Thông qua việc học môn sinh, các em có thể nắm được hệ thống kiến thức về: thực vật, động vật, cơ thể người và vệ sinh, di truyền và biến dị, sinh vật và môi trường giúp cho các em học s
Trang 1PHẦN I : MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài
Sinh học là môn khoa học thực nghiệm có ý nghĩa quan trọng và không thể thiếu trong quá trình học tập và rèn luyện của học sinh nhà trường phổ thông Thông qua việc học môn sinh, các em có thể nắm được hệ thống kiến thức về: thực vật, động vật, cơ thể người và vệ sinh, di truyền và biến dị, sinh vật và môi trường giúp cho các em học sinh bước đầu hiểu được các quy luật
cơ bản của quá trình sống cũng như mối quan hệ giữa các sinh vật với nhau
và với môi trường, làm cơ sở giúp các em hiểu những nguyên tắc kỹ thuật trong sản xuất có liên quan đến sinh học, các biện pháp gìn giữ vệ sinh, bảo
vệ môi trường nhằm tăng cường sức khỏe để lao động và sáng tạo
Chính vì vậy, phương pháp dạy học của người thầy rất quan trọng trong việc kích thích sự ham mê hứng thú học sinh học của học sinh Một trong những hướng mới của phương pháp dạy học hiện nay là việc khai thác kiến thức từ phương tiện trực quan trong dạy học Đó là mẫu vật sống, mẫu ngâm,
mô hình, tranh ảnh Từ đó phát hiện ra những thông tin cần thiết cho việc xây dựng kiến thức mới
Thực hành giải phẫu, phân tích mẫu mổ là một trong những phần quan trọng giúp học sinh rèn luyện được các kỹ năng cần thiết như: kỹ năng giải phẫu,
kỹ năng trình bày nội quan vật mẫu, kỹ năng quan sát mô tả, nhận biết các chi tiết cấu tạo các cơ quan và hệ cơ quan được nâng cao, trên cơ sở đó kiến thức lí thuyết được củng cố, sơ đồ cấu tạo các hệ cơ quan trong tiết lí thuyết được cụ thể hóa ở mẫu vật, để từ đó thêm yêu thích và có hứng thú khám phá
bộ môn sinh học
Chính vì những lí do trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài:”Rèn luyện kỹ năng thực hành giải phẫu, phân tích mẫu mổ một số loài động vật có xương sống trong sinh học 7”
Trang 2II Mục đích nghiên cứu
- Trước hết, qua các nghiên cứu đề tài này tôi nắm được lí thuyết và kỹ năng thực hành giải phẫu, phân tích mẫu mổ một các vững vàng và thấu đáo hơn Hơn thế, việc hệ thống lại lí thuyết và khái quát lại một số phương pháp cùng các ví dụ cụ thể có ý nghĩa rất quan trọng góp phần phát triển tư duy của học sinh, hình thành và phát triển vững chắc các kỹ năng thực hành, so sánh, tổng hợp từ đó, tạo cho học sinh thế chủ động trong chiếm lĩnh kiến thức sinh học và tạo điều kiện thuận lợi để học sinh tích cực tham gia hoạt động nhận thức
- Học sinh có khả năng vận dụng kiến thức thực hành vào giải quyết những bài tập thực hành, bài kiểm tra, bài thi
- Qua việc thực hành giải phẫu, phân tích mẫu mổ sẽ có nhiều học sinh giỏi, thông minh, có khả năng diễn đạt tốt khi trình bày so sánh Học sinh sẽ trở thành chủ thể hành động tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo trong khai thác mẫu mổ để kiến tạo kiến thức sinh học
