MỤC LỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ BẢNG BIỂUBảng 1: Bảng số lượng khách thể theo khóa Bảng 2: Điểm trung bình về nhận thức của sinh viên đối với việc kết hôn sớm Biểu đồ 1: Biểu đồ thể hiện tỉ lệ ph
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN, HỌC VIÊN
NĂM HỌC 2016
ĐỀ TÀI: THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC VỀ
VẤN ĐỀ KẾT HÔN SỚM Thực hiện: Nhóm 14
Đặng Thị Quỳnh 14010804 K59 SP Sinh Lưu Quý Kông 14010075 K59 SP Sinh Doãn Thanh Tú 14010183 K59 SP Sinh
Tô Minh Tứ 14010185 K59 SP Sinh
Vũ Thị Thanh Thủy 14010162 K59 SP Sinh
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Văn Công
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài nghiên cứu khoa học này, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình từ thầy cô và các bạn sinh viên
Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới TS Trần Văn Công và chị Nguyễn Phương Hồng Ngọc là những người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ chúng tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Đồng thời chúng tôi cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình từ phía các bạn sinh viên trường Đại học Giáo dục-Đại học Quốc gia Hà Nội trong quá trình khảo sát nghiên cứu của mình
Cuối cùng, xin cảm ơn tất cả các thành viên trong nhóm, trong suốt quá trình nghiên cứu chúng ta đã gắn bó và giúp đỡ lẫn nhau Dù có nhiều lúc bất đồng quan điểm nhưng thực sự nếu không có sự nỗ lực, nhiệt huyết, sáng tạo và đầy trách nhiệm của mỗi thành viên thì có lẽ bài nghiên cứu này chắc chắn rất khó có thể được hoàn thành
Hà Nội, ngày 1 tháng 6 năm 2016
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4MỤC LỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU
Bảng 1: Bảng số lượng khách thể theo khóa
Bảng 2: Điểm trung bình về nhận thức của sinh viên đối với việc kết hôn sớm
Biểu đồ 1: Biểu đồ thể hiện tỉ lệ phần trăm số khách thể nghiên cứu theo giới tính
Biểu đồ 2: Biểu đồ thể hiện tình trạng hôn nhân của khách thể nghiên cứu
Biểu đồ 3: Biểu đồ thể hiện độ tuổi kết hôn hợp lý của nam và nữ
Biểu đồ 4: Biểu đồ thể hiện tỉ lệ phần trăm sinh viên đồng ý với lý do chọn độ tuổi kết hôn phù hợp
Biểu đồ 5: Biểu đồ thể hiện nguyên nhân kết hôn sớm
Biểu đồ 6: Biểu đồ thể hiện mức độ thông cảm của sinh viên trong các trường hợp liên quan đến vấn đề kết hôn sớm
Biểu đồ 7: Biểu đồ thể hiện cảm xúc của sinh viên về vấn đề kết hôn sớm
Biểu đồ 8: Biểu đồ thể hiện hành vi của sinh viên về vấn đề kết hôn sớm
Trang 5I. BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU
1. Lý do và mục đích chọn đề tài
1.1. Lý do chọn đề tài
Hôn nhân là một hiện tượng xã hội, là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người phụ nữ được pháp luật thừa nhận để xây dựng gia đình Sự liên kết đó phát sinh
và hình thành do việc kết hôn Theo quy định tại khoản 1, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, nam nữ kết hôn với nhau phải tuân theo điều kiện: nam từ 20 tuổi trở lên, nữ
từ 18 tuổi trở lên Đây là độ tuổi thích hợp cả về sức khỏe lẫn tinh thần để bước vào hôn nhân Tuy nhiên, theo thống kê của UNICEF ở Việt Nam số phụ nữ trong độ tuổi 15-19 kết hôn hiện nay đã tăng lên 10,3% so với 8% báo cáo MICS 2011 Bên cạnh
