá Thiết bị phần lớn là đơn giản, không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, an toàn và
vệ sinh môi trường Thường sử dụng các nhiên liệu rẻ tiền, hóa chất độc hại
để nhằm hạ giá thành sản phẩm Hầu hết các làng có quy trình tái chế tương đối đơn giản, dễ vận hành, hoàn toàn bằng thủ công Họ thu mua các phế thải như thép vụn, phế liệu do máy móc, dụng cụ sắt bị hư hỏng, vật dụng gia đình, tái chế lại thành sản phẩm mới theo sự đặt hàng của người mua
- Trình độ người lao động ở các làng nghề chủ yếu là lao động thủ công, văn hóa thấp Kiến thức tay nghề không toàn diện dẫn tới tiêu hao nhiều nguyên nhiên liệu, làm tăng phát thải nhiều chất ô nhiễm môi trường nước, đất, không khí, ảnh hưởng tới giá thành sản phẩm và chất lượng môi trường
1.1.2 Loại hình và đặc tính chất thải tại làng nghề tái chế kim loại
a Nước thải
Các làng nghề tái chế kim loại gồm các ngành gia công cơ khí, đúc, mạ, tái chế và chế tác kim loại có lượng nước thải không lớn, nhưng lại chứa nhiều chất độc hại như kim loại nặng ( Zn, Fe, Cr, Ni ), dầu mỡ công nghiệp
Nguồn phát sinh nước thải:
Nước sử dụng để làm mát các thiết bị máy móc, vệ sinh thiết bị, mặt bằng nhà xưởng.Nước sẽ cuốn theo các tạp chất bẩn còn trong máy móc như các hóa chất, muối axit, muối kim loại, cyanua, các kim loại nặng như thủy ngân, kẽm, sắt, crom, niken… dầu mỡ công nghiệp, chất rắn lơ lửng trực tiếp chảy
ra cống thải rồi ra các ao, hồ, sông của làng mà không có hệ thống xử lý nào Nước từ quá trình tẩy rửa và mạ kim loại: chứa các hóa chất HCl, NaOH,
Cr, Ni, … Nước axit từ các bình acqui sau khi phá vỡ được thải xuống ao hồ.Nước thải sinh hoạt: từ nhu cầu sinh hoạt, vệ sinh Nước mang theo các chất bẩn bám trên người của những người thợ như bụi kim loại, vi khuẩn…
Đặc tính của nước thải:
Trang 16Nước thải từ quá trình sản xuất của các làng nghề nên có hàm lượng các chất độc hại khá cao Quá trình mạ bạc tạo ra muối Hg, cyanua, oxit kim loại,
và các tạp chất khác Quá trình rửa bình acquy còn gây phát sinh nước thải chứa một lượng lớn chì Nước thải của một số làng nghề có hàm lượng các kim loại nặng như Cr6+, Zn2+, Pb2+ lớn hơn từ 1,5 đến 10 lần QCVN ( theo Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia, 2008)
Bảng 1.2 Hàm lượng một số kim loại nặng trong nước thải làng nghề tái
chế kim loại ( mg/l)
TT Nơi lấy mẫu Cr2+ ∑Fe Pb2+ Cu2+ Zn2+ Al3+
-2 Vân Chàng – Nam Định 63 - 67 12 0.9 1.5 8.7 10.4
3 Phước Kiều – Quảng Nam 0.2 7.6 0.6 3.1 1.8 2.1
4 Xuân Tiến – Nam Định 0.8 0.3 0.44 3.25 2.15 0.32
-(Nguồn: Đề tài KC 08-09 về môi trường – làng nghề)
b Khí thải
Nguồn phát sinh khí thải:
Quá trình vận chuyển nguyên nhiên liệu tới các làng nghề: bụi từ khói thải của xe chuyên chở Ngoài ra một phần bụi bám trên bề mặt kim loại do chứa các tạp chất đất đá… cũng phát tán vào môi trường không khí
Gia công sơ bộ, tẩy gỉ: phát sinh một lượng lớn bụi, bụi chứa kim loại nặng và bụi của vật liệu độc hại
Quá trình nấu: trong quá trình nấu, người ta thường dùng than, củi Việc đốt than gây ra phát sinh một lượng lớn bụi, khói và các khí ô nhiễm như
CO2, SO2, NOX, chất hữu cơ bay hơi Tái chế kim loại sử dụng một lượng lớn than chính vì thế mà thải lượng ô nhiễm của nó cũng là lớn nhất Khí thải phát sinh ra từ quá trình nấu chảy vỏ hộp lon bia, nhôm phế liệu Do trong nguyên liệu có dính nhiều tạp chất cũng như các lớp sơn, mạ bị cháy và thải vào
Trang 17Khí thải thoát ra từ quá trình gia nhiệt nóng cho hỗn hợp xút: hỗn hợp xút được gia nhiệt nhằm sử dụng để tẩy dầu mỡ, cặn bẩn Với nhiệt độ cao, hơi xút trong không khí gây mùi khó chịu, cản trở hô hấp.
Quá trình nhúng rửa, mạ crom sản phẩm với hỗn hợp hóa chất độc hại đựng trong các bể, thùng chứa, không được đậy nắp khiến cho không gian phân xưởng ô nhiễm bởi mùi ngột ngại
Khí bay hơi từ các cống rãnh không nắp đậy, song tiếp nhận nước thải khuếch tán vào không khí với nồng độ cao
Đặc tính khí thải:
Bụi trong không khí phát sinh từ khâu phân loại, gia công sơ bộ, tẩy gỉ, nấu, cán, kéo, đúc, đặc biệt là khu vực bên cạnh các lò đúc thép, hàm lượng bụi vượt tiêu chuẩn cho phép tới 10 – 15 lần Tại làng cơ khí Mỹ Đồng: Hàm lượng bụi ở khu vực sản xuất vật liệu xây dựng tại địa phương vượt quá quy chuẩn Việt Nam từ 3-8 lần, hàm lượng SO2 có nơi vượt 6,5 lần ( Theo báo thương hiệu và công luận)
Theo kết quả khảo sát tại một số làng nghề tái chế kim loại của Đặng Kim Chi : bụi trong không khí dao động trong khoảng 0.098 – 2 mg/m3, vượt TCCP trung bình 1 giờ và 24 giờ Bên cạnh đó, từ quá trình gia công cơ khí, vận chuyển nguyên vật liệu và sản phẩm cũng phát sinh lượng bụi lớn, có chứa kim loại mà chủ yếu là bụi oxit Fe với nồng độ ≈ 0.5 mg/m3 Trong không khí tại các làng nghề nay luôn phát hiện được hơi hóa chất như Cl, HCN, HCl, H2SO4,
SO2, CO, NO tuy hàm lượng nhỏ hơn tiêu chuẩn cho phép
Bảng 1.3 Thải lượng ô nhiễm do đốt than tại làng nghề tái chế kim loại
(Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia, 2008)
c Chất thải rắn