Mong rằng với một chút ít kinh nghiệm của bản thân về kỹ năng thực hành giải phẫu, phân tích mẫu mổ, tôi viết đề tài này nhằm góp phần cùng các bạn đồng nghiệp tháo gỡ vướng mắc khi rèn luyện kỹ năng thực hành , giúp học sinh hoàn chỉnh tri thức và kỹ năng thực hành sinh hoc
III Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Nói về kỹ năng thực hành động vật có rất nhiều kỹ năng cần nghiên cứu:
- Rèn luyện kỹ năng giải phẫu động vật
- Rèn luyện kỹ năng trình bày nội quan vật mẫu
- Rèn luyện kỹ năng quan sát, mô tả, nhận biết các chi tiết cấu tạo các cơ quan và các hệ cơ quan
Nhưng do thời gian hạn hẹp, vốn kiến thức và kinh nghiệm ít ỏi tôi không dám đi sau vào lĩnh vực rộng lớn của rèn luyện kỹ năng thực hành mà chỉ đề cập tới một chuyên đề nhỏ là giúp hoc sinh THCS đặc biệt là sinh học lớp 7
có được kỹ năng thực hành giải phẫu bằng những phương pháp đơn giản, hiệu quả, hữu hiệu và phù hợp với trình độ kiến thức của hoc sinh THCS
Trang 3IV Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu, để thực hiện đề tài này tôi sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau:
1 Đọc tài liệu của PGS.TS Trần Hồng Việt, thầy Nguyễn Hữu Dực, thầy
Lê Nguyên Ngật (giảng viên trường ĐHSP Hà Nội I)
2 Nghiên cứu chương trình sinh học THCS nhất là chương trình lớp 6, 7
để từ đó nắm bắt tình hình, hệ thống nội dung kiến thức để sắp xếp hợp
lí, logic kiến thức
3 Sưu tầm thống kê những cách rèn luyện kỹ năng thực hành để đúc kết thành những phương pháp khoa học
4 Thông qua kinh nghiệm giảng dạy, áp dụng vào bài giảng cụ thể, quan sát học sinh thực hành để thấy được những ưu nhược điểm để từ đó có những biện pháp, hướng thay đổi đúng như mục đích nghiên cứu đã để ra
5 Giáo viên trò truyện, trao đổi với học sinh để tìm ra những khó khăn, vướng mắc trong học tập thực hành, từ đó có biện pháp khắc phục để đem lại sự thành công cho Bài giảng
6 Khảo sát, kiểm tra, đánh giá kết quả tiếp thu bài của học sinh
Trang 4PHẦN II NỘI DUNG
I.Những cơ sở chọn đề tài:
1 Cơ sở lí luận:
- Thực hành giải phẫu có vai trò quan trọng trong việc hình thành tri thức sinh hoc cho học sinh phổ thông Để giúp học sinh dễ hình dung sự vật, người thầy
đã phải dùng phương pháp trực quan bằng lời nói, tranh vẽ, ảnh chiếu minh họa Tuy nhiên, để học sinh có kiến thức vững chắc cần phải tạo điều kiện cho các em tìm hiểu thực tiễn sinh động, phải cho các em thực hành mổ xẻ mẫu vật thực để quan sát chi tiết Chỉ có tự tay làm, tự nghiên cứu, tìm hiểu, người học mới hiểu sâu, nhớ kỹ
- Mặt khác, qua thực hành học sinh còn rèn luyện được đôi tay thêm khéo léo, phát huy óc tìm tòi, nghiên cứu, xây dựng được tính cẩn thận, kiên trì, ý thức
tổ chức kỉ luật