đó, có mối quan hệ mạnh mẽ với giáo dục, điều kiện kinh tế và kết hôn sớm, với tỉ lệ 26% phụ nữ trong độ tuổi 15-19 từ những hộ gia đình nghèo nhất kết hôn sớm so với chỉ 2% từ những hộ gia đình khá giả Đặc biệt, gần 30% phụ nữ dân tộc thiểu số từ 15-19 đã kết hôn Và họ chưa chắc đủ điều kiện để đảm bảo có cuộc sống gia đình ổn định và hạnh phúc Còn có nhiều người kết hôn khi còn đang ngồi trên giảng đường trường đại học, cao đẳng Ở tuổi đó, nhiều người vẫn còn phải đến trường để hoàn thiện bản thân mình nâng cao trí tuệ và rèn luyện tư duy nhận thức, thậm chí có nhiều người vẫn còn phụ thuộc kinh tế vào gia đình Một trong những lý do chính không nên bắt đầu một gia đình khi bạn còn quá trẻ là bạn có thể thiếu sự ổn định cần thiết
về tình cảm.Hầu hết chúng ta phải trải qua một vài mối tình trước khi gặp được đối tác phù hợp để tiến tới hôn nhân Bên cạnh đó, bản thân chúng ta thường chưa đủ sự trưởng thành và chín chắn để làm cha, làm mẹ Như vậy việc họ kết hôn sớm sẽ gây đến nhiều hệ lụy đối với bản thân họ, gia đình họ, tạo thêm gánh nặng cho xã hội và các mối quan hệ xã hội khác
Ngày nay, sự phát triển của xã hội cũng như những vấn đề về tâm sinh lí của con người càng trở nên phức tạp ảnh hưởng đến quan hệ hôn nhân, gia đình trong đó có việc kết hôn giữa hai bên Thực trạng hiện nay việc kết hôn sớm xảy ra khá phổ biến làm ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống cũng như tâm lý của chính họ Không
Trang 6những thế, còn có nhiều người kết hôn khi chưa đủ tuổi mà pháp luật quy định gây ảnh hưởng lớn đến đời sống, tâm lý và cả sức khỏe sinh sản của họ
Sinh viên chúng ta là những chủ nhân tương lai của đất nước, nhiệm vụ của chúng ta là không ngừng rèn luyện, trau dồi kiến thức, góp phần đưa đất nước ngày càng phát triển, hội nhập quốc tế Thế nhưng hiện nay, một bộ phận nhỏ sinh viên khi đang còn đang ngồi trên giảng đường trường đại học mà đã kết hôn, trong đó đa số là sinh viên nữ vì người đàn ông thường có xu hướng xây dựng sự nghiệp ổn định trước rồi mới kết hôn Bên cạnh đó, một vài sinh viên nữ kết hôn và làm mẹ khi còn đang đi học Điều này khiến cho họ phải nhận thái độ không tốt từ một bộ phận không nhỏ sinh viên trong trường Nhiều bạn sinh viên nữ học tập rất xuất sắc, tương lai sau này
có thể giúp ích rất nhiều cho đất nước nhưng chỉ vì kết hôn khi đang học đại học mà học tập sa sút dần, có khi bỏ học luôn hoặc vẫn đi học tiếp để lấy cái bằng rồi ra trường nhưng lại không được theo đuổi nghề nghiệp đã chọn vì còn bận việc gia đình Cũng có nhiều trường hợp kết hôn mà cả hai vợ chồng vẫn còn đang đi học không tự chủ về mặt kinh tế được nên bố mẹ người chồng phải lo cho cả con trai và con dâu đi học, tăng thêm gánh nặng kinh tế cho cả gia đình Chưa kể nhiều cặp vợ chồng trẻ con tâm lí còn chưa đủ trưởng thành, khi về chung một nhà sẽ có những cãi vã có khi còn đòi li hôn, làm ảnh hưởng lớn đến tâm lý của bản thân họ cũng như gia đình họ Bên cạnh những mặt hạn chế của việc kết hôn sớm, chúng ta cũng không thể không nhắc tới những mặt tích cực của nó Nhiều sinh viên sau khi kết hôn tâm lý trở nên vững vàng hơn, vợ chồng hỗ trợ cho nhau trong việc học tập, kết quả học tập tốt hơn so với khi vẫn còn độc thân
Tóm lại, sinh viên chúng ta cần phải nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề kết hôn sớm này để định hướng bản thân từ đó học tập thật tốt góp phần xây dựng nước nhà ngày càng phát triển