- Điều đáng bàn là ở nhiều trường, học sinh chưa thấy hết tầm quan trọng nên chỉ thực hành cho qua quýt cho xong, không có hào hứng học tập, nghiên cứu nên kết quả không cao Đó là những sai lầm cần sớm được chấn chỉnh và khắc phục
- Thực hành giải phẫu hình thái nhằm giúp người học hiểu chính xác, đầy đủ
về tổ chức cơ thể của đối tượng nghiên cứu, có sự chuẩn bị chu đáo và nghiên cứu tốt
2 Cơ sở thực tiễn
Trong chương trình sinh học ở THCS, việc rèn luyện kỹ năng thực hành giải phẫu được đặt ra ngay ở đầu cấp
- Ở chương trình lớp 6 học sinh được lĩnh hội, rèn luyện một cách có hệ thống những kiến thức và kỹ năng hình thành tri thức về thực vật (kỹ năng sử dụng kính lúp, kính hiển vi, kỹ năng quan sát tế bào thực vật )
- Ở chương trình lớp 7 chủ yếu là nghiên cứu giới động vật, được biên soạn theo quan điểm sinh thái và tiến hóa giúp cho học sinh hiểu rõ sự
Trang 5gắn bó mật thiết giữa thế giới động vật với điều kiện sống của chúng Kiến thức của chương trình sinh hoc 6 và sinh hoc 7 tạo thành kiến thức
cơ sở cho những môn học tiếp theo: Cơ thể người và vệ sinh, di truyền và biến dị, sinh vật và môi trường Từ đó giúp các em học sinh nắm được hệ thống kiến thức sinh học để áp dụng vào cuộc sống, lao động, hay tiếp tục học lên THPT, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề hoặc đi vào cuộc sống
II Rèn luyện kỹ năng thực hành giải phẫu động vật có xương sống.
1 Ý nghĩa
- Học động vật bao gồm hai phần: lí thuyết và thực hành nghiên cứu Khi học lí thuyết dù bài giảng chi tiêt đến đâu cũng không thể đưa người học tiếp thu được thực tế khác quan, nói cách khác bài giảng vẫn chỉ là lý thuyết sách vở Do vậy, học động vật nếu chỉ dừng ở mức học lí thuyết thì mới chỉ thực hiện được một nửa công việc và kiến thức thu được đó
sẽ không được đầy đủ, chắc chắn Học sinh cần phải được hoàn thiện quá trình học tập bằng các buổi thực hành, chính vì thế thực hành có ý nghĩa rất quan trọng
- Để thực hành đạt kết quả tốt, học sinh phải có sự chuẩn bị chu đáo Việc chuẩn bị này phải bắt đầu ngay từ khi nghe giảng trên lớp, chú ý phát hiện ra những chỗ chưa rõ và đánh dấu lại để tìm hiểu, giải đáp qua tiết thực hành
- Điều quan trọng nữa là trước khi thực hành phải nghiên cứu bài thực hành xem nội dung cần thực hiện, vận dụng vốn hiểu biết vào quan sát, kiểm nghiệm lí thuyết bằng thực tiễn nếu không làm được việc này chất lượng tiết thực hành sẽ giảm đi nhiều, bởi khi thực hành bắt tay làm việc các em sẽ không biết làm gì, phải làm như thế nào? Lúc này nếu mở tài liệu ra đọc sẽ chiếm mất thời gian mổ Chính vì vậy phải yêu cầu học sinh đọc kỹ bài thực hành
Trang 6- Cần chống tư tưởng xem nhẹ thực hành, làm việc nôn nóng, qua loa cẩu thả ngược lai cần rèn luyện các đức tính cẩn thận, kiên trì, khoa học thông qua các tiết thực hành
2 Cách thức tiến hành
Khi rèn luyện kỹ năng thực hành giải phẫu động vật, phương tiện và kĩ thuật thực hành là vô cùng quan trọng, vì vậy đòi hỏi học sinh phải hiểu rõ tính năng của các dụng cụ và kĩ thuật thực hành để có hiệu quả cao
- Dụng cụ thí nghiệm:
+ Kính lúp cầm tay dùng để quan sát những vật cần được phóng to hơn khoảng 5-10 lần Ví dụ: vảy nhỏ trên da bò sát
+ Kính hiển vi: dùng để quan sát các tổ chức vi mô mà kính lúp không làm
rõ được
+ Kéo: dùng để mổ và cắt rất thuận tiện: Kéo mũi thẳng dùng để cắt lông, da
cơ, các nội quan và cả những tổ chức cứng như xương Kéo mũi cong dùng
để cắt các đường cong hoặc tách gỡ các bộ phận mà không làm ảnh hưởng tới các phần bên cạnh
+ Kẹp dùng để kẹp, gắp, nâng các bộ phận làm chúng tách xa nhau để quan sát hoặc làm chúng căng ra để dễ cắt
+ Dao mổ: dùng để mổ, cắt
+ Kim mũi mác dùng để rạch da, cơ mà không cần lực lớn hoặc rạch các màng liên kết
+ Kim mũi nhọn: Dùng để chọc tủy phá trung khu vận động, cũng dùng để rạch màng liên kết, tách gỡ, nâng đỡ các nội quan khi phân tích quan sát + Bàn mổ: dùng để đặt và giữ con vật ở vị trí cố định khi giải phẫu hoặc giữ nội quan ở những vị trí cố định khi trình bày tiêu bản mổ
+ Khay mổ
- Kỹ thuật mổ:
+ Chọn các đối tượng thực hành phù hợp, có kích thước cơ thể vừa phải, đảm bảo giá tiền rẻ để mỗi học sinh có cơ hội thực hành
+ Dụng cụ phải đầy đủ theo yêu cầu của từng bài
Trang 7+ Khi giải phẫu phải chọn đúng dụng cụ, sử dụng đúng tính năng của dụng cụ
+ Mẫu vật mổ luôn luôn phải đặt chìm trong nước và máu chảy ra phải tẩy rửa ngay, không để máu đọng vào các bộ phận khó quan sát Mẫu vật to như thỏ thì phải mổ khô, khi máu chảy cần lấy bông thấm hết ngay
+ Khi dùng kéo mổ thì mũi kéo luôn hướng lên phía trên
+ Khi dùng panh cần kẹp nhẹ nhàng, tránh làm nát mẫu vật
+ Khi cố định mẫu vật cần cắm ghim xiên tạo góc nhọn 450 với mặt bàn mổ, không nên cắm thẳng, vừa vướng khó mổ, khó phân tích, vừa mất mĩ thuật Khi thực hành xong cần rửa dụng cụ sạch sẽ, lau khô cẩn thận, giao trả phòng đồ dùng tránh han rỉ, mất mát dụng cụ
- Kỹ năng thực hành: sau tiêt thực hành học sinh cần đạt một trình độ kỹ
năng nhất định
+ Về giải phẫu: Biết mổ, tách gỡ và trình bày được chính xác các cơ quan
không bị hỏng
+ Về trình bày tiêu bản: Trình bày đúng quy cách, hợp khoa học, tiêu bản sạch đẹp
+ Về kiến thức: Qua tiêt thực hành học sinh phải nắm chắc và trình bày được lưu loát cấu tạo, hoạt động của các cơ quan trên mẫu vật thực
- Viết báo cáo tường trình: Phải viết đầy đủ: Trình tự tiến hành, kết quả
đạt được, thu hoạch, những kinh nghiệm thành công hay không thành công rèn luyện cho các em viết báo cáo khoa học sau này
• Những kĩ năng cần lưu ý trước khi làm thí nghiệm, thực hành
- Kĩ năng quan sát:
+ Quan sát động vật ngoài thiên nhiên: Quan sát động vật trong môi trường sống của chúng cần chú ý về cách vận động di chuyển, màu sắc cơ thể, tập tính sống
+Quan sát mẫu động vật trong phòng thí nghiệm: Quan sát hình dạng ngoài cần chú ý đến kích thước cơ thể, các bộ phận cấu tạo ngoài như da, chi, giác quan Khi quan sát mẫu mổ sẵn cần chú ý đến vị trí của các hệ cơ quan