Trên cơ sở đó chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu về “ Thái độ của sinh viên trường Đại học Giáo dục về vấn đề kết hôn sớm”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Trang 7Đề tài này nghiên cứu nhằm xác định được các nhân tố tác động tới việc kết hôn sớm của nhiều người và ảnh hưởng của nó tới các mặt của cuộc sống, từ đó nâng cao nhận thức của sinh viên về vấn đề kết hôn sớm
2. Lịch sử nghiên cứu
Có một câu châm ngôn nước ngoài “Behind every successful guy, is a woman”, được dịch là “Đằng sau sự thành công của đàn ông luôn có bóng dáng của người phụ nữ” Quả thực, để một người đàn ông có thể tập trung, toàn tâm toàn ý lo cho sự nghiệp của mình thì bên cạnh anh ta không thể thiếu một người phụ nữ tuyệt vời biết lo toan công việc, chăm sóc gia đình Hôn nhân là cầu nối giữa hai người, họ cùng nhau chung sống và trải qua mọi vui buồn trong cuộc sống Tuy nhiên, không phải vì mục đích đó mà ở độ tuổi nào chúng ta cũng nên và có thể kết hôn Theo Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13, độ tuổi kết hôn của nam là trên 20 tuổi và nữ là trên 18 tuổi Ở độ tuổi này, cả nam và nữ đều đã phát triển đầy đủ cả về sức khỏe lẫn tinh thần Thế nhưng, không phải mọi cuộc hôn nhân hiện nay đều tuân theo quy định này Cùng với sự phát triển của xã hội, lại thêm việc tâm sinh lý của con người trở nên phức tạp, việc kết hôn cũng có nhiều ảnh hưởng
2.1. Về vấn đề kết hôn:
Có rất nhiều nghiên cứu khoa học, hội thảo, tạp chí, bài báo,… nói về vấn đề kết hôn ở nước ta hiện nay Theo tài liệu tham khảo “Cấu trúc tuổi_ giới tính và tình trạng hôn nhân của dân số Việt Nam” cho thấy, độ tuổi kết hôn trung bình lần đầu (SMAM) của nam giới năm 2009 là 26,2 và nữ giới là 22,8 Trong khi đó SMAM của cả nam và nữ
ở thành thị đều cao hơn ở nông thôn ( 27,7 và 24,4 với 25,6 và 22,0) Ngoài ra, độ tuổi kết hôn lần đầu (SMAM) ở các dân tộc khác nhau cũng khác nhau Người Kinh có SMAM cao nhất (nam 26,6 và nữ 23,1) và thấp nhất là người Mông (nam 19,9 và nữ 18,8) Sở dĩ có sự chênh lệch như vậy là do sự khác biệt về văn hóa và tập quán hôn nhân
ở các vùng và các dân tộc là khác nhau
Trang 8Một trong những vấn đề nóng của việc kết hôn là kết hôn sớm Nghiên cứu về vấn
đề này đã có rất nhiều bài báo khoa học, luận án, hội thảo khoa học, cả trong và ngoài nước Có thể kể đến như : Singh, S., & Samara, R (1996) Early marriage among women
in developing countries International family planning perspectives, 148-175, hay Raj,
A., Saggurti, N., Balaiah, D., & Silverman, J G (2009) Prevalence of child marriage and its effect on fertility and fertility-control outcomes of young women in India: a
cross-sectional, observational study The Lancet, 373(9678), 1883-1889,…
Trong nghiên cứu Raj, A., Saggurti, N., Balaiah, D., & Silverman, J G (2009) Prevalence of child marriage and its effect on fertility and fertility-control outcomes of young women in India, tác giả đã nghiên cứu trên 22.807 khách thể từ 20-24 tuổi về độ tuổi kết hôn sớm của phụ nữ Ấn Độ và mối quan hệ giữa việc kết hôn sớm với trình độ học vấn, nơi sinh sống của họ Theo đó, trong số những người tham gia nghiên cứu có 11.902 người kết hôn khi chưa đủ 18 tuổi Cụ thể có 44,5% kết hôn trong độ tuổi từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi; 22,6% kết hôn trong độ tuổi từ 13 đến dưới 16 tuổi và đáng ngạc nhiên hơn khi có khoảng 2,6% kết hôn trước 13 tuổi Khoảng 67,2% trong số này sống ở nông thôn Trong số những người kết hôn sớm, thì có đến 31,4% không được học chính thức và đa số họ kết thúc việc học của mình ở cấp Trung học (42,9%)
Theo Điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình 1/4/2005: Những kết quả chủ yếu, trong năm 2004 trên phạm vi cả nước có 1,5% nam giới và 6,2% nữ giới kết hôn
ở độ tuổi từ 15 đến 19 tuổi Trong khi đó tỷ trọng kết hôn trong độ tuổi vị thành niên ở nông thôn cao hơn gấp hai lần so với thành thị Cũng trong kết quả điều tra cũng cho thấy, tỷ lệ kết hôn ở các vùng trên cả nước là khác nhau Tỷ lệ kết hôn ở độ tuổi từ 15-19 tuổi cao nhất ở vùng Tây Bắc Đáng kể là ở đây có khoảng 12,5% nam giới và 26,1% nữ giới kết hôn ở tuổi 18 Tỷ trọng nam giới kết hôn trong độ tuổi từ 15 đến 19 tuổi ở Đồng Bằng Sông Hồng là thấp nhất (0,4%) và ở nữ giới ở Bắc Trung Bộ là thấp nhất (3,5%)
Những số liệu trên phần nào cho thấy những khía cạnh của việc kết hôn sớm Kết hôn sớm xảy ra ở bất cứ nơi đâu dù điều kiện môi trường sống, văn hóa, tập quán hôn
Trang 9nhân có khác nhau như thế nào Đây cũng là nguồn tài liệu quan trọng để dựa vào đó chúng tôi có thể kiểm tra, so sánh với đề tài nghiên cứu của mình
2.3. Về thái độ của sinh viên với vấn đề kết hôn sớm
Hiện nay, vấn đề kết hôn sớm hay tảo hôn là một vấn đề vô cùng nóng bỏng Nhiều nghiên cứu khoa học, báo chí, nói về thực trạng, nguyên nhân, hậu quả cũng như ảnh hưởng của việc kết hôn sớm Tuy nhiên, nghiên cứu về thái độ của sinh viên đối với vấn đề này còn khá mới mẻ Hầu như có rất ít nghiên cứu hay bài báo khoa học ở Việt Nam cũng như nước ngoài làm về vấn đề này Rõ ràng, ta thấy những nghiên cứu về thái
độ của sinh viên hiện nay về việc kết hôn sớm là vô cùng cần thiết Nó giúp ta có thể tìm hiểu rõ hơn về tâm lý, suy nghĩ của các bạn sinh viên về hôn nhân, từ đó tìm biện pháp nhằm nâng cao nhận thức, ý thức của sinh viên
3. Khung lý luận
3.1. Những khái niệm liên quan
3.1.1. Các vấn đề lí luận về thái độ
3.1.1.1. Khái niệm thái độ
Có nhiều định nghĩa khác nhau khi bàn về thái độ :
Theo nhà tâm lí học người Mỹ G.W Allport (1935), thái độ là trạng thái của hệ thần kinh, là sự sẵn sàng phản ứng, là một trạng thái có tổ chức, được hình thành trên cơ
sở kinh nghiệm quá khứ và nó điều khiển cũng như hành vi của cá nhân
Năm 1971 nhà tâm lí học người Mỹ H.C Triandis đã đưa ra một định nghĩa khác
về thái độ Ông cho rằng: “ Thái độ là tư tưởng được tạo nên từ các xúc cảm, tình cảm
Nó gây tác động đến hành vi nhất định, ở một giai cấp nhất định, trong những tình huống
xã hội nhất định Thái độ của con người bao gồm những điều mà họ cảm thấy suy nghĩ về đối tượng, cũng như cách sử dụng của họ đối với đối tượng đó”
Còn gần đây James, W Kalat đã đưa ra định nghĩa: ”Thái độ là sự thích hay không thích một sự vật hay một người nào đó của cá nhân, từ đó có ảnh hưởng tới hành vi của
Trang 10Trong từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê (1988), thái độ được định nghĩa là “cách nhìn nhận, hành động của cá nhân về một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình huống cần giải quyết Đó là tổng thể những biểu hiện ra sự bên ngoài của ý nghĩ, tình cảm của cá nhân đói với con người hay một sự việc nào đó”