Trang 8trong cơ thể, cấu trúc của từng hệ cơ quan bên trong, mối liên hệ giữa cấu tạo và chức năng của từng hệ cơ quan, sự liên hệ giữa các hệ cơ quan trong
cơ thể
- Cần hướng dẫn học sinh chuẩn bị đầy đủ trước khi thực hành
- Khi thực hành cần hướng dẫn học sinh quan sát các hiện tượng, giải thích các kết quả
- Cần chuẩn bị trước câu hỏi dẫn dắt hay các gợi ý cho học sinh suy nghĩ
- Phải thực hiện đầy đủ các bài thực hành đã quy định trong chương trình
- Giáo viên phải chuẩn bị trước và làm thành thạo các bài thực hành có trong chương trình
- Phải hướng dẫn học sinh thực hiện đúng nội quy thực hành, an toàn phòng thí nghiệm
- Cần có đánh giá và cho điểm kết quả thực hành, kỹ năng làm thí nghiệm
MỘT VÀI VÍ DỤ TRONG CHƯƠNG TRÌNH SINH HỌC 7
Ví dụ 1: Thực hành: Mổ cá
- Yêu cầu học sinh đọc trước nội dung thực hành cá chép sách giáo khoa sinh học 7 trang 106, hiểu rõ cấu tạo ngoài và cấu tạo trong của cá chép, mục đích là để thông qua bài thực hành các em sẽ quan sát cấu tạo trong trước rồi mới học sau
- Chuẩn bị: + Cá chép nhỏ hoặc cá diếc ( chuẩn bị theo nhóm 4-6 học sinh một mẫu mổ)
+ Bộ đồ mổ và khay mổ, đinh ghim
+ Tranh vẽ các nội quan và não cá
+ Mô hình não cá hoặc mẫu não mổ sẵn
- Cách mổ: + Cắt 1 vết trước hậu môn và cắt một đường dọc giữa bụng đến góc mang, sau đó cắt vòng bên thân từ lỗ huyệt lên đến phía trước buồng mang (chú ý không chọc sâu mũi kéo để không làm hỏng nội quan phía trong) Đặt cá xuống ván mổ ( đổ nước ngập tiêu bản) Cắt tiếp đường
Trang 9vòng theo nắp mang Sau đó cắt theo đường qua các xương sườn, dưới cột sống và lật bỏ Tiếp đó cắt tiếp xương nắp mang để lộ toàn bộ nội quan Như hình 1 Cách mổ cá chép
Hình 1 Cách mổ cá chép (đường viền đỏ)
Chú ý giữ cho các mạch máu không bị đứt, nếu mạch máu bị đứt, máu chảy nhiều sẽ khó quan sát Nếu máu chảy ra phải rửa máu ngay
Sau khi mổ, quan sát sơ bộ vị trí tự nhiên của các nội quan Trước tiên ta thấy toàn bộ nội quan cá được phủ bởi một màng rất mỏng, đó là mạc bụng Bóc bỏ mạc bụng để quan sát các nội quan
Tim nằm ngay đầu cùng, vùng ngực, dưới đôi mang cuối cùng, tim được bao bọc bởi xoang bao tim Sau tim là màng ngăn tim-bụng Trong xoang bụng,
từ lưng xuống là thận màu nâu sẫm Bóng hơi ở cá chép khá to, phân làm hai thùy Dưới bóng hơi là tuyến sinh dục Dưới tuyến sinh dục là ruột gấp khúc
có tuyến tiêu hóa là gan và tụy bám bên ngoài Có thể thấy rõ qua hình 2 Cấu tạo trong của cá chép
Trang 10Hình 2 Cấu tạo trong của cá chép
- Đối chiếu với hình 2, yêu cầu học sinh xác định vị trí của lá mang, tim,
dạ dày, ruột, gan, mật, thận, tinh hoàn hoặc buồng trứng, bóng hơi
- Gỡ các nội quan để quan sát rõ hơn: Gỡ dần ruột, tách mỡ dính vào ruột
- Quan sát bộ xương cá ( hình 32.2 sgk sinh học 7)
- Quan sát bộ não cá
Trang 11Hình 3 Bộ não cá chép.