Nói tóm lại, đã có nhiều định nghĩa khác nhau về thái độ, nhưng có thể nêu ra định nghĩa về thái độ thông dụng hiện nay, đó là” thái độ là một bộ phận hợp thành, một thuộc tính trọn vẹn của ý thức, quy định tính sẵn sàng hành động của con người đối với đối tượng theo một hướng nhất định, được bộc lộ qua nhận thức, hành vi và cảm xúc của người đó trong những tình huống, điều kiên cụ thể”
3.1.1.2. Đặc trưng của thái độ
Thái độ là một thuộc tính nhân cách nó bao gồm các đặc trưng sau:
- Có sự thống nhất: thái độ của con người là một chính thể thống nhất, bao gồm các mặt nhận thức, hứng thú , hành vi Các mặt này có liên quan tới nhau, kết hợp chặt chẽ với nhau taọ thành một tổng thể thống nhất, chứ không phải là phép cộng trừ đơn giản của các mặt riêng lẻ Vì vậy, khi xem xét, đánh giá thái độ của con người đối với một đối tượng nào đó, chúng ta cần xem xét chúng trong mối liên hệ của các mặt thái độ
- Tính không ổn định: dưới tác động của xã hội và giáo dục thì thái độ của con người cũng có thể thay đổi, nó có thể thay đổi theo hai chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực tùy theo khả năng nhận thức của cá nhân hoặc tác động của xã hội Tuy nhiên, thái
độ thái độ thay đổi từ từ chứ không thay đổi ngay tức khắc khi có tác động
- Có tính chân thực: thái độ của con người biểu hiện rõ ra bên ngoài thông qua các hành vi, hành động, thái độ của con người như thế nào thì hành vi, hành động của con người như thế đó, con người không thể che dấu được thái độ của mình, như vậy thông qua hành vi, hành động của chúng ta có thể biết được thái độ của con người
3.1.2. Sinh viên
Trang 11Thuật ngữ “Sinh viên” được bắt nguồn tư một từ gốc latinh: “Students” với nghĩa
là người làm việc, người học việc, học tập, tìm hiểu, khai thác tri thức (Từ điển bách khoa thư – tiếng Nga)
Hiểu theo nghĩ thông thường thì “Sinh viên” là những người đang học trong các trường đại học, cao đẳng Sau khi tốt nghiệp họ sẽ có được một tấm bằng cử nhân
Nói một cách ngắn gọn “Sinh viên” là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học Quá trình học của họ theo phương pháp chính quy, tức là họ đã phải trải qua bậc tiểu học và trung học
3.1.3. Kết hôn
Hôn nhân là một hiện tượng xã hội, là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người phụ nữ được pháp luật thừa nhận để xây dựng gia đình Sự liên kết đó phát sinh và hình thành do việc kết hôn Theo quy định tại khoản 1, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, nam nữ kết hôn với nhau phải tuân theo điều kiện: nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên Đây là độ tuổi thích hợp cả về sức khỏe lẫn tinh thần để bước vào hôn nhân
Gia đình là nền tảng của xã hội Gia đình là một trong các tổ chức cơ sở đẻ thực hiện chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước về tất cả các mặt kinh tế- chính trị- văn hóa- dân sự- môi trường Gia đình còn là một đơn vị gồm có vợ chồng, con cái , rộng hơn thì bao gồm một dòng họ, gồm ông bà, cha mẹ, anh chị em gắn bó với nhau dựa trên mối quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng Đối với mỗi thành viên, gia đình
là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng, giáo dục, nâng đỡ mình suốt cuộc đời, là môi trường để hình thành và phát triển nhân cách con người, là nơi để thế hệ trẻ rèn luyện lối sống có tình nghĩa, có đạo lí để thực hàh trong cuộc đời, là nơi truyền đạt kinh nghiệm từ thế hệ trước cho thế hệ sau Và hôn nhân được coi là phương thức để phát triển gia đình và kết hôn chính là nền tảng của hôn nhân