- Sau khi quan sát từng nhóm trao đổi nêu nhận xét về vị trí các cơ quan và vai trò của chúng theo bảng:
Mang
Tim
Thực quản, dạ dày, ruột, gan
Bóng hơi
Thận
Tuyến sinh dục, ống sinh dục
Bộ não
- Mỗi nhóm báo cáo nhận xét về 1 hệ cơ quan, các nhóm khác bổ sung
• Những kết luận quan trọng: Học sinh thấy rõ đặc điểm cấu tạo của cá thích nghi với đời sống ở nước Rèn cho học sinh kĩ năng mổ động vật có xương sống
Ví dụ 2 Thực hành: Quan sát cấu tạo trong của ếch đồng trên mẫu mổ.
- Những kiến thức cần lưu ý trước khi làm thí nghiệm thực hành
+ Đặc điểm của bộ xương ếch thích nghi với đời sống vừa ở nước vừa ở cạn
Tải bản FULL (18 trang): https://bit.ly/2Q1BH8s
Dự phòng: fb.com/TaiHo123doc.net
Trang 12+ Các hệ cơ quan: Tuần hoàn, hô hấp, tiêu hóa, bài tiết và sinh sản trên mẫu
mổ ếch
- Những kỹ năng cần lưu ý:
+ Quan sát cấu tạo ngoài: Xác định các phần của cơ thể ếch
+ Quan sát mẫu mổ: Quan sát da và các nội quan trên mẫu mổ
+ Kĩ thuật mổ ếch ( chỉ dành cho giáo viên ): Cần làm liệt ếch bằng một trong hai cách
Cách 1: Cho ếch vào bình có bông tẩm ete hoặc clorofooc, đậy kín, để 5-10 phút
Cách 2: Chọc tủy Đặt ếch nằm sấp trong lòng bàn tay trái, ngón tay trỏ khẽ kéo đầu ếch gập về phía bụng Tay phải dùng kim mũi nhọn dò tìm nơi tiếp giáp giữa xương đầu và đốt sóng cổ (hình dung một tam giác đều, đáy là đường nối bờ sau 2 mắt, đỉnh nằm trên trục dọc lưng là điểm cần chọc.)
Ấn kim sâu 3-5mm vào vị trí của tủy sống, đẩy mũi kim dọc ống tủy xuôi về phía huyệt khoảng 3-4 cm, khi thấy ếch mềm ra, 2 chi sau buông thõng là được
Đặt ếch nằm ngửa trên khay mổ, ghim chặt 4 bàn chân Tay trái dùng kẹp nâng da bụng ở phần trước lỗ huyệt, tay phải dùng kéo cắt thủng da bụng, luồn một mũi kéo vào khoảng giữa lớp da và lớp cơ, cắt một đường dọc bụng lên tận hàm dưới Khoảng trống giữa da và cơ là vị trí của các túi bạch huyết Lật mặt trong da ếch sẽ thấy có rất nhiều mạch máu nhỏ màu đỏ, phân nhánh chằng chịt, vì da có thêm chức năng hô hấp Quan sát cơ ở mặt bụng
sẽ thấy ếch chưa có lồng ngực, mở rộng vết cắt ra hai đùi sẽ thấy nhiều bắp
cơ lớn của phần đùi
Tiến hành cắt cơ theo đường giữa bụng như cắt da ở phần trên nhưng lệch sang trái hoặc phải để tránh đứt tĩnh mạch bụng, mũi kéo luôn hướng lên trên để không làm hỏng các chi tiết bên trong Khi cắt dọc xương ức cần hết sức cẩn thận để mũi kéo không làm thủng tim hoặc đứt động mạch, tĩnh mạch ở vùng này